.
.
.
.
Đó là vào những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp giành độc lập của tòan dân Việt Nam. Khi cuộc chiến giữa Việt Nam và Pháp bùng nổ vào ngày 19 tháng 12 năm 1946 thì gia đình chúng tôi từ Hà Nội tản cư ra khỏi thủ đô theo đường ngược mà di chuyển dần lên tới tỉnh Hòa Bình.
Hòa Bình là quê hương của dân tộc Mường. Họ là những người rất chất phác, sống hồn nhiên, đơn thuần như những người Việt Nam cổ xưa. Tiếng nói của họ đôi khi nghe từa tựa như tiếng Việt. Những người lớn tuổi được gọi là “ông bố” và “bà mế”, như các từ “bố mẹ” vậy.
Họ ở nhà sàn để tránh lam sơm chướng khí, dưới gầm nhà sàn họ nuôi gia súc, không cần hàng rào mà không sợ mất trộm vì họ rất thật thà, tin tưởng chòm xóm. Họ cũng không e ngại người lạ đến ăn trộm vì họ tin tưởng ở “ma xó”, nó sẽ đếm từng món bị trộm và tên trộm sẽ đền tội bằng sự đau ốm nặng nề cho đến lúc phải mang trả lại những món đồ đã trộm được, họ tin chắc như thế.
Người Mường thường ăn gạo nếp đồ lên bằng những cái trõ (xửng hấp) được khóet từ những khúc cây mít rồi đục lỗ cho hơi nước xông lên sẽ chín cơm nếp. Mùa gặt, họ đem những bó lúa về nhà, chất lên gác bếp, mỗi ngày rút xuống vừa đủ ăn, đem ra tuốt hạt, bỏ vào cối để ngay nơi chân cầu thang, mấy thanh niên thiếu nữ trong nhà cùng nhau dùng chầy giã ra rồi sàng xảy, lọai bỏ trấu, cám, rửa sạch, trút vào trõ đồ lên, ăn ngày nào thì giã gạo, đồ xôi cho ngày đó.
Có một câu như là quy ước mà sau bao nhiêu năm tôi vẫn nhớ là:
“Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày kể lùi, tháng kể lên”.
Cây luồng
Hai câu đầu tôi đã trình bày, câu thứ ba là “nước vác”, họ dùng những cây luồng, là lọai cây họ nhà tre, nhưng rất cao lớn, chiều cao thân cây có thể lên tới trên 10 mét, đường kính trên một tấc. Họ cưa một khúc khỏang 2 mét, khóet ruột, đục thủng những đốt cho thông nhau, chỉ để một đốt dưới đáy, rồi dùng những khúc luồng đó vác lên đầu nguồn hứng nước từ khe chảy ra cho đầy ống rồi vác về đổ vào lu ngay dưới chân bậc thang, là khỏang 5, 7 bậc cấp làm bằng gỗ bước lên nhà sàn. Lu nước đó có thể để uống sống, có thể để nấu ăn hoặc rửa chân cho sạch trước khi leo lên bậc cấp để vào nhà sàn.
“Lợn thui” là mỗi khi có hội hè đình đám, họ mổ lợn (heo), đem thui chín rồi trải lá chuối lên trên mặt sân, bày rượu cần và thịt ra ăn uống say sưa.
“Ngày kể lùi” là người Mường tính theo âm lịch rồi lùi lại một ngày là ngày của họ, “tháng kể lên” là về tháng thì cộng thêm 1 tháng vào âm lịch là tháng của người Mường, thí dụ ngày 15 tháng 2 âm lịch tức là ngày 14 tháng 3 của người Mường.
Nước vác
Đời sống của những người Mường mà tôi biết khi còn nhỏ rất trong sáng và tin cậy lẫn nhau. Họ sống kiểu đại gia đình. Ngay giữa nhà là cái bếp gần như hình vuông, quanh năm có hơi ấm. Buổi sáng cả nhà ngồi chung quanh bếp, trên những cây gỗ xếp chạy quanh bếp như những chíêc ghế dài. Một cái điếu cầy được chuyền tay từ ông bà cho tới cháu chắt, hết người này tới người kia, thay nhau rít hơi ấm của khói thuốc. Họ bắt đầu ra đồng làm việc lúc mặt trời lên. Mặt trời miền rừng núi thường lên trễ, cảnh trí âm u cho tới khỏang 10 giờ sáng mọi nguời mới lục tục “đi làm”. Trâu kéo cầy trên Mường cũng chỉ bắt đầu làm việc lúc 10 giờ sáng.
Lợn thui
Họ bắt đầu ra đồng làm việc lúc mặt trời lên. Mặt trời miền rừng núi thường lên trễ, cảnh trí âm u cho tới khỏang 10 giờ sáng mọi nguời mới lục tục “đi làm”. Trâu kéo cầy trên Mường cũng chỉ bắt đầu làm việc lúc 10 giờ sáng.
Đây là tôi nói về những người Mường đơn thuần sống vào khỏang những năm 1940, thời gia đình tôi đi tản cư lưu ngụ tại miền núi tỉnh Hòa Bình, cách nay đã trên sáu chục năm, khi đó tôi mới khỏang 12 tuổi. Thời đó dường như người dân Việt Nam trên cả nước đều còn rất chất phác, dù đời sống có khó khăn, nhưng chưa bị nhuộm bởi chủ nghĩa vô thần, phi luân lý.
Những gia đình Mường đã dung chứa chúng tôi trong lúc quốc phá gia vong… ôi … tôi không quên được họ… không thể quên được .
Họ là những người rất hiếu khách. Trong mỗi nhà đều có một cái “sập vía”, tức là một cái divan bằng gỗ quý, chỉ dành khi các quan lang tới thì “ngự”. Dân tản cư chúng tôi được họ nhường cái “sập vía” đó cho xài. Họ rất hiếu học, các cô cậu bé trố mắt nhìn chúng tôi đọc thông cáo, tin tức … vanh vách, bèn mè nheo với bố mẹ ra sao không biết, một hôm có ông trửơng làng đến thăm bố mẹ tôi, đề nghị gia đình tôi cử một người con đi dạy cho các cô cậu tại nhà hội họp của làng mỗi tối. Sở dĩ họ tìm đến nhà bố tôi vì trước đây bố tôi khai mỏ diêm tiêu trên khu vực Hòa Bình nên quen biết quan lang tỉnh, có giao dịch thành ra đối với dân làng có uy tín. Năm đó anh tôi 15 tuổi, cao lớn, nên họ hy vọng mời anh tôi làm “thày giáo”.
Nhưng anh tôi dứt khóat không nhận, đùn cho tôi, khi đó mới 12 tuổi. Tôi hăng hái nhận liền, tôi thích phiêu lưu. Thế là dù chỉ mới học lực tiểu học, nhưng ông trưởng làng rất hoan hỉ có “cô giáo”.
Và rồi tối tối họ cử người tới cõng tôi ra nhà làng để “leo lên sập vía” ngồi dạy đám học trò vây quanh, sau giờ học lại chia nhau cõng tôi trả về nhà bố mẹ tôi. Đôi khi có phụ huynh học sinh nào ban ngày săn bắn được con gì thì họ xào lên để đến tối sau khi tan học thì tiếp đãi cô giáo nhí món ăn chơi lấy thảo.
Tôi dậy học như thế cũng được một thời gian trước khi Pháp càn quét khắp châu Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Khi đó chúng tôi phải tiếp tục chạy lên cao hơn nữa thì lại chính những trai tráng của các gia đình người sơn cước hồn nhiên chất phác kia giúp gánh cho chúng tôi những vật dụng tùy thân ít ỏi mà dù ít ỏi, bọn dân thành thị chúng tôi vốn yếu ớt với những bàn chân giẫm lên đá dăm đã xưng vù, phải dùng gậy chống để lần từng bước, không còn mang nổi cái gì ngòai tấm thân đã rã rời.
Dài dòng mô tả về sự tử tế và chân thành của những người sơn cước hiền lương để rồi tôi sẽ nói về “Bức Ảnh Kỷ Niệm”, bức ảnh mà đã trên 60 năm qua, không hề phai mờ trong tâm tưởng của tôi.
Tết năm đó có đòan Tuyên Truyền Xung Phong ghé qua làng chúng tôi đang tạm trú. Buổi tối họ đốt lửa trại, hầu hết dân làng quây chung quanh các thanh niên trong đòan, say sưa xem những mẩu kịch ngắn, hầu hết là cảnh quân Pháp mới đánh nhau đã lăn ra chết, tiếng cười vang rân xóm làng.
Sáng hôm sau trước khi đi, anh đòan trưởng có nhã ý mời tất cả những ai muốn chụp ảnh kỷ niệm ngày Xuân thì anh ta sẽ chụp để tặng. Anh ta còn đưa ra cuốn albumn trong có rất nhiều ảnh cho mọi người coi. Đó đây, những ánh mắt thán phục và những tiếng cười khúc khích của các cô nàng sơn nữ nổi lên tưng bừng như ngày hội.
Và rồi tất cả mọi người chạy về nhà thay bộ đồ đẹp nhất để anh cán bộ sẽ chụp rồi in ra cho mỗi người một tấm, ngàn năm một thuở mà. Mẹ tôi cũng lôi anh chị em chúng tôi về nhà thay bộ “đồ hộp” (là đồ đẹp nhất để dành có việc quan trọng mới mặc) và cùng chúng tôi ra sân đứng chung với dân làng.
Sau khi sắp xếp chỗ đứng rất lâu, người này thấp ra phía trước, người kia ra đầu nọ cho cân đối… cuối cùng anh ta hô:
– Không chớp mắt … một hai ba…
Anh ta làm lại vài lần và tất cả chúng tôi quây lấy anh ta hỏi han khi nào sẽ có ảnh… anh ta trả lời chắc nịch:
– Tuần tới anh sẽ trở lại, mọi người sẽ đều có ảnh rất đẹp.
Gia đình chúng tôi không có dịp gặp lại anh ta vì chiến sự lan rộng. Trên đường tản cư ngược xuôi, một hôm bố tôi gặp lại anh phó đòan, bố tôi hỏi về tình hình những bức ảnh. Anh phó đòan cười:
– Làm gì có ảnh, anh Bảo muốn vận động quần chúng nên dùng tâm lý chiến để tạo sự quý mến thân thiện thôi. Máy không có phim chú ạ.
Bố tôi giật mình:
– Chết, thế cả làng họ hy vọng thì sao?
– Ôi, đã gọi là “tâm lý chiến” mà, chú không nhớ “cứu cánh biện minh cho phương tiện” sao? Miễn đến khi kết thúc, cách mạng thành công là chẳng ai còn nhớ chuyện ảnh iếc làm gì. Mà ngay bây giờ, chắc gì dân bản còn nhớ …
Tối đó bố tôi kể lại câu chuyện cho mẹ tôi nghe, rồi bố thở dài… đăm chiêu…
Anh cán bộ cho là dân làng không nhớ, nhưng tôi biết chắc chắn là họ nhớ và vẫn đang hy vọng có ngày nhận được bức ảnh có họ đứng trong, bức ảnh có họ với tấm áo đẹp dành riêng cho ngày Tết, miệng nở nụ cười tươi hy vọng của mùa Xuân.
Riêng tôi, hình ảnh đám người xúng xính – trong đó có cả tôi – lăng xăng chạy qua chạy lại, cười nói rộn ràng, cặp mắt sáng trưng… này là mế Vinh đứng sau cô nàng Thảo… này là chú … gì nhỉ… tên thì tôi quên nhưng gương mặt tôi vẫn nhớ như in… chú cười lộ hàm răng xỉn vì khói thuốc… em bé … đang chen ra phía trước … chao ơi… nước mắt tôi đã lưng tròng… ôi… những con người hồn nhiên hiền lành, tử tế lương thiện ấy – những con người chất phác thật thà ấy đã bị lừa như cả nước bị lừa – có biết rằng ít nhất họ vẫn có một bức ảnh, bức ảnh trong trái tim tôi… sẽ mãi mãi cùng với tôi đi hết con đường đời… không bao giờ phai mờ.
Một buổi sáng đón Xuân Giáp Ngọ
Tháng 1 năm 2014
Đỗ Phương Khanh
Câu chuyện “Tự ái của một con chó” của bạn Phạm Thắng Vũ bỗng làm cho tôi ngậm ngùi nghĩ tới Cún Anh của gia đình chúng tôi. Tên nó là Kido nhưng ở nhà gọi nó là Cún Anh vì nhà tôi có 2 con chó giống Poodle, Cún Anh do một bạn thân của con gái Út tôi tặng con gái tôi, rồi nó bận bịu không trông nom được bèn giao cho bố mẹ trông. Kẹt là tôi vốn dị ứng (allergy) với lông chó mèo nên chỉ có bố xấp nhỏ nhà tôi phải lo. Thế rồi lũ con tôi lại tưởng bố thích nuôi chó, tới sinh nhật bố năm đó bèn tặng bố thêm một con cũng nhỏ xíu như con trước, bỏ vào túi áo coat nó thò đầu ra trông rất ngộ, được đặt tên là Cubi, nickname là Cún Em. Hai đứa được thả vào cái nôi, hễ thấy chúng tôi đến gần là chạy ngược chạy xuôi trong nôi, nhẩy lên chồm chồm đòi bế.
Hai con cùng giống Poodle nhưng tính tình khác nhau, Cún Anh rõ ràng là từ tốn và khôn hơn Cún Em. Cô bạn tặng Cún Anh cho con gái tôi còn giao cả giấy khai sinh, có tên bố mẹ Cún Anh là “Sir….” và “Dame …” gì đó, làm cả nhà tôi lăn ra cười. Đã thế, nó còn có chứng chỉ tốt nghiệp Sơ Đẳng, tức là hiểu và vâng lời khi chúng tôi ra lệnh “sit” là nó ngồi xuống, “run” là nó chạy … vân vân …
Nó cũng biết vâng lời cả chuyện ăn uống, để thực phẩm của nó ra mà không chỉ vào rồi nói “eat” thì nó chỉ ngồi nhìn …
Cún Em thì chỉ có giấy khai sinh, cũng có bố mẹ là “Sir” và “Dame”, nhưng không có chứng chỉ giáo dục như Cún Anh. Vì không đươc huấn luyện vào nền nếp nên nó rất ba gai, thường hay bắt nạt Cún Anh nhưng Cún Anh chỉ lùi, có lẽ là nó nhường vì khi Cún Em tới nhà thì nó đã 8 tháng tuổi.

Chúng nó sống trong gia đình chúng tôi gần 14 năm trời với đầy ắp chuyện vui, chúng nó ít gây chuyện buồn lắm. Nhưng thôi, kể chuyện vui của bọn Cún ra chỉ làm cho quý vị hâm mộ mộc tồn thấy ngứa mắt, lại rủa xả những người thương chó mèo và cưng chúng nó là đồ rởm đời. Cho nên tôi sẽ chỉ nói về sự buồn bã, mất mát khi nó ra đi vĩnh viễn mà thôi.
Như trên tôi đã nói, Cún Anh khôn hơn Cún Em, nó hiểu chuyện và biêt nhường nhịn, cư xử đĩnh đạc, trong khi Cún Em chỉ là một con chó bình thường, chưa được huấn luyện mà thôi.
Chúng sống trong nhà chúng tôi khoảng 10 năm đầu rất khỏe mạnh vui vẻ. Người ta nói cứ mỗi tuổi chó thì sự già nua của cơ thể chúng nó thay đổi bằng 7 tuổi người. Như thế, sau 10 năm thì coi như mấy cún nhà chúng tôi yếu đi ngang với người 70 tuổi, cho nên chúng bắt đầu đổ bệnh. Cún Anh già trước. Đầu tiên là mắt Cún Anh bị quáng, nhìn xiên xiên rồi từ từ tới mù hẳn, phải dắt nó đi.
Kẹt một nỗi là tính nó cẩn thận và sạch sẽ. Bao nhiêu năm nó quen ra ngoài vườn đi tiểu, bất kể ngày đêm. Nay mù rồi nhưng bảo nó tiểu vào hộp cát để trong nhà, nó không nghe lời, đêm đêm cứ chui ra vườn bằng cái cửa nhỏ riêng của chúng nó, rồi vì mù không biết đường vào, nó cứ lang thang mãi ngoài đó, gặp trời mưa nó ướt lướt thướt. Có hôm bố xấp nhỏ đang ngủ chợt tỉnh, không thấy Cún đâu, lại phải soi đèn ra vườn tìm. Cuối cùng thì bác sĩ thú y chữa bệnh cho nó thấy nó bệnh liên miên lại có cái bướu mọc nhanh, nghi là có thể nó bị ung thư, khuyên nên chích cho nó một mũi thuốc ngủ say rồi chích thêm một mũi thuốc cho nó đi luôn thì nó không còn đau đớn gì nữa.
Cả nhà bàn bạc rồi con gái thứ của tôi quyết định lái xe, tôi ôm Cún Anh đi. Khỏi nói thì các bạn cũng cảm được lòng dạ tôi lúc đó.
Nằm trên đùi tôi, Cún Anh liếm nhè nhẹ ngón tay tôi rồi thiêm thiếp ngủ. Khi tôi đứng cạnh bàn mổ của Thú Y Sĩ, tay nắm chân Cún Anh, tôi không bao giờ quên được cảm giác từ thân Cún Anh truyền sang tôi, đúng là chỉ một cái uốn mình, Cún đã ra đi rồi.
Trên đường về, Cún Anh lại vẫn nằm trên đùi tôi. Nước mắt tôi che mờ tất cả, chỉ còn cảm thấy thân thể bé nhỏ của Cún Anh mềm nhũn trong lòng. Tôi ôm nó, biết rằng nó sẽ chẳng còn bao giờ đứng cạnh cọ cọ vào chân tôi, sẽ chẳng còn bao giờ Cún Anh mù lòa loạng quạng lần ra khi nghe tiếng chúng tôi gọi… Cún Anh … Cún Anh … thế là hết … nước mắt tôi tràn mi, nhòa nhoạt rồi …
Đỗ Phương Khanh
Hỏi:
19 tuổi, em lấy chồng theo sự sắp đặt của bố mẹ. Chồng em là con một gia đình khá giả nhưng bản thân anh thì lười biếng, suốt ngày chỉ thích tiêu xài tiền của cha mẹ. Từ khi lập gia đình, chúng em ra riêng và tự lập. Không được học hành nhiều, và không chịu nổi sự nhàm chán vô bổ trong gia đình, em xin đi làm cho một hãng cung cấp phục vụ dọn dẹp văn phòng.
Trong số những người thuê em dọn dẹp, có một người góa vợ. Các con ông đều đã trưởng thành, có gia đình riêng. Ông là người có học, đối xử rất tốt với em. Biết hoàn cảnh của em, ông tỏ ra thương cảm và thường cho em quà hoặc tiền típ. 3 năm qua, hai đứa em có một mụn con, gia đình em cũng tạm ổn nhờ vào số tiền em kiếm được hàng tháng. Riêng em càng sống và làm việc lâu ở nhà ông ấy, em càng quý mến, tôn trọng ông.
Cách đây gần một năm, người đàn ông ấy tâm sự rằng rất thương em dù biết như thế là không nên. Ông chủ muốn em làm vợ và hứa sẽ coi con gái em như con mình. Quá bất ngờ, sợ hãi, em đã kể lại với chồng và định thôi không làm nữa để tránh phiền hà. Nghe em kể, chồng em đã không tức giận mà còn xúi em cứ “giả vờ” nhận lời yêu ông ta để moi tiền. Vì chồng con và vì sẵn có tình cảm với ông, em đã làm theo lời xúi dục của chồng.
Nhưng giờ thì hình như em cảm thấy em đã yêu ông chủ mất rồi. Em nhận ra rằng, chưa bao giờ em yêu chồng mà chỉ sống với anh ta bằng nghĩa vụ. Nhưng nếu bỏ chồng để đến với ông ấy thì dư luận và chồng em sẽ không buông tha cho em. Em khó nghĩ quá, chị có cách gì giúp em được không?
Em, N. San Jose
Đáp:
Chị đọc thư em ba lần, càng đọc càng thấy buồn giùm cho em. Chồng em là tên vô liêm sỉ, khi xúi em “cứ giả vờ nhận lời yêu ông ta để moi tiền” là chồng em đã ngang nhiên coi em như một cô gái bán thân mất rồi!
Em viết “gia đình em cũng tạm ổn nhờ vào số tiền em kiếm được hàng tháng”có nghĩa là chồng em không đi làm, chỉ nằm nhà sống bám vào em, và xúi em moi tiền của đàn ông khác, đó là cung cách của một tên ma cô! Cung cách ma cô này sẽ tiếp tục nếu ông chủ này không thích em nữa, hoặc ông ta chết, v. v. . ., em sẽ được “chồng” gán ghép cho người khác !
Trước sau, em là người có tư cách. Dù ít học, không kiếm được việc làm nhàn nhã, em tình nguyện đi làm việc dọn dẹp lau chùi nặng nhọc để có tiền nuôi con và luôn cả người chồng sống cuộc đời tầm gửi kia.
Chị chưa bao giờ khuyên vợ chồng ai bỏ nhau. Cho nên, chị sẽ trình bày với em một số ý kiến, mong em tự suy nghĩ:
Em còn rất trẻ, còn cả cuộc đời ở trước mặt, không nên quyết định vội vã. Trước nhất, em tạm ngưng làm cho cái hãng có ông chủ hiện em đang “yêu” (chưa chắc em đã yêu, mà chỉ là thấy em đang cần cả tình cảm lẫn tiền bạc, như người sắp chết đuối, ông chủ vừa vỗ về em trên phương diện tình cảm lại vừa giúp đỡ em về tiền bạc, nên trước mắt em, ông ta như là cái phao).
Đồng thời, em nói với chồng em rằng về phương diện đạo đức và liêm sỉ, em không thể tiếp tục cuộc sống hai mặt như vậy. Nay em nghỉ làm chỗ đó, yêu cầu anh ta đi kiếm việc, dù là việc lương ít, dù là việc nặng nhọc, anh ta phải đi làm, đó là cái giá mà người đàn ông phải trả, nếu còn muốn ngẩng mặt nhìn đời. Nếu anh ta tỉnh ngộ, nhận ra sự vô liêm sỉ của mình, biết hối lỗi, thì em – vì cháu bé – mà cho anh ta làm lại cuộc đời một lần, quên đi những lỗi lầm quá khứ, sau cơn mưa có thể trời sẽ sáng, em à.
Nếu anh ta ngoan cố, không chịu đi làm, muốn em cứ tiếp tục cuộc sống bòn tiền của đàn ông khác để nuôi anh ta như hiện nay, thì em ôm con về thưa với cha mẹ em, xin các người giúp đỡ. Cha mẹ em mà biết được sự anh ta khuyên em “cứ giả vờ nhận lời yêu ông ta để moi tiền”, thì chị tin rằng các người sẽ giúp gỡ em ra khỏi cảnh vợ chồng mà như ma cô lợi dụng gái này.
Nếu sau này vợ chồng em đã tan vỡ, em cũng không còn “cần” đến ông chủ cũ, mà em vẫn yêu ông ta, vẫn muốn sống chung, thì đó là em yêu ông ta với tình yêu thuần túy, không lợi dụng, không coi ông ta như một chỗ “tiện nghi”.
Còn như sau khi cách mặt, em cũng xa lòng, thì cuộc đời em còn trẻ trung, tương lai luôn luôn tươi sáng cho những con người biết đứng lên, biết sống tự lập, em ạ.
Thân chúc em mọi sự tốt lành.
Thuần Nhã (ĐPK)
Hỏi:
19 tuổi, em lấy chồng theo sự sắp đặt của bố mẹ. Chồng em là con một gia đình khá giả nhưng bản thân anh thì lười biếng, suốt ngày chỉ thích tiêu xài tiền của cha mẹ. Từ khi lập gia đình, chúng em ra riêng và tự lập. Không được học hành nhiều, và không chịu nổi sự nhàm chán vô bổ trong gia đình, em xin đi làm cho một hãng cung cấp phục vụ dọn dẹp văn phòng.
Trong số những người thuê em dọn dẹp, có một người góa vợ. Các con ông đều đã trưởng thành, có gia đình riêng. Ông là người có học, đối xử rất tốt với em. Biết hoàn cảnh của em, ông tỏ ra thương cảm và thường cho em quà hoặc tiền típ. 3 năm qua, hai đứa em có một mụn con, gia đình em cũng tạm ổn nhờ vào số tiền em kiếm được hàng tháng. Riêng em càng sống và làm việc lâu ở nhà ông ấy, em càng quý mến, tôn trọng ông.
Cách đây gần một năm, người đàn ông ấy tâm sự rằng rất thương em dù biết như thế là không nên. Ông chủ muốn em làm vợ và hứa sẽ coi con gái em như con mình. Quá bất ngờ, sợ hãi, em đã kể lại với chồng và định thôi không làm nữa để tránh phiền hà. Nghe em kể, chồng em đã không tức giận mà còn xúi em cứ “giả vờ” nhận lời yêu ông ta để moi tiền. Vì chồng con và vì sẵn có tình cảm với ông, em đã làm theo lời xúi dục của chồng.
Nhưng giờ thì hình như em cảm thấy em đã yêu ông chủ mất rồi. Em nhận ra rằng, chưa bao giờ em yêu chồng mà chỉ sống với anh ta bằng nghĩa vụ. Nhưng nếu bỏ chồng để đến với ông ấy thì dư luận và chồng em sẽ không buông tha cho em. Em khó nghĩ quá, chị có cách gì giúp em được không?
Em, N. San Jose
Đáp:
Chị đọc thư em ba lần, càng đọc càng thấy buồn giùm cho em. Chồng em là tên vô liêm sỉ, khi xúi em “cứ giả vờ nhận lời yêu ông ta để moi tiền” là chồng em đã ngang nhiên coi em như một cô gái bán thân mất rồi!
Em viết “gia đình em cũng tạm ổn nhờ vào số tiền em kiếm được hàng tháng”có nghĩa là chồng em không đi làm, chỉ nằm nhà sống bám vào em, và xúi em moi tiền của đàn ông khác, đó là cung cách của một tên ma cô! Cung cách ma cô này sẽ tiếp tục nếu ông chủ này không thích em nữa, hoặc ông ta chết, v. v. . ., em sẽ được “chồng” gán ghép cho người khác !
Trước sau, em là người có tư cách. Dù ít học, không kiếm được việc làm nhàn nhã, em tình nguyện đi làm việc dọn dẹp lau chùi nặng nhọc để có tiền nuôi con và luôn cả người chồng sống cuộc đời tầm gửi kia.
Chị chưa bao giờ khuyên vợ chồng ai bỏ nhau. Cho nên, chị sẽ trình bày với em một số ý kiến, mong em tự suy nghĩ:
Em còn rất trẻ, còn cả cuộc đời ở trước mặt, không nên quyết định vội vã. Trước nhất, em tạm ngưng làm cho cái hãng có ông chủ hiện em đang “yêu” (chưa chắc em đã yêu, mà chỉ là thấy em đang cần cả tình cảm lẫn tiền bạc, như người sắp chết đuối, ông chủ vừa vỗ về em trên phương diện tình cảm lại vừa giúp đỡ em về tiền bạc, nên trước mắt em, ông ta như là cái phao).
Đồng thời, em nói với chồng em rằng về phương diện đạo đức và liêm sỉ, em không thể tiếp tục cuộc sống hai mặt như vậy. Nay em nghỉ làm chỗ đó, yêu cầu anh ta đi kiếm việc, dù là việc lương ít, dù là việc nặng nhọc, anh ta phải đi làm, đó là cái giá mà người đàn ông phải trả, nếu còn muốn ngẩng mặt nhìn đời. Nếu anh ta tỉnh ngộ, nhận ra sự vô liêm sỉ của mình, biết hối lỗi, thì em – vì cháu bé – mà cho anh ta làm lại cuộc đời một lần, quên đi những lỗi lầm quá khứ, sau cơn mưa có thể trời sẽ sáng, em à.
Nếu anh ta ngoan cố, không chịu đi làm, muốn em cứ tiếp tục cuộc sống bòn tiền của đàn ông khác để nuôi anh ta như hiện nay, thì em ôm con về thưa với cha mẹ em, xin các người giúp đỡ. Cha mẹ em mà biết được sự anh ta khuyên em “cứ giả vờ nhận lời yêu ông ta để moi tiền”, thì chị tin rằng các người sẽ giúp gỡ em ra khỏi cảnh vợ chồng mà như ma cô lợi dụng gái này.
Nếu sau này vợ chồng em đã tan vỡ, em cũng không còn “cần” đến ông chủ cũ, mà em vẫn yêu ông ta, vẫn muốn sống chung, thì đó là em yêu ông ta với tình yêu thuần túy, không lợi dụng, không coi ông ta như một chỗ “tiện nghi”.
Còn như sau khi cách mặt, em cũng xa lòng, thì cuộc đời em còn trẻ trung, tương lai luôn luôn tươi sáng cho những con người biết đứng lên, biết sống tự lập, em ạ.
Thân chúc em mọi sự tốt lành.
Thuần Nhã (ĐPK)
Đây là một phần bản dich quyển The Mystique of Enlightenment của UG Krishnamurti, được thu thập và ghi lại bởi Rodney Arms (www.ugkrishnamurti), trong quyển sách này có những đoạn UG Krishnamurti tường thuật lại kinh nghiệm diễn biến tâm linh chứng ngộ kéo dài một thời gian 7 ngày của ông, mà ông goi đó là một vụ “bùng nổ” bên trong . Nhận thấy, kinh nghiệm chứng ngộ 7 ngày mà ông đã trải qua và kể lại là những thông tin bổ ích để tham khảo, xin chia sẻ với các bạn.Thông tin thêm Ông này là UG Krishnamurti khác với ông Jiddu Krishnamuri là ông thầy nỗi tiếng có rất nhiều sách nhiều người đã biết.
I. Sơ Lược tiểu sử U.G. Krishnamurti. Tên đầy đủ của UG là Uppalori Gopala Krishnamurti. Bạn bè và những người ngưỡng mộ ông thường gọi ông một cách thân thương là UG. Ông sanh ngày 9 tháng 7 năm 1918 trong một gia đình dòng dõi Bà la môn ở Masulipatam, một thị xã miền ven biển thuộc tỉnh Andhra Pradesh, Ấn Độ. Khi UG chỉ vừa chào đời được 7 ngày thì mẹ của UG qua đời, và UG được nuôi dưỡng, dạy dỗ bởi ông ngoại. Ngoại của UG là một luật sư danh tiếng, giàu có, và là một thành viên nổi bật của hội Thông Thiên Học. UG trưởng thành trong môi trường đặc thù của Thông Thiên Học và lại có tín ngưỡng, thực hành theo Ấn độ giáo chính thống. Thậm chí khi còn là một cậu bé, UG là một kẻ hay nổi loạn, chống đối, lỗ mãng nhưng thật thà đối với những gì anh ta đã làm.
UG hoàn tất tiểu học và trung học ở thị xã Gudivada và sau đó lấy bằng cử nhân danh dự về Tâm lý và Triết học tại Đại Học Madras. Nhưng, sự học hỏi nghiên cứu về các hệ thống triết lý đa dạng và tâm lý học tây phương chỉ gây chút ít ấn tượng đối với UG. “Cái tâm thức mà mấy cha nội này đang lý giải thì nó nằm ở đâu vậy?”, có một lần UG đã hỏi vị giáo sư Tâm Lý học của mình như thế. Có điều gì đó lạ thường nơi một sinh viên chỉ vừa mới 20 tuổi đầu, đặc biệt là học thuyết của Freud đã được xem như là thành tựu mới nhất nói về tâm thức nhân loại vào thời đó.
Khoảng thời gian từ 14 tuổi đến 21 tuổi, UG thỉnh thoảng đến học và thực hành thiền định và yoga với Swami Sivananda ở Rishikesh. UG có nhiều thể nghiệm và linh ảnh kỳ diệu khi tu tập ở đó, tuy nhiên UG đã đặt nghi vấn về tính chất thực hư của những kinh nghiệm tâm linh này, vì UG nghĩ rằng anh có thể nhận thức ra được chúng chính là nền tảng kiến thức hiểu biết mà UG đã có trước đó rồi.
Năm 1939, khi được 21 tuổi, UG đến gặp gỡ vị đạo sư Sri Ramana Maharshi và hỏi ông, “ông có thể trao cho cho tôi cái gọi là “giải thoát” không?” Ramana đáp, “tôi có thể trao cho anh cái-đó, nhưng anh có khả năng nắm bắt cái-đó được không?” Câu trả lời của Ramana gây chấn động UG như “tiếng sét” và khiến cho UG quyết định bắt đầu cuộc hành trình tìm kiếm chân lý không mệt mỏi, không nản lòng, và cuối cùng không ngờ UG đã đạt được quả vị chứng ngộ giải thoát hoàn toàn vào năm UG 49 tuổi (năm 1967).Sau khi rời đại học, UG gia nhập hội Thông Thiên Học với vai trò diễn giả và ông đi vòng quanh Ấn độ để thuyết giảng về Huyền bí học. Ngay cả sau khi lập gia đình với bà Kusuma Kumari vào năm 1943, ông vẩn còn tiếp tục làm việc cho hội Thông Thiên Học và đã có nhiều buổi thuyết giảng ở các quốc gia Châu Âu. Mãi đến năm 1953 ông nhận thức ra được rằng những chuyện ông đang làm là sai lầm đối với việc tìm kiếm chân ngã, nên ông đã phẫn nộ rời bỏ chức vụ. Sau đó ông gặp Jiddu Krishnamuri, là bậc đạo sư tâm linh khét tiếng về việc truyền bá tư tưởng phủ nhận mọi truyền thống giáo điều, tôn sùng thần tượng, và tập tục quy ước xã hội vào lúc bấy giờ. Trong vòng 2 năm, UG thường hay có những cuộc hội thoại với J. Krishnamurti, và hai người đã có nhiều cuộc tranh luận dữ dội về những vấn đề tâm linh. Sau cùng UG đã từ chối đường lối của J. Krishnamurti, và gọi đó là “một chuyến hải trình hư ảo..”
Trong suốt khoảng thời gian này, UG cũng có trải qua một thể nghiệm biến đổi thân tâm thần kỳ, mà ông gọi đó là “kinh nghiệm về Cái Chết”. Nhưng ông xem nhẹ kinh nghiệm đó và “quét sạch nó sang một bên”, và tiếp tục thăm dò, tra xét, kiểm nghiệm, hoài nghi mỗi một kinh nghiệm tâm linh cho đến khi nào ông đạt được giác ngộ thực sự.
Thời gian trước năm 1967 ( năm ông đạt được giác ngộ giải thoát) ông có rất nhiều kinh nghiệm tâm linh, ông có năng lực có thể nhìn thấy tiền kiếp, hiện tại và tương lai của người khác. Ông nói: “Cái khoảnh khắc mà tôi gặp một người, tôi có thể thấy được toàn bộ quá khứ, hiện tại, và vị lai của người đó. Nhưng tôi không sử dụng năng lực này. Tôi tự hỏi, ‘tại sao tôi lại có năng lực này?’. Thỉnh thoảng tôi nói những điều nào đó, và chúng xảy ra đúng như vậy. Tôi vẫn chưa thể thể hiểu rõ và nghĩ ra được căn nguyên hoạt động của năng lực đó? Tôi cũng không có hứng thú với nó. Làm thế nào mà tôi nói điều gì đó, và nó luôn xảy ra y như vậy? Tuy nhiên, nó đã mang lại vài hậu quả không vui lòng, và gây nên sự buồn phiền cho một ít người.”
Năm 1955, UG đưa gia đình sang Hoa Kỳ để chữa bệnh cho con trai của ông. Khi nguồn tài chánh của ông cạn kiệt, ông để gia đình vợ con trở về Ấn Độ, còn ông thì ở lại tiếp tục hành trình tâm linh. Không tiền không bạc, ông sống lang thang, trôi nổi từ nơi này đến nơi khác, London, Paris… Sau cùng tình cờ ông quen biết với cô Valentine de Kerven, và tạm trú thân ở nhà cô Valentine ở Saanen, Thụy Sĩ. Vào khoảng thời gian trú ngụ tại nhà cô Valentine, những kinh nghiệm tâm linh lạ thường đã xảy đến cho ông, nó là sự khai mào cho “cái chết – thoát thai hoán cốt” vào ngày sinh nhật ông đúng 49 tuổi (1967), và là sự bắt đầu khó thể tin được về những thể nghiệm thay đổi chuyển hóa bên trong cơ thể ông đã khiến ông “nhảy một bước vào cái Tâm Thái (mảnh đất Như Lai – nói theo thiền tông), cái Tâm Thái mà cho đến nay vẫn còn khó hiểu trong khuôn khổ hiểu biết về truyền thống huyền bí và khai ngộ của chúng ta. Liên tục trong 7 ngày, sau bảy lần thay đổi xảy ra, ông đạt được trạng thái mà ông gọi là “Tánh Tự Nhiên” (Natural State). Nó là một sự biến đổi tế bào trong cơ thể, một con người được chuyển hóa, tái sinh, mới mẻ toàn diện.
UG rời khỏi thế giới này vào lúc 2:30 PM, ngày 22 tháng 3 năm 2007 tại Vallecrosia, nước Ý. Ông hưởng thọ 88 tuổi. Bạn bè và nhiều người ngưỡng mộ ông khắp nơi trên thế giới đã gởi lời bày tỏ thương tiếc sự ra đi của ông.II. Cơ duyên đưa UG đến giác ngộ rốt ráo (July 1967): Lời kể lại của U.G. Krishnamurti khi ông trú ngụ tại nhà cô Valentine.
Suốt trong khoảng thời gian đó (tôi gọi nó là thời kỳ thai nghén), đủ mọi thứ loại thể nghiệm tâm linh xảy đến bên trong cơ thể tôi – nhức đầu, những cơn đau đầu liên tục không ngừng nghỉ, những cơn đau khủng khiếp bên trong não bộ. Tôi đã nuốt hàng ngàn viên thuốc Aspirin, nhưng thuốc men không giúp ích cho tôi bớt đau chút nào cả. Đó không phải là chứng “đau nhức nửa đầu” (migraine) hoặc những triệu chứng đau đầu mà y học đã biết, nhưng là những cơn nhức đầu như búa bổ. Trong thời gian bị cơn đau đầu hành hạ, ngày nào tôi cũng đều uống nhiều viên Aspirin và từ 15 cho đến 20 tách cà phê để mong giảm bớt cơn đau phần nào! Có một ngày Valentine than phiền “Anh làm cái gì vậy! Ngày nào anh cũng uống tới 15 tách cà phê. Anh có biết nó cũng là tiền bạc không? Từ 300 cho đến 400 francs mỗi tháng đó.” Dù thế nào đi nữa, nó cũng là một điều dễ sợ cho tôi.
Có nhiều chuyện buồn cười xảy đến cho tôi. Tôi còn nhớ là khi tôi chà sát trên thân thể tôi, thì có đốm sáng lóe lên giống như chất lân tinh phát sáng lên vậy. Valentine đã từng có lần chạy ra khỏi phòng ngủ của cô để xem xét – vì cô cứ nghĩ là có chiếc xe nào đó chạy đến con đường trước nhà vào giữa đêm. Hể mỗi lần tổi trở mình lăn trên gường thì có ánh sáng lấp lánh phát ra, (UG cười ) thật ngộ nghĩnh – “Cái gì đây vậy?” Nó là điện – đó là tại sao tôi lại bảo nó là từ trường điện. Tôi cứ tưởng nguyên nhân do bởi chất ni-lon của áo quần tôi mặc có tích chứa tĩnh điện gây ra, rồi tôi tạm dừng sử dụng đồ vật có chất ni-lon. Tôi là người thuộc chủ nghĩa hoài nghi cực đoan, “từ đầu tới chân”, tôi không bao giờ tin tưởng bất cứ điều gì cả; thậm chí nếu tôi thấy phép lạ xảy xảy ra trước mặt tôi, tôi cũng không vội chấp nhận – chẳng hạn như sự cấu tạo, bản chất của tôi đây. Sự kiện trên hoặc điều nào tương tự như thế chưa bao giờ được tạo ra và xảy đến cho tôi trước đây…
Những sự thể rất lạ lùng xảy đến với tôi, nhưng tôi chưa bao giờ cho là chúng có liên quan đến những điều gọi là tự-do tự-tại hoặc giải thoát, bởi vì vào thời gian đó toàn thể mọi sự biến mất khỏi cơ thể tôi. Tôi đã vươn tới cái điểm mà tôi tự nhủ “Tất cả các bậc minh sư và cứu thế đều là vớ vẩn – vì vậy tôi không còn thích thú điều gì tương tự như vậy nữa,” vì thế nó biến mất khỏi bản thân tôi hoàn toàn. Những điều kỳ dị khác thường vẫn tiếp tục diễn biến, nhưng tôi không bao tự nhủ là “Ô, (UG cười ) tôi đang đi đến nơi ĐÓ, tôi gần tới Đó.” Cái ĐÓ không có xa hay gần, cũng không có cận kề hay sát bên chỗ Đó. Không có ai tiến gần tới nơi Đó được, bởi vì anh ta chuẩn bị, nên anh ta khác biệt với Nó. Không thể có sự sẵn sàng để đạt được cái Đó. Nó chỉ hích trúng vào bạn, giáng mạnh vào bạn như là sức nặng một tấn gạch vậy.Vào tháng 4 năm 1967, tôi tình cờ đến Paris trong khi Jiddu Krishnamurti cũng ngẫu nhiên có mặt ở đó. Một vài người bạn của tôi gợi ý “Tại sao tôi không đi lắng nghe bạn cũ (J.K) của tôi giảng thuyết? Anh ta có một buổi hội thảo ở Paris.” Tôi nói, “Được thôi, tôi đã không nghe anh ấy nói chuyện nhiều năm rồi – gần như đã 20 năm – để tôi đến đó nghe thử.”
Khi tôi đến hội trường, họ yêu cầu tôi trả hai đồng francs (tiền Pháp) để vào cửa. Tôi nói “Tôi không bằng lòng trả hai đồng francs để nghe J. Krishnamutri giảng thuyết. Không, thôi chúng ta hãy đi nơi khác và làm chuyện gì vớ vẩn chơi. Hãy đến sòng bạc xem vũ thoát y. Đi nào, chúng ta chỉ mất hai mươi đồng francs để đến đó.” Vì vậy, chúng tôi đến sòng bạc “Casino de Paris” xem chương trình khiêu vũ. Tôi có được một kinh nghiệm rất lạ lùng vào thời gian đó: Tôi không biết được rõ tôi chính là người vũ công hay là có một người vũ công nào khác đang khiêu vũ trên sàn nhảy. Một kinh nghiệm rất là kỳ quặc đến với tôi: có một loại chuyển động kỳ dị như thế nào đó bên trong người tôi. (Sự chuyển động kỳ dị này bây giờ đã trở thành quen thuộc tự nhiên đối với tôi rồi.) Không có sự phân cách lúc đó: không có người quan sát đang nhìn ngắm người vũ công. Vấn đề là tôi không biết có phải tôi chính là người vũ công trên sàn nhảy hay là một người vũ công nào khác trên sàn nhảy đã khiến tôi suy nghĩ nhức óc, làm phiền phức tôi lúc đó – sau đó chúng tôi rời khỏi sòng bạc…
Câu hỏi “Cái trạng thái đó là gì?” đã tạo nên một cường độ mãnh liệt trong tôi – không phải cường độ về cảm xúc – tôi càng cố gắng tìm câu trả lời cho câu hỏi thì tôi càng thất bại, và cường độ của câu hỏi lại càng tăng lên mạnh mẽ thêm. Nó cũng giống như là (tôi luôn luôn dùng sự so sánh như vầy) vỏ hạt gạo (trấu): Nếu có một đống trấu bắt lửa, nó tiếp tục cháy ngầm âm ỉ bên trong; bạn không nhìn thấy lửa cháy ra phía ngoài, nhưng khi bạn chạm vào, dĩ nhiên, nó sẽ làm bạn bị phỏng. Giống y cách thức như thế, câu hỏi vẫn cứ tiếp tục diễn tiến: “Cái trạng thái đó là gì? Tôi muốn hiểu, đạt được nó. Chỉ thế thôi. J. Krishnamurti có lần nói rằng ‘Không có đường lối hay phương pháp nào để tôi có thể đạt đến được’, nhưng tôi vẫn cứ muốn biết cái trạng thái đó nó như thế nào, cái Tâm Thái mà Phật Thích Ca, Sankara, và các vị đạo sư khác đã hội nhập vào trong nó.”
Sau đó, một giai đoạn khác xảy ra vào tháng 7 năm 1967. Jiddu Krishnamurti lại đến Saneen thuyết giảng. Các bạn của tôi lôi kéo tôi đến đó và nói “buổi nói chuyện của J. Krishnamurti lần này miễn phí, tại sao tôi không đi nghe thử xem sao?” Tôi nói “Cũng được, tôi sẽ đi nghe J.Krishnamurti giảng thuyết.” Khi tôi lắng nghe J. Krishnamurti nói, thì có cái gì đó là lạ, khôi hài xảy đến cho tôi – cái cảm giác kỳ lạ mà J. Krishnamurti đang diễn tả là trạng thái của tôi, chứ không phải của J. Krishnamurti. Tại sao tôi lại muốn biết tâm thái của J. Krishnamurti chứ? Anh ta đang diễn tả một trạng thái gì đó, vừa vận hành, vừa tỉnh thức, vừa tịch lặng – “Trong trạng thái tịch lặng đó, không có tâm ý; chỉ có hành-động mà thôi” – tất cả mọi thứ đại loại như vậy. Vậy là “Tôi hiện đang ở trong tâm thái đó. Thật là quái quỉ gì đâu, tại sao tôi lại phải tiêu phí hết ba bốn mươi năm để đi nghe những người khác thuyết giảng, và cố gắng cứ muốn đi tìm hiểu cái tâm thái của J. Krishnamurti hay là của một ai khác, như Phật Thích Ca, Chúa Giê-su? Tôi ở trong tâm thái, cảnh giới đó mà. Bây giờ tôi đang an trú trong tâm thái đó.” Thế nên, tôi bước ra khỏi hội trường và không bao giờ trở lại nữa.
Kế đến – rất lạ kỳ là – câu hỏi “Cái tâm thái đó là gì?” tự chuyển biến thành câu hỏi khác: “Làm thế nào để tôi biết được là mình đang an trú trong tâm thái đó, cái tâm thái của Phật, cái tâm thái mà tôi rất muốn biết và mong cầu từ mọi người? Nhưng mà làm thế nào tôi biết được là tôi hiện ở trong tâm thái đó đây? ”…Ngày kế tiếp (ngày sinh nhật năm 49 tuổi của UG – ngày 9 tháng 7 năm 1967 ) tôi đang ngồi trên một chiếc ghế dài dưới một cội cây ngắm nhìn một trong những địa điểm thắng cảnh tuyệt đẹp của thế giới, “bảy ngọn đồi và bảy thung lũng” của miền đất Saanen. Tôi đang ngồi yên vị nơi đó. Câu hỏi không còn trong trí nữa, mà toàn thể thân xác và tâm trí tôi chính là câu hỏi đó:
“Làm thế nào tôi biết được rằng tôi ở trong Tâm thái đó?”
Có một sự phân chia thật lạ kỳ bên trong bản thể tôi: có một kẻ nào đó biết được rằng hắn ta đang ở trong tâm thái đó. Kiến thức về tâm thái – cái mà tôi đã đọc qua sách vở, qua kinh nghiệm, qua việc nghe thiên hạ nói về nó – chính kiến thức này đang quan sát cái tâm-thái đó, vì vậy tâm-thái đó chỉ là sự phóng chiếu (vọng tưởng) từ kiến thức này ra mà thôi.”
Nhận nhức được như thế tôi mới tự nhủ: “Nhìn đây ông thần, sau bốn mươi năm ông chẳng có tiến thêm được một bước nào hết; ông chỉ dậm chân tại chỗ thôi. Khi ông đặt câu hỏi trên, thì cái kiến thức này phác họa và phóng tưởng lên tâm trí ông (kiến thức tạo ra cái tâm thái và kẻ đang quan sát hay đang ở trong tâm thái đó). Tương tự như thế, ông ở trong cái tình cảnh mà kiến thức tự nó đặt câu hỏi đối với chính nó, ‘Làm thế nào tôi biết (tâm thái chứng ngộ)?’ bởi vì nó chính là kiến thức này mà, là sự diễn tả của mọi người về cái tâm-thái đó như thế nào đó đã tạo ra tâm-thái này bên trong ông. Ông đang đùa cợt với chính mình. Ông đúng là một kẻ ngu xuẩn.” Thế thì chẳng còn gì cả, mất sạch hết rồi. Tuy nhiên, vẫn còn có một loại cảm giác kỳ dị bên trong tôi, cái cảm giác lạ lùng là cái tâm-thái này…
Câu hỏi kế tiếp là “Làm thế nào tôi biết cái cảm giác kỳ lạ chính là tâm-thái này?” – Tôi không có bất cứ câu trả lời nào cho câu hỏi đó cả — câu hỏi giống như là rơi vào trong vùng nước xoáy, câu hỏi đó lại hiện lên và xoáy nước cuốn mất, và tình trạng cứ diễn tiến tiếp tục lặp đi lặp lại như vậy .v.v…
Kế đến, thình lình câu hỏi biến mất hoàn toàn. Không có gì xảy ra cả; câu hỏi chỉ đơn thuần biến mất hẳn thôi. Tôi cũng không tự bảo “Ồ, trời ơi! Bây giờ tôi đã tìm được câu trả lời rồi.” Thậm chí tâm-thái đó cũng biến mất luôn – tâm-thái mà tôi nghĩ là tôi đang ngộ nhập trong nó, cái Tâm Thái của Phật, Chúa Giê-su – nó cũng biến mất. Câu hỏi đã biến mất, toàn thể mọi sự vong bặt hoàn toàn trong tôi. Tất cả là như vậy, bạn thấy đó.
Kể từ lúc đó trở đi, tôi không bao giờ tự nói với chính mình “Bây giờ ta đã tìm được giải đáp cho mọi vấn đề rồi.” Tâm-thái mà tôi đã từng nói “Chính là Tâm thái này đây” – tâm thái đó cũng biến mất luôn. Câu hỏi biến mất. Mọi sự vắng bặt. Cái còn lại, nó không phải là hư-không, không phải là trống-rỗng, cũng không phải là khoảng-không, nó không phải là những thứ vừa kể trên. Câu hỏi bất thình lình biến mất hoàn toàn, chỉ thế thôi…..
( UG nói: Câu hỏi nền tảng biến mất, tôi phát hiện ra rằng nó không có câu trả lời, là một hiện tượng sinh học. Tiếp theo là “một sự bùng nổ” bất thình lình xảy ra bên trong tôi, dường như chấn động vang dội đến mỗi tế bào, mỗi sợi thần kinh, và mỗi tuyến trong thân thể.” Cùng với sự “bùng nổ” đó đó, ảo tưởng có sự liên tục của tư tưởng, có một trung tâm mà cái “Tôi” liên kết với tư tưởng, không còn hiện hữu nữa.)
Sau sự bùng nổ, tư tưởng không thể liên kết được. Tình trạng liên kết bị bẻ gẫy, và một khi nó bị gẫy vỡ, thì sự liên kết này chấm dứt. Thế nhưng không phải là sự liên kết tư tưởng tương tục đó bùng vỡ một lần mà thôi đâu; mỗi lần có một ý tưởng, ý nghĩ, hay ý niệm nổi lên, là nó tự nổ tan ra. Kết cuộc là sự liên tục của tư tưởng đi đến chỗ chấm dứt, và tư tưởng bắt đầu vận hành theo “nhịp điệu tự nhiên” của nó.
Kể từ đó tôi không có bất cứ câu hỏi hay vấn đề nào hết, vì những câu hỏi không thể lưu lại trong tình trạng đó nữa. Những câu hỏi hiện tại mà tôi có rất đơn giản (thí dụ như: “Làm thế nào tôi có thể đi tới Hyderabad?” – Hyderabad là một thành phố trung tâm ở miền nam Ấn Độ) để có thể sinh hoạt ở thế giới này. Còn đối với những loại câu hỏi vấn đề tâm linh (tâm thái giác ngộ) thì không có ai có thể trả lời được – vì vậy chúng không còn nữa.
Mọi thứ trong đầu óc tôi bị nén chặt lại – không còn khoảng trống cho cho bất cứ điều gì len lỏi vào trong bộ não tôi được cả. Lần đầu tiên tôi ý thức được là mọi thứ, mọi điều trong đầu óc tôi bị “siết chặt” lại. Vì vậy, những ấn tượng (ý nghĩ, cảm giác .v.v…) trong quá khứ hoặc bất cứ gì bạn có thể gọi tên về chúng – thỉnh thoảng chúng cố gắng ngoi lên để chứng tỏ sự hiện diện quan trọng của chúng – nhưng những tế bào não bị “ép chặt” đến nỗi chúng không có cơ may nào giỡ trò vớ vẩn trong đó nữa. Sự phân chia không thể tồn tại trong trí não nữa – về mặt cơ thể, điều nàu khó thể nào xảy ra được. Bạn không cần phải làm một điều gì với nó, bạn thấy đó, nó chỉ xảy ra thôi. Đó là lý do tôi nói khi sự “bùng nổ” này xảy ra (Tôi dùng chữ “bùng nổ” (explosion) bởi vì nó giống như là một vụ nổ bom nguyên tử) nó để lại những phản ứng hạt nhân nổ dây chuyền tiếp theo sau đó. Mỗi tế bào trong cơ thể bạn, những tế bào ở ngay chính bên trong tủy xương của bạn, phải chịu đựng, trải qua sự “thay đổi” này – tôi không muốn sử dụng từ ngữ “thay đổi” – nó là một sự thay đổi bắt buộc phải xảy ra, không thể đảo ngược lại được. Không có cái chuyện bạn muốn trở lại tình trạng trước đây được nữa; cũng không có cái vấn đề bị “tiêu tùng” đối với người chân chính trải qua tình trạng này. Và không thể đảo ngược lại được: một hợp chất đã được chế luyện từ một vài loại kim loại nào đó.
Nó giống như một vụ nổ phản ứng hạt nhân nguyên tử, bạn thấy đó – nó tàn phá, đảo lộn toàn bộ cơ thể. Nó không phải là một điều dễ chịu thoải mái gì đâu; nó là sự chấm dứt sau cùng của kẻ chân chính (người tìm chân lý) – một sự càn quét mãnh liệt như vậy, nó đánh phá từng tế bào, từng dây thần kinh trong cơ thể bạn. Cơ thể tôi đã trải qua sự đau đớn oằn oại khủng khiếp vào khoảng thời gian đó. Không phải là bạn kinh nghiệm sự “bùng nổ” đó, bạn không thể nào kinh nghiệm sự “bùng nổ” được – mà là hậu-quả, “chất phóng xạ nguyên tử” của nó thay đổi toàn bộ cơ cấu hóa học trong cơ thể bạn..
Người hỏi:
– Thưa ngài, ắt hẳn ngài đã có kinh nghiệm, tôi mạn phép dùng từ ngữ: những “giai tầng” cao hơn…
UG. Krishnamurti:
– Bạn nói về “giai tầng”? Không có giai tầng hay là đẳng cấp gì cả. Bạn nên hiểu là có một sự kiện rất kỳ lạ xảy đến như là hệ quả của vụ “bùng nổ”, hoặc bạn muốn gọi nó là gì cũng được: không có một sát na (kẻ hở) nào mà tư tưởng có thể trổi lên trong tâm thức này cho là tôi khác với bạn. Không bao giờ. Sau vụ bùng vỡ đó, tư tưởng không còn hiện lên trong ý thức tôi và bảo rằng bạn khác biệt với tôi, hoặc tôi khác nhau với bạn, bởi vì không có bất cứ “điểm” nào hiện hữu ở đây, không còn có “trung tâm” (tự ngã, cái Tôi) ở trong đây nữa. Chỉ có sự liên hệ đến “trung tâm” này, bạn mới tạo tác nên những điểm, những vấn đề khác.
Hỏi:
– Ở một vài khía cạnh nào đó, nhất định ngài hẳn phải khác với mọi người.
UG:
– Về mặt hoạt động trong thân thể, có lẽ thế.
Hỏi:
– Ngài nói rằng những sự biến đổi dữ dội đã xảy ra trong bản thân ngài. Làm thế nào ngài biết được điều này? Có ai đã khám sát, kiểm tra tình trạng này của ngài chưa, hoặc đây chỉ là sự suy luận mà thôi?
UG:
– Những tác động, ảnh hưởng từ hậu quả vụ “bùng nổ” đó, cái cách thức những giác quan đang hoạt động (độc lập) hiện giờ thì không còn cần đến bất cứ một trung tâm hay tác nhân nào để kết hợp nữa – đó là tất cả những gì tôi có thể cho bạn biết. Thêm một điều khác: cơ cấu hóa học đã biến đổi – tôi có thể quả quyết rằng trừ phi có sự hoán chuyển hay thay đổi toàn thể cấu trúc hóa học xảy ra, nếu không thì không có cách nào để các cơ quan thân thể giải thoát khỏi được sự điều khiển của tư tưởng, sự tương tục của tư tưởng. Cho nên, vì sự liên tục của tư tưởng không còn nữa, bạn có thể dễ dàng nhận thấy rằng một điều gì đó mới lạ xuất sinh, nhưng cái-gì thật sự đã xuất sinh đây? Tôi không có phương cách nào để thể nghiệm truyền đạt nó cả.
Hỏi:
– Rất có thể là cái tâm trí đang giở trò vẽ vời rằng “tôi chỉ cần nghĩ tôi là “một kẻ bùng-nổ”? (tưởng tượng lâu dần thì sự bùng nổ này sẽ xảy ra)
UG:
– Tôi không cố ý làm cái việc thương mại buôn bán, đổi chác bất cứ cái gì ở đây. Bạn không thể nào bắt chước sự bùng vỡ này được. Sự thể mà nó xảy ra thì nằm vượt ngoài lĩnh vực, phạm vi mà tôi trông chờ, mơ ước, và mong muốn thay đổi trước đây. Vì vậy, tôi không gọi nó là một sự “thay đổi”; tôi thực sự không biết cái gì đã xảy đến cho tôi. Điều mà tôi có thể nói với bạn là cái cách thức mà tôi đang “hoạt động” (hành động và đáp ứng). Dường như có đôi chút khác biệt về cách thức bạn hoạt động và cách thức tôi hoạt động, nhưng căn bản thì không có khác nhau chi cả. Làm thế nào lại có bất cứ sự khác nhau giữa bạn và tôi? Không thể nào. Nhưng mà từ cái cách thức, đường lối chúng ta cố gắng diễn đạt, bày tỏ một điều gì, dường như là có sự khác biệt. Tôi cảm nhận là có một ít khác biệt nào đó, và cái gì mà sự khác biệt đó hàm chứa thì tôi đang cố gắng hiểu biết. Vì thế, đây là cách thức tôi “hoạt động.” UG để ý rằng những thay đổi căn nguyên, nền tảng của chức năng các giác quan diễn ra tuần tự trong suốt một tuần lễ tiếp theo sau ngay vụ “bùng nổ”. Vào ngày cuối cùng, ngày thứ 7, thân thể ông đã trải qua “một tiến trình của cái Chết về thể xác – Nirvikalpa samadhi” (thiền tông có câu: Đại Tử Nhất Phiên – Một Phen Chết Lớn), và sau đó những sự thay đổi hay chuyển hóa này của cơ thể đã trở nên thường tồn vĩnh viễn.
Những biến đổi trong 7 ngày tiếp theo ngay sau sự “bùng nổ” UG kể: Những thay đổi bắt đầu. Kể từ ngày sau vụ bùng nổ trở đi, trong 7 ngày – mỗi ngày có một thay đổi diễn ra. Đầu tiên tôi phát hiện ra nét mềm mại của làn da trên toàn cơ thể; hiện tượng chớp (nháy) mắt dừng lại, chấm dứt hẳn; và sau đó là những thay đổi về vị giác, khứu giác, thính giác – tôi nhận biết được năm sự biến đổi này. Có thể, thậm chí chúng đã biến đổi trước đó rồi, và tôi chỉ vừa nhận ra lần đầu tiên…
NGÀY THỨ 1:
Tôi để ý thấy là làn da của tôi mềm như tơ lụa và phát ra ánh sáng kỳ dị, ánh sáng màu vàng kim. Trong khi tôi cạo râu, cứ mỗi lần tôi cố gắng cạo thì lưỡi dao cạo bị trơn trợt đi. Tôi thay đổi lưỡi dao cạo râu khác, nhưng nó cũng vô dụng. Khi tôi chạm vào mặt tôi, xúc giác tôi đã khác biệt so với trước đây, bạn thấy đó, cách thức tôi cầm giữ dao để cạo râu cũng vậy. Đặc biệt là làn da của tôi – nó mềm như nhung lụa và phát ra ánh sáng màu vàng kim. Tôi chẳng có liên kết sự thay đổi này với bất cứ điều gì khác chút nào cả; tôi chỉ quán sát nó thôi.
NGÀY THỨ 2:
Lần đầu tiên tôi nhận thức được tâm trí ở trong tình trạng mà tôi gọi là “buông xả” thả lỏng hoàn toàn. Tôi đang ở trong nhà bếp của tầng lầu trên, và Valentine đang làm món xúp cà tô-mát. Tôi nhìn món xúp và không biết nó là món gì. Cô ấy bảo đó là món xúp cà tô-mát. Tôi nếm thử món xúp và mới nhận biết được “À, mùi vị của món xúp cà tô-mát là như thế này đây.”
Kế đến tôi nuốt món xúp, và sau đó tôi lại quay trở về cái khung tâm trí kỳ oặc – dùng chữ “khung tâm trí” cũng không đúng, mà phải nói rằng nó một cái “khung không có tâm trí (vô niệm)” – nên tôi lại quên khuấy mất đi tên món xúp. Tôi lại hỏi Valentine “Đó là món gì vậy?” Cô ta lặp lại, “đó là món xúp cà tô-mát.” Tôi nếm lại món xúp, rồi tôi nuốt nó và sau đó lại quên mất đi tên món xúp. Tôi đã chơi đùa với tình trạng này một lát. Nó đúng là một việc khôi hài với tôi khi đó, cái “trạng thái buông xả”.
Bây giờ trạng thái này đã trở nên bình thường rồi. Tôi hiện giờ không còn tiêu phí thời gian cho việc mơ màng mộng tưởng, lo lắng, quan niệm hóa và những suy nghĩ khác mà hầu hết mọi người làm khi họ cô độc. Tâm trí tôi giờ đây chỉ đáp ứng khi nó được cần đến, thí dụ khi bạn đặt câu hỏi, hoặc khi tôi phải sửa chữa hay lắp gắn cái máy thâu băng, hoặc một điều gì tương tự như thế.
Thời gian còn lại thì tâm trí tôi ở trong tình trạng “buông xả”. Dĩ nhiên hiện giờ ký ức tôi hồi phục trở lại – đầu tiên tôi bị mất nó, nhưng bây giờ tôi đã có nó trở lại – nhưng trí nhớ hay ký ức tôi thì nằm trong “nền, chỗ” của riêng nó và chỉ hiển hiện hoạt động khi nó được cần đến, một cách tự động. Khi nó không được cần đến, thì không có tâm trí hiển hiện, không có tư tưởng (vô niệm), chỉ có cái Sống mà thôi…
NGÀY THỨ 3:
Một vài người bạn muốn hỏi ý muốn đến dùng buổi ăn tối với chúng tôi, và tôi nói “Được mà, tôi sẽ nấu một vài món.” Nhưng, vì một lý do nào đó, tôi đã không thể nêm nếm thức ăn một cách đúng mức, thích hợp được.
Tôi đã dần dần nhận thấy là vị giác và khứu giác đã được chuyển hóa rồi. Mỗi lần có mùi gì đó đi vào trong lỗ mũi tôi, nó gây kích thích khó chịu đến tận trung tâm khứu giác, trong cùng một tình trạng giống nhau – dù cho cái mùi đó là mùi hương thơm đắt tiền nhất hoặc là phân bò, sự gây kích thích đó cũng giống y nhau, không khác. Và khi đó, mỗi khi tôi nếm một món gì, tôi chỉ nếm được cái gia vị nào trội nhất mà thôi – và những thành phần gia vị khác của món đó thì từ từ kế tiếp đó tôi mới cảm nhận.
Kể từ lúc đó, mùi hương nước hoa không còn nghĩa lý gì với tôi, và thức ăn nêm nếm gia vị thơm ngon cũng không còn hấp dẫn tôi nữa. Tôi có thể nếm đúng được thành phần gia vị trội nhất, ớt hay bất cứ gia vị nào đó.
NGÀY THỨ 4:
Có cái gì đó đã chuyển biến nơi đôi mắt. Chúng tôi đang ngồi trong nhà hàng “Rialto”, và tôi bắt đầu nhận thức được tầm nhìn to lớn kỳ lạ của đôi mắt, phóng nhìn cảnh vật từ xa theo một lối thu hẹp giống như nhìn qua ống kính có bề mặt gương lõm vậy. Cảnh vật di chuyển đến về phía tôi, đi vào bên trong tôi, và sau đó hình ảnh sự vật đi ra khỏi bản thân tôi, dường như nó xuất phát ra từ bên trong tôi. Hiện trạng cách nhìn của mắt thay đổi quả thật là một vấn đề nan giải cho tôi khi đó – mắt của tôi dường như giống một cái máy thu hình khổng lồ, nó tự thay đổi tiêu điểm hay tụ điểm mà tôi không cần phải làm gì cả.
Bây giờ thì tôi quen với cách nhìn này của đôi mắt rồi và đó cũng là cách thức mà tôi nhìn xem mọi sự mọi vật. Khi bạn lái xe Mini Van đưa tôi đi dạo, tôi giống như là một thợ nhiếp ảnh, quay phim đang vác máy ảnh (đôi mắt) đi cùng chiếc xe. Những chiếc xe chạy từ hướng khác hay ngược chiều đi thẳng vào trong bản thân tôi, và khi những xe đó vượt qua xe chúng ta, thì chúng di chuyển ra từ trong bản thân tôi.
Mỗi khi mắt tôi nhìn cố định lên một cảnh vật gì, thì nó nhìn dính chặt vào sự vật đó với sự chú tâm trọn vẹn, giống như là chiếc máy ảnh vậy. Một sự kiện khác nữa về đôi mắt của tôi: khi chúng tôi rời nhà hàng trở về đến nhà, tôi nhìn vào trong gương để xem có điều gì kỳ lạ về đôi mắt tôi, và xem nó đã được biến đổi, “lắp đặt, ổn định” ra sao. Tôi nhìn vào trong gương một thời gian dài, và sau đó nhận thấy là mi mắt không còn chớp, nháy nữa. Tôi nhìn vào trong gương trong khoảng thời gian từ 30 phút đến 45 phút – đôi mắt vẫn bất động không chớp nháy gì cả. Bản năng chớp nháy của mi mắt đã biến mất, không còn tồn tại nữa, và bây giờ cũng vậy…
NGÀY THỨ 5:
Tôi nhận biết được sự thay đổi về thính giác. Khi tôi nghe tiếng chó sủa, âm thanh đó bắt nguồn phát ra từ bên trong tôi. Và cũng giống như vậy khi tôi nghe tiếng rống của con bò, tiếng kèn xe lửa – bất thình lình, tất cả những âm thanh đó xuất phát ra từ bên trong nội tâm mình, bắt nguồn từ nội giới chứ không phải ngoại giới – hiện giờ tình trạng vẫn như thế.
NGÀY THỨ 6:
Năm giác quan đã thay đổi trong 5 ngày, và ngày thứ 6 trong khi tôi đang nằm trên ghế xôfa – Valentine đang ở trong nhà bếp – và … bất chợt, thân thể tôi biến mất. Thể xác đã không còn hiện hữu. Tôi nhìn vào tay tôi (Chuyện vớ vẩn điên khùng phải không – bạn có thể muốn nhốt tôi vào nhà thương tâm thần lắm), tôi đã quan sát nó – “đây là tay tôi sao?” Tôi không có đặt câu hỏi vào lúc đó, nhưng toàn thể tình cảnh thì tương tự như thế — đó là tất cả mọi sự việc tôi hiện đang diễn tả lại cho bạn nghe.
Vì vậy, tôi đã thử chạm vào cơ thể tôi – không có gì hết – tôi cảm giác không có bất cứ cái gì thuộc thân thể hiện hữu khi đó ngoại trừ sự va chạm, điểm tiếp xúc mà thôi. Kế đến, tôi gọi Valentine và hỏi:
“Cô có thấy thể xác tôi đang nằm trên ghế xôfa hay không? Không có tín hiệu nào trong nội tâm cho biết rằng đây là thân thể tôi cả.”
Cô ấy đến và chạm vào thân thể tôi:
“Đây là thân thể của anh.”
Tuy nhiên sự xác định của Valentine không khiến tôi thoải mái và thỏa mãn – “Cái gì mà khôi hài kỳ khôi như thế này đây? Thể xác tôi đang vắng mất.” Thân thể tôi đã ra đi rồi và không bao giờ trở lại. Chỉ có những điểm va chạm tiếp xúc mà tôi cảm giác được là còn tồn tại mà tôi – ngoài ra thì không có gì khác nữa – bởi vì sự nhìn, xem thì độc lập, không lệ thuộc vào xúc giác. Vì vậy, thậm chí muốn tạo ra bức ảnh thân thể tôi, tôi không thể nào làm được, vì nơi đâu mà không có xúc giác (điểm va chạm), thì trong ý thức tôi không có những điểm tiếp xúc đó.
NGÀY THỨ 7:
Tôi đang nằm cùng trên chiếc ghế xôfa như hôm qua, thư giãn và tận hưởng trạng thái “buông xả”. Valentine bước đến gần, tôi nhận ra được cô là Valentine; rồi cô đi ra khỏi phòng – vong bặt, trống rỗng, không có Valentine hiện hữu – “Đây là cái gì vậy? Thậm chí tôi không thể tưởng tượng ra được Valentine trông có vẻ như thế nào. Tôi lắng nghe được những âm thanh xuất phát ra từ bên trong nội tâm.” Nhưng, tôi không thể liên hợp nối kết được mọi sự việc lại. Tôi phát hiện là tất cả các giác quan hoạt động mà không cần sự phối hợp của bất cứ tác nhân nào bên trong nội giới cả: tác nhân liên kết, phối hợp đã vắng bặt.
Tôi cảm giác tình trạng gì đó đang xảy ra bên trong bản thân mình: sinh lực từ khắp các phần khác nhau của cơ thể đang bị thu rút hội tụ về một tâm điểm nào đó. Tôi tự nói với chính mình “Bây giờ nhà ngươi đang tiến gần đến sự kết liễu mạng sống rồi. Ngươi sẽ chết.” Thế nên tôi gọi Valentine và nói “Valentine, tôi sắp chết đến nơi rồi, cô sẽ phải làm gì đó với thể xác này. Chuyển thể xác này đến cho các bác sĩ, có thể họ sẽ có chỗ nào dùng đến nó. Tôi không tin ba cái chuyện hỏa táng hay chôn cất gì cả, hoặc gì gì tương tự vây. Để tốt cho cô, cô phải vứt bỏ cái thể xác này đi – qua vài ngày nó sẽ bốc mùi – vì vậy, sao lại không liệng bỏ nó đi chứ? ” Cô nói “Anh là người ngoại quốc. Chính phủ Thụy Sĩ sẽ không tiếp nhận thể xác của anh đâu. Bỏ qua chuyện này đi,” rồi cô bỏ đi.
Và tiếp theo đó, toàn bộ lực lượng kinh khiếp này trong cơ thể di chuyển về một điểm, có thể nói là như vậy. Tôi đang nằm trên xôfa. Chiếc gường của Valentine thì trống, vì vậy tôi đi qua nằm trên gường đó và nằm duỗi thẳng mình ra, sẵn sàng chờ cái chết đến. Valentine bỏ mặc tôi nằm đó và đi ra. Cô nói:
“Một hôm anh nói là cái này đã biến đổi, ngày kế đến cái kia thay đổi, ngày thứ ba thì cái nọ đã thay đổi. Toàn bộ sự thể là gì vậy chứ?”
Valentine thì chẳng thích thú đến những điều đó – cô không bao giờ quan tâm đến những vấn đề tâm linh hay tôn giáo – cô chưa bao giờ nghe biết được những điều đó.
Cô nói tiếp:
“Anh nói là anh sắp chết đến nơi rồi. Anh sẽ không chết. Anh không sao cả, anh vẫn khỏe mạnh và tráng kiện kia mà.”
Nói xong, cô bỏ đi.
Sau đó, tôi nới giãn cơ thể, duỗi mình nằm yên vị … Toàn bộ năng lực trong thân thể đang di chuyển quy về một tụ điểm nào đó – tụ điểm này nằm ở đâu thì tôi không biết được. Kế tiếp, điểm này tiến đến nơi chỗ – diễn tiến sự việc xảy ra cũng giống như là lỗ (cửa, nắp) ống kính máy ảnh đang tự đóng lại chính nó. (Đây là sự so sánh duy nhất mà tôi có thể dùng để diễn tả. Sự diễn tả này thì khác xa với sự kiện đã xảy ra vào thời gian đó, bởi vì vào lúc đó thì không có chủ thể để suy nghĩ những lời lẽ như vậy. Toàn bộ sự kiện này là một phần trong kinh nghiệm của tôi, nếu không tôi sẽ không có thể nào nói được về nó.) Trong khi cửa ống kính máy ảnh đang cố gắng tự đóng kín lại chính nó, thì có một tác nhân nào khác ở tại đó đang cố kềm giữ duy trì cánh cửa mở ra (điểm sáng). Một lúc sau, không còn ý chí nào để làm bất kỳ gì nữa hết, thậm chí cũng không còn ý muốn ngăn cản cái cửa đang tự đóng lại chính nó… Và bất thình lình, có thể cho là như thế, nó đóng sập lại. Tôi không biết được điều gì đã xảy ra sau đó.
Tiến trình này kéo dài 45 phút – tiến trình của cái Chết. Nó là sự chết về cơ thể, bạn thấy đó. Thậm chí hiện tại nó cũng hay xảy đến với tôi: bàn tay, bàn chân trở nên rất lạnh, thân thể trở nên cứng, nhịp tim đập chậm lại, hơi thở chậm xuống dần dần, và từ từ chỉ còn hớp được một hơi thở sau cùng. Vươn tới một điểm đích, bạn hít một hơi thở sau cùng của bạn, có thể nói như thế, và tiếp đến bạn chấm dứt cuộc sống mình. Điều gì xảy ra sau đó, không có ai biết được.
Khi tôi tỉnh lại, ai đó nói rằng có người gọi điện thoại cho tôi. Tôi rời khỏi gường và đi xuống thang lầu để trả lời điện thoại. Tôi vẫn còn ở trong tình cảnh mê mê màng màng. Tôi không biết điều gì đã xảy ra. Nó là cái Chết của cơ thể. Cái gì đã mang tôi trở về cuộc sống. Tôi không biết. Tiến trình cái Chết đã kéo dài bao lâu, tôi cũng không biết. Tôi không thể nói được gì về tiến trình sự chết trong lúc đó, bởi vì kẻ kinh nghiệm đã vong bặt, đã chết: không có kẻ nào hiện hữu để kinh nghiệm sự Chết cả… Vì vậy, đó là sự chấm dứt, tận cùng của cái Chết. Và tôi đã phục sinh!…..
Tôi không cảm thấy mình là một em bé vừa mới được sinh ra – cũng không có đặt vấn đề giác ngộ gì ở đây cả — tuy nhiên, những sự kiện làm tôi kinh ngạc suốt trong một tuần lễ đó, những thay đổi vị giác, thị giác .v.v… đã trở nên cố định vĩnh viễn. Tôi gọi những sự kiện này là “thảm họa”. Tôi gọi nó là “thảm họa” bởi vì theo quan điểm của một người nào đó nghĩ rằng nó thì kỳ tuyệt, tràn đầy ân phúc, hỷ lạc, tình yêu, ngây ngất và những trạng thái tương tự như vậy. Nhìn theo chiều hướng khác thì nó lại là một sự tra tấn, cực hình về thể xác. Nó không là thảm họa đối với tôi, nhưng là thảm họa đối với ai tưởng tượng rằng có cái gì đó kỳ diệu, phi thường sẽ xảy đến. Giống như là: bạn tưởng tượng về thành phố Nữu Ước, bạn mơ mộng về nó, và muốn đến đó. Khi bạn thực sự ở đó, những gì bạn mơ tưởng không tồn tại ở đó; nó là một nơi chốn tầm thường, tiêu điều, và thậm chí những kẻ khốn cùng cũng có thể muốn từ bỏ chốn đó mà đi. Nó không phải là cái điều mà bạn truy tìm và đặt hết kỳ vọng vào, trái lại nó hoàn toàn khác hẳn. Cái gì ở đó, bạn thực sự không biết – bạn không có cách thức nào để biết bất cứ gì về điều đó – không có bất kỳ hình ảnh gì về nó cả. Theo ý nghĩa đó, tôi không bao giờ bảo chính tôi hay một ai khác “ Tôi là một người giác ngộ, một người tự do tự tại, một người giải thoát; tôi sẽ giúp nhân loại được tự do, giải thoát.” Giải thoát khỏi cái gì? Làm thế nào tôi có thể giải thoát một ai khác. Không có vấn đề giải thoát bất cứ ai hết. Vì thế cho nên, tôi buộc phải có một hình ảnh rằng tôi là một người giải thoát, bạn có hiểu không?
Ngày Thứ 8 trở về sau:
Tôi đang ngồi trên ghế xôfa và thình lình có một năng lực mạnh mẽ kinh hồn bộc phát – năng lực khủng khiếp này làm rung chuyển, lay động toàn bộ thân thể tôi, và cùng với thân thể, có thể nói như thế, cả ghế xôfa, ngôi nhà, và toàn thể vũ trụ cũng đều rung rinh, chấn động, lung lay theo. Bạn không thể nào tạo tác ra được sự chuyển động đó cả. Nó chỉ đến đột nhiên thôi. Nó đến từ ngoại giới hay nội giới, từ ở phía dưới hay bên trên, tôi không biết – tôi không thể xác định được nơi chốn đó; tất cả đã qua rồi. Cơn bùng phát năng lực to lớn, hãi hùng đó đã kéo dài từ giờ này qua giờ khác. Tôi không thể chịu đựng nó được, nhưng không có cách nào để tôi có thể chặn đứng nó lại; tôi hoàn toàn bó tay bất lực. Tình trạng này diễn tiến liên tục, ngày này qua ngày khác, ngày nọ kế tiếp ngày kia… Hể mỗi khi tôi ngồi xuống là năng lực kinh khiếp đó bắt đầu khởi động – sự chấn động này giống như là cơn động kinh (bệnh kinh phong) hoặc một tình trạng gì đó. Thậm chí cũng không giống hẳn cơn động kinh, vì nó tiếp tục xảy ra hết ngày này đến ngày khác.
( UG nằm trên gường trong 3 ngày, thân thể ông vặn vẹo, co quắp lại bởi cơn đau đớn hành hạ – ông nói, ông cảm thấy sự đau đớn như thế ở trong mỗi tế bào trong cơ thể ông, hết tế bào này đến tế bào khác. Tương tự như vậy, hể mỗi khi ông nằm xuống hoặc nghỉ ngơi thư giãn thì những cơn bùng dậy của năng lực kinh hồn đó xảy ra từng hồi, từng chập xuyên suốt trong 6 tháng kế tiếp sau đó.)
Thân thể không có khả năng… Thân thể cảm giác cơn đau. Đó là một tiến trình rất đau đớn. Rất là đau đớn khổ sở. Nó là sự đau đớn của cơ thể, bởi vì cơ thể thì chịu đựng có hạn định nào đó thôi – thể chất có vóc dáng, hình hài của chính nó, vì vậy khi cơn bộc phát của năng lực xảy đến, không phải là năng lực của bạn, của tôi, hoặc năng lực của Thượng Đế (bạn có thể gọi bất cứ tên gì bạn thích), năng lực này giống như con sông đang trong mùa nước lũ lụt dâng tràn lên. Năng lực này khi đang hoạt động, nó không cảm biết được những giới hạn của thân thể; nó không quan tâm để ý đến; nó có năng lượng (động lượng) riêng của nó. Đó là một sự đau đớn tột cùng. Tình cảnh đau đớn này không có ngây ngất lâng lâng, sung sướng, phúc lạc và tất cả mọi điều được diễn tả vớ vẩn tương tự như thế đâu – nhảm nhí và vô nghĩa! – nó thực sự đau đớn vô cùng. Ồ, tôi đã chịu đựng cơn đau hết tháng này đến tháng khác sau đó, trước đó cũng vậy. Mỗi người đều phải trải qua tình trạng này. Thậm chí đạo sư Ramana Maharshi cũng đã chịu đựng sự đau đớn sau đó (sau khi chứng ngộ).
Năng lực này giống như một thác nước to lớn – không phải chỉ một thác nước thôi đâu, nhưng mà hàng ngàn thác nước – nó tuôn đổ xuống cùng lúc liên tục trong nhiều tháng trời. Đó là một kinh nghiệm đau đớn khổ sở tột cùng – đau đớn theo cách nhìn là cái năng lực này có sự vận hành hoạt động kỳ dị của chính nó. Hùmm, chắc bạn biết tấm bảng quảng cáo thuốc lá Wills ở phi trường. Có hình mẫu nguyên tử trên đó: những đường, lằn được vẽ uốn lượn như thế này (UG dùng tay phác họa), theo chiều kim đồng hồ, ngược chiều kim đồng hồ, và theo hướng này, hướng nọ, rồi hướng kia. Giống như nguyên tử di chuyển bên trong thân thể – không chỉ ở trong một phần của cơ thể bạn, mà là toàn bộ cơ thể bạn. Cũng y như cái khăn tắm bị ướt sũng đang bị vặn siết, vắt chặt lại cho khô – năng lực đó cũng tác động tương tự như thế đối với toàn thân thể bạn – hết sức đau đớn. Nó vẫn tiếp tục, thậm chí ngay bây giờ (thời điểm UG kể lại). Bạn không thể mời gọi nó được đâu; bạn không thể yêu cầu nó đến; bạn không thể làm được bất kỳ điều gì với nó được cả. Nó khiến cho bạn có cảm giác là nó đang bao bọc bạn lại, nó đang hạ xuống, rơi xuống trên bạn. Rơi xuống từ đâu? Nó từ đâu đến? Nó đến như thế nào? Mỗi lần nó hiển hiện là mỗi lần mới mẻ — nó rất lạ lùng – mỗi lần nó đến bằng những đường lối, hình thức khác nhau, vì vậy bạn không biết cái gì đang xảy ra. Bạn nằm thả mình trên gường, và đột nhiên nó bắt đầu phát động – nó bắt đầu di động chầm chậm như là kiến bò. Tôi cứ nghĩ là có rận rệp trên gường nên tôi nhảy ra khỏi gường – không có rận rệp gì cả – rồi tôi trở lại gường nằm – nó bắt đầu phát khởi trở lại… Lông tóc bị nhiễm điện, và rồi năng lực đó từ từ di động.
Khắp cả mình mẩy cơ thể đều bị đau nhức. Tư tưởng đã kiềm chế thân thể đến một chừng mực tối đa nào đó, và đến khi tư tưởng lơi ra thì toàn thể sự trao đổi chất của các cơ quan trong thân thể bắt đầu bừng dậy và hoạt động mãnh liệt cao độ. Toàn bộ sự thể đang tự thay đổi theo phương cách riêng của nó mà tôi không cần phải làm gì cả. Và rồi sự chuyển động của bàn tay tôi đã thay đổi. Thông thường bàn tay của bạn xoay theo chiều hướng này. (UG đưa bàn tay ra để biểu lộ…). Đây, khớp xương cổ tay này đã bị đau khủng khiếp trong sáu tháng cho đến khi nó tự xoay chuyển được, và bây giờ tất cả những sự chuyển động giống như thế này đây. Đó là lý do mọi người nói rằng sự vận động, xoay trở của tay tôi giống như là những cử chỉ phác họa dấu hiệu huyền bí. Sự chuyển động của bàn tay tôi bây giờ hoàn toàn khác hẳn trước đây. Rồi tiếp theo là những cơn đau bên trong tủy xương. Mỗi tế bào bắt đầu thay đổi, và tiến trình này kéo dài liên tục trong sáu tháng.
Và sau đó những chất hoocmon giới tính bắt đầu thay đổi, tôi không biết tôi là đàn ông hay là đàn bà lúc đó – “Chuyện gì đây?” – đột nhiên có một cái vú nổi lên phía bên trái. Tất cả mọi thứ mọi điều… – tôi không muốn đi sâu vào chi tiết – vì đã có hồ sơ ghi chép lại đầy đủ những sự việc đã xảy ra. Tiến tình thay đổi cứ diễn biến tiếp tục và tiếp tục. Phải mất hết ba năm trời để thể chất tôi bắt đầu hoạt động theo nhịp điệu sống mới lạ, tinh khôi của riêng chính nó.
Hỏi:
– Chúng tôi có thể hiểu biết được “cách thức” Nó xảy ra thế nào với ông không?
UG:
– Rất tiếc là không được.
Hỏi:
– Chúng tôi có thể hiểu biết được “cái gì” đã xảy ra với ông chứ?
UG:
– Bạn có thể đọc những sự kiện diễn tả về cuộc đời của tôi, chỉ có vậy thôi. Một ngày nọ vào khoảng sinh nhật 49 tuổi của tôi, điều gì đó xảy ra; ngày kế tiếp thì có một giác quan đã thay đổi; ngày thứ ba thì giác quan khác thay đổi… Tiến trình mọi sự đã xảy đến cho tôi đã được ghi chép lưu trữ lại. Điều đó có giá trị gì đối với bạn? Tuyệt đối là không có giá trị chút nào cả. Mặt khác nó rất nguy hiểm bởi vì bạn cố gắng bắt chước những biểu lộ hình tướng bên ngoài. Người ta thường hay bắt chước những điều này và tin rằng điều gì đó sẽ xảy đến với họ — đó là cái điều mà những người này thường hay làm. Tôi đã hành xử một cách bình thường, tự nhiên. Tôi cũng không biết cái gì đang xảy ra. Nó là một tình cảnh lạ lùng. Nó không để lại, lưu lại bất cứ dấu vết gì hết – mọi người sẽ chỉ bắt chước những hình tướng bên ngoài mà thôi. Tâm thái đó là một tình trạng hoàn toàn tự nhiên.
Từ trên đi xuống phần thân trên của UG, đầu và cổ, có những vị trí mà những người Ấn Độ sùng đạo gọi là “luân xa”, bạn của UG quan sát thì thấy có những chỗ phồng lên với những hình nét và màu sắc đa dạng. Những chỗ phình lên này lúc thì ẩn lúc thì hiện theo từng khoảng thời gian. Ở vùng bụng dưới của ông nổi lên một đường có hình dáng cỡ điếu thuốc xì-gà vắt ngang qua. Phía trên rún một chút thì có một chỗ nổi u lên, rắn cứng, có hình nét giống như quả hạnh (almond). Ở giữa ngực thì nổi phồng lên một dấu hiệu hình nét như tấm huy chương lớn, cứng rắn và có màu xanh. Một hình nét tương tự như thế, nhưng nhỏ hơn có màu đỏ nâu nổi phủ lên ở chỗ lõm cổ họng. Hai cái hình “huy chương” này dường như thể là hai khoen tròn phình lên treo lơ lững xung quanh cổ của ông, màu sắc biến đổi đa dạng – xanh dương, nâu và vàng lợt, y như là trong các bức tranh thượng đế của Ấn giáo (xem hình 1 – 2).
Hơn nữa có sự tương đồng giữa những chỗ nổi lồi lên này với những bức họa mô tả của nghệ thuật tôn giáo Ấn Độ: cổ họng của ông nổi phồng lên khối u mà khi nhìn vào thì trông giống như là cằm của ông đang tựa nghỉ trên đầu của con rắn mang bành, như trong những hình ảnh cổ truyền về thần Shiva. Ở ngay phía trên chót sống mũi ông có một hình hoa sen màu trắng nổi đụn lên. Trải khắp ở trên đầu ông, những mạch máu nhỏ trương phồng lên bện lại, kết thành mẫu hình giống như trên đầu của những tượng Phật. Và cũng trên đầu có hai chỗ sưng u lên, lớn và cứng rắn, khi ẩn khi hiện, hình dáng giống như hai chiếc sừng của Môi-sen hay biểu tượng huyền nhiệm phần âm phần dương của đồ hình thái cực (xem hình 3 – 4 – 5). Những động mạch trên cổ ông trương phù lên, màu xanh dương và có hình dáng giống như con rắn đi thẳng lên trên đầu của ông.)
Tôi không phải là kẻ thích phô trương, nhưng bạn là bác sĩ; có những hình nét so với ý thức hệ biểu tượng ở Ấn Độ – hình tượng con rắn mang bành. Bạn có thấy những chỗ sưng phồng lên này không? Chúng nó có hình dáng của con rắn mang bành. Hôm qua là ngày trăng non (những ngày đầu tháng âm lịch). Thân thể bị ảnh hưởng bởi mọi sự đang xảy ra xung quanh bạn; nó không tách rời khỏi sự thể đang xảy ra chung quanh bạn. Bất cứ sự thể gì xảy đến ở đó thì cũng xảy ra ở đây, chỉ là sự đáp ứng của cơ thể. Đây là sự tác động. Thân thể bạn bị ảnh hưởng bởi mọi sự đang xảy ra xung quanh bạn; và bạn không thể ngăn chận sự kiện này được. Lý do đơn giản là chiếc áo giáp (ý nghĩ, ý tưởng) mà bạn tạo nên bao bọc xung quanh bạn sẽ bị vô hiệu hóa đi, vì thế nó dễ dàng bị xâm nhập bởi mọi điều đang xảy ra ở đó. Với những chu kỳ của mặt trăng – trăng tròn, trăng khuyết – những chỗ nổi phình lên này đây sẽ có hình tượng của rắn mang bành. Có thể đây là lý do tại sao một số người đã sáng tạo nên tất cả những hình ảnh này – thần Shiva và những hình ảnh tương tự như thế. Tại sao nó có hình dáng con rắn? Tôi đã hỏi nhiều bác sĩ tại sao nổi sưng lên ở đây, nhưng không có bác sĩ nào cho tôi câu trả lời thỏa mãn cả. Tôi không biết là có những tuyến hoặc cái gì đó ở đây chăng.
Có những tuyến nhất định nào đó… Tôi đã thảo luận vấn đề này nhiều lần với các bác sĩ đang nghiên cứu về tuyến nội tiết. Những người Ấn giáo gọi những tuyến đó là những “luân xa”. Vị trí của những tuyến nội tiết này được định rõ một cách chính xác giốngnhư những vị trí mà người Ấn giáo suy đoán là những “luân xa”. Có một tuyến ở cổ được gọi là “ cơ quan tuyến nội tiết” (thymus gland). Tuyến này rất năng động khi bạn còn là một đứa bé – rất là năng động – nó có cảm xúc, nhạy cảm đặc biệt lạ thường. Khi bạn đến tuổi dậy thì tuyến này trở nên thụ động, đó là những gì các bác sĩ, nhà nghiên cứu nói. Khi bạn có được thể nghiệm chứng ngộ, khi bạn được phục sinh, tuyến đó sẽ tự động hoạt động trở lại. Vì vậy tất cả cảm giác đều nằm ở đó. Sự mẫn cảm không phải là tư tưởng, không phải là tình cảm ủy mị; bạn cảm thông cho một ai, chẳng hạn vậy. Nếu một người khiến anh ta bị thương tích đau nơi nào đó, bạn cảm được nỗi đau ngay nơi chốn đó trên chính bạn – không giống như là cơn đau đớn, nhưng mà là cảm giác, bạn hiểu chứ — bạn tự động cảm nhận ra và nói “Ah!”
Điều này quả thật đã xảy ra khi tôi lưu trú ở trong đồn điền cà phê: người mẹ đánh đứa con, đứa trẻ còn nhỏ. Bà ấy đang nổi khùng, cơn giận dữ chết người, và bà ấy đánh đứa trẻ rất nặng tay, đứa bé hầu như sợ hãi xanh mặt. Có một người hỏi tôi “tại sao tôi không ngăn can bà ấy lại?” Tôi đang đứng đó, hết sức bối rối, bạn hiểu chứ. Tôi mới trả lời người hỏi: “Tôi nên thương xót ai đây, người mẹ hay đứa con?” “Ai chịu trách nhiệm?” Cả hai bọn họ ở trong tình cảnh kỳ cục: người mẹ không thể kiềm chế cơn nóng giận, và đứa bé thì bất lực và vô tội. Tình trạng đó diễn biến tiếp tục – nó di chuyển từ người mẹ đến người con – và sau đó tôi phát hiện những dấu vết này trên lưng của tôi. Thế nên tôi cũng là một phần của họ. (Không phải tôi nói những điều này để yêu sách điều gì.) Sự việc đó có thể là vậy lắm bởi vì tâm thức thì không thể tách rời ra được. Bất cứ điều gì đang xảy ra ở đó sẽ tác động lên bạn, đây là ảnh hưởng, bạn hiểu không? Đừng có ngồi đó mà phán đoán, xét xử ai. Hoàn cảnh tình cờ xảy ra thế đó, vì vậy bạn bị ảnh hưởng bởi nó. Bạn bị ảnh hưởng bởi mọi sự đang xảy nơi đó.
Hỏi:
– Trong toàn thể vũ trụ chăng?
UG:
– Điều đó thì quá to tát, bạn hiểu chứ. Bất cứ sự việc gì đang xảy ra trong phạm vi tâm thức của bạn. Tâm thức, dĩ nhiên là không có giới hạn rồi. Nếu đứa bé bị đau ở đó, bạn cũng sẽ bị đau ở đây. Nếu bạn bị đau ở đây, thì lập tức có sự đáp ứng ở đó. Tôi không thể nói về vũ trụ, toàn thể vũ trụ vạn vật. Nhưng tôi có thể nói về tầm ảnh hưởng trong phạm vi tâm thức của bạn, trong phạm vi giới hạn mà bạn đang hoạt động trong một khoảnh khắc riêng biệt nào đó, bạn đang đáp ứng – chứ không phải là bạn đang phản ứng.
Và có nhiều tuyến khác cũng ở tại đây… Rất nhiều tuyến. Thí dụ “tuyến yên” – “mắt thứ ba” (Ajna chakra), họ nói thế. Khi mà sự quấy nhiễu của tư tưởng không còn nữa, luân xa này được điều khiển bởi tuyến yên. Chính tuyến yên này đưa ra chỉ thị hay mệnh lệnh cho cơ thể; tư tưởng không còn ra chỉ thị nữa, tư tưởng không thể xen vào quấy nhiễu được. (Có thể đó là lý do tại sao họ gọi nó là Ajna – mệnh lệnh. Tôi không muốn dịch giải nó hoặc bất cứ sự việc gì như vậy; có thể qua điều diễn giải này bạn có một ý tưởng về nó.) Tuy nhiên ý tưởng này đã tạo tác nên chiếc áo giáp vô hình bao phủ quanh bạn, và chính nó không cho bạn bị ảnh hưởng bởi mọi sự vật xung quanh. ..
Tháng giêng 2007, U.G. Krishnamurti bị ngã, tuy không gãy xương nhưng cũng làm UG phải nằm liệt giường . Vì không muốn làm phiền các bạn bè phải chăm sóc cho mình nên UG đã nhịn ăn uống cho tới lúc từ giã cõi thế!
Nguồn: Vạn Pháp Quy Nhất
Thiền sư Đạo Nguyên (Dogen Zenji, hay Eihei Dogen (1200-1253)) là một đại thiền sư thời cổ, và được nhiều người xem như một vị thiền sư vĩ đại nhất. Phật giáo đồ Nhật Bản trong tất cả mọi tông phái đều kính ngưỡng Đạo Nguyên như một vị bồ tát. Ngài là người đầu tiên đã đem dòng thiền Tào Động đến Nhật Bản.
Sau khi học đạo với các vị thầy ở Nhật, Đạo Nguyên qua Trung Hoa tu học. Ngài đại ngộ ngay khi sư phụ Trung Hoa của ngài là Ju Ching nói phải “buông hết cả thân lẫn tâm”. Sau đó ngài đã đến trình kiến giải và được sư phụ ấn chứng. Lòng đầy tri ân, Đạo Nguyên quỳ sụp xuống đảnh lễ thầy. Ju Ching nói, “Buông luôn cả cái buông!”
“Hiện thành công án” (Genjokoan) là một chương nổi tiếng trong quyển “Chánh Pháp Nhãn Tạng” (Shobogenzo), nói đến sự liên hệ của tu thiền và giác ngộ. Đây là một tuyệt tác vô song, với những lời lẽ thâm sâu bàng bạc ý vị thơ, biểu lộ tri kiến của một bậc giác ngộ đã vượt ngoài đối đãi.
Khi vạn pháp được coi như pháp Phật thì thấy có ngộ và mê, có tu tập, có sanh tử, Phật và chúng sinh.
Khi vạn pháp được coi như vô ngã, sẽ không thấy có ngộ và mê, không có tu, không sanh không tử, không Phật không chúng sinh.
Phật Đạo vượt ra khỏi cái có và không. Cho nên có mê ngộ, có sinh tử, Phật và chúng sinh. Nhưng những đóa hoa đẹp chúng ta ưa thích vẫn héo tàn, và những cỏ dại chúng ta không ưa vẫn lớn mạnh.
Cố dấn thân đi tìm sự tu tập và kinh nghiệm vạn pháp thì đó là mê. Khi vạn pháp tu tập và kinh nghiệm chính mình thì đó là ngộ.
Giác từ chỗ mê thì gọi là Phật, mê trong chỗ giác thì gọi là chúng sanh. Lại có giác ngộ theo sau giác ngộ, có mê ở trong mê.
Phật chân chính không thấy mình là Phật. Nhưng họ vẫn là những vị Phật hiện thân đangtrải nghiệm đời sống Phật hàng ngày.
Khi nhìn sắc với toàn thân và tâm, nghe âm thanh với toàn thân và tâm, ta có thể trực tiếp cảm nhận được chúng, nhưng đó không giống như hình ảnh phản chiếu trên một tấm gương hay như bóng trăng dưới nước … Khi chúng ta thấy được một bên, chúng ta không thấy bên kia.
Học Phật tức là học về tự ngã
Học về tự ngã là quên đi tự ngã
Quên đi tự ngã là được vạn pháp khai ngộ
Được vạn pháp khai ngộ là buông hết cả thân tâm mình và ngoại cảnh.
Chứng ngộ rồi không còn thấy dấu vết nào của chứng ngộ, và sự chứng ngộ không dấu vết ấy sẽ tiếp nối mãi mãi.
Khi mới đi tìm cầu học đạo, ta tưởng rằng mình cách biệt xa rời với đạo.
Khi đã chứng được đạo chân truyền, ngay trong giây phút đó ta là con người nguyên thủy của Đạo.
Khi đang đi trên thuyền, nếu nhìn vào bến người ta tưởng như bến đang di chuyển.
Nhưng nếu nhìn vào thuyền, người ta biết được rằng chính thuyền đang di chuyển.
Nếu nhìn vạn pháp với thân tâm si mê, ta tưởng rằng tâm và tính của ta là thường hằng,
Nhưng nếu tu tập tinh chuyên và trở về được với con người nguyên thủy của mình, ta sẽ thấy rõ rằng vạn pháp đều là vô ngã.
Củi cháy ra tro và không trở lại thành củi được nữa.
Nhưng đừng tưởng rằng tro là có sau và củi là có trước.
Phải biết rằng củi là ở trong trạng thái củi và có trạng thái trước và sau đó. Nhưng tuy có trạng thái trước và sau, củi tách rời khỏi những trạng thái đó.
Tro ở trong trạng thái tro và có trạng thái trước và sau.
Cũng như củi không trở lại thành củi sau khi đã cháy ra tro, con người chết đi không sống trở lại nữa.
Như thế, giáo lý Phật dạy rằng sinh không trở thành tử, vì lẽ đó sinh được gọi là không có khởi đầu.
Giáo lý Phật cũng dạy rằng tử không trở thành sinh, vì vậy tử được gọi là không có chấm dứt.
Sinh là một giai đoạn của sự sinh
Tử là một giai đoạn của sự tử.
Ví dụ như mùa đông và mùa xuân.
Ta không nghĩ rằng mùa đông trở thành mùa xuân, cũng không nghĩ rằng mùa xuân trở thành mùa hạ.
Người giác ngộ giống như bóng trăng phản chiếu trên mặt nước. Trăng không bị ướt, nước cũng không bị xao động.
Tuy ánh trăng tỏa chiếu khắp nơi, nhưng trăng vẫn được phản chiếu ngay trong một vũng nước nhỏ xíu. Tất cả trăng và bầu trời đều được phản chiếu trong một giọt sương trên cỏ, trong một giọt nước long lanh.
Giác ngộ không làm ta xao động, như bóng trăng không làm xao động mặt nước.
Người không thể ngăn cản được giác ngộ, giống như giọt sương không thể cản ngăn được trăng và bầu trời cao. Chiều sâu của giọt nước (chiều sâu của giác ngộ) có thể sánh với chiều cao của trăng. Khoảnh khắc dài hay ngắn (hình ảnh phản chiếu của trăng) là tuỳ nơi vũng nước ấy lớn hay nhỏ, và được quán sát tương quan với bề rộng hay hẹp của trời và trăng.
Khi chân lý chưa có trong thân tâm, ta tưởng như thế đã là đầy đủ.
Khi chân lý có trong thân tâm, ta nhận ra rằng có điều gì thiếu sót.
Ví dụ, khi nhìn khắp bốn phương trên một chiếc thuyền lênh đênh trên biển cả không thấy bến bờ, ta chỉ thấy một đường vòng cong, và không có gì khác.
Tuy nhiên, đại dương không tròn cũng không vuông, và có những đặc tính khác nhau vô tận. Nó giống như một cung điện. Giống như một viên châu ngọc. Nó trông như một đường vòng cong vì lúc đó tầm mắt ta chỉ thấy như vậy.
Vạn pháp cũng như thế.
Đời sống này có nhiều khía cạnh khác nhau của cõi trần lao và cõi giới giác ngộ, nhưng ta chỉ có thể nhận và hiểu được chúng qua mức độ tri kiến do sự tu tập mang lại.
Để nhận ra được bản chất của vạn pháp, ta phải biết rằng tuy trông chúng có thể tròn hay vuông, nhưng biển và núi còn có những đặc tính khác thật là vô tận; hơn nữa còn có những thế giới vũ trụ khác ở khắp các phương trời. Chúng không chỉ ở chung quanh ta, mà còn phản chiếu ngay đây, trong một giọt nước rơi.
Khi cá bơi trong đại dương, dù cá có bơi xa đến đâu cũng không bao giờ đến tận cùng của nước. Khi chim bay trên trời, dù chim có bay xa đến đâu cũng không bao giờ đến tận cùng của không trung.
Ngay từ khởi thủy, cá và chim không từng xa rời nền tảng của chúng.
Khi nhu cầu hoạt động rộng lớn chúng sẽ có tầm hoạt động rộng lớn. Khi nhu cầu hoạt động nhỏ hẹp chúng sẽ có tầm hoạt động nhỏ hẹp.
Như thế, nền tảng hoạt động của các chúng sinh ấy đều được tân dụng tối đa, mỗi chúng sinh trong cõi giới riêng của chúng. Dù đang ở đâu, chúng cũng không rời nền tảng căn bản của mình.
Khi chim ra khỏi không trung, nó sẽ chết ngay. Khi cá ra khỏi nước, nó sẽ chết ngay.
Vậy hãy biết rằng nước là sự sống.
Hãy biết rằng không trung là sự sống.
Sự sống là chim, và sự sống là cá.
Vượt lên trên đó, còn có những tiến trình xa hơn, như sự tu tập, chứng ngộ, thời gian hiện hữu của đời sống con người.
Nếu một con chim hay con cá cố tìm cách ra khỏi nền tảng của mình, con chim hay con cá ấy sẽ không tìm được lối đi hay vị trí của nó. Khi biết được bản vị của mình, sự tu của chúng ta trong đời sống hàng ngày là sự hiện thành của giác ngộ (hiện thành công án – genjokoan). Khi biết được lối đi (Đạo) của mình, sự tu của chúng ta trong đời sống hàng ngày là sự hiệnthành của giác ngộ.
Bản vị này và lối đi (Đạo) này không lớn cũng không nhỏ, không năng và không sở, không tồn tại trong quá khứ cũng không khởi lên trong hiện tại, cho nên chúng là hiện hữu như thế (Như Thị).
Người nào tu tập đạo giác ngộ như vậy, khi đạt pháp nào là thấu suốt pháp ấy, khi gặp việc gì là làm tròn việc ấy.
Bản vị là ở đây, lối đi (Đạo) là ở khắp nơi. Biên giới của giác ngộ không thể thấy được, bởi vì sự hiểu biết và giác ngộ đều được trải nghiệm cùng một lúc.
Đừng tưởng rằng những gì giác ngộ được sẽ trở thành kiến thức của mình và chấp trước vào đó. Ngay cả khi đang chứng nghiệm sự giác ngộ, cũng không chắc là bản chất sâu kín của giác ngộ đã được hiển thị – đó là điều vượt ngoài mọi suy luận nghĩ bàn.
Sư Baoche ở núi Mayuku đang ngồi quạt. Một vị tăng đến hỏi:
“Bạch thầy, tính của gió(hay khí) là thường hằng, không có chỗ nào là không đến được. Thế thì tại sao thầy phải ngồi quạt?”
Sư trả lời:
“Tuy ngươi hiểu tính của gió (hay khí)là thường hằng, nhưng không hiểu ý nghĩa chân lý của “không chỗ nào là không đến được”.”
Tăng hỏi:
“Cái gì là ý nghĩa chân lý của “không chỗ nào là không đến được”?
Sư chỉ ngồi quạt. Tăng kính cẩn cúi đầu đảnh lễ.
Kinh nghiệm khai ngộ Phật pháp và phương tiện truyền thừa linh động là như thế. Nếu cho là ta không cần dùng quạt bởi vì gió (hay khí) là thường hằng, hay nói là dù không dùng quạt ta vẫn cảm thấy gió (hay khí) chung quanh, tức là không biết thường hằng, và không biết bản tính của gió (hay khí).
Bởi vì tính của gió (hay khí) là thường hằng, cho nên phong hóa* của đạo Phật có thể biến đất thành vàng ròng, biến nước trường giang thành đề hồ.
(*Chú thích: Phong hóa: phong tục và giáo hóa. Chữ “Phong” được dùng hai lần trong đoạn này với ý nghĩa khác nhau. Nghĩa thứ nhất là “gió” hay “khí” như trong câu truyện trên. Nghĩa thứ hai là “phong” như trong “phong tục, phong độ, phong thái, phong hóa v.v..”, được dùng trong câu cuối cùng.)
Quên Đi Tự Ngã (Genjokoan)
Ngọc Bảo phóng dịch
(Tham khảo các bản dịch Anh ngữ của:
Hakuyu Taizan Maezumi (An introduction to the Buddha & his teachings)
Gudo Nishijima & Chodo Cross (Master Dogen’s Shobogenzo)
Yasuda Joshu Roshi & Anzan Hoshin Roshi)
Hỏi :
– Thưa ông Krishnamurti, ông nói rằng tất cả những vấn đề của chúng ta đều nẩy sinh ra từ một vấn đề, đó là chúng ta sống cuộc đời do người khác chỉ cho cách sống. Chúng ta thuộc loại người bàn nhì, và trải dài từ bao nhiêu thế kỷ tới nay, chúng ta đã có đủ loại thẩm quyền. Nay đã đến lúc giới trẻ nổi dậy để phản kháng lại các loại thẩm quyền. Xin ông cho biết riêng cá nhân ông, cái gì đã khiến cho ông chống lại thẩm quyền?
J. Krishnamurti đáp:
– Tôi không nghĩ rằng cá nhân tôi có điều gì để chống lại thẩm quyền, nhưng bản thân thẩm quyền, đối với toàn thế giới, nó đã làm thui chột biết bao tâm hồn, không riêng về mặt tôn giáo mà ngay chính từ nội tâm, bởi vì thẩm quyền về niềm tin tôn giáo gây nên ấn tượng chắc chắn đã phá tan khả năng khám phá thực tại. Người ta dựa dẫm vào thẩm quyền vì người ta sợ phải đứng đơn độc.
Hỏi:
– Tôi hơi thấy bối rối về điều này, bởi vì sự tích lũy biết bao trí tuệ của loài người chắc chắn rằng không phải tất cả đều là đồ bỏ.
J. Krishnamurti đáp:
– Không, nhưng cái gì là trí tuệ ? Sự tích lũy hiểu biết là trí tuệ chăng? Hay là trí tuệ chỉ đến khi sự đau khổ chấm dứt? Tóm lại, trí tuệ không ở trong sách, cũng không ở trong sự tích lũy hiểu biết về kinh nghiệm của người khác. Chắc chắn rằng trí tuệ phải đến từ sự tự tri, từ nội tâm của mỗi người, từ sự khám phá toàn bộ cấu trúc về tinh thần của chính họ. Khi người ta đã thâm hiểu về chính bản thân thì đó là lúc chấm dứt đau khổ và khởi đầu của trí tuệ.
Làm sao mà một tâm hồn có thể sáng suốt khi còn bị kẹt vào với sợ hãi và buồn phiền. Chỉ khi nào sự sầu não, sợ sệt chấm dứt, khi đó người ta mới có khả năng trở thành sáng suốt.
J. Krishnamurti – Meeting Life
Người dịch Danny Việt (ĐPK)
Xin trích dịch một số câu hỏi, được Ni Sư Thubten Chodron giải đáp trong cuốn Buddhism for Beginners.
Ni Sư Thubten Chodron là người Hoa Kỳ, đã viết nhiều sách giảng dạy Phật pháp như Open Heart & Clear Mind, How to Free Your Mind, Taming the Monkey Mind, Cultivating a Compassionate Heart, Blossoms of the Dharma, vân vân…. Cuốn Buddhism for Beginners được giới thiệu như sau:
“Cuốn sách này bao hàm những vấn đề căn bản nhất, đã gây thắc mắc trong tâm những người phương Tây, vốn còn xa lạ với cách tu tâm của người phương Đông. Với cách hành văn trong sáng và hấp dẫn, Ni Sư Thubten Chodron đã đưa người đọc qua những đề tài thông thường trong đời sống hằng ngày, dưới ánh sáng giáo lý của nhà Phật, nói về những cách sống sao cho sáng suốt, an lạc và hạnh phúc hơn. Tác giả đã gỡ bỏ những bối rối, hiểu lầm, trong tâm chúng ta, và dẫn chúng ta tiến vào những điều căn bản nhất của đời sống tinh thần sinh động và phong phú này.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói như sau:
“Cuốn Buddhism for Beginners được viết cho người muốn tìm hiểu những điều căn bản nhất của đạo Phật, và cách ứng dụng những điều căn bản đó vào đời sống hằng ngày. Nó sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho độc giả”.
Sau đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả những câu hỏi và những giải đáp của Ni Sư Thubten Chodron, trích dịch từ cuốn sách kể trên.
Hỏi:
– Làm thế nào để một người sống cuộc đời bình thường, một cư sĩ, không phải là tu sĩ, có thể thực hành Phật pháp?
Ni Sư Thubten Chodron trả lời:
– Những người sống cuộc đời bình thường, những nam cư sĩ và nữ cư sĩ, không phải là tu sĩ, vẫn có thể thực hành Phật pháp như mọi người khác, trong công cuộc rèn luyện tâm trí. Tại một vài nền văn hóa Phật giáo, người ta đã tự đánh giá thấp khả năng của họ, khi nghĩ rằng:
– “Tôi chỉ là một cư sĩ bình thường. Nghe pháp, tụng niệm, tọa thiền là công việc của chư Tăng Ni. Đó không phải là việc của tôi. Tôi chỉ được tới chùa để lễ lạy, cúng dường Tam Bảo và cầu xin cho gia đình tôi được sự phù hộ độ trì mà thôi”.
Những việc làm như tới chùa lễ lạy, cúng dường Tam Bảo, cầu xin cho gia đình, vân vân, thì cũng tốt. Nhưng các cư sĩ có khả năng để làm hơn thế. Họ có thể học hỏi giáo lý, tu tập để thăng hoa tâm linh, và đem những lợi ích của sự tu tập đó ứng dụng vào cuộc đời. Các cư sĩ nên thường xuyên đi nghe giảng về Phật pháp. Và khi có thể, thì tham dự những khóa tĩnh tâm. Như thế, mọi người sẽ đều được thấm nhuần giáo lý giải thoát và sự cao đẹp của Phật pháp. Nếu không thì mãi mãi họ cũng vẫn chỉ là những “Phật tử thắp nhang” mà thôi. Và rồi, nếu có người hỏi họ về giáo lý nhà Phật, thì họ cũng đành ú ớ, chẳng biết gì để mà trả lời. Tình trạng đó thật là đáng buồn.
May thay, hiện nay đã có nhiều Phật tử, tại cả Á Châu và Tây Phương, rất tích cực tu học Phật pháp và hành thiền, đó là những dấu hiệu tốt.
Trong cuộc đời của mỗi Phật tử, nên thọ trì Ngũ Giới, hoặc khi có dịp thì nên thọ Bát Quan Trai Giới. Làm vậy, tâm họ sẽ tăng cường sự tỉnh thức và nếp sống đạo cũng có được những thành quả tích cực.
Ngoài ra, Phật tử cư sĩ cũng có thể tham dự những buổi tĩnh tâm, hành thiền, hoặc đi nghe giảng pháp tại các chùa, hoặc các trung tâm Phật giáo vào những ngày cuối tuần, hoặc dùng một vài kỳ nghỉ phép thường niên, để tham dự các khóa tu tâm dài ngày hơn.
Nhiệm vụ giữ gìn sự trong sáng và hoằng truyền giáo pháp của đức Đại Bi Thế Tôn nằm trong tay tất cả bốn chúng, gồm có chư Tăng, chư Ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ. Nếu nhận ra được chân giá trị của Phật pháp, và mong ước giáo pháp được dàn trải khắp nơi, thì tất cả chúng ta phải nhận lãnh trách nhiệm, phải siêng năng học lý thuyết cho thấu triệt, và tinh tấn thực hành những điều đã học được, tùy theo khả năng của chúng ta.
Hỏi:
– Xin cho biết về sự liên hệ giữa chư Tăng Ni và các cư sĩ Phật giáo?
Ni Sư Thubten Chodron đáp:
– Như đức Phật đã quy định, bổn phận của chư Tăng, Ni, là giữ gìn trọn vẹn giới luật đã nguyện hứa, đồng thời học và thực hành Phật pháp, rồi đem sự hiểu biết đó hướng dẫn lại cho Phật tử tu hành.
Về phần giới cư sĩ Phật tử thì cung cấp những sự cần thiết cho đời sống của người tu sĩ, như nơi cư trú, y phục, thực phẩm và thuốc men. Sự phân nhiệm này có mục đích dành cho giới tu sĩ có nhiều thì giờ để chuyên tâm học hỏi và hành thiền, để họ mau tiến bộ trên đường tu tập, để rồi qua sự tiến bộ của họ, sự truyền dạy giáo pháp lại cho giới cư sĩ cũng đạt được nhiều hiệu quả.
Mối quan hệ này đã lưu truyền trong khắp các truyền thống Phật giáo, dù khác hình thức.
Tại các tu viện Thiền Tông ở Trung Hoa, làm lụng ngoài đồng được coi là một phần của việc tu hành, chư Tăng, Ni phải làm ruộng, học giáo lý và tu tập thiền.
Tại Thái Lan thì lại khác, vì lời hứa khi thọ giới là không cất giữ tiền bạc được thi hành triệt để, nên cư sĩ Phật tử không những chỉ cung cấp tứ sự cúng dường gồm nơi ở, y phục, thực phẩm và thuốc men, mà còn nhận lãnh luôn cả những việc lao động khác trong tu viện, để giúp chư tăng ni chuyên tâm tu hành.
Tại Châu Á, chư Tăng, Ni thường được giới cư sĩ Phật tử kính trọng và săn sóc chu đáo, vì Phật tử tại những nơi đó vốn có truyền thống tôn quý Phật pháp. Dù là vậy, tu sĩ nên tự coi mình như những người phục vụ, để không trở thành kiêu ngạo khi được Phật tử cung kính cúng dường. Nếu tu sĩ lại nổi lên tâm kiêu ngạo khi hưởng sự cung kính, thì đường tu của chính họ lại bị thoái hóa.
Tại phương Tây thì mối quan hệ giữa giới tu hành và giới cư sĩ vẫn còn chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng dân chủ, và ít phân chia giai cấp, vốn sẵn có trong bản chất của các xã hội Tây Phương. Như thế cũng có điều lợi, mà cũng có điều bất lợi. Thí dụ, người tu sĩ Tây Phương không luôn luôn được tu viện, hoặc nơi họ cư ngụ, cung cấp đầy đủ về mặt tài chính, cho các chi phí trong đời sống. Kết quả là có những Tăng Ni phải kiếm thêm việc làm bên ngoài, để có đủ tiền chi tiêu cho những nhu cầu cần thiết của bản thân. Có người kiếm đủ sống qua ngày, nhưng khi ốm đau, hoặc muốn đi tầm sư học đạo, hoặc tham dự những khóa thiền thất, thì họ sẽ gặp khó khăn về chuyện tiền bạc.
Hỏi:
– Xin cho biết làm thế nào để tìm một vị thày tâm linh, và có cần thiết không?
Ni Sư Thubten Chodron trả lời:
– Có được một, hoặc nhiều vị thày tâm linh đức độ hướng dẫn chúng ta tu tập, là một điều rất hữu ích. Trong khi kinh sách có thể cho chúng ta biết những dữ kiện, vị thày tâm linh có thể trực tiếp giải đáp những thắc mắc nổi lên trong tâm chúng ta, và chỉ dẫn chúng ta cách thức ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống. Chúng ta có thể theo học nhiều vị thày, tuy thế, có thể chỉ một trong số đó là thày chính, bậc thày mà chúng ta hoàn toàn tin cậy.
Tìm một bậc thày tâm linh có đức độ, đầy đủ đạo hạnh là bổn phận của chính mình. Chúng ta càng phải thận trọng hơn trong tình trạng thực tế tại Tây Phương ngày nay, nơi có thể gọi là “chợ tâm linh”. Không phải tất cả mọi người dạy đạo đều biết họ phải làm gì, hoặc ngay cả đến chính họ có đủ đạo đức hay không nữa. Chúng ta phải biết rõ về họ, trước khi tôn họ là thày mình.
Muốn vậy, chúng ta nên tham dự nhiều buổi giảng pháp của nhiều vị thày khác nhau, quan sát kỹ thái độ của họ, nghiên cứu nội dung và giá trị của những điều họ giảng dạy, rồi hãy quyết định trong sự thận trọng.
Hỏi:
– Khi đi tìm thày tâm linh, chúng ta cần đến những phẩm chất gì nơi họ?
Ni Sư Thubten Chodron trả lời:
– Những phẩm chất của bậc thày xứng đáng là cách hành xử có đạo đức, giầu kinh nghiệm về thực hành các phương pháp tu tâm, và thấu hiểu Tánh Không. Họ phải thâm nhập kinh tạng, có thể dạy nhiều chủ đề về Phật pháp, và có mối liện hệ chặt chẽ với thày của chính họ. Động cơ đi dạy của họ phải là vì họ muốn giúp học trò thấu hiểu giáo pháp, chứ không phải vì mong được cúng dường, hoặc muốn được nổi danh. Bậc thày phải có lòng từ bi, kiên nhẫn và cố gắng giúp đệ tử của họ, dù những người này có thể đã gây ra nhiều lỗi lầm. Những bậc thày đạo hạnh chỉ giảng dạy đúng theo chánh pháp, không xuyên tạc ý nghĩa kinh Phật, để lôi cuốn đệ tử hoặc để kiếm thêm tiền cúng dường.
Hỏi:
– Thày tâm linh có thể là cư sĩ được không?
Ni Sư Thubten Chodron trả lời:
– Thày tâm linh có thể là tu sĩ hoặc cư sĩ, cũng đều được cả. Tuy nhiên, cư sĩ thường có gia đình, trong khi tu sĩ luôn luôn là độc thân. Tìm thày tâm linh, chúng ta nên lưu tâm đến vị nào xứng đáng làm gương tốt cho chúng ta, và noi theo hành vi đạo đức của họ mà hành xử.
Hỏi:
– Xin cho biết “hành thiền” là gì?
Ni Sư Thubten Chodron trả lời:
– Ngày nay khi nói đến “hành thiền”, đôi khi người ta bị lẫn lộn với những sinh hoạt khác. Hành thiền không chỉ có nghĩa đơn giản là làm thư giãn thân và tâm. Cũng không có nghĩa là đắm mình trong những sự tưởng tượng như mình là người thành công với một tài sản vĩ đại, có mối quan hệ tốt đẹp, có danh vọng và được mọi người ca ngợi. Đấy chỉ là sự mơ mộng viển vông về những dính mắc vào của cải vật chất.
Hành thiền cũng không phải là ngồi xếp bằng theo kiểu kiết già, lưng thẳng tắp như mũi tên với gương mặt tỏa nét nghiêm nghị thần thánh. Hành thiền là hoạt động của tâm. Dù thân thể có dáng ngồi đúng phương pháp, tuyệt đẹp, mà tâm rong ruổi chạy theo những tư tưởng linh tinh, tham, sân, si, thì cũng không phải là đang hành thiền.
Hành thiền cũng không phải là tập trung tư tưởng, như chúng ta có thể có trạng thái này khi vẽ tranh, đọc sách, hoặc làm việc gì mà chúng ta thấy thích thú. Hành thiền cũng không phải là chỉ đơn giản nhận biết mình đang làm gì vào những lúc đặc biệt nào đó.
Hành thiền để chuyển hóa tư tưởng và nhận thức, để tăng trưởng lòng từ bi và thích ứng với thực tại của đời sống.
Hỏi:
– Xin cho tôi biết muốn hành thiền thì phải làm gì và hành thiền có lợi ích gì?
Ni Sư Thubten Chodron trả lời:
– Hiện nay, trong lãnh vực tu tập về tâm linh, chúng ta có rất nhiều thày dạy hành thiền. Nhưng chúng ta phải tìm hiểu kỹ, đừng hứng khởi một cách vội vã mà gia nhập ngay vào bất cứ cái gì. Phải rất thận trọng.
Có những người nghĩ rằng họ có thể sáng chế ra cách tu thiền của riêng họ, không cần phải học từ một bậc thày lão luyện. Đó là điều thiếu khôn ngoan. Muốn hành thiền, trước nhất chúng ta phải được hướng dẫn bởi một vị thày giầu kinh nghiệm, xứng đáng làm thày.
Hành thiền tạo thói quen tốt cho tâm chúng ta, thái độ sống của chúng ta đối với cuộc đời sẽ từng bước chuyển hóa. Chúng ta sẽ giảm dần sự giận dữ và sẽ giải quyết những công việc cần phải suy nghĩ, cân nhắc, một cách sáng suốt hơn. Những sự bất mãn và căng thẳng thần kinh cũng từ từ giảm thiểu. Những kết quả này chúng ta có thể nhận ra ngay sau mỗi buổi hành thiền. Nhưng chúng ta nên có những động cơ để hành thiền cao cả và rộng lớn, hơn là chỉ vì niềm vui và hạnh phúc của riêng mình. Nếu chúng ta muốn hành thiền để giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, hoặc với mục tiêu đạt được sự triệt ngộ (triệt ngộ là giác ngộ triệt để như đức Phật), để làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, thì hiển nhiên là tâm trí chúng ta sẽ thấy an lạc ngay. Và rồi chúng ta sẽ có thể đạt được những mục tiêu cao cả đó.
Giữ được thời khóa biểu hành thiền thường lệ hằng ngày, dù mỗi ngày chỉ có thể tu tập một thời gian ngắn, cũng là thói quen tốt, sẽ mang lại rất nhiều lợi ích.
Có người nghĩ rằng:
– “Mỗi ngày ta đều quá bận rộn với công việc ở sở làm, với gia đình ở nhà, và với những công việc giao tế ngoài xã hội, nên ta không thể hành thiền. Hãy cứ để đó, đến khi nào lớn tuổi, công việc giảm bớt rồi, ta hãy tính sau. Hành thiền là việc của các Tăng Ni, đâu phải của mình”.
Xin đừng nghĩ vậy, quá sai rồi. Nếu hành thiền giúp ích chúng ta, thì hằng ngày chúng ta nên dành thì giờ để thực tập. Dù chúng ta không thích tọa thiền, cũng nên cố gắng dành chút thì giờ mỗi ngày để tĩnh tâm, là điều cần thiết. Mỗi ngày, chúng ta nên dành ra chút thì giờ, ngồi lặng lẽ, quán chiếu lại những việc mình làm trong ngày, và tìm coi vì lý do gì mình đã làm như thế, hoặc xem sách về giáo pháp, hoặc tụng đọc kinh Phật. Muốn được hạnh phúc, chúng ta phải sống hài hòa với mọi người, và an lạc trong bầu không khí tịch mịch, một mình.
Cần có những khoảng thời gian tĩnh lặng, nếu được vào buổi sáng, khi chưa khởi sự làm các công việc thường ngày thì tốt, nhất là trong đời sống của những xã hội văn minh tân tiến hiện nay, nơi mà con người ta thật sự là quá bận rộn.
Chúng ta luôn luôn có thì giờ để săn sóc thân thể. Thỉnh thoảng chúng ta nhịn ăn vì biết rằng cơ thể cần thiết điều đó. Thì cũng như vậy, chúng ta nên dành ra đôi chút thì giờ để săn sóc tâm trí và trái tim, bởi vì chúng quá quan trọng đối với sự nhận thức, cảm xúc và sức khỏe của chúng ta.
Tóm lại, tâm trí chứ không phải là thân xác của chúng ta, sẽ là động lực tiếp nối trong những kiếp tương lai của chúng ta, đem theo với nó là nghiệp lực, dấu ấn của những hành động mà chúng ta đã gây ra trong cuộc đời này. Hành thiền Phật giáo không phải là chúng ta làm lợi ích cho đức Phật, nhưng vì sự tiến bộ của chúng ta. Phật pháp dạy cách làm thế nào để tạo nguyên nhân của hạnh phúc. Và vì rằng tất cả chúng ta đều mong mỏi được hưởng hạnh phúc, chúng ta nên hành trì Phật pháp càng nhiều càng tốt.
Trích Thư viện Hoa Sen
Hỏi:
…”… Là một cựu quân nhân trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, tôi đã chiến đấu tại các chiến trường để bảo vệ nền tự do cho miền Nam Việt Nam. Khi miền Nam sụp đổ, tôi bị bắt đi tù, được gọi một cách văn hoa là đi cải tạo. Ở đó, hằng ngày ngoài chuyện làm việc cực nhọc, chúng tôi còn phải nghe những lời lăng mạ của các người quản trại, rằng chúng tôi là những kẻ phản quốc, làm tay sai cho ngoại bang. Do hiểu biết nông cạn, nên họ không hiểu được thực tế, rằng cuộc chiến của nước Việt Nam là chiến tranh ý thức hệ, giữa hai khối tự do và cộng sản.
Được đi theo diện HO sang đây, do có điều kiện nghiên cứu kinh sách nhà Phật, đôi khi tôi lại cảm thấy thương xót cho những cai tù khi xưa, những kẻ vì ngu dốt mà tạo nghiệp ác với anh em tù nhân chúng tôi. Những lúc ấy, lòng tôi nhẹ nhõm, không còn oán hận họ nữa.
Tôi rất muốn buông xả, tha thứ cho họ, theo lời đức Phật đã dạy: “Oán chỉ nên cởi, không nên thắt”, và “Lấy đức báo oán, oán ấy tiêu tan, lấy oán báo oán, oán ấy chập chùng”. Nhưng càng gần ngày kỷ niệm miền Nam xụp đổ, thì lòng tôi lại bồn chồn uất ức, nghĩ tới biết bao nhiêu là cảnh cũ, người xưa.
Vậy tôi có nên buông xả hay không? Muốn buông xả thì làm sao cho tôi quên được biết bao nhiêu chuyện đau lòng mà buông? …
(PVK)
Đáp:
Hằng năm, cứ vào khoảng thời gian miền Nam xụp đổ, là cuối tháng Tư dương lịch, thì không riêng gì ông Khang thấy lòng bồi hồi buồn bã, mà hầu như hết thẩy chúng ta, những người phải bỏ quê cha đất tổ ra đi để tìm tự do, đều cùng chung nỗi bồi hồi buồn bã như nhau. Mặc dầu ba chục năm đã trôi qua, thế hệ những người có nhiều kỷ niệm với miền Nam thuở xưa, vẫn thấy mọi chuyện như mới xảy ra, và vết thương lòng vẫn như là còn đang nhức nhối.
Vậy thì liệu chúng ta có thể quên được những kỷ niệm xưa không? Và có cần phải quên không? Đấy cũng là những mối ưu tư trong đời sống, cần được tìm hiểu.
Trong đời, chúng ta có rất nhiều câu hỏi, và mỗi câu hỏi cũng lại có nhiều câu trả lời khác nhau, tùy theo môi trường sống, hoàn cảnh cá nhân, văn hóa, xã hội, vân vân… Vì thế, những câu trả lời cũng đều chỉ là những quan điểm tưong đối, không phải là chân lý tuyệt đối, dùng chung cho tất cả mọi người.
Đạo Phật cũng trôi chảy trong dòng sống của nhân loại, cũng có nhiều câu hỏi và giải đáp khác nhau cho hành giả trên đường tu tập. Là một đạo sư, đức Phật hiểu rất thấu đáo điều này. Ngài hiểu rằng tâm mỗi chúng sinh đều có những đặc điểm riêng, do đó, những thắc mắc cũng cần có những giải đáp khác nhau, cho nên đã chỉ ra nhiều cách tu tập, để đáp ứng với nhu cầu luyện tâm của nhiều người.
Cốt tủy của đạo Phật là tu hành để giải thoát ra khỏi sinh tử luân hồi. Đây là kinh nghiệm bản thân của đức Phật, sau khi tu hành khổ hạnh qua nhiều phương pháp, một buổi sáng, khi sao Mai mọc, Ngài bừng tỉnh ngộ, nhận ra được rằng “Tất cả chúng sinh đều có Tri Kiến Phật như Ngài, chỉ vì vô minh che khuất, nếu tu tập thì sẽ bừng tỉnh, giác ngộ như Ngài”.
Đó là thông điệp của đức Phật khi giác ngộ, thành Phật. Phật có nghĩa là giác ngộ.
Từ sự giác ngộ của Ngài, đạo Phật ra đời. Mục tiêu của người tu đạo Phật là giác ngộ thành Phật để cứu độ chúng sinh như đức Phật đã tu và đã thành tựu. Thành phần này là những người xuất gia, còn được gọi là những Trưởng Tử Như Lai. Để có thể đạt được kết quả rốt ráo, các vị này thường tới những khu rừng sâu, núi cao, xa lánh hẳn chuyện đời, để thanh lọc tâm linh. Đó là các vị hành giả quyết tâm bước trên đường giác ngộ giải thoát, để có khả năng cứu độ muôn loài chúng sinh như đức Phật, ngay trong kiếp sống này.
Đối với các vị này thì:
“Quá khứ qua rồi
Tương lai chưa tới
Hãy nên tỉnh thức
Sống trong hiện tại
Vững chãi thảnh thơi”.
Do đó, các pháp môn họ tu đều với mục tiêu dẹp trừ vọng tưởng Tham Sân Si, buông bỏ kỷ niệm xưa, tình cảm cũ, quay lưng lại quá khứ. Quý vị này được Phật tử tôn là bậc trượng phu, đã vượt lên trên những chân lý tương đối, có tính cách quy ước của từng nhóm người, từng cộng đồng, vốn là nguyên nhân sâu xa của chiến tranh. Hành động của người tu giải thoát phải phát xuất từ tâm Đại Bi, bình đẳng, làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. Nếu có việc làm nào, mà động cơ là Tham Sân Si, thì người tu sĩ đó chưa giữ đúng lời nguyện khi xuất gia. Mang tâm nguyện độ sinh bước vào cửa Không, người tu sĩ trên đường tiến tới giác ngộ giải thoát, coi danh lợi và vinh hoa phú quý chỉ như đôi dép rách, thẳng tay liệng bỏ. Đấy là mục tiêu cốt tủy của con đường tu theo đạo Phật.
Nhưng không phải tất cả mọi Phật tử đều có khả năng làm được việc đó. Và cũng không phải tất cả Phật tử có lòng muốn tu tập, đều muốn tu một cách tích cực, dẹp bỏ tất cả mọi lôi cuốn của thế gian như vậy.
Cho nên ngoài giới xuất gia tu hành để giải thoát ngay trong kiếp sống này, còn có Phật tử cư sĩ tu hành tại gia. Với Phật tử cư sĩ tại gia thì lại có quy chế khác với người xuất gia. Vì cư sĩ đang sống trong đời thường, phải có bổn phận với gia đình, tổ tiên, non sông, đất nước, phải duy trì nếp sinh hoạt với cộng đồng dân tộc. Người cư sĩ tuy cũng có những tu tập tâm linh, nhưng phải giữ được sự quân bình đối với đời sống xã hội.
Mỗi xã hội lại có những quy định cho các thành viên. Thí dụ như ở Việt Nam khi xưa, thanh niên tới hạn tuổi phải đi quân dịch để bảo vệ tổ quốc, trong khi tu sĩ thì được miễn dịch, vì họ có nếp sinh hoạt khác biệt. Trước những nhiệm vụ đối với gia đình và tổ quốc như vậy, mọi con dân đều có những ràng buộc với cộng đồng, không thể tự do phóng khoáng như tu sĩ được.
Như vậy, nếp sinh hoạt của cư sĩ đã khác với tu sĩ, cho nên sự buông xả cũng có những mức độ khác nhau.
Khi đức Phật phát biểu về quyền sống, về sự bình đẳng, Ngài nói đến “chúng sinh”, chứ không phải chỉ nói đến “nhân loại”, lại càng không phân biệt quốc gia, dân tộc. Cuộc đời Ngài là giáo hóa để mưu cầu hạnh phúc và an lạc cho toàn thể chúng sinh. Ngay đối với tính mạng những sinh vật nhỏ nhít, như con sâu, cái kiến, Ngài cũng khuyên chư đệ tử vào mùa côn trùng sinh sản, nên giảm thiểu sự đi lại để tránh giẫm đạp lên, khiến chúng phải bỏ mạng.
Nhưng đối với chúng ta là những người dân thường, dù là Phật tử, chúng ta vẫn đang sống trong thế giới tương đối, có phải, trái, tốt, xấu, vân vân, theo quy ước của cộng đồng. Chúng ta có nhiệm vụ phải hoàn tất các bổn phận mà cộng đồng quy định, có cái nhìn phân biệt về quốc gia, dân tộc, vân vân… Trên quan điểm này, quá khứ là gia tài chung của những người cùng truyền thống, cùng kỷ niệm, có những vui, buồn, vinh, nhục chung, không thể xóa nhòa ký ức, không thể quên được.
Không thể quên, nhưng chúng ta có thể buông xả bớt những nỗi niềm đau khổ ra khỏi tâm tư, để trước nhất là cứu tâm chúng ta cho bớt nhức nhối, sau là có thể dùng những sinh lực, đáng lẽ tiêu hao trong việc gậm nhấm những cảm xúc đau đớn, chuyển qua những công việc ích lợi hơn.
Nhà Phật cho là “Tâm tạo thiên đường, Tâm tạo địa ngục”. Suốt cả cuộc đời giáo hóa chúng sinh, đức Phật chỉ dạy chuyển tâm. Đó là thông điệp ”Oán chỉ nên cởi, không nên thắt”, và “Lấy đức báo oán, oán ấy tiêu tan, lấy oán báo oán, oán ấy chập chùng”.
Đối với quá khứ, cfhúng ta không cần phải quên, mà nên ghi chép lại trong lịch sử của dân tộc, để lưu truyền cho thế hệ sau. Quá khứ cho ta những bài học của lịch sử, mà nhờ có những bài học này, người đời sau có thể rút tỉa kinh nghiệm, để từ đó, có những quyết định sáng suốt, tốt đẹp hơn. Như vậy, kỷ niệm quá khứ sẽ đem lại những chuyển hóa tích cực cho tương lai.
Tuy nhiên, chúng ta nên phân biệt giữa ghi nhớ và căm thù. Ghi nhớ để có kinh nghiệm mà do đó, làm được những việc có ích cho đời thì tốt. Nhưng ghi nhớ để nổi lên lòng căm thù thì không đúng với lời Phật dạy. Lòng thù hận sẽ đem lại cho mình và cho người những nỗi đau khổ không bao giờ chấm dứt được. Trước nhất là lòng thù hận trói buộc mình trong những cảm xúc tiêu cực, không an lạc. Để trong tâm sự thù hận, nhãn quan sẽ bị thu hẹp. Đó là lý do nhà Phật khuyên chúng ta nên buông xả.
Lịch sử các cuộc tàn sát vì cuồng tín ghi rằng, đã nhiều lần người theo đạo Hồi tấn công đạo Phật, bằng những cuộc thảm sát đẫm máu. Điển hình như cuộc tấn công năm 1197, được mô tả như sau:
…”… Đạo quân Hồi giáo xông xáo vào đất Phật tại Ấn Độ. Những lưỡi kiếm vung lên loang loáng, chém bay tất cả những cái đầu cạo trọc (ám chỉ đầu các tu sĩ Phật giáo). Tội ác giết người được hoàn tất chu đáo đến nỗi, khi kẻ chiến thắng muốn tìm một người có thể đọc và giải thích kinh sách nhà Phật, tại nơi cất giữ kinh của các tu viện, thì không còn tìm ra nổi, dù là chỉ một người sống sót, có khả năng đọc được sách nữa. Tất cả đã bị giết hết. Cuộc tàn sát ráo riết tới tận gốc. Do cuộc chém giết man rợ này, Hồi giáo đã nhổ tận gốc đạo Phật tại Ấn Độ”
Không riêng tại Ấn Độ, người Hồi Giáo đã tàn sát Phật tử tại nhiều vương quốc miền Trung Á vốn theo đạo Phật, thí dụ Afghanistan, nơi Phật giáo đã có một thời được phổ biến rất rộng rãi, điển hình là đã có hai pho tượng khổng lồ được xây dựng từ mấy ngàn năm nay, mà chúng ta mới được biết gần đây, khi quân Taliban phá hủy hai pho tượng này, khiến cho cả thế giới phải xúc động. Có thể nói 300 năm trước Tây lịch, dưới triều đại Asoka, Phật giáo đã vượt khỏi biên giới Ấn Ðộ, và phát triển rộng về phiá Nam, phiá Ðông và Tây Ấn Ðộ. Phía Tây Bắc, Phật giáo du nhập vào các vùng Gandhara, Pakistan và Afghanistan. Ở thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch, một vùng đất rộng lớn bao gồm Bắc Ấn, Gandtara, Afghanistan cho tới thung lũng sông Tarim do hoàng đế Kaniska cai trị. Vị vua này là một tín đồ Phật giáo, dưới triều đại của ông, đã tổ chức kết tập kinh điển lần thứ IV ở Kashmir và cũng chính nhà vua đã cử những vị cao tăng đem Phật giáo đến các vương quốc như Hy Lạp, Ai Cập, Syria… Nhưng tất cả những khu vực theo Phật giáo này đã bị người Hồi giáo tàn sát, đập phá chùa chiền, tu viện, thư viện với những kho tàng văn hóa Phật giáo. Trước lưỡi kiếm tàn sát hung bạo, những người Phật tử hiền lành, hiếu hòa, bất bạo động, đã chạy tan tác đi lánh nạn tại các nước như Nepal, Trung Hoa, Tây Tạng, vân vân…
Là một nhà lãnh đạo đất nước Tây Tạng, một đất nước mà dân chúng hầu hết theo Phật giáo, hẳn đức Đạt Lai Lạt Ma biết rõ về những cuộc tàn sát đạo Phật của Hồi giáo. Thế nhưng, trong buổi hội nghị mang tên “A Gathering of Hearts Illuminating Compassion” tại San Francisco, từ ngày 10 tháng Tư đến ngày 16 tháng Tư năm 2006, gồm có khoảng 500 nhà lãnh đạo và học giả thuộc nhiều tín ngưỡng, của khoảng 30 quốc gia trên thế giới, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã phát biểu: “Ngày nay, theo ý một số người, Hồi giáo có vẻ như bị coi là hiếu chiến. Tôi cảm thấy rằng điều đó hoàn toàn không đúng. Hồi giáo, cũng như các truyền thống tôn giáo khác, cũng dạy tín đồ về sự tử tế, về lòng trắc ẩn, về sự giúp đỡ những người nghèo khổ, vân vân…”….
Ngài nói với cử tọa rằng, nhiều người đã thấy và nghe nói về những cuộc nổ bom tự sát, phần lớn xảy ra tại các nước Hồi giáo, mà không nghe nói về những người Hồi giáo đi làm việc thiện, giúp đỡ người nghèo. Ngài nói rằng tất cả mọi người đều có khuynh hướng bạo động, nếu bản thân bị mất bình tĩnh, và chúng ta không nên căn cứ vào hành động của một số người, mà phán xét cả một tôn giáo, vì “Ở đâu cũng có những kẻ phá hoại”. Ngài cũng kêu gọi cử tọa, là những nhà lãnh tụ tôn giáo và các học giả tôn giáo, cần phải làm việc tích cực hơn để tạo một thế giới sống chung hòa bình.
Những điều Ngài nói đều có cơ sở thực tế, thí dụ tổ chức Rahima Foundation của người Hồi giáo đã nhận được huy chương Human Relations Award of California’s Santa Clara County vì đã có công tặng y phục, thực phẩm và những vật dụng cần thiết cho những người kém may mắn tại Santa Clara và các vùng phụ cận từ năm 1993. Tại những vùng như Sacramento, New York, Philadelphia, Chicago, Detroit, Tampa Bay, vân vân, các bác sĩ Hồi giáo tại địa phương đã cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho những bệnh nhân không có bảo hiểm. Và qua những tổ chức như Habitat for Humanity, các thiện nguyện viên Hồi giáo đã hy sinh thời giờ và khả năng kỹ thuật của họ, để xây dựng nhà cửa cho những người vô gia cư, vân vân …
Lời kêu gọi của Ngài được nhiều người có tấm lòng rộng mở hoan hỉ đón nhận. Nhưng cũng có một số người, ngay cả Phật tử, phản đối, cho là Ngài quá khoan hòa với Hồi giáo.
Như chúng ta đã thấy, hẳn là Ngài biết rất rõ về những nỗi thống khổ, những tai hại do Hồi giáo gây ra cho đạo Phật. Thế nhưng, là một Phật tử chân chính, Ngài không nhìn sự việc bằng cảm tính, theo kiểu vơ đũa cả nắm. Chúng ta cũng thấy rằng không phải tất cả người Hồi giáo đều xấu. Trong số những người Hồi giáo, có rất nhiều người tốt lành. Họ cũng tốt lành như chúng ta, mà lại còn đáng buồn hơn chúng ta, vì bị mọi người hiểu lầm, nên ghét lây tới họ.
Chắc chắn Ngài không quên những đau thương mà người Hồi giáo đã đem lại cho Phật giáo trong quá khứ, nhưng là một Phật tử sáng suốt, Ngài nhìn những kiếp người đang sống trên thế giới này bằng con mắt Tâm, con mắt thấu triệt được những đau thương khốn khổ, mà mọi người phải chịu đựng, nếu nhân loại cứ tiếp tục thù hận nhau, chiến tranh cứ liên miên xảy ra khắp thế giới.
Trong cuốn The Art of Happiness, a Handbook for Living, đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói:
…“… Sự tai hại của lòng thù hận thật là hiển nhiên, rõ ràng và trực tiếp. Thí dụ, khi trong lòng bạn nổi lên một cảm giác ghét ai đó, thì ngay lập tức, cảm giác ghét đó tràn ngập tâm trí bạn, và nó làm tan biến cảm giác an lạc trong tâm bạn ngay lập tức. Nó cũng khiến cho tâm bạn không còn sáng suốt, tỉnh thức được nữa. Ngay khi sự nổi giận và ghét bỏ xuất hiện, nó phá hủy phần tốt đẹp nhất của tâm trí, phần mà nhờ nó, bạn biết được sự đúng và sai, sẽ gây ảnh hưởng vào phản ứng của bạn ngay lúc đó và trong tương lai của bạn. Khả năng phán xét của bạn bị đình chỉ, không còn làm việc nữa. Bạn sẽ giống như người bị mất trí. Như vậy,sự giận dữ và thù ghét có khuynh hướng làm cho bạn bị mất tỉnh táo, khiến cho những khó khăn mà bạn đang gặp càng trở nên tệ hại hơn...”…
Một trong những con đường tu tập của Phật giáo Đại Thừa là Bồ Tát Đạo. Hạnh nguyện Bồ Tát là hy sinh bản thân để cứu độ chúng sinh. Có câu hỏi đặt ra là: “Nếu tại khu rừng kia có con cọp rất dữ, đã ăn thịt nhiều người. Có một võ sĩ tu theo hạnh Bồ Tát, có khả năng giết con cọp đó. Nhưng giết cọp thì phạm vào giới sát. Vậy phải làm sao?”
Câu trả lời cho người đi trên Bồ Tát Đạo là dùng con mắt Tâm, con mắt “cứu khổ chúng sinh” để chỉ đạo. Giết cọp sẽ cứu được nhiều chúng sinh khỏi chết, hành giả Bồ Tát Hạnh sẽ rất thương xót mà đành phải xuống tay chấm dứt cuộc đời con cọp, để cứu nhiều mạng sống, và sẵn sàng chấp nhận sẽ phải trả quả báo do hành động sát sinh, dù động cơ sát sinh nảy ra do lòng từ bi của mình.
Người Phật tử tu theo đúng lời dạy của đức Phật, trước mỗi hành động phải luận coi động cơ là vì lòng từ bi, vì chúng sinh, hay vì tham sân si cho cá nhân mình.
Cuộc đời luôn luôn đem tới cho chúng ta những câu hỏi. Chỉ có con mắt Tâm, con mắt của lòng từ bi là có thể giúp chúng ta trả lời một cách sáng suốt mà thôi.
Trích Thư viện Hoa Sen
Tâm trí không thể tự do khi mà nó còn bị rập khuôn hoặc điều kiện hóa. Người ta nghĩ rằng không thể để cho bạn được tự do suy nghĩ, không bị rèn luyện vào khuôn khổ, mà phải bắt tâm trí bạn vào một khuôn khổ nào đó. Ngoài ra, đối với một nền văn minh càng lâu đời, thì sức nặng của truyền thống, của thẩm quyền, của những quy tắc càng đè nặng trĩu lên tâm trí con người.
Lấy thí dụ những chủng tộc cổ xưa như Ấn Độ bị sống gò ép vào khuôn khổ hơn những người sống tại Mỹ, nơi có nhiều tự do về đời sống xã hội và kinh tế, vì đó là một dân tộc gồm những nhà tiền phong mở đường lập quốc mới gần đây.
Một tâm trí bị rèn vào khuôn mẫu thì không thể tự do, vì nó không thể vượt qua được cái biên giới của chính nó, vượt qua được cái hàng rào mà chính nó đã tạo dựng chung quanh nó, đó là điều hiển nhiên. Và thật là vô cùng khó khăn cho cái loại tâm trí này, để nó có thể tự giải thoát khỏi cái khuôn khổ và vượt được ra ngoài, bởi vì cái khuôn mẫu đè nặng lên nó không những từ xã hội, mà tại luôn cả tự nó ràng buộc chính nó. Bạn thích cái cung cách sống của bạn vì bạn ngại, không dám vượt qua nó. Bạn sợ những điều cha mẹ bạn, thầy linh hướng của bạn, và xã hội sẽ bình phẩm, nên bạn giúp họ tạo dựng cái hàng rào nó sẽ cầm giữ bạn lại
Chính đây là cái nhà tù tư tưởng mà số đông chúng ta bị giam cầm, và đó là lý do cha mẹ chúng ta bảo chúng ta – và một ngày kia sẽ tới phiên chúng ta sẽ bảo con cái chúng ta – phải làm cái này hoặc không làm cái kia.
Trong khi còn trẻ, tự do là điều vô cùng quan trọng, không phải chỉ trên bình diện ý thức, mà tận đáy lòng. Có nghĩa là bạn phải quan sát chính bạn, tỉnh giác trước những nguồn ảnh hưởng tìm cách xâm lấn vào tâm hồn bạn để chi phối bạn. Có nghĩa là đừng bao giờ chấp nhận điều gì một cách không thận trọng, mà phải luôn luôn tìm hiểu, nghiên cứu kỹ lưỡng và phản đối, nếu cần.
J. Krishnamurti – Life Ahead
Người dịch: Danny Việt (ĐPK)
.
.
Hỏi :
– Cách nào dễ dàng nhất để tìm thấy Thượng Ðế ?
J. Krishnamurti đáp :
– Tôi e rằng không có cách dễ dàng nào để thấy được Thượng Ðế đâu, bởi vì việc tìm Thượng Ðế là việc khó khăn, gian khổ nhất. Thượng Ðế có phải là cái mà tâm trí chúng ta tạo ra chăng? Bạn biết tâm trí chúng ta là cái gì rồi. Nó chẳng qua cũng chỉ là kết quả của thời gian, và nó có thể tạo ra bất cứ loại ảo giác nào. Nó có khả năng tạo ra tư tưởng, phóng chiếu đủ loại tưởng tượng, sáng tác đủ loại hư cấu. Nó luôn luôn bận bịu chuyện gom góp, liệng bỏ, chon lựa. Ôm trong lòng những thành kiến, hẹp hòi, nông cạn, cái tâm vọng động dựa theo ý mình mà vẽ ra hình ảnh Thượng Ðế. Nó tưởng tượng về Thượng Ðế tùy theo với sự hẹp hòi, giới hạn, nông cạn của nó.
Vì đã có những bậc thầy, những nhà linh hướng, những “cái-gọi-là” những bậc cứu thế độ nhân đã tuyên bố rằng có Thượng Ðế, và đã mô tả Thượng Ðế theo ý họ, cho nên cái vọng tâm có thể tưởng tượng về Thượng Ðế trong tình trạng đó.
Nhưng hình ảnh tưởng tượng đó không phải là Thượng Ðế. Thượng Ðế là cái mà chúng ta không thể tìm thấy bằng loại tâm vọng động này. Muốn tới được, thâm cảm được Thượng Ðế, trước nhất, bạn hãy tìm hiểu chính cái tâm của bạn đi đã.
Ðó là điều rất khó khăn. Cái tâm rất là phức tạp, cho nên không phải dễ mà hiểu được nó. Nhưng lại quá dễ cho cái chuyện ngồi xuống để mơ mộng, vẽ ra nhiều hình ảnh, ảo giác trong trí, rồi cho là bạn đang rất gần gũi Thượng Ðế.
Chính cái vọng tâm hoạt động liên tục đó có khả năng lừa dối vô tận. Cho nên, nếu muốn thật sự kinh nghiệm được điều có thể gọi là Thượng Ðế, bạn phải hoàn toàn tĩnh lặng.
Bạn có thấy đó là điều cực kỳ khó khăn chăng? Bạn có nhận thấy ngay đến các bậc già cả, cũng không thể nào ngồi yên lặng cho nổi, họ bồn chồn, hết ngọ nguậy ngón chân lại đến động đậy bàn tay, ra sao? Ngay đến cái thân xác mà đã khó lòng ngồi yên lặng được như vậy, hỏi rằng còn khó khăn tới mức nào để mà có được cái tâm lặng lẽ, thanh tịnh? Bạn có thể học theo vài bậc đạo sư để biết cách ép cho cái tâm vọng động phải yên lặng, nhưng thực tế là nó không yên lặng. Nó vẫn hoạt động không ngừng, y như đứa nhỏ bị bắt buộc phải đứng trong góc nhà.
Thật là một đại nghệ thuật để bạn có thể khiến cho cái tâm trí bạn tĩnh lặng hoàn toàn mà không cần phải áp đặt nó. Và cũng chỉ đến khi đó, trong tình trạng đó, hoạ chăng bạn mới có được cái kinh nghiệm được gọi là hiệp thông với Thượng Ðế.
J. Krishnamurti—On God.
Người dịch: Danny Việt (ĐPK)
Hỏi:
Em thực sự cảm kích khi đọc những dòng tâm sự chân thành của chị đến với từng độc giả. Bản thân em cũng đang gặp chuyện khó xử chưa biết tâm sự cùng ai, thấy trong mục Tơ Lòng Vấn Vương này cũng chân thành và gần gũi quá nên em gửi tâm sự của mình. Hy vọng sẽ nhận được những lời khuyên bổ ích từ chị.
Em năm nay 26 tuổi, đã tốt nghiệp đại học và có việc làm, lương bổng ổn định. Cách đây 1 năm, em quen anh ấy và chúng em trở thành bạn tốt của nhau. Qua một thời gian em nhận thấy tình cảm chân thành mà anh ấy dành cho. Anh tâm sự, anh có rất nhiều điều muốn nói với em nhưng không dám thổ lộ. Em biết anh mặc cảm vì bản thân anh chưa có sự nghiệp ổn định và trình độ học vấn lại kém em nhiều, thành ra anh ngại. Còn em, em cũng chỉ xem anh như một người bạn. Nhưng qua cách đối xử, em thấy ở anh có sự chín chắn của một người đàn ông từng trải trong cuộc sống, và em quý mến anh như anh trai mình, thỉnh thoảng vẫn chia xẻ với anh những khúc mắc trong cuộc sống. Có điều lúc nào thấy anh “có ý ” nhắc tới chuyện tình cảm là em lại né tránh. Anh càng nhận thấy rõ điều này và rất buồn.
Chúng em hiện đã xa nhau một thời gian vì công việc, anh vẫn chờ đợi trái tim em rung động. Còn em, những lúc một mình, em mới thấy lòng mình trống trải và thấy mình yếu đuối, đã có lúc em nghĩ tới tình cảm của anh, nhưng hình như vẫn bị chi phối bởi lý trí. Em thấy khó xử quá!
Xin chị hãy cho em lời khuyên, chị có đồng ý yêu một người thua mình về trình độ học vấn không? Bởi thông thường hay thấy đàn ông lấy vợ có trình độ kém mình chứ ít thấy trường hợp ngược lại.
Cảm ơn chị rất nhiều!
T. H.
Đáp:
Chị xin được làm người góp ý, không dám nhận là người gửi tới em những “lời khuyên”. Xin em cùng chị đọc những góp ý này rồi suy nghĩ coi có những điểm nào chị chưa thông suốt thì em tự mình cân nhắc thêm để tìm ra giải pháp hợp tình, hợp lý, em nhé.
Trong câu chuyện của em, có mấy vấn đề đặt ra:
– . . . chúng em trở thành bạn tốt của nhau . . .
– . . . anh mặc cảm vì bản thân anh chưa có sự nghiệp ổn định và trình độ học vấn lại kém em nhiều . . .
– … còn em, em cũng chỉ xem anh như một người bạn.
– . . . đã có lúc em nghĩ tới tình cảm của anh, nhưng hình như vẫn bị chi phối bởi lý trí.
– . . . chị có đồng ý yêu một người thua mình về trình độ học vấn không?
Chị xin góp ý với câu cuối trước.
Em à, nói về “yêu”, thì không có vấn đề phân biệt, dù là gia cảnh, tôn giáo, tuổi tác, học vấn, thậm chí có những trường hợp hai gia đình là thù địch của nhau, hai người trẻ vẫn thương yêu nhau, đôi khi phải bỏ trốn đến những nơi xa xôi để được cùng nhau chung sống.
Nay chúng ta bàn sang vấn đề là “Có thực sự là em đã “yêu” người bạn của em chăng?”
Chị cảm thấy có vẻ như là “chưa”, em ạ.
Từ một năm nay, hai em quen nhau và trở thành bạn tốt của nhau, em cảm thấy anh ấy dành cho em tình cảm chân thành, nhưng về phần em, em chỉ coi anh ấy là một người bạn. Chuyện đời cứ tiếp tục trôi, thì em vẫn coi anh ấy là bạn mà thôi. Nhưng vì anh ấy muốn thổ lộ tình cảm với em, mà vì mặc cảm nên không dám, còn em thì “em thấy ở anh có sự chín chắn của một người đàn ông từng trải trong cuộc sống, và em quý mến anh như anh trai mình, thỉnh thoảng vẫn chia xẻ với anh những khúc mắc trong cuộc sống.”, chị nghĩ rằng tình cảm của em đối với anh ta chỉ là của một người em gái, muốn có người anh để tâm tình, mà thôi, chưa chắc đã là “yêu”.
Tuy nhiên, có một sự kiện nổi lên, đó là dường như tới giai đoạn này, những ý nghĩ mơ hồ về vấn đề “yêu”, “sống chung”, đã hiện lên hơi rõ nét, cho nên hai em mới thấy xuất hiện chuyện “anh mặc cảm vì bản thân anh chưa có sự nghiệp ổn định và trình độ học vấn lại kém em nhiều”.
Dĩ nhiên là trình độ học vấn không nói lên nhân cách của con người. Có những người có học thức cao nhưng cư xử lại lưu manh, gian dối, dùng cái “học thức” của mình để lường gạt, tư cách còn thua người không biết chữ. Cho nên mới có sự phân biệt giữa “trí thức” và “học thức”.
“Người trí thức” là người hành xử có tư cách và trí tuệ, biết việc gì làm được, nói được, việc gì không thể làm, không thể nói, nôm na là “ăn ở sao cho coi được”, cái “coi được” này không học được từ mớ sách vở, chữ nghĩa, mà là phải được hấp thụ một nền giáo dục có nội dung lành mạnh, trong sáng, sâu sắc của gia đình và xã hội, biết ” ăn ở sao cho phải đạo làm người”. Trong khi đó, chỉ cần mài miệt trong trường, học để có những mảnh bằng cao, là đã được gọi là “người học thức” rồi.
Người bạn của em có thể không học thức cao, nhưng lại biết ăn ở một cách trí thức, “cho ra con người”, em ạ.
Tuy nhiên, chị cần lưu ý em một thực tế này, là chị thấy rằng anh ta không có được niềm tự tin, tại sao vậy? Phải chăng vì anh ta cũng có phần trách nhiệm trong sự “chưa có sự nghiệp ổn định và trình độ học vấn lại kém em nhiều” chăng, thí dụ anh ta đã không cố gắng tìm cách trau giồi thêm kiến thức, nghề nghiệp, để cải thiện cuộc sống vật chất trong tương lai bằng những phương tiện hơi vất vả thí dụ như học thêm tại những lớp tối chăng … vân vân? Phải chăng anh ta đã dùng thời giờ để nuông chiều bản thân, đắm chìm vào chuyện mộng mơ, nghe nhạc, đọc tiểu thuyết, v … v … chăng?
Em nên tự tìm hiểu. Một người có chí khí, tích cực, nhưng không có phương tiện, thí dụ phải dồn hết thời giờ để kiếm tiền nuôi gia đình, chưa có hoàn cảnh để trau giồi thêm kiến thức, khác với một người ù lì mơ mộng, chịu làm kẻ thua kém rồi mang theo mặc cảm, hận đời không hiểu mình.
Sống suốt đời với người chồng đầy mặc cảm sẽ là một vấn đề rất gai góc, luôn luôn phải cảnh giác, vì bất cứ hành động nào của mình cũng có thể khiến cho họ vì có mặc cảm mà hiểu lầm, em à.
Thân mến chúc em sáng suốt.
Thuần Nhã (ĐPK)
Ý niệm về địa ngục được hình thành từ thời cổ xưa, xuất hiện cùng với ý niệm về ông Trời, về Thượng Ðế, về các loại Thánh Thần vân vân. Hầu hết các tôn giáo đều nói đến những sự thưởng phạt sau khi chết, được thưởng thì được sinh lên thiên đường hưởng phước, bị phạt thì bị đầy xuống địa ngục chịu tội. Thời trước người ta tin là trái đất vuông, mặt đất bằng phẳng, cho nên thiên đường được giới thiệu là ở cao tít trên mây, và địa ngục ở dưới sâu trong lòng đất. Lý do để được thưởng hay bị phạt thì tùy theo luật lệ của mỗi tôn giáo quy định.
Suốt chiều dài của lịch sử loài người, hình ảnh về thiên đường và địa ngục đã giúp những bậc trưởng thượng trong các bộ lạc, làng mạc, thôn xóm, gia đình, như là một trợ huấn cụ đắc lực để răn đe con cháu khỏi làm điều sai trái.
Sau này, khi các tổ chức tôn giáo hình thành, thì vai trò thiên đường và địa ngục lại càng đắc lực hơn, trong việc tạo ấn tượng về thưởng phạt, về nỗi khiếp sợ sẽ bị đầy xuống địa ngục nếu trái lệnh, hoặc sự cứu rỗi nếu người tín đồ vâng lời, khiến cho từ trong tiềm thức, người ta tin chắc rằng cần phải có một nơi để bấu víu, để nương tựa sau khi chết, nếu không sẽ phải chịu muôn vàn khốn khổ, thiêu đốt vĩnh viễn trong địa ngục.
Có niềm tin cho là sau khi con người chết đi, linh hồn xuống tới âm phủ, thì “quỷ thần hai vai” của người ấy sẽ đem tất cả công và tội của họ tâu lên vua Diêm Vương để ông ta quyết định sự thưởng phạt, hoặc cho lên trời hưởng phước, hoặc đầy vào các loại địa ngục mà tên gọi thường là rất rùng rợn, tùy theo sáng kiến của người phát minh.
Ðạo Phật không tin chuyện quỷ thần hai vai và ông Diêm Vương nào đó lại có thể quyết định vận mạng của ai được. Nền đạo đức Phật giáo không xây dựng trên sự thưởng phạt ở thiên đường hoặc địa ngục, do các Thần Linh áp đặt, mà lấy quy luật nhân quả làm căn bản.
Tâm lý học của đạo Phật cho rằng tất cả những việc mà mỗi dòng đời tạo ra, trải dài theo cuộc hành trình trong thế giới hiện tượng tương đối này, là những hạt giống, hay còn gọi là chủng tử thiện hoặc ác, trong tương lai khi hội đủ cơ duyên, sẽ nẩy nở thành những thiện quả hoặc ác báo, đều chứa tại Thức Thứ Tám, còn gọi là Tàng Thức hoặc A Lại Da Thức, của chính dòng sinh mạng đó. Thức này là lớp Vọng, cũng mênh mông như Chân Tâm, tạm ví như làn sóng điện trong không gian.
Những chủng tử thiện hoặc ác này sẽ xuất hiện vào giây phút lâm chung, để quyết định cảnh giới tái sinh của đương sự, nhà Phật gọi là “gió Nghiệp cuốn đi tái sinh”. Một số người có kinh nghiệm về cận tử (near death experience) kể lại đại khái rằng vào cái lúc họ cảm thấy muốn ngừng thở, bỗng nhiên trước mắt nổi lên một cảnh tượng tràn ngập không gian, cả quãng đời quá khứ, những việc làm khiến cho họ rất sung sướng hoặc rất đau khổ, xuất hiện như là đồng thời. Họ cảm thấy như trong giấc mơ, như là hình ảnh của ký ức. Ðối với quan điểm của nhà Phật thì đó là giây phút mà một người có thể nhìn thấy được chính cái kho chứa các nghiệp nhân, tức là Tàng Thức của mình.
Chiếu theo thành quả tự tu, tự giác ngộ lại Bản Thể của đức Phật, người Phật tử không tin vào sự cứu rỗi do bên ngoài mang đến, mà tin vào chính mình, theo gương sáng của đức Bổn Sư. Trong đời sống, người Phật tử từng bước chuyển hóa tâm, từ xấu ác trở thành lành thiện, đó là giai đoạn chuyển hóa tương đối. Sau đó sẽ bước qua giai đoạn cốt tủy của quá trình tu chứng là “thanh tịnh hóa tâm”, vượt lên trên những khái niệm thiện và ác tương đối, chỉ còn lại tâm Từ Bi và Trí Tuệ Bình Ðẳng, hóa giải tam độc Tham Sân Si, vốn là căn bản trói buộc con người vào vòng sinh tử. Từ đây dòng sinh mệnh được hoàn toàn giải phóng, đạt được mục tiêu tối cao của con đường tu Phật, là Toàn Giác.
Có câu chuyện ẩn dụ về sự tự tu, tự độ như sau:
“Trong khu vườn kia có một nhóm thiền sinh đang đứng chung quanh vị thiền sư. Góc vườn là một con cọp bị trói. Thiền sư hỏi đám học trò:
– Có ai biết cách cởi trói cho con cọp không?
Ðám thiền sinh góp ý, người thì bàn “lấy tấm lưới chụp nó”, người thì bảo ”xông thuốc mê cho nó”. Cuối cùng, một thiền sinh ung dung:
– Cứ bảo người nào đã trói được nó, thì chính người đó mở trói cho nó là xong.”
Câu chuyện nói lên tính chất của quy luật nhân quả, người nào tạo nhân thì người đó lãnh quả, người nào ăn thì người đó no, người nào tu hành thanh tịnh hóa tâm thì người đó giác ngộ.
Như thế về căn bản, đạo Phật không tin vào sự cứu rỗi, mà tin lời Phật tuyên bố khi mới thành đạo: “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”, và câu di huấn khi Ngài sắp nhập cảnh giới Niết Bàn:
“Mọi người hãy tự thắp đuốc lên mà đi”.
Ðuốc ở đây là đuốc Tuệ, là ngọn đèn trí tuệ mà đức Phật đã giơ cao, nay còn nằm trong kinh điển, mỗi người đều cần phải “tự học, tự tu, tự giác thành Phật”.
Tuy nhiên, trên con đường giáo hóa chúng sinh từng bước, đạo Phật đi trong nhân gian thường dùng những phương tiện đã sẵn có của người dân địa phương để truyền bá tư tưởng nhà Phật, theo tôn chỉ “tùy duyên mà bất biến”, dùng bình địa phương đựng thuốc Phật giáo, khiến cho mọi người đều được thấm nhuần tư tưởng từ bi hỷ xả mà không cảm thấy nền văn hóa truyền thống của họ bị xúc phạm. Thí dụ tượng ảnh đức Phật khi ở Ấn Ðộ thì gầy gò, nghiêm túc, đúng là hình ảnh người tu khổ hạnh. Sang tới Mỹ, tại tu viện Shasta trên sườn núi Shasta, nơi có trên sáu chục vị sư người Tây Phương từ các tôn giáo khác chuyển qua đạo Phật đang tu hành, thì tượng Bồ Tát Quán Thế Âm lại giống hệt tượng Ðức Mẹ. Trong khi đó, tượng ảnh Phật và chư Bồ Tát bên Trung Hoa thì lại mập mạp, hơi mỉm cười, đượm vẻ từ bi, cảm thông với chúng sinh, theo truyền thống hiếu khách của người Á Đông là “đem lại niềm vui cho nhau”.
Tóm lại, đạo Phật cũng nói về thiên đường và địa ngục, nhưng với ý nghĩa hoàn toàn khác hẳn.
Từ quan điểm “nhất thiết duy tâm tạo” nói trong kinh Hoa Nghiêm, thiên đường và địa ngục dưới mắt người Phật tử chính là những cảnh giới tâm thức, mà mỗi người đều trải qua hằng ngày.
Nếu con người không chế ngự được ba thói xấu là tham lam, sân hận và si mê, để cho bản thân rong ruổi trong sự bon chen, tính toán lợi mình hại người, thì tâm hồn không được an lạc, mà phiền não triền miên, ăn không ngon, ngủ không yên, thường thấy ác mộng do những bực bội bất mãn gặp phải hằng ngày, đó cũng đã được coi là cảnh giới địa ngục của tâm thức rồi.
Trong kinh Ðịa Tạng, chúng ta cũng thấy nói đến những cảnh giới địa ngục. Vì “nhất thiết duy tâm tạo” nên những cảnh giới trong kinh Ðịa Tạng cũng là những cảnh giới tâm thức. Ðịa Tạng cũng có nghĩa là Tâm Ðịa, là Ðất Tâm.
Nhà Thiền có câu “Ðất Tâm nếu trống không thì mặt trời Trí Tuệ tự chiếu”. Người nào có thể “thanh tịnh hóa tâm”, khiến cho Ðất Tâm trống không, thí Trí Tuệ Bình Ðẳng tự hiện, cũng có nghĩa là Bồ Tát Ðịa Tạng đã phá xong cửa ngục tâm thức cho người đó rồi.
Còn như nếu Ðất Tâm mà ô nhiễm quá, thì vào giờ phút lâm chung, do nghiệp thiện hoặc ác trong quá khứ, mà thần thức người đó sẽ bị chiêu cảm vào cảnh giới tương ưng.
Quan điểm của nhà Phật về tất cả hiện hữu trên thế gian là vô thường. Tâm cũng vô thường, khi tâm chuyển thì tất cả mọi thứ do tâm tạo cũng chuyển theo tâm. Cho nên, đối với nhà Phật, không có cảnh giới địa ngục vĩnh viễn.
Mỗi người đều có thể tự ra khỏi địa ngục bằng sự “thanh tịnh hóa tâm” của họ. Ðó là niềm hy vọng về giải thoát của tất cả mọi người.
Nhà Phật có câu: “ Buông dao đồ tể là thành Phật” hoặc “Biển khổ mênh mông quay đầu là bến”. “Buông dao” và “quay đầu” ở đây có nghĩa là buông bỏ đời sống ô nhiễm, bước vào con đường thực hành các phương pháp để “thanh tịnh hóa tâm” như Mật Tông, Thiền Bắc Tông, Thiền Nam Tông, Tịnh Ðộ Tông, vân vân …
Trên đây chúng tôi đã trình bày vài khái niệm về địa ngục.
Nay xin nói về nỗi sợ hãi mênh mông của về cái gì đó mơ hồ gọi là Địa Ngục.
Tất cả loài người chúng ta, mà có lẽ luôn cả các loài sinh vật nữa, kể từ thời tiền sử, đều đã mang sẵn một nỗi sợ hãi mênh mông.
Ngay khi vừa mới lọt lòng mẹ, đứa bé đã khóc thét lên vì sợ, tay chân quờ quạng, chới với. Nó đang được nằm trong bào thai, được bảo bọc chặt chẽ, ấm áp trong lòng mẹ nó, nay bỗng nhiên rơi tõm vào một khoảng không gian trống rỗng, nên nó thất kinh hồn vía.
Rồi theo với thời gian, càng ngày con người càng có thêm nhiều nỗi sợ hãi, từ những nỗi sợ nhỏ nhít linh tinh như sợ bị đòn, cho tới nỗi sợ mất mát người thân yêu, mất nước, vân vân. Vì nỗi sợ hãi triền miên này mà tinh thần con người bị giam hãm, không khai phóng nổi.
Xin trích dịch một đoạn bình luận về sự sợ hãi do tư tưởng gia J. Krishnamurti trình bày trong cuốn On Fear, ông viết:
“Ðầu tiên chúng ta hãy tự hỏi “sợ là gì” và “nỗi sợ hãi nổi lên như thế nào”?
Ðối với chúng ta, bản thân từ ngữ “sợ” nghĩa là gì? Tôi đang tự hỏi “sợ là cái gì”, chứ không phải là “tôi sợ cái gì”.
Hiện tại, ngay lúc tôi đang ngồi đây, tôi không sợ. Lúc này tôi không sợ, chẳng có chuyện gì xẩy ra cho tôi, chẳng ai đe dọa hoặc lấy cái gì của tôi.
Nhưng ngoài cái thời gian đang hiện hữu này, trong tâm thức tôi còn có một lớp sâu hơn, đó là vùng ý thức hoặc vô thức, đâu đó, manh nha tới điều gì đó có thể xảy ra cho tôi trong tương lai, hoặc e ngại về một cái gì đó từ thời quá khứ đột nhiên ụp xuống đầu tôi. Cho nên tôi sợ cả quá khứ lẫn tương lai. Thế là tôi đã chia thời gian ra thành quá khứ và tương lai.
Ðến đây thì sự suy nghĩ nhẩy vào lên giọng: “Coi chừng, sẽ không gặp được điều đó một lần nữa đâu”, hoặc “Sửa soạn sẵn cho tương lai đi. Tương lai anh có thể sẽ nguy khốn. Bây giờ tuy là anh đã có chút đỉnh, nhưng rồi ra có thể là anh sẽ bị mất hết. Biết đâu chừng ngày mai anh sẽ chết, vợ anh có thể bỏ anh, có thể anh sẽ mất công ăn việc làm. Anh có thể chẳng bao giờ trở thành người có danh vọng. Có thể anh sẽ cô đơn… ”
Bây giờ chúng ta hãy thử xét tới cái dạng sợ hãi của chính bạn. Nhìn coi. Quan sát kỹ phản ứng của bạn đi. Bạn có thể nhìn nỗi sợ hãi đó mà không nhấp nhổm muốn bỏ chạy, không nẩy ra chút ý muốn bào chữa, kết án hoặc kiềm chế chăng? Bạn có thể trực diện nỗi sợ đó mà không có trong tâm cái từ ngữ đã làm thức dậy nỗi sợ chăng? Bạn có thể trực diện sự chết, thí dụ thế, mà không có từ ngữ đã đánh thức nỗi sợ chết chăng? Bản thân từ ngữ đã đem tới sự chấn động, cũng như từ ngữ “yêu” có sự rung động của chính nó, có ấn tượng của chính nó, phải vậy không?
Bây giờ hãy coi có phải là những hình ảnh trong tâm trí bạn về sự chết, ký ức về biết bao nhiêu cái chết mà bạn đã nhìn thấy, cùng với sự bạn tự liên tưởng chính bản thân với những chuyện đã xẩy ra còn giữ trong tiềm thức đó, — phải chăng đó chính là hình ảnh đã tạo ra sự sợ hãi trong lòng bạn? Hay là quả thật bạn sợ sự chết sẽ đến chứ không phải là bạn sợ những hình tượng trong tâm đã tạo ra sự chết. Có phải là từ ngữ “chết” làm cho bạn sợ hay là sự chết thật? Nếu chỉ là từ ngữ hoặc ký ức là lý do để bạn sợ thì chẳng có gì đáng sợ hết ráo.
Giả dụ như hai năm trước bạn bị bệnh, ký ức về sự đau đớn, về cơn bệnh vẫn còn tồn tại trong trí nhớ, nay nó trỗi dậy nhắc nhở “Coi chừng, đừng để bị bệnh lại như lần trước nữa đấy nhé”. Thế rồi ký ức cùng với bè đảng của nó là guồng máy suy tư bèn tạo nên sự sợ hãi, mà thật ra thì chẳng có cái gì đáng để mà sợ hết ráo, vì lẽ lúc đó bạn đang rất là khoẻ mạnh.
Tư tưởng, vốn là cái luôn luôn cũ mèm, bởi vì tư tưởng thoát thai từ ký ức, mà ký ức thì dĩ nhiên là luôn luôn cũ mèm — tư tưởng, vào lúc đó, tạo ra cái cảm giác là bạn đang sợ hãi, nhưng đó chỉ là cảm giác, không có trong thực tế.
Thực tế là bạn đang khỏe mạnh. Nhưng cái kinh nghiệm về sự đau ốm, vốn đã khắc ghi trong tâm trí, trỗi lên nỗi sợ “Cẩn thận, đừng để bị bệnh lại nữa đấy nhé!”
Như thế chúng ta thấy rằng chính suy nghĩ gây ra một loại sợ hãi.”
Như Krishnamurti nói “… chính suy nghĩ gây ra một loại sợ hãi”, đạo Phật từ hai ngàn năm trăm năm trước cũng đã khuyên mọi người nên “thanh tịnh hoá tâm”, nghĩa là đừng để cho tâm chạy nhẩy như con vượn, con ngựa (tâm viên ý mã), thì sẽ được hưởng một đời sống giải thoát từng bước, rồi sẽ tới giải thoát triệt để.
Không cần phải đi tới đích mới được hưởng hoa trái, mà ngay khi quyết định bước lên con đường thanh tịnh hóa tâm là đã bắt đầu được hưởng kết quả, tâm hồn đã thấy thơ thới hân hoan rồi.
Có bài kệ trong kinh Phật như sau:
Tội từ tâm khởi đem tâm sám
Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu
Tội tiêu tâm tịnh, thẩy đều không
Ấy mới thật là chân sám hối.
Sám hối ở đây là “thanh tịnh hoá tâm”, làm cho “tâm tịnh”, chứ không phải là đem nải chuối tới chùa cúng Phật, hứa hẹn và cầu xin lung tung.
Nhà Phật cho rằng con người ta vì vô minh mà tạo nghiệp, thọ báo, cũng ví như một người đang đi trong căn nhà tối. Khi tâm được tịnh rồi “Trí Tuệ Bình Ðẳng tự chiếu”, thì cũng ví như bật ngọn đèn bừng sáng lên, bóng tối biến mất, màn vô minh bỗng tan rã, là lúc con người giác ngộ giải thoát vậy.
Nguồn: Thư viện Hoa Sen
Tín ngưỡng và kiến thức đều có liên hệ thiết thân với lòng ham muốn, khát vọng; và có thể nói, nếu chúng ta thấu triệt hai vấn đề này thì chúng ta sẽ hiểu đường đi nước bước của lòng ham muốn, khát vọng, với những rắc rối, phức tạp của nó.
Tôi thấy rằng dường như vấn đề tín ngưỡng là một trong những điều mà phần đông chúng ta dễ dàng chấp nhận một cách nhiệt thành, hăm hở, coi như là chuyện đương nhiên. Tôi không chỉ trích chuyện tín ngưỡng. Điều mà chúng ta đang làm là cố gắng tìm ra lý do tại sao chúng ta lại chấp nhận tín ngưỡng; và nếu như chúng ta hiểu được những động cơ thúc đẩy, những nguyên nhân của sự chấp nhận, thì có lẽ chúng ta không những chỉ có thể hiểu tại sao chúng ta lại làm như vậy mà hơn thế, còn vượt thoát được ra khỏi nó nữa.
Người ta có thể thấy rằng những niềm tin về chính trị, niềm tin về tôn giáo, niềm tin về quốc gia dân tộc và nhiều loại niềm tin khác nhau đã gây ra sự chia rẽ giữa loài người, đã tạo ra mâu thuẫn, rối loạn và thù nghịch lẫn nhau – đó là một sự thực hiển nhiên; ấy vậy mà chúng ta lại không muốn từ bỏ chúng. Nào là niềm tin Ấn Độ giáo, niềm tin Thiên Chúa giáo, Phật giáo … và vô số niềm tin môn phái, cùng với vô số ý thức hệ chính trị khác nhau, tất cả đều tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau, đều đang cố gắng cải hóa phía khác để họ đổi niềm tin mà chuyển qua phía mình. Người ta có thể thấy một cách rõ ràng rằng tín ngưỡng chia rẽ con người, tạo ra sự cố chấp, không khoan nhượng.
Vậy thì có thể sống mà không có tín ngưỡng được chăng?
Chỉ khi nào người ta có thể tự tìm hiểu bản thân trong mối liên hệ với tín ngưỡng thì người ta mới có thể tìm ra được giải đáp cho vấn đề. Liệu có thể sống trong cái thế giới này mà không cần tới tín ngưỡng – không đổi tín ngưỡng, không thay thế tín ngưỡng này bằng tín ngưỡng khác, nhưng mà thoát ra khỏi được tất cả mọi loại tín ngưỡng một cách hoàn toàn dứt khoát, để cho con người tiếp cận được với đời sống một cách mới mẻ trong từng phút giây chăng?
Xét cho cùng, đây mới chính là chân lý: có được cái khả năng tiếp cận với sự mới mẻ từng phút giây, không bị ràng buộc với những phản ứng theo qui định của quá khứ, nhờ thế, sẽ không còn những ảnh hưởng tích lũy làm thành một bức chắn ngăn cách giữa bản thân và thực tại.
Nếu bạn để ý, bạn sẽ thấy rằng một trong những lý do khiến người ta nẩy ra lòng ham muốn chấp nhận một tín ngưỡng là sự sợ hãi. Nếu chúng ta không có tín ngưỡng thì chuyện gì sẽ xảy ra cho chúng ta? Không phải là chúng ta rất sợ chuyện có thể xảy ra sao? Nếu chúng ta không có một khuôn mẫu hành động dựa trên niềm tin – dù là tin Thượng Đế, hoặc tin vào chủ nghĩa cộng sản, hoặc tin vào chủ nghĩa xã hội, hay là tin vào chủ nghĩa đế quốc, hoặc tin vào bất cứ một thể thức tôn giáo nào đó, giáo điều nào đó mà chúng ta đã được thuần hóa – thì chúng ta sẽ cảm thấy hoàn toàn bơ vơ, mất hướng, không phải sao? Và phải chăng sự “chấp nhận một niềm tin” này chính là để che đậy nỗi sợ hãi đó — nỗi sợ hãi rằng bản thân thật sự chẳng là cái gì cả, rỗng tuếch?
Nói tóm lại, cái chén tách chỉ hữu dụng khi nó có khoảng trống bên trong lòng chén, cũng thế, nếu như một tâm hồn đã chứa đầy ắp những tín ngưỡng, những giáo điều, những điều khẳng định, những công thức trích dẫn thì thật là một đầu óc trì trệ, không sáng tạo; nó chỉ còn là một bộ óc lập đi lập lại như cái máy mà thôi.
J. Krishnamurti — The First & Last Freedom
Người dịch: Danny Việt (ĐPK)
Hỏi :
– Xin nói cho chúng tôi nghe về Thượng Đế.
J. Krishnamurti đáp :
– Thay vì nghe tôi nói Thượng Đế là gì, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu coi các bạn có thể nhận ra được cái trạng thái đặc biệt đó, không phải là hãy để đến mai hoặc một thời gian nào đó trong tương lai, nhưng mà ngay lúc này, trong khi chúng ta đang cùng ngồi với nhau trong bầu không khí an tịnh này. Chắc chắn là điều đó quan trọng hơn nhiều. Nhưng nếu muốn tìm hiểu coi Thượng Đế là gì thì phải liệng bỏ hoàn toàn niềm tin vốn có. Muốn phát hiện ra cái gì là chân thật thì tâm trí không thể mang sẵn niềm tin về một cái gì đó đã được coi là chân lý, không thể có sẵn những lý thuyết hoặc giả thuyết về Thượng Đế. Xin các bạn hãy để ý, lắng nghe. Nếu các bạn đã có những giả thuyết, đã có những niềm tin, đã có những giáo điều, như thế thì đầu óc các bạn đã đầy ắp những suy đoán. Vì đã đọc cuốn sách này hoặc cuốn sách kia viết về sự thế nào là thực tại hoặc Thượng Đế cho nên tâm trí các bạn rất phấn khích. Một cái đầu chứa đầy ắp kiến thức thì luôn hoạt động, không an tịnh, chỉ làm cho tâm hồn thêm vướng mắc nặng nề và hiển nhiên là cái sự vướng mắc nặng nề ấy không thể biểu hiện một nội tâm bình thản. Khi tâm trí chứa đầy ắp những sự tin chắc, dù là tin rằng có Thượng Đế, hay là tin rằng không có Thượng Đế, thì cũng là vướng vào kiến chấp, mà cái tâm đã vướng vào kiến chấp thì không thể nhận ra được cái gì là chân lý.
Để phát hiện chân lý, tâm hồn con người phải được khai phóng, cởi mở, thoát khỏi những lễ lạc, những niềm tin, những giáo điều, kiến thức và kinh nghiệm sống mà họ đã trải qua. Chỉ khi đó thì tâm trí mới nhận thức được thực tại, chân lý. Tâm hồn trong trạng thái an tịnh như thế thì những hoạt động do lòng ham muốn, do khát vọng từ ngoại cảnh cho tới nội tâm không còn nổi lên nữa. Đó không phải là đè nén lòng ham muốn, đè nén khát vọng, vì đè nén phải tốn sức. Ngược lại, khi tâm trí ở trong trạng thái an tịnh thì người ta có tràn đầy sức sống, tràn đầy nghị lực. Nhưng sức sống, nghị lực không thể sung mãn nếu đầu óc còn lăng xăng dòm ngó chuyện thiên hạ khiến cho nội tâm lại phải bận rộn đối phó. Khi tất cả những chuyện thị phi này đã lắng xuống thì tâm hồn sẽ ở trong trạng thái an bình, tĩnh lặng.
Tôi không mê hoặc các bạn, không thuyết phục, dụ dỗ các bạn rằng phải tĩnh lặng. Chính các bạn, tự bản thân, các bạn phải thấy được tầm quan trọng của việc từ bỏ, việc vứt đi tất cả những điều mê tín dị đoan, những niềm tin vô căn cứ, những kiến chấp đã tích lũy hàng bao nhiêu thế kỷ, hãy xả bỏ một cách thoải mái, không chút cố gắng, không chút ngần ngừ. Các bạn phải thấy được sự thật là bất cứ hình thức tích lũy nào cũng đều làm cho tâm trí bừa bộn lên, khiến cho năng lực bị tiêu hao phung phí.
Muốn cho tâm được tĩnh lặng thì phải có một sức sống sung mãn và sức sống đó phải an tịnh. Và nếu như các bạn đã thực sự có được trạng thái sống an bình, không lăng xăng, các bạn sẽ thấm thía được hương vị của sức sống đó, một sức sống an lạc, một sức sống mà tự nó có những hoạt động nội tâm khai phóng, không phải là cái loại hoạt động vì bị sức ép của ngoại cảnh, của xã hội thôi thúc. Bởi vì khi trong lòng đã tràn ngập sức sống bình yên tự tại, thì tâm trí tự nó sẽ trở thành an lạc thanh cao …
… Và cái sức sống bình yên tự tại đã nâng tâm hồn lên trạng thái an lạc thanh cao đó chính là lòng thương yêu, niềm trắc ẩn, vốn không phân ly với chính bản thân sức sống này.
J. Krishnamurti — On God
Người dịch: Danny Việt (ĐPK)
Vào ngày 21 tháng 10 năm 1980, J. Krishnamurti viết một bản tuyên ngôn như sau:
– “Cốt tủy những lời rao giảng của J. Krishnamurti đã được gói ghém trong lời phát biểu của ông ta vào năm 1929 khi ông tuyên bố :”Thực tại là mảnh đất không có lối vào”.Người ta không thể tới đó bằng tổ chức hội đoàn, bằng tín điều, bằng giáo lý, bằng người linh hướng hoặc bằng nghi thức lễ lạy, không từ kiến thức triết học hoặc kỹ thuật tâm lý . Người ta phải tìm nó từ sự quán chiếu mối liên hệ trong đời sống, từ sự thấu hiểu nội dung những điều nằm trong chính tâm trí của anh ta, từ sự quan sát chứ không phải là lý luận, phân tích bằng kiến thức hoặc nghiền ngẫm chia chẻ nội tâm.
Người ta đã tự xây dựng lên những hình ảnh như là hàng rào an toàn qua tôn giáo, chính trị, bản thân. Ðó là những biểu tượng, những ý thức hệ và tín ngưỡng. Gánh nặng của những hình ảnh này đè trĩu lên tâm tư con người, chi phối sự suy nghĩ của họ, chi phối mối liên hệ của họ và ngay chính bản thân họ trong đời sống hằng ngày . Những hình ảnh này chính là nguồn gốc mọi vấn đề của chúng ta, vì nó gây nên sự chia rẽ giữa chúng ta với nhau . Nhận thức về cuộc đời của mỗi người bị o ép bởi những khái niệm đã được thiết lập bền vững trong tâm trí họ . Nội dung tri thức của họ là những điều họ góp nhặt được trong suốt cuộc đời .
Cả loài người thì cái nội dung này cũng đại khái giống nhau . Cá nhân chỉ là cái tên, cái hình thể và cái nền văn hóa hời hợt mà hắn thu lượm được từ truyền thống và môi trường sống chung quanh. Nhưng mà cái đặc điểm, cái độc đáo của con người không nằm tại cái bề mặt hời hợt, nông cạn, mà nó hoàn toàn vượt thoát ra khỏi cái mớ tri kiến mà khắp cả loài người đều cũng có đại khái giống nhau kia . Cho nên hắn ta không là một cá thể.
Tự do không phải là một phản ứng; Tự do không phải là sự chọn lựa . Ðó là người ta tự dối mình, tưởng rằng người ta có quyền chọn lựa, là người ta tự do . Tự do là thuần túy quan sát, không mục tiêu, không sợ hãi bị trừng phạt và không mong cầu sự ban thưởng. Tự do không có động cơ; Tự do không phải là kết thúc của một tiến trình thay đổi của con người, nhưng nằm ngay tại lúc khởi sự hiện hữu . Trong sự quan sát, người ta bắt đầu tìm ra sự không có tự do . Tự do được tìm thấy khi không chọn lựa, tỉnh thức trong các hoạt động của đời sống hằng ngày . Tư tưởng là thời gian. Kinh nghiệm và kiến thức sinh ra tư tưởng, do đó, nó không thể tách rời ra khỏi thời gian và quá khứ. Thời gian là kẻ thù tâm lý của con người .
Hành động của chúng ta đặt nền tảng trên kiến thức và do đó, trên thời gian, cho nên con người luôn luôn bị lệ thuộc vào quá khứ. Tư tưởng thì luôn luôn có giới hạn, cho nên chúng ta sống trong sự mâu thuẫn và vùng vẫy liên tục. Không có cái chuyện phát triển tâm lý. Khi nào con người trở nên tỉnh thức trước những hoạt động về tư tưởng của chính hắn, hắn sẽ thấy được sự phân chia giữa thực thể suy nghĩ và tư tưởng, thực thể quan sát và cái bị quan sát, thực thể kinh nghiệm và sự kiện được kinh nghiệm. Khi đó người ta sẽ thấy được rằng sự chia cách này chỉ là ảo giác.
Chỉ có từ sự quan sát thuần túy này người ta mới bừng tỉnh, không bị bóng tối của quá khứ và thời gian che khuất. Sự bừng tỉnh phi thời gian này là sự giác ngộ sâu sắc, triệt để, đột biến, của cái tâm. Sự hoàn toàn phủ định là căn bản của khẳng định. Khi có sự phủ định tất cả những cái mà tư tưởng đã tạo ra về mặt tâm lý, lúc đó sẽ chỉ còn có lòng yêu thương, đó là từ bi và trí tuệ.”
Trích ” The Core of the Teachings”
http://www.krishnamurti.org
Người dịch: Đỗ Phương Khanh (aka Danny Việt)
“Giữ chánh niệm.” “Sống trong giây phút hiện tại.” “Chú ý đơn thuần.” Trên con đường tu học, chắc chúng ta đều có nghe về những lời khuyên này. Và nếu bạn có kinh nghiệm về thực tập thiền quán, những câu ấy là một tiếng chuông nhắc nhở chúng ta từ sáng đến khuya, rằng ta có thể tìm thấy tất cả những gì là chân thật ngay trong giờ phút hiện tại này.
Nhưng rồi có một ngày, bạn ngồi thiền, cố gắng theo dõi hơi thở lên xuống nơi bụng, hay một tư tưởng, hoặc một cơn đau, và thấy tất cả sao dường như rất buồn thảm. Đột nhiên có một câu hỏi khởi lên trong tâm, “Cái giây phút hiện tại này có gì là nhiệm mầu đâu?”
Loanh quanh tự tìm cho mình một câu trả lời, bạn nghĩ có lẽ là vì giây phút hiện tại này giúp ta thấy được những cái đẹp mà mình có thể vô tình bỏ qua (mặc dù trong giây phút này thì tôi chẳng thấy có gì là đẹp hết), hoặc là ta có thể được giác ngộ (mà tôi cũng chẳng hiểu đó là gì), hay chỉ đơn giản là ta được an lạc và hạnh phúc hơn. Bạn cũng không biết rõ là nếu ta biết sống trong giây phút hiện tại thì những việc ấy sẽ xảy ra bằng cách nào! Nhưng bạn vẫn nghĩ rằng, nếu ta có thể giữ cho tâm mình được có mặt trong giờ phút hiện tại thì mọi việc sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Nhưng tốt đẹp hơn bằng cách nào? Thì sẽ là… tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn.
Tội nghiệp! Mặc dù chúng ta rất thành thạo về sự thực tập chánh niệm, nhưng đôi khi ta cũng không rõ ràng lắm khi tìm lý do tại sao giây phút hiện tại này lại là nhiệm mầu. Nhưng chúng ta cũng không nên làm lơ hoặc bằng lòng với một câu trả lời mơ hồ.
Tôi nghĩ, chúng ta cần nên nhìn cho sâu vào câu hỏi ấy, vì nếu như ta không hiểu rõ về giây phút hiện tại này, thì ta cũng sẽ dễ bỏ dở sự thực tập của mình, khi kinh nghiệm xảy ra khác với những gì mình mơ tưởng.
Mười bốn năm trước đây, trong khóa tu đầu tiên với sư Achan Sobin Namto, chính câu hỏi ấy đã khởi lên rất mạnh trong tôi. Lúc ấy tôi là một thiền sinh mới, trong tuần lễ đầu tiên của một khóa tu kéo dài ba tháng rưỡi. Sư Achan Sobin là một thiền sư người Thái, có hơn ba mươi năm kinh nghiệm hướng dẫn thiền tập.
“Cô thấy thế nào?” ông hỏi tôi.
Ông vừa mới chấm dứt xong thời tụng kinh của mình. Trên bàn thờ ba ngọn nhang toả sáng trong một căn phòng lu tối. Mặc dù ông có nhiều tâm từ, nhưng những phiền não vẫn phủ trùm xuống tôi như một tấm áo choàng.
“Con đang có nhiều nghi ngờ” tôi đáp.
Nhưng không phải tôi ngờ vực về khả năng của mình, hay là giáo pháp, hoặc là phương pháp thực tập. Nhưng chính là cái kinh nghiệm về một sự trống trải và lạnh lẽo khi tôi có mặt trong giây phút hiện tại. Cái giây phút hiện tại này có thực sự đáng để cho ta có mặt không?
Dường như Achan hiểu ý tôi, “Trong giây phút hiện tại này chẳng có gì hay ho phải không?” ông hỏi rồi phá lên cười to cho đến khi chảy cả nước mắt. Rõ ràng đây là một trò đùa mà ông cảm thấy rất là vui nhộn, nhưng đối với tôi thì chẳng thấy có gì là tức cười hết. Ông vui vì thấy tôi đang đi theo đúng đường. Tôi bắt đầu thấy điều mà tất cả mọi thiền sinh đều phải thấy:
“Sự Thật Nhiệm Mầu Thứ Nhất, là mỗi giây phút, mỗi sát-na của danh (mind) và sắc (matter), đều là bất toại nguyện (dukkha).”
Dầu vậy câu trả lời của Sư cũng khiến cho tôi giật mình. Vì tôi đã từng được đọc rằng, khi ta đặt hết tâm ý của mình vào giây phút hiện tại này, có phải là ta sẽ nhìn thấy được những vẽ đẹp mà mình có thể vì vô ý bỏ qua chăng? Có phải mùi vị trái mận sẽ ngon ngọt hơn chăng? Có phải ta sẽ thấy được những cành khô đong đưa toả sáng in hình trên một khung trời mùa đông không còn mờ xám như trước?
Nhưng bây giờ thì ông đã xác nhận rằng, giây phút hiện tại này không phải thật như tôi vẫn hằng tưởng. Tôi thở dài. Thế thì trái mận sẽ không trở nên ngọt ngào hơn. Giây phút hiện tại, thật ra, lại không nhiệm mầu chút nào hết!
Một Huyền Thoại Về Giây Phút Hiện Tại
Tôi thấy trong vòng thiền chúng ta có truyền cho nhau một huyền thoại này, là khi chánh niệm của ta càng sâu sắc bao nhiêu, ta sẽ lại càng có khả năng nhìn thấy được những cái đẹp trong những vật bình thường nhất bấy nhiêu. Với một tâm “chú ý đơn thuần”, thì ngay cả bọt xà phòng trong nước rửa bát – khi những bọt bong bóng lấp lánh trong nắng – cũng là một thực tại toả sáng nhiệm mầu. Đó chỉ là một huyền thoại. Mà sự thật là ngược lại như thế: thật ra, khi ta càng có chánh niệm bao nhiêu, thì những đối tượng cảm giác của ta lại càng ít hấp dẫn đi bấy nhiêu. Cho đến một lúc ta sẽ không còn ham muốn chúng nữa.
Sự thật thì khi ta có một định lực mạnh, nó sẽ làm tăng lên những cảm nhận của ta về màu sắc, âm thanh, mùi vị… Nhưng nếu chỉ có định lực thôi thì ta cũng sẽ không thể nào đi đến tuệ giác hay giác ngộ. Nếu như ta bảo rằng chánh niệm làm cho khung trời mùa đông trở nên đẹp tuyệt vời, hoặc công việc rửa chén trở thành một bài tập mầu nhiệm, theo tôi nghĩ thì đó lại là một sự thách thức đối với Sự Thật Nhiệm Mầu Thứ Nhất.
Huyền thoại này có mặt là do một sự hiểu lầm về vai trò của chánh niệm. Chánh niệm, được kèm theo bằng một nhận thức sáng tỏ, nó khác với một cái thấy biết bình thường. Thay vì chỉ nhìn thấy rõ rệt hơn những đặc điểm thông thường của một đối tượng, chánh niệm còn vượt xa hơn, và thấy được những điểm rất cá biệt – những đặc tính chung của mọi vật, dù tốt hay xấu. Đó là ba đặc tính về vô thường, bất toại nguyện và vô ngã. Với chánh niệm, ta thấy được tất cả mọi hiện tượng tâm lý và vật lý khởi lên đều rồi sẽ qua đi. Có nghĩa là ta không thể sửa đổi cũng không thể nào nắm giữ chúng được.
Những đặc tính ấy mang lại cho ta một sự bất toại nguyện. Vậy thì, khi ta càng có chánh niệm bao nhiêu, thì yếu tố bất toại nguyện, dukkha, lại càng trở nên rõ rệt bấy nhiêu.
Nhưng khi tôi ngồi đó với Achan Sobin, nhìn những điểm sáng của ba nén nhang, tôi cảm thấy một cảm giác mơ hồ về một điều gì đó mà tôi vẫn chưa xác định được. Có ai đó đang đùa giỡn với cuộc đời này chăng? Điều trớ trêu là tôi tập thiền vì muốn giải thoát khỏi những khổ đau của mình, và bây giờ tôi lại nhận thấy nhiều khổ đau hơn. Mà vị thầy của tôi lại công nhận điều ấy là đúng. Như vậy thì ta đi thực tập chánh niệm để làm gì? Tại sao ta lại phải có mặt trong giây phút hiện tại này? Nhưng câu trả lời chắc chắn không phải là ta bỏ đi sự thực tập chánh niệm. Đối với tôi, Achan là một người thong dong nhất, tự tại nhất mà tôi biết. Và tôi muốn mình cũng được như ông. Tôi theo học và thực tập những phương cách nào đã mang lại cho ông được sự an lạc đó.
Giây Phút Hiện Tại Làm Bằng Những Gì?
Ta cần tháo mở ra cái nút thắc Gordian Knot. Và tại sao chúng ta lại không chịu khó kiên nhẫn tháo mở nó bằng cách gỡ ra từng sợi một? Một nhà khoa học trước nhất có thể sẽ phân tách chất liệu của nó, và trong trường hợp của chúng ta đó chính là giây phút hiện tại này.
Vì vậy, chúng ta có thể bắt đầu bằng cách đặt câu hỏi: giây phút hiện tại này được làm thành bởi những yếu tố gì? Trong phật giáo có một hệ thống tâm lý học gọi là Vi Diệu Pháp, Abhidhamma. Theo Vi Diệu Pháp thì những kinh nghiệm hằng ngày của ta có thể được chia cắt ra thành những đơn vị rất nhỏ gọi là sát-na tâm (mind-moments.) Chúng là những đơn vị nhỏ nhất của tâm thức, là những vi lượng (quarks) của thế giới tâm thức.
Mỗi sát-na tâm gồm có hai phần: tâm thức và một đối tượng. Có nghĩa nó không phải là một cái bàn, một đóa hoa, mà chỉ là một đối tượng của tâm thức.
Tâm thức lúc nào cũng luôn có ý thức về một cái gì. Khi có một mảng trời xanh hiện vào vùng tâm thức của mình, một tia chớp của nhản-thức nhận thấy được màu sắc ấy. Khi có một mùi hương nào thoáng qua theo làn gió, một chớp của tỷ-thức nhận được mùi thơm ấy. Chỉ có tâm thức và đối tượng, và chỉ là vậy thôi. Cuộc sống của ta chỉ là một chuỗi tâm thức, mà ta liên tục ý thức được sắc màu, mùi, vị, âm thanh và những cảm giác tiếp nối nhau không ngừng nghỉ. Ngoài tiến trình này ra, không còn gì khác nữa xảy ra.
Như vậy thì còn những đối tượng ấy, tự chúng là gì? Chúng có tất cả là sáu loại: âm thanh, màu sắc, mùi, vị, xúc chạm và đối tượng tâm thức. Tâm thức của ta tiếp xúc với những đối tượng này qua những “cánh cửa” giác quan khác nhau. Ví dụ, ta tiếp xúc với màu sắc qua cánh cửa của đôi mắt. Những đối tượng tâm thức thì được tiếp xúc trực tiếp qua cánh cửa của tâm thức. Chúng gồm có cả tư tưởng, ý niệm, cảm xúc và tình cảm.
Tất cả những gì chúng ta nhận biết chỉ có thể nằm trong sáu đối tượng này mà thôi. Cho dù cuộc sống của ta có phiêu lưu, mạo hiểm hoặc táo bạo đến đâu, ta vẫn không thể nào có một kinh nghiệm gì khác hơn ngoài sáu hình tướng ấy. Và vì tâm và đối tượng tâm thức là những đơn vị cơ bản nhất của sự sống, cho nên không còn gì khác hơn có thể có mặt trong giây phút hiện tại này.
Hiểu được điều ấy rồi, ta có thể đặt câu hỏi kế tiếp là: những thành phần ấy tự chúng có là thú vị và đáng thích không? Chúng ta thường nghĩ rằng hình ảnh, mùi vị và âm thanh… có thể rất là kỳ diệu. Và theo cảm nhận thông thường thì chúng thật sự là vậy. Ta thích thưởng thức một mùi vị trà thơm hoặc một cảnh hoàng hôn đỏ buông xuống trên đồi núi. Nhưng niềm vui ấy có pha lẫn với một chút gì ảo tưởng. Sở dĩ chúng ta cho rằng những cảm xúc của giác quan vui sướng là vì ta chưa nhìn thấy được cái thực tánh của chúng.
Ta hãy lấy một ví dụ của mặt trời hoàng hôn: Việc gì xảy ra khi ta nhìn thấy nó? Thật ra thì ta không hề thấy nó! Khi mắt ta tiếp xúc với một sắc tướng, chúng ta chỉ thấy màu sắc, chứ không phải là một vật có không gian ba chiều. Thật ra, màu sắc ấy, cùng với tâm thức nhận biết nó, diệt mất đi ngay trong cùng một sát-na ấy, nhưng ta không hề ý thức được điều đó.
Tại sao thế?
Bởi vì cái ảo tưởng của ta làm mờ nhạt đi cái biên giới giữa hai sát-na ấy, và khiến chúng ta có cảm tưởng như đó là một kinh nghiệm nối liền. Sau khi màu sắc được tiếp nhận, sát-na tâm thức kế tiếp gợi lại hình ảnh ấy từ ký ức và đặt tên cho đó là “hoàng hôn.” Cả tiến trình ấy chỉ xảy ra trong một giây chớp nhoáng. Tuy vậy, khi ta vừa đặt tên cho nó thì hình ảnh ban đầu cũng đã qua mất rồi. “Hoàng hôn” là một ý niệm của tâm thức, chứ không phải do đôi mắt của mình. Và rồi chúng ta lại đi nhận sản phẩm được tạo dựng bởi tâm thức này như là một thực tại cố định. Nếu như không có chánh niệm, chúng ta sẽ không bao giờ có thể thấy được sự chuyển biến rất nhanh lẹ này, cũng giống như khi ta cố gắng tách biệt hai khung ảnh trong một cuốn phim đang chiếu trên màn ảnh vậy.
Khám phá này mang lại cho ta một sự thất vọng, cũng như khi ta biết ra rằng chuỗi ngọc quý giá mà mình đang mang là một loại đồ giả. Đức Phật dạy, chư hành vô thường (Sabbe sankhara anicca). Tất cả mọi hình tướng đều thay đổi, và vì vậy mà chúng sẽ mang đến cho ta sự thất vọng, ngay cả những gì mà ta thấy dường như rất là tuyệt vời. Mà đức Phật cũng không hề chú thích hoặc nói nhỏ thêm rằng, “Xuỵt! Nhưng cũng có một vài hình tướng rất là nhiệm mầu.”
Giây Phút Hiện Tại Nhiệm Mầu
Và bây giờ, nếu như tất cả những hình tướng đều rồi sẽ mang lại sự bất toại nguyện, thì những gì làm nên giây phút hiện tại này cũng sẽ như vậy. Nhưng rồi ta cũng có thể đặt thêm một câu hỏi tiếp, là nếu như giây phút hiện tại này không nhiệm mầu, thì ta có mặt với nó để làm gì?
Ta cũng nên nhớ rằng có sự khác biệt giữa “Giây phút hiện tại này thật nhiệm mầu” và “Thật nhiệm mầu khi ta có mặt trong giây phút hiện tại này.”
Đây không phải là một lối chơi chữ. Câu thứ nhất, “Giây phút hiện tại này thật nhiệm mầu”, có ý nói rằng, những cảm giác thuần tuý xảy ra trong giây phút hiện tại tự chúng có chút tính chất kỳ diệu.
Và, câu thứ nhì, “Thật nhiệm mầu khi ta có mặt trong giây phút hiện tại,” nói rằng, khi ta có mặt trong giây phút hiện tại, là ta có khả năng thoát ra khỏi những phiền não do sự nắm bắt vào những cảm giác ấy.
Thật ra, đức Phật có trình bày rất rõ về lý do chúng ta cần thực tập chánh niệm: để nhận diện và loại trừ đi cái nguyên nhân của khổ đau. Nguyên nhân ấy chính là sự tham ái. Khi nguyên nhân ấy vắng mặt thì khổ đau sẽ không thể sinh lên. Và chừng ấy, trong kinh viết, ta sẽ kinh nghiệm được một loại hạnh phúc mà không có chút tì vết gì của sự lo âu.
Nhưng không phải bởi vì hình sắc và âm thanh chung quanh ta chúng đột nhiên trở nên trường cửu, kỳ diệu, và là của ta. Mà thật ra, những cảm nhận ấy tạm thời chấm dứt, và tâm thức ta tiếp xúc được với một đối tượng rất siêu phàm gọi là “niết bàn,” một yếu tố không còn bị điều kiện chi phối. Và mặc dù đó là một đối tượng của tâm thức, nhưng niết bàn, trạng thái an lạc cao tột nhất, không hề là một hành (formation). Nó là vô hành và bất biến. Vì vậy giây phút hiện tại nhiệm mầu là vì chỉ có trong chính giây phút này, ta mới có thể chứng nghiệm được niết bàn – hoàn toàn giải thoát ra khỏi mọi khổ đau.
Không có một nơi nào đức Phật lại chủ trương thực tập chánh niệm với mục đích để ta có thể vui hưởng làn nước xà phòng ấm, hoặc thấy được một bình trà bằng đồng sáng chói… Mà ngược lại, Ngài còn gọi đó là mê vọng (vipallasa) khi ta chấp những gì là không thường và cho đó là có giá trị và tốt đẹp.
Nhưng những cảm nhận ở cảm giác có thể là vui thích được không? Có chứ, nhưng sự vui thích ấy không phải là một nguồn hạnh phúc bất tận nhưng chúng ta vẫn hằng tưởng. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường chấp vào những cảm giác tốt đẹp, cho rằng chúng vững chắc và tương đối lâu dài. Trong khi thật ra chúng chỉ là những rung động không bền và tan rã vừa khi mới vừa hình thành. Cũng giống như loại kẹo bông gòn nó tan ra ngay trước khi ta kịp cắn răng vào, những thú vui ấy không bền vững đủ để duy trì cho ta một niềm hạnh phúc.
Nhưng vì sự mê hoặc che đậy lý vô thường, nên chúng ta phản ứng lại bằng những sự nắm bắt và xua đuổi. Và chính hành động níu kéo đó làm tâm ta bất an. Bạn có để ý thấy rằng sự ước ao, mong đợi bao giờ cũng tạo nên trong ta một nỗi đau không? Và hơn nữa, sự khát khao ấy là hoàn toàn vô ích. Vì dù có cố nắm bắt bao nhiêu đi chăng nữa, ta cũng không thể kéo dài thêm niềm vui ấy, cho dù chỉ trong một sát-na. Và những cảm giác khó chịu cũng giống y như vậy, chúng cũng sẽ qua đi trong giây phút. Nhưng khi ta chống cự lại, nỗi đau sẽ tăng lên gấp đôi. Nó cũng giống như khi ta cố gắng lấy một cây gai trong chân ra bằng cách dùng một cây gai thứ hai đâm vào da thịt mình. Nếu như ta có thể buông bỏ được, tâm ta sẽ không phải chịu khổ đau.
Đức Phật khám phá ra rằng một tâm hạnh phúc nhất là tâm không bị dính mắc. Đây là một niềm hạnh phúc rất sâu sắc, khác hẳn với những gì chúng ta vẫn thường biết. Khi có người hỏi, làm sao ta có thể tìm thấy niềm hỷ lạc ở nơi niết bàn, trong khi nơi ấy không còn có sắc tướng hay âm thanh đẹp đẽ gì nữa, ngài Xá Lợi Phất đáp: “Không có cảm xúc tự chính nó là hạnh phúc.” Ý ngài nói rằng, không có một thú vui nào có thể so sánh được với niềm hỷ lạc này.
Trong kinh ghi, “Những gì người đời cho là hạnh phúc, bậc giác ngộ cho là khổ đau…” (Dvayatanupassana Sutta.) Và đây không phải là một quan điểm mới, mà nó chính là một thực tại tuyệt đối.
Mặc dù mới nghe thì có vẽ như rất mâu thuẫn, nhưng ta chỉ có thể tìm thấy một hạnh phúc chân thật, khi trước hết ta hiểu được rằng, giây phút hiện tại của thân và tâm là bất toại nguyện. Bằng một tiến trình qua những tầng lớp của tuệ giác, mà ta có thể dần dà buông bỏ được hết mọi dính mắc, nguyên nhân của những phiền não. Khi ta thấy rõ được sự vô thường của những cảm giác ở thân và tâm, nó sẽ phá tan hết những ảo mộng, và từ đó những dính mắc của ta sẽ hoàn toàn tắt ngấm. Và ngay lúc đó, một chân hạnh phúc sẽ tự nhiên hiển lộ. Nhưng nếu ta cứ bận rộn đi tìm kiếm thêm những cái đẹp trong ngay chính thanh và sắc thì làm sao ta có thể nhìn thấy rõ chân tướng của chúng được?
Hạnh Phúc của Niết Bàn
Hãy tưởng tượng rằng ta và một số người bạn đang mắc kẹt trong một căn nhà bị bốc cháy. Những thanh lửa thay phiên rơi xuống từ trần nhà. Có phải tốt nhất là chúng ta cần ý thức được tình trạng hiểm nguy và cùng giúp nhau thoát ra, hay ta cứ đứng đấy mà tìm những cái hay đẹp của nó, “Xem kìa, cũng đâu đến nỗi nào đâu. Ngọn lửa hồng có màu tím hoa cà trông đẹp làm sao…”?
Cũng vậy, tôi nghĩ chúng ta cần có chánh niệm để nhìn rõ được dukkha trong giây phút hiện tại, bởi vì nó là chiếc cầu thang duy nhất dẫn ta thoát ra khỏi căn nhà lửa ấy. Căn nhà ấy chính là khandhas, tức năm uẩn của ta là sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Tôi biết có nhiều người không thích chấp nhận quan điểm này. Nhưng không lẽ tốt hơn hết là ta nhún vai làm lơ việc ấy, và cứ để mặc mình rơi trở lại xuống cầu thang hay sao? Không công nhận sự nguy hiểm là một điều rất nguy hại. Thấy được nó, ta sẽ tìm được một lối thoát.
Nhưng không phải chúng ta đối diện với khổ đau bằng một thái độ bi quan. Người Phật tử nhận diện khổ đau để chuyển hóa nó, chứ không phải để bị chìm đắm trong đó.
May mắn thay, đức Phật có chỉ cho ta một con đường giải thoát, bát chánh đạo, và cuối con đường ấy chắc chắn sẽ là niết bàn. Ai mà chẳng mừng vui khi biết rằng ta có thể có được một hạnh phúc hoàn toàn thuần tuý không tì vết. Nhưng chỉ vì tầm nhắm của chúng ta còn quá thấp đi mà thôi. Thực tập chánh niệm sẽ dẫn ta đến hạnh phúc. Nhưng không phải vì nhờ ta nhìn thấy rõ được cái hay đẹp của những cảnh vật trong giây phút hiện tại này – như là hình sắc, âm thanh, mùi vị…
Mặc dù huyền thoại thì vậy, nhưng sự chú ý đơn thuần không hề phơi bày cho ta thấy một thực chất sáng chói nào hết, vì thật ra không có một hiện tượng nào là có thực chất.
Khi bản chất của các hiện tượng tự chúng là bất toại nguyện, thì ta có thể nào hy vọng chế biến chúng thành hạnh phúc được chăng? Việc ấy cũng giống như là ta đi dệt một tấm thảm trắng từ những sợi len màu đen vậy. Vì vậy, tôi nghĩ cách hay nhất là ta nên chấp nhận rằng thực tập chánh niệm sẽ không làm trái mận ngọt ngào hơn, hay là bình trà màu đồng sáng tươi hơn. Nhưng khi ta có chánh niệm, ta sẽ bớt quan tâm về vấn đề ngọt ngào hay sự sáng chói. Khi chúng ta có một hạnh phúc lớn lao hơn, những thú vui nho nhỏ sẽ không còn là chuyện quan trọng. Và đây không phải là một thái độ lạnh lùng và dửng dưng, mà nó là một sự giải thoát thật sự.
Khi chúng ta không còn sự dính mắc nữa, ta sẽ không cần một âm thanh, hình sắc hoặc sự xúc chạm nào để mang lại cho mình hạnh phúc.
Ta có thể chưa hiểu được, nhưng khi ta nếm được mùi vị của sự tự tại này rồi, ta sẽ trân quý nó hơn bất cứ một niềm vui nào khác mình có thể nghỉ tưởng đến – cho dù đó là mùi hương của một loài hoa quý, những nốt nhạc trầm bổng của chopin, hay ánh trăng huyền diệu. Chúng ta vẫn có thể kinh nghiệm được những hạnh phúc này, và những thú vui khác. Nhưng ta sẽ không cố nắm giữ lại khi chúng ra đi, ta không có sự khổ đau của mất mát.
Và bây giờ là câu hỏi khó nhất: chúng ta có thật sự muốn giải thoát ra khỏi vòng khổ đau này hay không?
Nếu vậy thì ta hãy thực tập chánh niệm. Nhưng không phải là để nhìn thấy vẻ đẹp không thật của những bọt xà phòng, mà là đúng theo ý của đức Phật, là thấy được sự dính mắc của mình, cho đến khi nào ta nếm được quả trái chân thật là niết bàn.
Và như các bậc đi trước đã nhiều lần nói với ta: khi đối tượng tâm thức của ta là niết bàn, giây phút hiện tại này sẽ đẹp tuyệt vời.
Cynthia Thatcher – Nguyễn Duy Nhiên phỏng dịch
.
.
.
.
Phần đông chúng ta thường bị ngoại cảnh chi phối, điều kiện hóa, vì những học thuyết tôn giáo, tín ngưỡng, và bởi chính từ đáy lòng mình đòi hỏi để tiến tới một cái gì, đạt được một điều gì, vì thế, rất khó cho chúng ta có cách nào mới mẻ hơn để mà nghĩ về vấn đề này mà không dính đến chuyện kỷ luật.
Trước nhất, chúng ta hãy nhìn cho rõ ràng những cái gì có liên quan đến chuyện rèn luyện, kỷ luật. Kỷ luật tự bản thân, nó đã làm cho đầu óc hẹp hòi đi, đã hạn chế tư tưởng, thúc ép sự suy nghĩ chạy theo lòng ham muốn, vì bị ảnh hưởng và tất cả những thứ đại loại như vậy. Một cái đầu óc đã bị điều kiện hóa, đã rập khuôn, dù có được gọi là có lương tri, cũng không thể có được tự do, và như thế, không thể hội nhập được với thực tại.
Thượng đế, thực tại, hay tùy ý bạn muốn gọi là gì thì gọi, từ ngữ không phải là chuyện quan trọng, chỉ có thể hiển lộ khi có tự do, và sẽ không thể có tự do khi mà chúng ta còn bị cưỡng bách, dù là tích cực hay tiêu cực, do sự sợ hãi.
Không thể có tự do nếu bạn còn muốn đạt một mục tiêu cho bạn và bạn tự cột mình vào cái mục tiêu đó. Bạn có thể đã thoát khỏi quá khứ, nhưng tương lai sẽ cột bạn lại, thế là hết tự do rồi.
Chỉ có trong tự do người ta mới có thể khám phá ra mọi thứ mới mẻ, từ ý nghĩ, cảm giác, nhận thức. Bất cứ một loại gò bó nào đặt căn bản trên nền tảng của cưỡng bách đều chối bỏ tự do, dù là chính trị hay tôn giáo, khi mà đã bị gò ép, bị tuân theo một hành động có mục tiêu đặt ở đằng trước, đó là trói buộc, đầu óc hết tự do.
Khi đó, đời sống tinh thần sẽ chỉ hoạt động trên con đường mòn như một cái máy hát mà thôi.
J. Krishnamurti – The First & Last Freedom
Người dịch: Danny Việt (ĐPK)

Đúng là, để có thể hiểu những điều J.Krishnamurti thuyết giảng, nhất là về Thiền, người đọc ông phải, nếu không đọc đầy đủ những sách của ông thì ít nhất không thể bỏ qua những điều ông nói về ”Thiền đich thực” (True Meditation), mà J. Krishnamurti đã từng trình bày rất rõ ràng.
Mấy điều chính yếu J. Krish nói về Thiền Đích Thực, như sau:
“Thiền là quan trọng nhất, nếu không muốn nói là quan trọng duy nhất trong đời sống.
Thiền không bắt đầu với một ý định có-trước.
Thiền không là sự tập trung tư tưởng nhưng là sự chú ý toàn diện và triệt để.
Thiền không phụ thuộc vào một thế ngồi.
Thiền là sự tỉnh thức thường xuyên….”…
Tôi xin dẫn vài ý khác của ông hầu làm rõ hơn và đầy đủ ý nghĩa của những điều ông nêu trên.
Thiền Đích Thực quan trọng duy nhất trong đời sống, nó khiến người ta sống thực tại, sống điều-hiện-là, sống bình an, sống đứt đoạn với quá khứ, sống không hoài niệm, không nuối tiếc và sống không trông chờ tương lai. Sống hóa giải sự mâu thuẫn của tâm trí. Sống vô tư với sự chấm dứt của dòng thời gian, là sự sinh ra và chết đi liên tục của các yếu tố tạo thành tâm trí như tình cảm, lý trí, kiến thức ….
Điều này nghe có vẻ không tưởng, làm sao có thể có một tâm trạng sống như thế? Mà đúng nó là không tưởng, nghĩa là trong trạng thái đó, kết cấu và diễn biến của tư tưởng đã ngưng lại. Tuy nhiên, nếu ai đó, dù chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi hay lâu hơn đã có thể xảy ra một hay nhiều lần đột nhiên sống trạng thái khác thường này, mới hiểu sự sống đó là có thực.
Trong sự sống thực tại không tồn tại một khả năng đặc biệt nào như một sở hữu vĩnh viễn có thể được sử dụng cũng như trở thành, trở nên điều gì đó.
Chỉ là sự sống bình an, vô cầu, tâm sạch trơn không chứa chấp điều gì, một sự trống vắng hạnh phúc khác thường chưa từng thấy. Trạng thái khác thường rồi cũng qua đi. Tuy nhiên, con người bây giờ không còn nguyên trạng như trước khi sự kiện quan trọng xảy ra: Không nuối tiếc sự việc đã qua. Cũng không mong cầu sự việc trở lại. Bây giờ thường xuyên chú ý quan sát và lắng nghe mọi diễn tiến tâm lý của chính mình một cách thụ động, không từ một diễn tiến nào đó suy nghĩ tiếp bằng sự phê phán, đánh giá, chấp nhận hay phủ nhận. Tự thấy mình trống vắng, thoải mái, không bởi nguyên nhân và mục đích nào. Như thế tâm trí tự nhiên ổn định, không cần sự cố gắng nào.
Thiền có mục đích hay ý định để được khả năng đặc biệt hay để trở thành điều gì đều có mâu thuẫn nội tại và không là Thiền Đích Thực.
Thiền Đích Thực không tập trung tư tưởng nhưng chú ý toàn diện và triệt để. Tập trung là o ép, kiểm soát, buộc tâm trí phải quy về một điều đã được chọn lựa trong khi sự chú ý hoàn toàn của tâm trí lại nhận biết mọi diễn biến bình thường của nó một cách tự nhiên. Khi đề cập sơ qua về Thiền mà nhiều người vẫn đang hành, J. Krishnamurti có nói rằng, bất cứ bạn chọn một thế ngồi nào, tâp trung vào đầu mũi và hơi thở thì chắc chắn tới cuối cuộc đời bạn cũng không thể thấy gì xa hơn mũi bạn.
Hỏi:
Em đã là SV năm thứ 2 rồi và cũng đã có người yêu nhưng ở rất xa vì em được nhận vào một đại học chuyên ngành. Em rất yêu và không muốn mất cô ấy! Nhưng tình cờ em gặp lại một người bạn (N.) của cô ấy hồi còn trung học. Em được biết, N. cũng được nhận vào đại học này năm ngoái.
Sau một thời gian cả hai đứa đi học chung, đi ăn chung, và ngay cả học bài chung trong dome, em bắt đầu đem lòng yêu N. rất nhiều! Vì thế em rất sợ và không muốn nói cho ai biết. Em cũng luôn luôn tự nghĩ tình cảm của mình đối với N. chỉ là tình bạn. Em đôi khi cũng muốn dứt khoát với N. là giữa em và N. chỉ có tình bạn thuần túy mà thôi.
Nhưng mỗi lần gặp N. lòng em lại rung động và quên hết mọi thứ. Nhưng em cũng lo là nếu N. biết được em và cô ấy đang yêu nhau thì không biết N. có thể tìm cách lãng tránh em, hoặc ngược lại, cô ấy biết được chuyện này thì em không biết cô ấy cũng sẽ bỏ em. Hoặc cô ấy sẽ từ bỏ tình bạn của cô ấy và N.
Xin cho em hỏi giữa tình yêu và tình bạn, ta nên chọn tình gì ? Bởi lẽ theo em nghĩ khó có thể tồn tại song song hai thứ tình này, một người khi yêu có thể bỏ bạn, một tình bạn sẽ bị đánh mất khi có tình yêu xen vào. Cám ơn chị Thuần Nhã.
Trí, San Jose
Đáp:
Em hỏi chị về Tình Yêu, vậy chị xin đem ra vài quan niệm về Tình Yêu của cổ nhân để chúng ta cùng nhau thảo luận, em nhé.
“Yêu là đặt hạnh phúc của ta vào hạnh phúc của người khác.”
“Khi yêu, chẳng biết vì sao lại yêu, chính nhờ thế mà ta biết rằng mình đang yêu.”
“Không có tiếng cười của nàng, cả căn phòng đầy ắp người đang ồn ào kia cũng trở thành lạnh lẽo và hoang vắng.”
Theo mấy quan niệm kể trên thì em chưa hề yêu “cô ấy” (xin tạm đặt tên là Y. để tránh lẫn với cô N.), mà em chỉ mới “thích” thôi. Này nhé, hai em đang yêu nhau nhưng vì chuyện học hành để xây dựng tương lai nên đành phải xa nhau, điều đó rất hợp lý. Thế nhưng, dù bận học, tình yêu của em và Y. lẽ ra vẫn phải nồng cháy trong trái tim em, ngoài những thời gian dành cho bài vở, hình ảnh nàng phải tràn ngập trong mọi không gian chung quanh em, như quan niệm “Không có tiếng cười của nàng, cả căn phòng đầy ắp người đang ồn ào kia cũng trở thành lạnh lẽo và hoang vắng”, mới là bình thường. Đằng này thì, không, sang tới trường mới, em gặp N., mà N lại chính là bạn của Y., rồi từ chỗ “Sau một thời gian cả hai đứa đi học chung, đi ăn chung, và ngay cả học bài chung trong dome”, bước sang “Em bắt đầu đem lòng yêu N. rất nhiều”.
Nếu quả là em yêu Y., thấy thiếu thốn, mất mát khi xa Y., tìm đủ cách để có dịp thăm hỏi Y. cho đỡ nhớ, thì hình ảnh N. không thể nào chen vào trái tim em để có triển vọng thay thế Y., em à.
Cho nên, chị kết luận là em chưa hề yêu Y., mà trước kia em chỉ mới “thích” cô ta mà thôi.
Nay nói đến N.
Đối với em, N. là “tình mì ăn liền”, tức là loại “tình cảm tiện nghi”. Loại tình cảm này rất thường xẩy ra nơi các người bị đầy ải, rồi gặp những người dân địa phương thương tình, tìm cách giúp đỡ, săn sóc, dần dà đôi bên thấy cảm động, quyến luyến, thân mến, cuối cùng đi tới hôn nhân.
Tại sao chị lại “dám” phán đoán Tình Yêu của em một cách “nhẹ thể” vậy?
Đó là tại vì xuyên qua lời bộc bạch của em, chị thấy đầy dãy những sự so sánh, cân nhắc, tính toán, vốn rất xa lạ với chuyện Tình Yêu, em à.
Một vị vua đồng thời là một nhà hiền triết đã dùng thước đo Tình Yêu trong việc xử án, như sau:
“Có hai người đàn bà giành nhau một đứa bé, cả hai đều tự nhận là mẹ đẻ của nó. Vụ án lên tới triều đình. Nhà vua, sau một hồi suy nghĩ, bèn hạ lệnh:
– Hãy chặt đứa bé ra làm hai khúc, cho hai bà mẹ mỗi người một phần.
Ngay lập tức, một bà phóng ra khóc rống lên:
– Xin bệ hạ hãy trừng phạt tôi, tôi đã nói dối, tôi xin chịu tội, đứa bé không phải là con tôi mà là con bà kia, xin trả nó nguyên vẹn cho bà ta.
Nhà vua cười, hạ lệnh:
– Đem đứa nhỏ trả cho bà này. Tình yêu con của bà ta khiến cho bà sẵn sàng chịu tội miễn sao đứa bé thoát chết. Còn bà kia, không có tình yêu đối với đứa nhỏ, không quan tâm đến sự sống chết của nó, nên không phải là mẹ nó.”
Trong “cái mà em cho là yêu” của em đối với cả hai người bạn gái này, chị không nhìn thấy sự quan tâm của em đối với họ,– một biểu hiệu của tình yêu –, mà chỉ là sự ngại ngần, sợ hãi, sợ rằng nếu họ biết chuyện em giấu diếm thì “nếu N. biết được em và cô ấy đang yêu nhau thì không biết N. có thể tìm cách lãng tránh em, hoặc ngược lại, cô ấy biết được chuyện này thì em không biết cô ấy cũng sẽ bỏ em.”, em chỉ có sự lo sợ cho quyền lợi của em một cách rất ích kỷ, không có lòng thương sót cho sự thất tình, nếu có, của hai người bạn gái, em à.
Chị đã tâm tình với em, quyết định thì xin dành cho em. Dẫu sao, chị cũng xin gửi tới em một câu chuyện ngụ ngôn Việt Nam dành cho những người “bắt cá hai tay” là câu chuyện “Con trê cũng tiếc, con giếc cũng muốn”, nói về anh chàng kia bắt được con cá trê rồi, thấy con cá giếc đang ở trước mắt, bèn đưa con cá trê lên miệng cắn lại, để được rảnh tay mà bắt cá giếc. Ngờ đâu con cá trê chui tọt vào họng, hai cái ngạnh giang ra hai bên, nhả không ra nuốt vào không được, phải đi tìm bác sĩ Tai Mũi Họng cấp cứu.
Tình Yêu mà bị “tình mì ăn liền” đánh gục thì chưa phải là Tình Yêu. Bởi vì đời sống thời nay tạo cho con người có nhiều cơ hội gặp nhiều đối tượng, cũng như trong thực phẩm có nhiều loại “ăn liền”. Một mai, em gặp “phở ăn liền”, “bún bò Huế ăn liền”, có khi em lại thích hơn “mì ăn liền” nhờ gia vị thơm, cay, chua, ngọt của chúng.
Một nhà hiền triết đã nói:
“Nếu người khác làm tổn thương bạn, bạn có thể quên sự thiệt hại ấy, nhưng nếu bạn làm tổn thương người khác, thì thật là khó mà quên được.”
Xin em sớm giải quyết dứt khoát để khỏi làm tổn thương hai người bạn gái đã quý mến em.
Chúc em sáng suốt.
Thuần Nhã (ĐPK)
Hỏi:
Em có chung sống với một người, anh ấy ly dị vợ đã bốn năm. Tuy em và anh ấy chưa có hôn lễ chính thức nhưng cả hai gia đình đều biết. Em và anh ấy đã sống với nhau như vợ chồng từ 2 năm nay. Hiện tại em không biết cuộc sống của mình bây giờ có phải là một gia đình không nữa? Anh ấy thì lúc nào cũng vậy ngoài giờ làm thì không bao giờ anh ấy về nhà vời em hết mà chỉ vùi đầu vào những chầu nhậu cho đến 1,2 giờ khuya hoặc cho đến khi nào em gọi điện thoại thì anh ấy mới chịu về (mà có khi cũng không có về liền nữa).
Em đã một lần vấp ngã trong tình yêu nên khi đến với anh ấy, em nghĩ là anh ấy đã một lần mất mát tình cảm như vậy thì sẽ tôn trọng những gì mà em đã dành cho anh ấy nhưng dường như em không là một người con gái may mắn. Hạnh phúc đã không đến với em! Đối với gia đình, anh ấy thực sự làm tròn trách nhiệm một người cột trụ trong gia đình (em không phải bận lòng lo về tài chánh trong gia đình vì lương anh ấy cao lắm) em có được ngày hôm nay hoàn toàn là do anh ấy đem đến cho em nhưng em không biết mình có phải là một đứa con gái mơ mộng hão huyền không?
Từ ngày quen nhau cho tới bây giờ chưa bao giờ anh ấy tặng quà cho em hết, mặc dù anh ấy sắm cho em đầy đủ mọi thứ không thua kém một ai nhưng sao trong lòng em vẫn không vui chút nào! Có phải là em đòi hỏi quá cao không thưa chị? Có lần vì em la con anh ấy (à em quên chưa nói là anh ấy đã có 3 đứa con với người vợ trước và cũng chính vì điều này mà em lấy anh, vì em bị u nang buồng trứng nên việc sinh nở đối với em rất khó) vì nó không chịu học bài, đến khi anh ấy biết, anh không chịu hỏi câu nào đã tát em đến sưng luôn cả xương sống mũi. Em đã quyết định chia tay anh ấy nhưng khi anh ấy lại khóc và xin lỗi em thì em lại xiêu lòng và tiếp tục ở với anh cho đến ngày hôm nay.
Nhưng chị ơi! Nhìn vào cuộc sống của em bây giờ nhiều người nói em sung sướng lắm, vì tụi em mới mua nhà ra riêng. Nhưng khi một mình trong chính căn nhà của mình em lại cảm thấy cô đơn và buồn chán lắm, cũng may là em có Internet nếu không chắc em chết mất, từ nhỏ khi ba mẹ em ly dị em đã phải sống một mình với bà ngoại và cậu dì, không có tình thương của cha mẹ, một mình phải tự lo cho mấy đứa em, làm tất cả mọi thứ, nhưng em vẫn ngước mặt nhìn đời vì em hãnh diện là mình chưa bao giờ làm bất cứ điều gì trái với lương tâm, pháp luật hết.
Có nhiều lúc em muốn bỏ đi thật xa để quên hết mọi thứ, nhưng tất cả mọi người kể cả gia đình em cũng khuyên em là đừng nên thay đổi, ai cũng nói là kiếm một người chồng biết kiếm ra tiền như anh ấy không phải là dễ nhưng chị ơi mọi người không hiểu em! Em không cần tiền vì bản thân em vẫn làm được ra tiền để sinh sống kia mà! Em chỉ cần một người chồng thực sự hiểu em sống vời em bằng tấm lòng chứ không phải bề ngoài, bây giờ là lúc em chán nản nhất trong cuộc sống không có định hướng để sống nữa em cảm thấy mình sống trên đời này thật vô nghĩa cuộc sống nhàm chán, em bối rối quá hy vọng chị cho em một lời khuyên để em còn ý chí mà sống. Em đã 24 tuổi rồi không còn nhỏ nữa nhưng cũng không phải là quá lớn để tìm một cuộc sống khác cho riêng mình phải không chị? Em không thể tìm an ủi ở gia đình vì gia đình em hầu hết đều không muốn em từ bỏ cuộc sống đầy đủ như bây giờ kể cả mẹ em nữa nhưng các người ấy không biết là em đang sống với ngục tù của cuộc sống vật chất đó. Những gì có thể nói em đã nói ra với chị mong chị cho em một lời khuyên. Em chân thành cảm ơn chị.
N. M. – San Jose
Đáp:
Chị đọc thư em rất kỹ, lòng ngậm ngùi thương cảm cho hoàn cảnh của em. Chị sẽ không giúp được gì, nếu em không đủ can đảm để nhìn vào thực tế và đứng thẳng lên tự xây dựng cuộc đời, một cuộc đời phải có sự nồng nàn của yêu đương và sống cho ra sống.
Trước hết, hãy nói về “anh ấy” của em.
Với một cái nhìn toàn bộ những sự kiện:
“… ngoài giờ làm thì không bao giờ anh ấy về nhà vời em hết mà chỉ vùi đầu vào những chầu nhậu cho đến 1,2 giờ khuya hoặc cho đến khi nào em gọi điện thoại thì anh ấy mới chịu về (mà có khi cũng không có về liền nữa).”
…”Từ ngày quen nhau cho tới bây giờ chưa bao giờ anh ấy tặng quà cho em hết,…”
…“vì em la con anh ấy (à em quên chưa nói là anh ấy đã có 3 đứa con với người vợ trước và cũng chính vì điều này mà em lấy anh, vì em bị u nang buồng trứng nên việc sinh nở đối với em rất khó) vì nó không chịu học bài, đến khi anh ấy biết, anh không chịu hỏi câu nào đã tát em đến sưng luôn cả xương sống mũi.”…
… thì chị có cảm tưởng là anh ấy không yêu em, không những thế, anh ấy đang có những mối ân hận trong lòng đối với việc chia tay với người vợ cũ, xuyên qua sự kiện em vì một động cơ chính đáng là chuyện học của con anh ta mà la mắng chúng nó, – tuy có thể là không đúng ý anh ấy, – nhưng cũng không thể vì chuyện nhỏ đó mà đã đánh em nặng tay, rồi sau lại khóc lóc xin lỗi. Đó không phải là cung cách xử thế của những người quân bình, mà là phản ứng của người có mặc cảm trong lòng, có thể là mặc cảm với sự vợ chồng bỏ nhau, để cho đàn con đến nỗi bơ vơ, mất mẹ, hoặc là, hơn thế nữa, anh ta đang bị sự hối tiếc giày vò vì chuyện bỏ vợ.
Về phần em:
Khi đến sống chung với anh ta, em đã làm một chuyện khờ dại, em đã cống hiến anh ta cái tiện nghi hoàn toàn miễn phí, anh ta không có sự ràng buộc nào với em, thí dụ như là một đám cưới, có sự cam kết với nhau về một đời sống có trách nhiệm về nhau và có sự chứng giám thiêng liêng của cha mẹ, thân nhân và bè bạn.
Nếu đã có những cam kết chính thức như thế về tình nghĩa vợ chồng, thì mỗi người đều phải có bổn phận với người kia, em cũng có bổn phận phải trông nom, săn sóc và dậy dỗ đàn con của anh ta, vì em là mẹ kế của chúng nó, nếu em có la mắng chúng vì sự lười biếng học hành, thì cũng là bổn phận đối với con chồng, cũng như con mình, lẽ ra anh ta còn phải cảm ơn em nữa.
Sự kiện anh ta thẳng tay đánh em, và chuyện không lưu tâm đến em, không bỏ chút thời giờ để tìm hiểu em, để biết đến chút ước vọng vun bồi tình yêu của em mà đáp ứng bằng một vài cử chỉ có chút tính cách lãng mạn trong yêu đương như tặng nhau chút quà nhỏ, lâu lâu đưa nhau đi chơi, thăm hỏi âu yếm nhau, mà chỉ … “Từ ngày quen nhau cho tới bây giờ chưa bao giờ anh ấy tặng quà cho em hết, mặc dù anh ấy sắm cho em đầy đủ mọi thứ không thua kém một ai…” …đủ nói lên rằng anh ta không coi em là vợ hoặc người mà anh ta yêu thương, trân quý, em chỉ là một “người đàn bà tiện nghi”, bỏ ra chút tiền bạc cung cấp cho em được ăn mặc đầy đủ về phương diện vật chất là xong chuyện rồi.
Chị rất thương hoàn cảnh sớm thiếu tình yêu thương từ gia đình của em, và thương hơn nữa là sự kiện gia đình em chỉ nhìn vào đời sống vật chất của anh ta mà cổ động em, quên hẳn đi cái em cần — và tất cả mọi người cần — là một cuộc đời “sống cho ra sống”, không phải là một cuộc đời của một cung nữ trong triều đình vua chúa xưa, chỉ có bổn phận làm sao cho vua vui, bản thân chỉ được cơm no áo ấm là đã mang ơn vua chúa cho đến mãn kiếp.
Em hãy mạnh dạn yêu cầu anh ta ngồi xuống, một lần cho tất cả, đem vấn đề nhức nhối này lên bàn mổ, nói thẳng, nói hết, để, một là nếu anh ta nhận ra rằng “em cũng là một con người, có yêu, cần được yêu, và có thể bỏ anh ta mà đi mất”, thì anh ta sẽ, hoặc là bừng tỉnh trước thực tế mà thay đổi nếp sống, hoặc là nếu anh ta đã chán em rồi, cũng muốn em ra đi cho gọn chuyện, hoặc là anh ta chưa bao giờ yêu em cả, hai người sống chung cũng giống như sự âm ỉ của căn bệnh ung thư tiềm ẩn, có thể bùng ra bất cứ lúc nào, thì cũng nên mổ phăng ra, cắt luôn phần bị ung thư đi, em mới tự cứu được, mới xây dựng được cuộc đời đáng sống cho bản thân em, khi mà tuổi trẻ của em còn giúp em làm lại cuộc đời dễ dàng, tâm hồn em còn tươi mát, chưa đến nỗi bị trầy trụa, quá đau đớn, thất vọng, phải rút lui vào bóng tối.
Hãy đứng lên, bước ra ngoài đời, kiếm một việc làm, em có thể cực thân, nhưng tâm em sẽ an lạc, em sẽ có niềm tự tin, sẽ ngẩng cao đầu. Những lời khuyên đại khái “mọi người kể cả gia đình em cũng khuyên em là đừng nên thay đổi, ai cũng nói là kiếm một người chồng biết kiếm ra tiền như anh ấy không phải là dễ … ” đã chôn vùi biết bao nhiêu cuộc đời những người đàn bà tội nghiệp, lẽ ra có thể giữ được khí phách, sống một cuộc đời đáng sống, đành chịu ẩn nhẫn làm thân nô lệ cho đàn ông và đã đẩy biết bao nhiêu người đàn ông, lẽ ra có thể trở thành những người tốt, biết tôn trọng nhân vị của đàn ba, thì lại trở thành những tâm hồn khô khan, ngạo nghễ, chỉ biết dùng đồng tiền, nên cũng chỉ mua được những món có thể dùng tiền để mua, mất hẳn cái bén nhậy, tế nhị, để được thưởng thức cái tinh hoa của cuộc đời.
Thân chúc em tự xây dựng lại hạnh phúc.
Thuần Nhã (ĐPK)
.
.
.
.
Hỏi :
Em năm nay 20 tuổi, anh ấy 23, em quen anh ấy đã được 3 năm, tình cảm giữa em và anh ấy rất mặn mà, anh ấy đang học computer science, nhưng có một chuyện mà hai đứa em luôn đau khổ: em là người đạo Thiên Chúa, nhưng gia đình anh ấy theo đạo Phật, có nhiều lần anh đã muốn công khai chuyện tình cảm của hai đứa nhưng không dám vì gia đình của anh ấy không chấp nhận anh quen với người có đạo, bản thân anh cũng là con út trong gia đình, cho nên bây giờ hai đứa em quen nhau cứ phải lén lút, điều này làm em buồn lắm, gia đình em khó lắm, không chấp nhận em kết hôn với người ngoại đạo, thậm chí anh ấy đồng ý theo đạo mà ba em cũng còn không chấp nhận, chúng em không thể xa nhau.
Bây chúng em phải làm sao để hai gia đình chấp nhận, bản thân anh là người rất có trách nhiệm, là đứa con ngoan trong gia đình, anh ấy sẵn sàng theo đạo nếu gia đình chấp nhận, nhưng mãi mãi gia đình anh ấy không chấp nhận thì chúng em sẽ phải xa nhau mãi mãi ư, đời em đã thuộc về anh ấy, em không hề hối hận những điều em đã làm, nhưng em phải làm sao để gia đình cho anh ấy theo đạo, chẳng lẽ em cứ chờ đợi mòn mỏi hoài vậy, em và anh ấy yêu nhau là một cái tội ư, bây giờ em phải làm sao đây? Xin chi giúp em với.
Em, N., San Jose
Đáp:
Chị xin tóm lược lại câu chuyện của em:
— Em 20 tuổi, anh ấy 23.
— Hai em quen nhau đã 3 năm, rất yêu nhau và đã có quan hệ như là vợ chồng với nhau.
— Gia đình anh ấy đạo Phật, gia đình em đạo Thiên Chúa.
— Gia đình anh ấy “không chấp nhận anh quen với người có đạo” và “… anh ấy sẵn sàng theo đạo nếu gia đình chấp nhận, nhưng mãi mãi gia đình anh ấy không chấp nhận …”…
— “Gia đình em khó lắm, không chấp nhận em kết hôn với người ngoại đạo, thậm chí anh ấy đồng ý theo đạo mà ba em cũng còn không chấp nhận …”…
Em N. rất thương,
Phải nói thẳng một điều là cả hai gia đình, gia đình em và gia đình anh ấy của em, đều hẹp hòi, ích kỷ, không quan tâm đến hạnh phúc của con cái mà chỉ muốn chúng phải là những con cừu do mình chỉ huy, áp đặt, nếu chúng không làm đúng theo ý mình thì mặc kệ, cho chúng nó đau khổ. Họ không thèm quan tâm đến tình huống cặp tình nhân trẻ, quá yêu nhau, muốn sống chung với nhau nhưng phải lén lén lút lút, nếu người con gái có thai ngoài hôn nhân, rồi hậu quả sẽ ra sao, liệu mầm sống mới chưa kịp mở mắt chào đời kia có vì sự khắt khe của ông bà nội, ông bà ngoại mà đành trôi theo bàn tay nạo thai mà ngậm hờn dưới lòng cống không?
Tuyệt đỉnh của tôn giáo là CHÂN THIỆN MỸ. Nhưng khi tôn giáo đã gom lại thành tổ chức thì đôi khi lại nẩy sinh ra những hạng người cuồng tín, làm những điều khiến cho tôn giáo của họ trở thành biến thể, đi xa cái chân thiện mỹ, mà trở thành một hình thức giống như là phe phái. Phe này muốn lấn lướt phe kia, tự cao về phe mình, không nghiên cứu giáo lý của tôn giáo khác để nhìn thấy được cái tuyệt đỉnh, cái CHÂN THIỆN MỸ mà giáo chủ của họ đã vì những điều đó mà hình thành tôn giáo của họ. Trái lại, cứ như con ếch ngồi dưới đáy giếng, nhìn lên thấy bầu trời nhỏ hơn cái chiếu, tưởng rằng chỉ có đạo của mình là hay nhất, không biết gì về các đạo khác, thậm chí, do không hiểu biết, đôi khi nói những điều vô căn cứ, hoang đường, thành ra như là nói xấu đạo khác vậy.
Căn bệnh trầm kha này đã và đang gây tai họa cho nhân loại qua các cuộc thánh chiến. Chỉ khi nào, hoặc là mọi người đều nghiên cứu thêm về các tôn giáo khác để hiểu biết và thông cảm nhau hơn, hoặc là không nghiên cứu thì cứ nên tôn trọng sự tự do tôn giáo, tự nhủ rằng vì mình thiếu hiểu biết, không thấy cái hay của các tôn giáo khác không có nghĩa là đạo khác xấu, mình có bổn phận phải “cứu vớt”. Đừng nghĩ rằng chỉ có riêng những người theo tôn giáo mình là “có đạo”, còn các người không theo đạo của mình thì gom chung thành “người ngoại đạo”, hoặc “kẻ ngọai” …, cần được giáo dục để “trở lại đạo”. Điều này phải cần đến sự tận tâm giảng dậy của các vị linh hướng có tinh thần cởi mở, hiểu biết rộng, và có tấm lòng từ bi, bác ái, thương xót cho cái kiếp người vốn đã đầy nỗi thống khổ, không nên lợi dụng tôn giáo để quàng thêm vòng dây kẽm gai lên đầu lên cổ tuổi trẻ nữa.
Các em nên cố gắng học hành chăm chỉ để kiếm được việc làm, thoát được ảnh hưởng của gia đình về mặt kinh tế, rồi sau đó, hãy can đảm trình bầy hoàn cảnh thực sự của hai em, là hai em không thể xa nhau được, yêu cầu hai bên cha mẹ tác thành, nếu không, các em đã lớn, các em cũng có bổn phận đối với chính mình, các em có thể tự định đoạt đời các em.
Về việc đổi đạo, chị nghĩ rằng nên giữ sự tế nhị và hợp lý, không nên đem hôn nhân làm một áp lực bắt người khác đổi đạo. Hai em nên đạo ai nấy giữ. Sau này, khi hai em sống chung, chính cung cách sống của các em sẽ nói lên tính ưu việt của tôn giáo mà các em chịu ảnh hưởng. Từ đó, tùy theo lòng kính quý của mỗi em đối với từng tôn giáo, các em vẫn còn dư thời giờ để đổi đạo, nếu muốn. Sự cưỡng bách không thể thấm sâu vào lòng người, mà lại phát sinh ẩn ức.
Để xứng đáng đi vào lãnh vực tâm linh, mỗi người phải có tấm lòng thành khẩn, bước những bước hân hoan, tâm hồn sung mãn với những tư tưởng khai phóng, không phải là những bước lầm lũi tủi hờn vì bị ép buộc.
Thân chúc em mọi điều may mắn.
Thuần Nhã (ĐPK)
Hỏi:
Chúng tôi là một đại gia đình gồm cha mẹ và năm anh chị em, hai trai, ba gái. Trong suốt cuộc đời tôi, hình ảnh mẹ tôi là trung tâm của gia đình. Từ khi còn ở Việt Nam, mẹ tôi là một bà nội trợ giỏi, với đồng lương công chức eo hẹp của ba tôi, mẹ tôi chi tiêu tằn tiện, may lấy quần áo cho chúng tôi, nấu những món ăn cho gia đình, dù không phải sơn hào hải vị, nhưng rất ngon. Tôi vẫn còn nhớ món cá nục trong những cái rổ nan, mẹ tôi chiên lên, rưới nước mắm, rắc hạt tiêu rồi hạ lửa xuống chỉ còn riu riu, mùi cá xém vàng nâu quyện với nước mắm cô đặc lại, bốc lên thơm ngào ngạt.
Khi ba tôi được đi theo diện HO, chúng tôi qua đến đây cũng còn nghèo lắm, mẹ tôi vẫn làm những món ăn rẻ tiền như khi còn ở quê nhà, đôi khi sang hơn một chút như có thêm thịt gà, thịt heo, vân vân… Còn nhớ những chiều đi học về, bóng dáng mẹ lui cui trong bếp, tay đũa tay thìa, mẹ nêm nếm những món gà kho gừng, cánh gà xào chua ngọt, mùi thơm hấp dẫn, tôi thường lấy cơm nóng bỏ vào chảo để vét lại cái chất nước sốt dẻo quánh, thơm và ngọt lựng trong cổ. Ðôi khi, mẹ tôi cũng chiên cá nục với nước mắm và hạt tiêu như khi xưa, mẹ bảo :” Món này rẻ lắm”, chúng tôi lại thấy ngon quá, chẳng đòi mẹ món ăn đắt tiền. Còn nhớ hôm anh tôi ra trường, mẹ tính cho cả nhà ăn món gà El Pollo Loco, nhưng rồi mẹ lại mua thịt gà về quay với bơ, mẹ bảo nhà làm thế này rẻ hơn nhiều, chúng tôi thì thấy ngon quá rồi, chẳng cần đòi hỏi gì thêm.
Ngày tháng êm ả trôi mau trong cuộc sống thanh bạch mà vui. Rồi chúng tôi ra trường, có gia đình, con cái. Mỗi cuối tuần, chúng tôi vẫn về ăn cơm với ba mẹ, rồi gửi con cho mẹ tôi trông giùm để đi coi chiếu bóng hay thăm bạn hữu. Mỗi tuần mẹ tôi lại nấu một món đặc biệt, như phở Bắc, hủ tiếu Nam Vang, bún bò Huế, mì Quảng, bánh xèo, bánh tôm, chả giò, vân vân, món nào của mẹ nấu cũng đều rất ngon. Dù nay thì chúng tôi dư tiền để ra tiệm ăn những món mà ngày trước coi là món ăn sang, nhưng chúng tôi thấy món mẹ nấu ngon hơn, thích ăn ở nhà ba mẹ hơn.
Từ khi chúng tôi đi làm, có gia đình, thì đời sống của ba mẹ tôi cũng khá hơn. Ngoài tiền trợ cấp của chính phủ, chúng tôi cũng biếu thêm chút đỉnh để ba mẹ đi chơi, hoặc có tiền chiêu đãi bạn bè, linh tinh. Mẹ tôi thì đi chùa, đi thăm bè bạn. Và rồi vấn đề bắt đầu nẩy sinh từ lúc này.
Sau một thời gian đi chùa, mẹ tôi bắt chước các bà bạn, học làm đồ chay, rồi đổi qua ăn chay. Lúc đầu thì còn ăn một tháng có mấy ngày, sau ăn chay trường luôn, chấm dứt ăn thịt.
Hồi mới ăn chay, mẹ tôi vẫn còn nấu các món ăn mặn như thường lệ. Sau một thời gian thì bà chỉ nấu món chay và mua những món mặn nấu sẵn ở ngoài tiệm đem về để mọi người ăn dặm chung trong mâm. Dần dần, những bữa ăn món đặc biệt cuối tuần như phở, bún, vân vân, cũng biến mất. Mẹ ít vào bếp, thường yêu cầu chúng tôi mua đồ ăn nấu sẵn, hoặc cùng nhau ra tiệm ăn. Thành ra sự đi chùa, tu hành theo đạo Phật thì từ bi đâu không thấy, chỉ thấy gia đình tôi mất những bữa ăn ngon lành đầm ấm khi xưa.
Ba tôi rất bực mình vì khẩu vị của ba đã quen với cách nấu ăn, nêm nếm của mẹ. Cơm ngoài tiệm ba thường chê mặn, chê bột ngọt, chê dầu mỡ, có khi chỉ nếm qua rồi bỏ ăn, đứng lên.
Cả ba tôi và chúng tôi đều oán đạo Phật và sự ăn chay, đã làm mất những bữa cơm gia đình ấm cúng của chúng tôi, đã làm mất niềm vui mà đã bao lâu nay mẹ chúng tôi đã đem lại cho chúng tôi.
Xin quý vị giúp ý kiến cho tôi, nên khuyên mẹ tôi ăn thịt trở lại, hay là nên khuyên ba tôi chấp nhận sự ăn trường trai và không nấu thịt cá của mẹ.
Trân trọng cảm ơn quý vị,
Ngọc Hạnh
Đáp:
Ðọc thư của bạn Ngọc Hạnh với những chi tiết nồng đượm tình gia đình, chúng tôi rất ngậm ngùi. Cũng như bạn Ngọc Hạnh, chúng tôi cũng cảm nhận được sự mất mát của gia đình bạn. Cảm nhận sự mất mát thì giống nhau, nhưng là những người đứng ngoài, nên chúng tôi có thể thấy thêm vài khía cạnh khác của vấn đề, xin trình bày ra cùng quý thính giả và bạn Ngọc Hạnh, như sau:
Trước nhất, một điều rất rõ là gia đình bạn Ngọc Hạnh đã đặt tất cả niềm vui vào một trung tâm điểm, trung tâm điểm này không phải là “bà mẹ” nhưng là “khả năng nấu ăn ngon của bà mẹ”. Bởi vì bà mẹ vẫn còn sống đó, chỉ ngừng nấu các món mà gia đình thích thôi, là tất cả tình cảm mà trước kia biểu hiện ra trong việc nấu ăn, nay dĩ nhiên là vẫn còn đó, đã bị chồng con xóa hết rồi. Bản thân bà cũng vẫn còn đó, nhưng tình yêu của gia đình đối với bà thì dường như đã bị sứt mẻ. Tâm lý đó của mọi người trong gia đình có thể đã đôi khi biểu lộ ra, dù không quá lộ liễu, nhưng cũng đủ khiến cho bà mẹ suy nghĩ về “thân phận công cụ nấu bếp” của mình trong lòng chồng con chăng?
Trong cuộc sống vô thường, mọi sự đổi thay từng giây, từng phút, không ai biết lúc nào mình sẽ thở ra mà không còn hít vào này, sự đặt tất cả niềm hạnh phúc của gia đình vào tài nấu ăn của một người là sai lầm. Có thể bất thình lình bà mẹ bị tật bệnh gì đó, không còn nấu nướng được nữa, hoặc một ngày nào đó, tuổi già sức yếu, bà mẹ không thể gánh vác được những kỳ vọng mà chồng con đặt vào bàn tay làm bếp của mình, thì tất cả niềm vui của gia đình cũng sụp đổ hay sao? Còn phải nhớ đến rằng cái chết có thể tới với bất cứ ai vào bất cứ lúc nào, cho nên mỗi người phải tự mình tìm được sự an lạc từ nội tâm mình, không thể trông cậy vào ai khác, nhất là trông vào tài nấu bếp của một bà mẹ.
Nếu gia đình bạn Ngọc Hạnh để ý tới nội tâm của bà mẹ, sẽ có thể nhìn ra thêm khía cạnh khác, qua sự đổi thay của bà. Có thể là do đi chùa, tâm hồn bà phong phú ra, suy tư sâu sắc hơn, bà nghĩ tới được những vấn đề mà trước kia bà chưa từng nghĩ tới, cho nên hành xử khác trước.
Chúng tôi được biết có những gia đình đã tưởng tượng sai về sự đi lễ của bà mẹ, coi như là “ham vui”, hoặc là “già rồi trở thành mê tín”, hoặc “đến chùa gặp bè bạn để khoe của, khoe con”, mà thường là không tìm hiểu coi sinh hoạt ở chùa của mẹ như thế nào, không nhìn vào đời sống nội tâm của mẹ, đã biến chuyển ra sao.
Thực tế, do đi chùa, Phật tử được tiếp cận với giáo pháp nhà Phật, đôi khi do các vị sư giảng, nhưng phần lớn là do bạn đạo trao truyền cho nhau những câu chuyện, những băng giảng, những sách báo có những bài giáo lý. Từ những nguồn tài liệu này, một số vị đem về nhà, nhưng trước sự coi thường của chồng con đối với đạo, các vị ấy lặng lẽ đọc, lặng lẽ nghe băng, nhờ vậy, tâm hồn có sự chuyển hóa, hiểu được những phần cốt tủy của nhà Phật, về sự bớt làm điều xấu ác, tăng làm điều tốt lành và tụng kinh niệm Phật để thanh tịnh hóa tâm ý.
Trong những bài giảng, rất nhiều đề tài được đặt ra. Vì đạo Phật xây dựng trên hai cột trụ chính là Từ Bi và Trí Tuệ, cho nên đề tài Từ Bi thường được nói tới nhiều nhất. Cụ thể như trong một dịp gặp gỡ các tâm lý gia Hoa Kỳ, đức Ðạt Lai Lạt Ma cũng thảo luận với họ về đề tài Từ Bi, được trình bày trong cuốn “Worlds in Harmony, Dialogues on Compassionate Action”. Chúng tôi xin trích dịch mẩu đối thoại giữa Ngài và tiến sĩ Joanna Macy, một nhà bảo vệ môi sinh, sáng lập viên của Nuclear Guardianship Project, như sau:
…”…
Bà Joanna Macy hỏi:
– Thưa Ngài, tôi xin hỏi Ngài về trường hợp khác, trong đó những con vật rất đau đớn, đó là tại các trại chăn nuôi. Ðể có thể thay đổi lề lối làm việc ngõ hầu giảm thiểu sự đau đớn cho những sinh vật này, chúng ta cần phải nhìn tận mắt nỗi đau đớn của chúng. Nhưng đối với phần lớn chúng ta thì dường như sự nhìn vào nỗi đau đớn đó là điều quá sức chịu đựng nổi, cho nên chúng ta muốn nhìn đi phía khác để lảng tránh sự thực. Ngài mới giảng rằng phải thực tập hành động không lảng tránh mà nhìn sâu vào nỗi đau để không còn sợ nó nữa. Vậy nếu có thể, xin Ngài giảng rõ hơn, nhất là trong tinh thần liên đới cảm thông với các loài sinh vật đàn em đang bị hành hạ này chăng?
Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đáp:
– Hàng ngàn, hàng triệu, hàng tỷ con vật bị giết để làm đồ ăn cho loài người. Ðiều đó thật là đáng buồn! Loài người chúng ta có thể không cần phải ăn thịt mà vẫn sống, nhất là trong thế giới tân tiến ngày nay. Chúng ta có quá nhiều thực phẩm bằng rau đậu và nhiều loại đồ ăn khác, cho nên chúng ta có khả năng và bổn phận cứu sống hàng nhiều tỷ sinh mạng. Tôi đã thấy có nhiều cá nhân và nhiều nhóm người tích cực yểm trợ các hoạt động bảo vệ quyền sống của loài vật, những người này đều ăn chay trường. Thật là tuyệt !
Có những sự giết chóc thật là phí phạm. Thí dụ săn bắn và câu cá, coi như là trò thể thao, đúng là vô nghĩa lý. Nếu giết vì lý do khác, thí dụ đánh cá để làm thực phẩm, thì còn có thể hiểu được hơn. Nhưng có lẽ điều đáng buồn nhất là tại các trại chăn nuôi. Những con vật đáng thương sống ở đó thật là đau khổ. Bản thân tôi đã từng tới thăm một trại nuôi gà tại Nhật, nơi người ta nhốt hai trăm ngàn con gà mái suốt hai năm trường, chỉ cốt để cho chúng đẻ trứng. Chúng là những kẻ tù đầy trong hai năm ròng rã đó. Rồi sau hai năm, khi không còn khả năng sinh sản, thì chúng bị bán đi để giết lấy thịt. Thật là kinh hoàng, đáng buồn quá! Chúng ta phải hỗ trợ những người có lòng muốn giảm thiểu cung cách đối xử bất công này.
Thật là tai hại nếu chúng ta không quan tâm tới nỗi đau đớn của bất cứ chúng sinh nào. Ngay trong chiến tranh, chúng ta cần nhận thức được nỗi đau đớn của đối phương và sự áy náy trong lòng mình vì đã gây đau thương cho họ thì tốt hơn…”…
Ðó là những lời khuyên của một tu sĩ Phật giáo về sự phát triển lòng từ bi, mà do tiếp cận với đạo, người Phật tử đã nhận thức được.
Nhân đây, chúng tôi cũng xin minh xác rằng ăn chay trường không phải là điều bắt buộc của người Phật tử. Ngay trong thời đức Phật, Ngài và chư đệ tử cũng không ăn chay trường, mà dùng những thức ăn do thí chủ cúng dường, dù là có thịt. Miễn là người ăn không trông thấy con vật bị giết, không nghe thấy tiếng nó kêu khi bị giết, và không nghi rằng nó bị giết với mục tiêu cho mình ăn, như thế, những thịt này được gọi là tịnh nhục. Tục lệ đó còn được chư tăng hệ phái Nguyên Thủy duy trì cho tới ngày nay.
Ðối với hệ phái Bắc Tông thì chỉ các tu sĩ mới ăn chay trường, còn cư sĩ tại gia thọ trì Ngũ Giới, thì Giới Sát chỉ cấm giết, chứ không cấm ăn thịt. Tuy nhiên, nhà Phật cũng khuyến khích Phật tử giảm bớt ăn thịt để cho súc vật đỡ bị giết. Vì thế mới có chế độ ăn chay kỳ, thí dụ mỗi tháng ăn chay bốn ngày, gọi là tứ trai, ăn chay sáu ngày, gọi là lục trai, ăn chay mười ngày, gọi là thập trai, ăn chay trọn một tháng gọi là nguyệt trai, vân vân. Tóm lại, đa số Phật tử không ăn chay trường.
Nhưng hiện nay riêng trong nước Mỹ, theo thống kê của hội bảo vệ súc vật, có mười hai triệu người ăn chay trường. Phần đông những người này không phải là Phật tử, họ ăn chay vì lý do sức khỏe, hoặc vì lòng trắc ẩn, thương xót loài vật, không muốn chúng bị đau đớn suốt cuộc đời cho tới lúc chết, chỉ vì lý do mình muốn ăn thịt. Chúng tôi xin trích dịch ý kiến của tác giả David A. Gabbe, viết trong cuốn “Why Do Vegetarians Eat Like That?” như sau:
…”… Thông thường, khi những con bò, bê, heo được chở tới lò sát sinh thì chúng đã phải đứng liên tục, kề vai nhau trên suốt đoạn đường dài dằng dặc. Chuyến đi khiến cho chúng bối rối, kiệt sức, và trong nhiều trường hợp, quá ốm yếu. Ít nhất là suốt một ngày rồi, chúng không được ăn, vì về phương diện kinh tế thì chẳng còn có lợi lộc gì khi cho những con vật ăn bữa cuối cùng, cái bữa mà chúng chẳng còn kịp tiêu hóa khiến cho đồ ăn biến thành thịt trước khi bị giết!
Và trong khi những nhân viên lò sát sinh, có thể vốn không phải là những kẻ ác độc bệnh hoạn từ bản chất, nhưng áp lực của công việc ghê gớm đã khiến cho nhiều người trong số họ trở thành nhẫn tâm đối với những con vật sắp lên đoạn đầu đài. Kết quả là họ tuôn ra hàng tràng la hét giận dữ, và tống những cái đạp, những cái quất lên những con vật bối rối, kinh hoàng. Tụ tập hàng trăm hoặc hàng ngàn, những con vật khiếp đảm chen chúc nhau đứng phía ngoài lò sát sinh, chờ tới phiên mình bước vào cõi chết.
Vẳng nghe tiếng kêu hấp hối thống thiết từ những con vật đi trước vọng ra, bầy gia súc tê dại với hình ảnh của chết chóc. Bây giờ thì chỉ một nhát đập mạnh và một cú điện giật là đủ khiến cho con vật đành phải líu ríu bước vào phòng tàn sát.
Trái với điều có thể quý vị tưởng, không làm gì có cách giết nhân đạo theo chỉ thị! Nhân viên lò sát sinh có thể chọn bất cứ cách giết nào — thường là cách rẻ tiền nhất –, bất kể là man rợ hoặc tàn ác. Trong nhiều lò sát sinh, những con vật trong cơn kinh hoàng được giáng cho một đòn bất tỉnh bằng một nhát vào đầu — thường là một thanh sắt bổ xuống sọ –, hoặc bằng một luồng điện giật, hoặc bất cứ cách nào khác, trước khi chúng bị cùm chặt, rút lên cao và bị đâm liên tục vào ngực, cổ, để làm đứt những động mạch chính. Máu phun ra từ nhiều vết thương khiến cho con vật chết lẹ vì cạn kiệt….”…
Trên đây chỉ là trích đoạn ngắn ngủi của bản trường ca bi thảm mà những con vật tội nghiệp phải chịu đựng suốt một cuộc đời. Lão Tử đã nói “Ta khổ vì ta có cái thân”. Chỉ vì có cái thân làm loài vật, mà những con vật đáng thương phải chịu một cuộc đời đầy đọa, đau đớn từ lúc sinh ra cho tới lúc chết.
Nhưng còn những con vật không bị tù tội, được rong chơi bơi lội như loài cá thì sao? Ca sĩ Cao Thái có bài thơ “Con Cá”, như sau:
Tôi là con cá dưới sông
Có cha, có mẹ, có chồng có con
Trông con trông mỏi trông mòn
Trông khi họp mặt coi còn đủ không
Ngày ngày dong ruổi chạy rong
Kiếm ăn đây đó đỡ lòng mới thôi
Bữa kia nghe tiếng con tôi
”Mẹ ơi, con đã mắc mồi rồi me”
Lạy Trời lạy Phật chở che
Cho cha cho mẹ cho bè con thơ
Thành người tôi sẽ ước mơ
Kiếp sau sẽ chẳng bao giờ đi câu.
Biết đâu lũ cá chẳng vừa bơi vừa nguyện ước:
“Xin cho chúng tôi đừng gặp loài người” ?
Trích Thư viện Hoa Sen
Hỏi :
Em và cô ấy đã tổ chức Lễ Hỏi hồi tháng 11 và em đang “đi cày – đi làm” để chuẩn bị cho ngày cưới của chúng em (tháng 6 này). Đùng một cái cô ấy nói lời chia tay với em. Em thật sự bàng hoàng, bất ngờ. Lúc đó, em phải đồng ý theo nguyện vọng của cô ấy. Em hỏi lý do thì cô ấy trả lời:
“Không còn yêu, chỉ có lòng thương”.
Sau đó, em có tâm sự với chị của cô ta (cô ấy sống với chị và ở xa bố mẹ). Chị cô ấy nói là hãy để cho T. có thời gian suy nghĩ, em đồng ý. Một lần, sau khi em liên lạc với chị cô ấy, thì được biết là cô ấy đi chơi xa với bạn 2 ngày mới về. Nhưng thực ra, theo em biết thì cô ấy và chị cô ấy cùng đi chơi với 2 người bạn trai ở tiểu bang khác qua chơi. Em cũng chưa có dịp nói cho cô ấy biết.
Đến ngày 14/2, em lên nhà thăm và có ý muốn bộc lộ cho cô ấy hiểu tình cảm của em. Nhưng chị cô ấy lại giới thiệu em với hai người bạn trai chỉ là “BẠN”. Em cũng không phản đối vì sợ mất lòng người ta (em sợ mọi người nghĩ em là: ăn không được thì phá cho hư).
Sau đó, em cố trình bầy về tình cảm của em và em sẵn sàng tha thứ cho cô ấy. Nhưng cô ấy vẫn dửng dưng. Sau đó em nói chuyện thẳng thắn thì cô ấy vẫn giữ nguyên quan điểm ban đầu “CHIA TAY”. Lúc bấy giờ em mới đề cập đến vấn đề tài chính:
– Số tiền anh đưa cho em để down mua nhà, thì em hoàn trả lại để anh lo công chuyện khác. Em tự lo liệu để trả lại anh hàng tháng.
Cô ấy nói:
– Em không đủ tiền, em sẽ trả cho anh sau.
Em không đồng ý. Và em nói:
– Mình chia tay thì mọi cái cũng phải rõ ràng cả về tài chính và tình cảm một cách êm thấm.
* Sau đó, qua lời chị cô ấy thì cô ấy vẫn còn yêu em. Hiện tại thì cô ấy cũng vui vẻ với em nhưng ở mức độ chừng mực nào đó. Nhẫn cầu hôn cũng như nhẫn mà bố mẹ em tặng cô ấy thì cô ấy đã tháo ra hết (Chúng em yêu nhau được 3 năm rồi). Em có hỏi thì cô ấy nói là “nó vướng”.
* Em đề cập đến xây nhà và đám cưới thì cô ấy không còn mặn mà như trước đây mà có vẻ hời hợt, bản thân em, em nói bị bệnh mà cô ấy không một lời hỏi thăm.
Thưa chị, em có nên dứt khoát chia tay với cô ấy không?
– Có phải cô ấy trở lại với em để có thời gian trả nợ rồi lại tiếp tục chia tay?
Chân thành cảm ơn chị.
Em, Đức, Oakland
Đáp:
– Chị thấy hơi vương vướng với câu “Chúng em yêu nhau được 3 năm rồi.”, em ạ. Chị nghĩ rằng có thể dùng câu ấy cho thời gian đầu, nhưng từ từ, “đốm lửa tình yêu tắt nguội dần” mà tiếc thay, em không nhận ra đó thôi.
Này nhé, sau ba năm “yêu nhau” với em, rồi lại còn làm Lễ Hỏi, sửa soạn đám cưới, cô ấy bỗng nói lên là: “Không còn yêu, chỉ có lòng thương”. Nếu quả là trước kia cô ấy “yêu” em, và mới mấy tháng trước đây còn làm đám hỏi với em, thì cái gì đã làm cho cô ấy bỗng nhiên phát hiện ra rằng “không còn yêu, chỉ có lòng thương”?
Cho nên chị nghĩ là vào buổi đầu của thời gian ba năm đó, hai em quả là đã có tình cảm rất sâu sắc với nhau, có thể nói là hai em yêu nhau, tính toán cho tương lai, muốn cùng nhau xây tổ ấm, em giao tiền cho cô ấy đặt tiền down mua nhà, v. v…
Nhưng thời gian trôi qua, cô ấy từ từ phát hiện ra rằng giữa hai người có những điểm không hòa hợp, và từ đó, có thể là cách cô ấy cư xử với em đã khác rồi, nhưng em vì chủ quan nên không nhận thấy. Tuy nhiên, chỉ sau đám hỏi là một sự kiện thực tế, một bước tiến đến sự kết hợp vĩnh viễn, một điều không còn thay đổi được nữa, thì những suy nghĩ vốn mông lung mơ hồ trong tâm trí cô ấy bỗng xuất hiện mạnh mẽ, và cô ấy nhận rõ, rất sâu sắc, là cô ấy không thể sống chung với em, nhưng “thương em” vì những tận tụy và lo toan của em trong thời gian đã qua.
Xuyên qua những điều em kể lại thì chị thấy em đã cư xử không mấy tế nhị trong vài việc, thí dụ về câu chuyện hai người bạn trai ở tiểu bang khác sang chơi. Khi em đã được chị cô ấy cho biết là họ đi chơi xa rồi mà em lại còn tìm cách để biết đó là hai người bạn trai, rồi sau lại “em cố trình bầy về tình cảm của em và em sẵn sàng tha thứ cho cô ấy”. Tại sao lại có truyện “tha thứ” trong này, bởi vì cô ấy có làm gì để cần em “tha thứ”. Chị em cô ấy là hai người lớn, họ có bạn bè ở tiểu bang khác sang chơi, có thể là họ muốn đưa bạn bè đi coi những thắng cảnh của nơi họ ở, là một tình cảm lành mạnh giữa con người với nhau, sao lại cần sự tha thứ của em?
Cách cư xử hẹp hòi như thế của em càng làm cho cô ấy nhìn rõ những o ép của em sau này đối với cô ấy khi em đã là chồng cô ấy. Rồi tới vấn đề đòi tiền của em. Em có nhận thấy là sự mất cô ấy là một mất mát lớn của em hay không? Vậy thì có tiền nào mà so sánh nổi! Khi yêu nhau, hay “tưởng là yêu nhau”, em giao tiền cho cô ấy down nhà. Lẽ ra chuyện này không cần thiết phải làm vậy, tại sao em không để tiền trong ngân hàng, lại đưa cho cô ấy làm chi? Sự kiện “đưa tiền cho cô ấy giữ” của em liệu có ẩn ý ràng buộc gì không?
Dẫu sao, nay thì chuyện lớn đã tan vỡ, em còn có thể làm một việc tốt đẹp cuối cùng cho mối tình đã qua là hãy quên món tiền ấy đi, hãy coi như đó là bông hồng ấp ủ kỷ niệm của những ngày xa xưa bên nhau trong quá khứ.
Em đang dồn cô ấy vào con đường cùng – vì không có tiền trả em – mà phải hành xử lộ liễu đến nỗi chính em cũng phải thắc mắc : ” – Có phải cô ấy trở lại với em để có thời gian trả nợ rồi lại tiếp tục chia tay?”, than ôi, đoạn cuối của một “cái gọi là tình yêu” sao lại thê thảm, đượm mùi tanh tao “hơi đồng” đến thế này?
Em nên giúp cho người yêu cũ – nếu em muốn dùng từ ngữ này – giữ được một chút danh dự, hãy cởi bỏ cho cô ấy cái ray rứt về sự bất lực, đã không có tiền để trả lại em.
Kiếm ra tiền là chuyện tương đối dễ, biết coi tiền đúng với giá trị của nó là điều cần phải có tấm lòng, em ạ.
Thân mến chúc em sáng suốt, “biết lùi” và “biết mất” là biết những nghệ thuật sống đẹp.
Thuần Nhã (ĐPK)
Hỏi:
– Gia đình tôi theo đạo Phật từ xưa, trong nhà có bàn thờ Phật, mẹ tôi ăn chay mỗi tháng bốn ngày. Nhưng bản thân tôi và các anh chị em, kể luôn cả cha tôi nữa, đều không biết gì nhiều về đạo Phật, ngoại trừ bàn thờ Phật và chiếc áo tràng màu khói hương của mẹ tôi.
Hôm nay anh chị em chúng tôi có mấy thắc mắc muốn hỏi quý vị vì chúng tôi không thỏa mãn với câu trả lời của mẹ tôi, là người Phật tử hiểu đạo nhất trong nhà.
Thắc mắc thứ nhất:
Chúng tôi thường thấy những gia đình đạo Phật đến chùa làm lễ cầu siêu cúng cơm cho thân nhân đã chết hoặc những dịp đám giỗ, vân vân. Vậy xin hỏi rằng những vụ cầu siêu cúng cơm như thế, thân nhân đã chết có được hưởng gì không?
Thắc mắc thứ hai:
Nếu nhờ cầu xin mà được, vậy thì không cần siêng làm các điều thiện, cứ thoải mái làm các việc ác, miễn sao có nhiều tiền, khi chết nhờ quý tăng ni làm lễ cầu siêu là sẽ được siêu độ, được không ạ.
Mẹ chúng tôi thì tin tuyệt đối vào khả năng “làm Phật sự độ chúng sinh” của các thầy, nên không niệm Phật tụng kinh, chỉ đến chùa làm công quả những ngày cuối tuần, cho là khi chết sẽ có các thầy lo.
Chúng tôi không nghĩ như mẹ, nhưng cũng không hiểu rõ, nên gửi thư này xin quý vị giải thích.
Đáp:
– Về thắc mắc thứ nhất, chúng tôi xin nhắc lại phần trình bày của chúng tôi trong một kỳ phát thanh trước đây, như sau:
“Theo Phật giáo, cái chết là sự chấm dứt của đời sống tâm-vật lý của cá nhân. Chết là sự diệt tắt của sinh lực, tức là đời sống tâm linh và vật lý, cùng với hơi nóng và thức.
Chết không phải là sự tiêu diệt hoàn toàn của một chúng sanh, mặc dầu kiếp sống chấm dứt. Cái tiềm lực làm sống chúng sanh không bị tiêu diệt.
Cũng như ánh sáng đèn điện là biểu hiện bề ngoài mà ta có thể thấy của luồng điện vô hình, chúng ta là biểu hiện bề ngoài của luồng nghiệp vô hình. Bóng đèn có thể vỡ và ánh sáng có thể tắt, nhưng luồng điện vẫn tồn tại, và ánh sáng có thể phát hiện trở lại nếu ta đặt vào đấy một bóng đèn khác. Cũng như thế, sự tan rã của thể xác không làm xáo trộn luồng nghiệp lực, và sự chấm dứt của thức hiện tại dẫn đến sự phát sanh mới. Tuy nhiên, không có gì trường tồn bất biến, như một thực thể đơn thuần, “chuyển” từ hiện tại sang tương lai.
Trong trường hợp nêu trên, nếu người chết tái sanh trở lại vào cảnh người, chập tư tưởng cuối cùng tất nhiên là một loại tâm thiện. Thức-tái-sanh là từ tâm thiện ấy phát sanh, tự nhiên chuyển đến cái trứng và tinh trùng tương xứng trong cảnh người.
Như thế có nghĩa là cho đến lúc chết, luồng nghiệp lực vẫn luôn luôn trôi chảy, không có một điểm thời gian gián đoạn. Ngay lúc chết những chập tư tưởng vẫn liên tục kế tiếp như trong đời sống.
Hiện tượng chết và tái sanh diễn ra tức khắc, dầu ở bất cứ nơi nào, cũng như làn sóng điện phát ra trong không gian được thâu nhận tức khắc vào bộ máy thâu thanh. Luồng nghiệp lực trực tiếp chuyển từ cái chết ngay đến tái sanh, không trải qua một trạng thái chuyển tiếp nào. Phật giáo thuần túy không chủ trương có linh hồn người chết tạm trú ở một nơi nào, chờ đến khi tìm được một nơi thích hợp để đầu thai.”
Trên đây là quan điểm của Phật giáo Nguyên Thủy, hay còn gọi là Nam Tông, trích trong cuốn Ðức Phật và Phật Pháp do Hòa Thượng Narada biên soạn.
Về phía Phật giáo Bắc Tông, hay còn gọi là Ðại Thừa, thì quan niệm rằng không hẳn là tất cả mọi người sau khi chết đều tái sinh ngay lập tức. Trường phái này cho là những người có nghiệp rất thiện thì ngay sau khi chết sẽ sanh vào các cõi Tịnh, thí dụ cõi Tây Phương Tịnh Ðộ, Ðông Phương Tịnh Ðộ, vân vân, và những người có nghiệp rất ác thì sau khi chết sẽ sanh ngay vào các cảnh giới ác, như Ðịa Ngục, Ngạ Quỷ hoặc tái sinh thành các loài súc sinh. Trường hợp đó gọi là “chết đây sinh kia”. Ngoài các trường hợp đó, sau khi chết, người ta có thể còn lưu tâm thức lại một thời gian trong trạng thái gọi là Thân Trung Ấm, và mơ màng trong cảnh giới này từ 1 lần 7 ngày, cho tới 7 lần 7 ngày, là 49 ngày. Trong thời gian đó, nhất là 21 ngày đầu, người đã qua đời vẫn còn có ấn tượng mạnh mẽ về kiếp sống vừa qua. Và chính từ niềm tin này, người ta coi trọng sự cầu nguyện để giúp chuyển hóa tâm trạng người chết khiến cho thần thức của họ hòa nhập được vào các cõi an lành.
Như vậy thì cả hai truyền thống Phật giáo, Bắc Tông và Nam Tông đều không nói đến những hình thức cúng kiếng cho người đã chết từ lâu, hàng năm trời, mà chỉ có thể giúp cho người mới chết, qua những lời khai thị, những bài kinh, thốt lên từ tấm lòng chí thành thanh tịnh của chư vị chân tu và thân nhân, hy vọng thần thức của Thân Trung Ấm cảm được, mà tiêu dung được các tâm niệm xấu, cởi mở được các nỗi oán hờn.
Nhà Phật quan niệm rằng các loài hữu tình chúng sinh tiếp xúc được với thế giới bên ngoài là nhờ ở ba thành phần, gọi là “bộ ba Căn, Trần cảnh và Thức”.
Căn, là bộ phận cơ thể,
Trần cảnh, là đối tượng nhận thức của Căn
Thức, là phần tâm thức vô hình, vốn từ Chân Tâm vọng khởi mà chuyển thành, cũng tràn ngập khắp không gian như Chân Tâm, là cầu nối giữa Căn và Trần cảnh, tức là cầu nối giữa bộ phận cơ thể của chúng sinh và thế giới mà chúng sinh nhận thức, “cảm” hoặc “thấy” được.
Ðối với một cơ thể đã chết, bộ phận cơ thể, là Căn, đã ngưng hoạt động, có nghĩa là bộ ba đã mất một phần, thế thì những sinh hoạt về vật chất như ăn uống, hiển nhiên là không thể tiếp tục.
Có người cho rằng sau khi đã qua đời, người chết vẫn còn ăn, gọi là Thức thực. Như chúng ta đã biết, Thức vốn vô hình, nếu có Thức thực thì cũng chỉ là “cảm” được những tâm niệm thương ghét, an ủi, v.v… không thể “ăn” được món ăn vật chất. Nếu quả thật là còn có sự thèm ăn, thấy thân nhân bầy những món ngon, mà thần thức lại không thể ăn được, thì chỉ thêm thèm thuồng đau khổ mà thôi!
Sau đây là câu hỏi thứ hai:
“ Nếu nhờ cầu xin mà được, vậy thì không cần siêng làm các điều thiện, cứ thoải mái làm các việc ác, miễn sao có nhiều tiền, khi chết nhờ quý tăng ni làm lễ cầu siêu là sẽ được siêu độ, phải không ạ.
Mẹ chúng tôi thì tin tuyệt đối vào khả năng “làm Phật sự độ chúng sinh” của các thầy, nên không niệm Phật tụng kinh, chỉ đến chùa làm công quả những ngày cuối tuần, cho là khi chết sẽ có các thầy lo”.
Đáp:
Ðể hiểu rõ hơn về vấn đề “làm Phật sự độ chúng sinh” và niềm tin “làm lễ cầu siêu là sẽ được siêu độ”, chúng tôi xin gửi tới quý vị lời giải thích ghi trong bộ Giáo Khoa Phật Học cấp 2, do Ban Bảo Trợ Phiên Dịch Pháp Tạng Việt Nam ấn hành, như sau:
…” … Về tập tục tụng kinh siêu độ cho người chết, theo hòa thượng Ðạo An, vốn không phải là một tập tục truyền thống của Phật giáo. Tập tục này chỉ bắt đầu có ở Trung Quốc từ đời nhà Ðường. Ðiều này có thể đúng vì theo sử chép, thì năm 738, vua Ðường Huyền Tông đã ban sắc lệnh cho toàn quốc, ở mỗi quận đều xây một ngôi chùa, đều đặt tên là chùa Khai Nguyên (Khai Nguyên là niên hiệu thứ nhì của vua Huyền Tông). Ðó là chùa công, do các quan lại địa phương trông coi, dùng làm nơi tổ chức các lễ tiết quốc gia, cầu quốc thái dân an. Việc làm này vừa có ý nghĩa đem ân huệ của Phật ban đến quốc dân, cũng vừa để biểu thị quyền uy của chính quyền trung ương. Năm 755, An Lộc Sơn nổi loạn, kéo binh về chiếm kinh thành, khiến vua Huyền Tông phải chạy vào Tứ Xuyên lánh nạn. Một năm sau thì quân triều đình dẹp yên giặc loạn. Trong một năm chiến tranh này, số người chết — chiến sĩ của cả hai bên và thường dân –, nhiều vô kể. Triều đình bèn ra chỉ dụ cho tất cả các chùa Khai Nguyên trong toàn quốc, thỉnh chư vị cao tăng đại đức, thiết lễ tụng kinh siêu độ cho chiến sĩ và thường dân đã chết trong cuộc chiến vừa qua, đồng thời an ủi các gia đình nạn nhân.
Dân chúng thấy triều đình làm như thế, bèn bắt chước làm theo, cứ mỗi khi trong nhà có người chết, liền thỉnh chư tăng tụng kinh siêu độ. Từ đó mà lễ cầu siêu độ cho người chết trở thành một tập tục trong dân gian.”
Nhân đây, chúng tôi cũng xin kính gửi tới quý thính giả quan điểm của lão pháp sư Tịnh Không về vấn đề “làm Phật sự độ chúng sinh” và niềm tin “làm lễ cầu siêu là sẽ được siêu độ” này.
Lão hòa thượng Tịnh Không là một vị cao tăng Trung Hoa đương thời, rất có uy tín, với một quá trình giảng kinh thuyết pháp gần năm chục năm. Ngài là người đi tiền phong trong việc sử dụng hệ thống truyền thanh, truyền hình vệ tinh, mạng lưới thông tin toàn cầu và những phương tiện truyền thông hiện đại khác trong việc truyền bá Phật pháp trên khắp thế giới. Trong giới tu hành, nhiều người suy tôn ngài như một vị Tổ của tông Tịnh Ðộ. Ngài nói:
“Trong Phật pháp, nói Phật sự là giúp đỡ tất cả chúng sinh phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui, những sự việc này đều gọi là Phật sự.
Vậy còn hiện nay thì sao?
Hiện nay thì thời gian tiếp xúc với kinh điển cơ hồ ít hơn, nhìn thấy trong cửa Phật phần nhiều đều là lấy kinh sám “Phật sự siêu độ người chết”, cho rằng đây là Phật sự. Cho nên vừa nghe nói đến tiếng “Phật sự” là rất dễ sinh ra hiểu lầm. Những việc siêu độ vong linh này ở trong Phật giáo xuất hiện rất trễ …, rất trễ. Thời xưa ở Ấn Ðộ chẳng có. Khi Phật giáo được truyền đến Trung quốc, lúc ban đầu cũng chẳng có. Vậy sự việc này xảy ra như thế nào?
Năm trước, trong buổi Phật học giảng tọa tại trường Ðại Học ở Ðài Loan do lão pháp sư Ðạo An chủ trì, đã có một sinh viên nêu vấn đề này ra để hỏi lão pháp sư. Hôm đó tôi cũng có mặt nên cũng đã có nghe. Lão pháp sư nói rằng sự việc này có thể là bắt nguồn từ giữa niên hiệu Khai Nguyên triều đại nhà Ðường. Vào thời gian đó, có loạn An Lộc Sơn tạo phản, giặc giã nổi lên khắp nơi. Nhờ có danh tướng Quách Tử Nghi tài giỏi mới bình định được nội loạn.
Khi an ninh đã được vãn hồi, nghĩ tới những linh hồn chết thảm còn vất vưởng lang thang nơi đồng hoang cỏ cháy không ai thờ cúng, triều đình cho xây tại mỗi bãi chiến trường một ngôi chùa đều lấy tên niên hiệu Khai Nguyên để đặt làm tên, rồi thỉnh quý vị cao tăng từ khắp các nơi về các chùa Khai Nguyên này để tụng kinh cầu siêu độ cho các vong hồn. Từ đó, tại mỗi bãi chiến trường lớn đều có một chùa Khai Nguyên. Nguồn gốc Khai Nguyên Tự như lão pháp sư Ðạo An đã nói, là do triều đình đề xướng, mở hội truy điệu, thỉnh những vị cao tăng đại đức tụng kinh cầu siêu độ.
Từ đó về sau, trong dân gian, khi gia đình có người qua đời, thì cũng thỉnh mời tăng ni đến tụng kinh cầu siêu. Như vậy là đối với Phật pháp, đây chính là việc phụ thêm, chẳng phải là công việc chủ yếu của Phật môn, chẳng phải !
Nhưng hiện nay thì nó lại đã trở thành chủ yếu mất rồi ! Hiện nay tại rất nhiều đạo tràng, người ta lấy việc này làm công tác chủ yếu. Cho dù có giảng kinh thì thời gian làm Phật sự chính yếu này cũng rất ngắn, rất ít. Có những chùa một năm giảng kinh bốn lần, trong bốn mùa Xuân Hạ Thu Ðông, mỗi mùa giảng một tuần, một năm giảng bốn tuần, chia cho bốn mùa. Cho nên Phật sự chính thức là giảng kinh thuyết pháp để chuyển mê khai ngộ cho dân chúng thì lại đã biến thành việc phụ, còn việc bái sám, cầu siêu đã biến thành “Phật sự” chủ yếu mất rồi. Ðiều này chúng ta phải có nhận thức rõ ràng, vào thời trước, Phật sự là giảng kinh thuyết pháp”
Ðối với việc cúng bái cầu siêu, chúng tôi xin nhắc lại ý kiến mà chúng tôi đã đề ra trong một kỳ trước, rằng người Đông Phương chúng ta, từ thời xa xưa, vốn đã có truyền thống cúng bái người đã qua đời, nhất là cúng bái tổ tiên, ông bà, cha mẹ, coi như một hình thức báo hiếu, trước là nói lên lòng thành kính tưởng nhớ chư vị đã khuất, sau là nhắc nhở con cháu nên tiếp nối mỹ tục biết cảm ơn các bậc sinh thành, cũng như mỗi quốc gia đều có những ngày kỷ niệm Chiến Sĩ Trận Vong, để nói lên lòng nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ có công với đất nước vậy. Chúng ta có từ ngữ “Ðạo Ông Bà”, nghĩa là theo truyền thống từ thời xa xưa, khi ông bà, cha mẹ, thân nhân qua đời, gia đình đem hình ảnh và bát hương bày lên bàn thờ, quanh năm hương khói, đến ngày giỗ thì làm cơm cúng, đó là tập tục của hầu hết những dân tộc Ðông Phương, nhất là tại những quốc gia ảnh hưởng đạo Khổng.
Như vậy, theo phong tục cổ truyền, việc cúng giỗ cũng là điều tốt, coi như là ngày kỷ niệm, tưởng nhớ người đã khuất. Chúng ta có thể tổ chức cúng giỗ tại nhà, hoặc tại chùa. Nếu đủ phương tiện để có thể làm lễ trên chùa thì rất tốt. Trước nhất, đây là một duyên lành giữa thân nhân người chết đối với nhà Phật, có dịp cho họ tiếp cận với các vị Sư, nhân đó, có thể hiểu thêm về Phật pháp. Thứ nữa là thân nhân người chết có thể tạo chút phước qua việc cúng dường Tam Bảo, để nhà chùa có thêm khả năng ấn tống kinh sách, phổ biến Phật pháp rộng rãi, thêm phương tiện để hoàn thành các Phật sự. Các vị Sư là những Trưởng Tử Như Lai, là những Ðạo Sư, có nhiệm vụ hoằng dương Chánh Pháp song song với việc tu tập bản thân.
Phật tử cũng vậy, cũng cần tu tập bản thân và giúp phương tiện cho các Ðạo Sư trong công cuộc hoằng truyền và bảo vệ sự trong sáng của đạo Phật.
Liên Hương (ĐPK)
Nguồn: Thư viện Hoa Sen
Hỏi:
– “Anh trai em lấy chị gái của Khôi đã hơn một năm. Thỉnh thoảng, em hay sang nhà chị dâu chơi và rất mến anh Khôi. Anh ấy bị mất bàn tay trái do một lần đụng xe khốc liệt. Bây giờ Khôi có một liquor ở gần nhà. Tính anh ấy nhã nhặn, đôi lúc cũng hơi cáu giận do mặc cảm tật nguyền. Một lần Khôi nói Khôi yêu em. Em rất bàng hoàng và rung động trước lời yêu đương đó.
Nhưng gia đình em không đồng ý. Bố em bảo:
“Không được. Thằng anh mày làm rể nhà người ta rồi, mày còn làm dâu nữa để mang tiếng là ham giàu à”.
Anh trai em cũng bảo không nên. Dù biết gia đình Khôi rất giầu, em không muốn nói là tiền muôn bạc bể, nhưng em yêu anh đâu phải vì điều này. Em thương Khôi thật tình, em thương Khôi không phải vì Khôi giầu, em cũng không phải thương Khôi vì tấm lòng xót thương cho người tàn tật, nhưng càng bị gia đình cấm đoán em càng thấy gắn bó và yêu thương anh ấy hơn. Hiện nay, em vẫn chưa thuyết phục được gia đình để gia đình chấp nhận cho mối tình của hai đứa em. Em buồn quá. Chị giúp em với.”
K.O. San Jose
Đáp:
– “Em và Khôi quen biết nhau đã hơn một năm, lúc đầu là em “rất mến” Khôi, rồi khi nghe Khôi tỏ lời thì em “… rất bàng hoàng và rung động trước lời yêu đương đó.”
Như vậy, em yêu Khôi và Khôi yêu em, chị thấy không có điều gì sai trái trong mối tình này. Em và Khôi không phải là họ hàng bà con, dù là bà con xa. Chuyện anh chị em bên đàng trai kết hôn với anh chị em bên đàng gái rất thường xẩy ra, ngay cả khi anh kết hôn với chị, rồi em lại kết hôn với cháu cũng là bình thường, từ sự qua lại thăm viếng cặp đã kết hôn kia mà chàng và nàng gặp gỡ nhau, rồi tình cảm nẩy nở, chàng và nàng yêu nhau bằng mối tình trong sáng, lành mạnh. Trong đời, chị đã gặp rất nhiều cặp vợ chồng vốn là thân nhân của bên vợ và bên chồng, nhờ tình thân đó, họ biết rõ nhau, rồi đi đến hôn nhân.
Trường hợp em, lý do mà cha phản đối Khôi không phải vì tư cách hay đạo đức của bản thân Khôi, – điều mà cha mẹ nào cũng lo sợ cho con gái, nếu do mù quáng mà lấy một người tư cách, đạo đức tồi bại thì cuộc sống sau này của con mình sẽ phải lãnh nhận những khổ đau không biết tới đâu mà lường – , nhưng lại là .. “Không được. Thằng anh mày làm rể nhà người ta rồi, mày còn làm dâu nữa để mang tiếng là ham giàu à”…, là lý do không hợp lý, không chính đáng. Những loại lý do vì sợ “mang tiếng là ham giầu”, vì “không môn đăng hộ đối”, vì “là con cái của dòng họ mà gia đình mình không ưa”, v.v… và v.v… này đã làm tan nát biết bao nhiêu trái tim, chị mong em sẽ không phải là một nạn nhân.
Em nên kiên nhẫn, không cần vội vã, cứ bình thản trong tình yêu. Em và Khôi cứ việc yêu nhau trong vòng lễ giáo, đó là quyền tự do tối hậu của tất cả mọi người, không ai tước đoạt được. Hơn nữa, thời gian cũng giúp soi sáng mối tình, để biết rõ đây là tình yêu chân chính, tha thiết, hay chỉ là ngọn lửa rơm, lóa lên rồi tắt lịm trước khó khăn.
Chúng ta đang sống trong thế kỷ thứ 21, và trên mảnh đất tự do. Cho nên chỉ cần em kiên nhẫn, thời gian sẽ giúp em, đứng bên phía em. Nếu mối tình của Khôi và em cứ vững bền, trong sáng, không làm điều gì khiến cha em nổi trận lôi đình, thì chắc em sẽ nhận được phần thưởng tốt đẹp cho cuộc đời vì trước thực tế đẹp đẽ như vậy, cha em sẽ chuyển tâm.
Thân chúc em mọi điều tốt lành,
Thuần Nhã (ĐPK)
J. Krishnamurti:
– Với tất cả những kinh nghiệm, với tất cả kiến thức, với tất cả nền văn minh mà quí vị đã có, đã đào tạo nên con người của quí vị, vậy tại sao quí vị lại không có tấm lòng thương xót, trắc ẩn, trong đời sống hằng ngày của quí vị. Để tìm hiểu coi tại sao quí vị lại không có cái tấm lòng thương xót đó, tại sao nó không tồn tại trong trái tim và tâm hồn của con người, có lẽ quí vị cũng nên hỏi: “Mình có yêu ai không?”
Hỏi:
– Thưa ông, tôi muốn biết thực ra thế nào là yêu.
J. Krishnamurti:
– Thưa ông, xin cho tôi trân trọng hỏi ông rằng ông có hề yêu ai không? Có thể là ông yêu con chó của ông, nhưng con chó là nô lệ của ông. Để riêng súc vật, nhà cửa, sách báo, thơ văn, tình yêu quê hương v. v… ra một bên, ông có yêu người nào không? Có nghĩa là khi yêu người nào đó, ông không đòi hỏi một sự đáp ứng, không đòi hỏi bất cứ cái gì từ người mà ông yêu, ông không phải là kẻ lệ thuộc vào người đó. Bởi vì, nếu ông là kẻ lệ thuộc, ông sẽ sợ hãi, ghen tuông, bồn chồn khắc khoải, ghét bỏ, giận dữ. Nếu ông bị dính mắc vào người nào, đó có phải là tình yêu không? Ông thử tìm hiểu coi! Và nếu tất cả những điều kể trên không phải là yêu, tôi chỉ hỏi thôi, tôi không nói rằng đó là yêu hoặc không phải là yêu, như thế thì làm sao mà ông có được lòng thương xót, trắc ẩn? Chúng ta đòi hỏi một điều còn to lớn hơn cả tình yêu, trong khi ngay cả đến cái tình yêu bình thường dành cho con người, chúng ta cũng còn không có!
Hỏi:
– Làm sao ông có thể tìm ra được cái tình yêu đó?
J. Krishnamurti:
– Tôi không muốn đi tìm cái tình yêu đó. Tất cả những điều tôi muốn làm chỉ là liệng bỏ tất cả những cái gì không phải là yêu, giải thoát khỏi sự ghen tuông, ràng buộc.
J. Krishnamurti – On Love and Loneliness
Người dịch: Danny Việt (ĐPK)
Trong suốt cuộc đời, chúng ta hiếm khi có được những giây phút cô liêu, tịch mịch. Ngay cả những khi sống một mình, cuộc đời chúng ta cũng tràn ngập với quá nhiều nguồn tác động, quá nhiều kiến thức, quá nhiều kỷ niệm của những kinh nghiệm chúng ta đã trải qua, quá nhiều lo âu, đau khổ và mâu thuẫn khiến cho tâm trí chúng ta ngày càng trì trệ, ngày càng chai lì, hoạt động một cách tẻ nhạt, chán chường.
Có bao giờ chúng ta được sống đơn độc thanh thoát chăng? Hay chúng ta luôn luôn mang theo bên mình cả cái đống bùi nhùi của quá khứ?
Có câu chuyện về hai vị sư , một hôm, trong lúc đi trên con đường từ làng này qua làng khác, hai người gặp một cô gái ngồi bên bờ sông sụt sùi khóc. Một vị bèn bước tới bên cô, hỏi:
– Tại sao cô khóc?
Cô gái đáp:
– Thầy có thấy căn nhà bên kia sông không? Sáng nay con từ nhà lội sang bên này, không có trở ngại gì, nhưng bây giờ nước sông dâng lên, con không lội về được mà lại không có ghe thuyền gì cả.
Vị sư nói:
– Ồ, cô khỏi lo, không thành vấn đề!
Vừa nói, ông vừa bế xốc cô ta lên, lội phăng phăng qua sông, bỏ cô xuống bờ bên kia, rồi cùng người bạn đồng tu tiếp tục lặng lẽ bước.
Vài giờ sau, nhà sư kia lên tiếng:
– Sư huynh, chúng ta đã nguyện không đụng vào phụ nữ. Việc sư huynh mới làm là một trọng tội. Bộ chuyện sờ vào đàn bà làm cho sư huynh vui thú, khoái lạc lắm hay sao?
Thì vị sư đã giúp cô gái qua sông trả lời:
– Tôi bỏ cô ta lại phía sau đã hai giờ đồng hồ rồi. Còn sư đệ, chú vẫn mang cô ta theo đấy à?
Chúng ta đều thế cả. Suốt đời, chúng ta mang theo đủ loại linh tinh, không bỏ chúng lại phía sau. Chỉ khi nào chúng ta chú tâm vào một vấn đề, giải quyết ngay lập tức, trọn vẹn, không để dây dưa đến ngày sắp tới, đến phút giây sắp tới, khi đó chúng ta sẽ có thời gian thanh tịnh, cô tịch. Trong trường hợp đó thì dù chúng ta đang ở trong căn nhà đông người hoặc trên xe buýt, chúng ta vẫn đang sống trong sự tịch mịch, trống vắng. Tâm trí trong trạng thái trống vắng đó là tâm trong sáng, hồn nhiên.
Một nội tâm trong sáng, trống vắng, là điều vô cùng quan trọng để có thể tự do thoải mái trong mọi hành động, tự do đi lại, bay nhẩy. Tóm lại, lòng tốt chỉ nẩy nở từ một nội tâm khoáng đạt, không bị gò bó, cũng như trí tuệ chỉ phát triển khi có tự do. Chúng ta có thể có tự do về vấn đề chính trị, nhưng nội tâm chúng ta không khai phóng cho nên chúng ta không có khoảng trống cho tâm hồn. Thiếu khoảng trống mênh mông, thiếu sự phóng khoáng này trong nội tâm thì không có trí tuệ, không có phẩm chất giá trị nào có thể hoạt động và phát triển. Khoảng trống mênh mông và sự tĩnh lặng của tâm hồn thật là cần thiết vì chỉ khi nào tâm trí ở trong trạng thái cô liêu, tịch mịch, không bị ảnh hưởng, không bị gò ép, không bị tràn ngập với đầy dẫy những kinh nghiệm linh tinh, thì tâm hồn mới sẵn sàng tiếp thu được những điều hoàn toàn mới mẻ.
Người ta chỉ có thể nhận chân sự thật “như là chính nó” khi tâm trí tĩnh lặng và trong sáng. Mục đích của thiền định ở Đông phương là để đưa tâm trí đến tình trạng kiểm soát được tư tưởng, cũng như liên tục nhắc lại một lời cầu nguyện để cho tâm được an tịnh với hy vọng trong tình trạng đó, người ta có thể thấu suốt, giải quyết được những nỗi đau khổ của kiếp người.
Nhưng trừ phi người ta đặt được nền móng, đó là giải thoát khỏi sự sợ hãi, khỏi sự đau buồn, lo lắng và tất cả những vướng mắc mà họ tự quàng vào, tôi không thấy cách nào có thể làm cho tâm trí thật sự tĩnh lặng.
J. Krishnamurti — Freedom from the Known
Người dịch Danny Việt
(Đỗ Phương Khanh)
Hỏi:
Năm nay cháu gần 19 tuổi, còn bạn trai cháu hơn cháu 9 tháng. Vào đầu mùa Thu năm ngóai cháu gặp H. trong một buổi tình cờ và tình cảm đã đến với cháu ngay lần gặp gỡ đầu tiên ấy. Cháu rất thương H., sẵn sàng bỏ ra nhưng không mong đón nhận lại.
Tụi cháu đã đến với nhau nhưng rất ngắn, chỉ trong vòng ba tháng. Tuy rất ngắn nhưng đã có rất nhiều trắc trở xẩy ra với tụi cháu. Cho đến ngày Christmas, tụi cháu quyết định chia tay. Tuy nói là chia tay, nhưng chúng cháu vẫn gặp mặt, nói phone, thậm chí còn thân hơn lúc go out. Cháu đã có đề nghị quay lại, nhưng H. không có phản ứng. Rồi H. đi San Francisco và đã gặp người con gái khác. H. nghĩ là H. đã yêu cô ấy, nhưng thật sự không phải. Rồi đến một hôm H. nói là vì cháu ép H. quá nên H. cố tình lánh mặt cháu.
Rồi thì cháu tried to go out với một người khác. Nhưng cháu vẫn không thể quên được H. Một hôm, H. nói là H. không biết đó là cảm giác ích kỷ vì cháu đã có người khác hay vì H. vẫn còn thương cháu, nhưng khi xa cháu thì H. lại cảm thấy nhớ cháu. H. đã nói với người bạn không mấy thân gì với cháu. Nhưng chị ấy không nói với cháu mãi cho tới gần đây chị ấy mới nói với cháu. Có lần H. hỏi cháu rằng nếu H. muốn quay lại với cháu thì cháu có nhận lời hay không? Cháu đã không trả lời vì cháu muốn có thời gian suy nghĩ cũng như đó thật sự hơi bất ngờ đối với cháu. Nhưng bây giờ khi cháu nói “Yes” thì H. nói H. muốn suy nghĩ vì H. sợ sẽ làm cháu đau lòng thêm một lần nữa.
Xin nói với cô, cháu và người bạn trai mới đã không còn quan hệ. Thật ra trong chuyện này, H. có phải đang đùa giỡn với cháu phải không cô? Xin cô cho cháu biết chút kinh nghiệm vì cháu thật sự hơi bối rối.
Xin cám ơn cô.
K. Lê
Đáp:
Em hỏi “Thật ra trong chuyện này, H. có phải đang đùa giỡn với cháu phải không cô? “, cô xin trả lời ngay với em là, không riêng gì H., ngay cả em nữa, hai em đều đang đùn giỡn với cái “tưởng như là tình yêu”, nhưng thực ra, không phải là tình yêu!
Sau đây là bốn câu thơ của tác giả Kiều Anh viết về tâm trạng của những người yêu nhau chờ đợi nhau:
” Người hẹn chiều nay sẽ đến thăm
Nôn nao chờ đợi lửa thiêu lòng
Ngoài kia nắng ngả vương mầu nhớ
Ngơ ngác hồn ai, ai biết không?”
Tình yêu chân thật là như vậy, là thấy dường như khắp bầu trời không còn ai ngoài người mình yêu, chờ đợi mà người yêu không đến thì tâm hồn trống vắng, ngơ ngác, dại khờ, gặp nhau thì nhiều khi không cần nói, hai tâm hồn như là đã thông suốt với nhau.
Tình yêu chân thật là sự vắng mặt của tính toán, dùng mưu này kế nọ để giữ nhau, vân vân . . .
Em và H. gặp nhau từ đầu mùa Thu năm ngoái, đến nay cũng là một thời gian khá dài rồi, vậy là khi đó em khoảng 18 tuổi, H. gần 19. Vào tuổi đó, hai em đều mới ở giai đoạn cuối của tuổi teenager, là cái tuổi thấy chuyện gì cũng lạ, thích tìm hiểu, thí nghiệm, v.v… Khi H. gặp em, H. chưa đủ già dặn để mà tính chuyện lâu dài, cậu ta mới chỉ muốn “thám hiểm chuyện trai gái” thôi, cho nên khi H. nói “… là vì cháu ép H. quá nên H. cố tình lánh mặt cháu …”, là H. nói thật đó, em à.
Cô góp ý với em là hiện nay em cũng hãy còn quá trẻ để phải mất quá nhiều thì giờ và tâm trí lo toan chuyện “yêu và nắm giữ người mình yêu”, hao phí những ngày hoa mộng của tuổi xanh. Nếu em cứ lao vào những “cái gọi là tình yêu” kiểu này thì tâm hồn em sẽ trở thành chai đá, dạn dầy với những “trò chơi yêu đương”, không còn sự nhậy cảm để đón nhận khi có mối tình chân thật đến với em.
Hãy quay lưng lại với “cái gọi là mối tình” này đi. Tình yêu gì mà mới chưa tới một năm trời đã đầy dẫy những sóng gió, mưu toan, mất hết cả mộng mơ, em à.
Cô mượn tác giả Lê Nghi Đình Giang bài thơ này để gửi tới em như một lời cầu chúc:
Yêu và Được Yêu
Còn gì vui hơn nữa
Khi yêu và được yêu
Mang trái tim thắp lửa
Thay nắng những ban chiều
Ôi kho tàng quý nhất
Là tình yêu được trao
Và nhận về ánh mắt
Cho hồn say rạt rào
Hỡi không gian xa cách
Hỡi thời gian lãng quên
Thôi chẳng còn đáng trách
Khi lòng ta bình yên
Còn gì vui hơn nữa
Khi yêu và được yêu
Có nhau làm điểm tựa
Cho mùa xuân đi theo.
Thân chúc em sáng suốt.
Thuần Nhã (ĐPK)
Nay thì sự nhìn, hay là sự nghe cũng thế, giống nhau, là một trong những điều khó khăn nhất của đời sống. Nếu cặp mắt bạn đã bị mù đi vì những nỗi lo âu của bạn, thì bạn không thể thấy được vẻ đẹp của lúc hoàng hôn.
Phần lớn chúng ta đã mất đi sự giao tiếp với thiên nhiên. Nền văn minh đã hướng con người về phía những thành phố lớn. Càng ngày chúng ta càng trở thành những người thành thị, sống trong những chung cư đông đúc đến nỗi chỉ còn lại một khoảng trống quá bé nhỏ để mà có thể ngước nhìn lên không trung vào những lúc sáng sớm hoặc chiều tà, cho nên, quả là chúng ta đã mất dịp thưởng thức biết bao nhiêu là vẻ đẹp. Tôi không biết bạn có nhận ra rằng thật là quá ít ỏi người trong số chúng ta được ngắm cảnh rạng đông, cảnh hoàng hôn, cảnh đêm trăng, hoặc cảnh ánh trăng lấp lánh trên mặt nước.
Mất sự giao cảm với thiên nhiên, chúng ta tự nhiên ngả về sự phát triển khả năng tri thức. Chúng ta đọc hàng lố sách, chiêm ngưỡng vô số bảo tàng viện, thưởng thức nhiều buổi hòa nhạc, say sưa coi biết bao nhiêu chương trình truyền hình và tham dự quá nhiều những cuộc giải trí. Chúng ta trích dẫn nhiều vô tận những tư tưởng của các danh nhân và thảo luận không ngừng về nghệ thuật. Tại sao chúng ta phải nương tựa vào nghệ thuật nhiều đến thế? Phải chăng đó là một hình thức của sự trốn tránh, của sự kích thích?
Nếu bạn tiếp cận được với thiên nhiên, nếu bạn được ngắm nhìn sự chuyển động nơi cánh con chim, nhìn vẻ đẹp của bầu trời từng giây phút trôi qua, chiêm ngưỡng cảnh đồi rợp bóng, hoặc vẻ đẹp trên gương mặt người nào đó, bạn có nghĩ rằng bạn còn muốn đến viện bảo tàng để mà ngắm tấm hình nào nữa hay chăng?
Có câu chuyện về một vị đạo sư kia, thường giảng đạo cho các đệ tử vào mỗi buổi sáng. Một buổi sáng, khi ông ta vừa mới ngồi xuống nệm, sửa soạn thuyết pháp, thì có một con chim nhỏ sà xuống, đậu ngay ở ngưỡng cửa sổ, vươn cổ lên hót líu lo bằng tất cả nhiệt tình. Sau khi say sưa hót, nó tung cánh bay lên trời cao trong khi vị đạo sư tuyên bố:
“Bài thuyết pháp của buổi sáng nay đã hoàn mãn”.
Tôi thấy dường như những điều khó khăn nhất của chúng ta chính là sự nhìn thật rõ chính chúng ta, không những về ngoại cảnh, mà còn về cuộc sống nội tâm nữa. Khi chúng ta nói rằng chúng ta ngắm cái cây hoặc bông hoa, có thật sự là chúng ta nhìn chúng không? Hay là chúng ta chỉ thấy cái hình ảnh về nó do từ ngữ tạo nên? Có nghĩa là, khi bạn nhìn cái cây hoặc vầng mây trong ánh nắng chiều rực rỡ, liệu bạn có thật sự “thấy” ?
Thấy đây không chỉ là thấy bằng cặp mắt và tri thức, nhưng là cái thấy một cách hoàn toàn, một cách trọn vẹn.
J. Krishnamurti – Freedom from the Known
Người dịch Danny Việt (ĐPK)
Hỏi :
Vợ tôi mất cách đây 3 năm để lại 2 con, một cháu lên 5, một cháu vừa đầy tháng. Rất may, T., em gái của vợ tôi từ miền Đông dọn qua đây đang xin việc. Trong lúc chờ đợi, cô ấy đã giúp tôi trông nom đứa nhỏ. Tôi rất áy náy vì đã nhờ vả T. quá nhiều, song cô ấy bảo có chậm vài tháng xin việc cũng không sao, cái chính là giúp tôi thu xếp việc nhà ổn thỏa.
Từ ngày có mặt T., không khí nhà tôi vui vẻ hẳn lên. Con gái lớn của tôi đi học về là bám riết lấy dì không rời một bước. Còn thằng bé không có dì hát ru thì không ngủ. Tôi cũng thuờng hay chợt nghĩ đến T. Nhiều đêm nằm phòng bên cạnh, hình dung khuôn mặt T. với má lúm đồng tiền, vầng trán cao tinh nghịch, tiếng ru ngọt ngào, bỗng dưng tôi cảm thấy một tình cảm ấm áp đang dâng lên trong lòng. Ba năm trôi qua, khi con trai tôi đủ lớn để đến nhà trẻ. Mấy lần cô ấy định dọn ra ở riêng, nhưng sau đó lại đổi ý. T. bảo xa mấy đứa nhỏ nhớ lắm.
Rất nhiều lần tôi muốn bày tỏ tình cảm của mình với T., nhưng lại không thể thốt được nên lời vì cô ấy đã có người yêu đang học năm chót bên miền Đông và họ sẽ cưới nhau khi cậu ấy qua đây.
Tuần qua, T. thông báo sẽ ra ở riêng và chuẩn bị đón người yêu qua. Nghe vậy, tôi lên cơn sốt, bệnh nằm liệt giuờng. Lúc T. đến chăm sóc, tôi đã nắm tay cô ấy và khóc, nói T. đừng đi. Không biết cô ấy có hiểu được tình cảm của tôi hay không, nhưng T. hứa sẽ chăm sóc tôi cho đến khi bình phục. Tôi phải làm sao đây, nếu tôi có thể thuyết phục được T. để lấy làm vợ thì người ta có dị nghị tôi lấy em của nguời vợ đã mất không?
Dấu tên, San Jose
Đáp:
Đọc xong thư bạn, Thuần Nhã thấy phần trả lời dễ nhất là câu: “… nếu tôi có thể thuyết phục được T. để lấy làm vợ thì người ta có dị nghị tôi lấy em của nguời vợ đã mất không?”, thưa bạn, không ai cấm được người khác dị nghị, khi tự điển còn có những chữ “ngồi lê đôi mách”, ” gossip”, v.v… Vấn đề là những lời dị nghị ấy có giá trị không, có đáng cho chúng ta quan tâm không?
Trong câu chuyện này, riêng lý do cô T. là em gái người vợ đã qua đời của bạn, thì bạn không có điều gì sai trái, ngược lại, nếu chuyện đó thực sự xẩy ra, thì quả là điều may mắn cho bạn, cho hai cháu nhỏ, và cả cho tâm linh chị nhà, khi bỏ chồng con nửa đường đứt gánh, với bao nhiêu thương cảm, tiếc nuối, tủi hờn, biết rằng thần thức chị nhà đã siêu sinh được chưa? Giả như chuyện cõi vô hình là có thật, và thần thức chị chưa siêu sinh, còn lảng vảng nơi dương thế vì thương chồng, thương con, thấy em gái ruột thịt vì lòng thương cháu, ở lại lo lắng săn sóc chồng con mình, là những người mình thương yêu mà nay đành bất lực, không còn làm gì cho họ được nữa, hẳn hương linh cũng được an ủi.
Ngoài ra, tình cảm mà T. dành cho các cháu ngay khi các cháu còn rất nhỏ sẽ khiến cho các cháu đỡ bị hụt hẫng, chúng sẽ vô tư, dễ dàng chấp nhận T. như một người mẹ vậy. Trong văn học Việt Nam, có rất nhiều bậc danh nho, đạo cao đức trọng, khi vợ chết, tục huyền với em gái vợ. Ngay cuốn tiểu thuyết có tên là Nhà Nho, do một nhà nho trước tác, cũng cho nhân vật chính là một nhà thâm nho, đỗ tới tiến sĩ, lấy luôn cả hai chị em gái, ngay khi bà chị (vợ cả) còn sống sờ sờ. Cái đó, “nhà nho” ta khi xưa gọi là “hoa thơm đánh cả cụm”.
Nhưng vấn đề cần phải đắn đo, suy nghĩ, không phải về phía dư luận, mà lại thuộc về phía T. bạn ạ.
Trong câu chuyện này, nếu quả là T. đã có bạn trai, mà người đó lại hào hiệp đến nỗi sẵn sàng chấp nhận chuyện T. dọn đến ở chung với anh rể góa vợ để nàng có dịp tận tình giúp anh rể và hai cháu mồ côi mẹ, nhất là đối với cháu vừa mới lọt lòng, hoàn cảnh thật là đau thương, thì hành động này thật là trong sáng và tốt lành.
Cảm tình tốt đẹp ấy nay lại bị bạn hồi đáp bằng cách định lôi cuốn T., “nếu tôi có thể thuyết phục được T. để lấy làm vợ …”, thì tôi hơi trách bạn đấy, trách là bạn không đủ hào sảng để đáp lại thịnh tình của con người tốt lành kia, nhẫn tâm đoạt mất người yêu của anh ta.
Tôi nghĩ rằng, vai chính quyết định tương lai sẽ là T.
Nếu tình yêu của cô ấy đối với bạn trai không đủ sâu đậm, chưa phải là tình yêu, mới “tưởng như là tình yêu” mà nay lại đem lòng yêu bạn, thì cô ấy sẽ tự giải quyết, và ngả vào vòng tay bạn.
Nếu như cô ấy đến với cha con bạn chỉ thuần túy là vì tình nghĩa anh em, dì cháu, trong khi cô ấy đang yêu, đang có những chương trình riêng với người cô ấy yêu, thì bạn nên sáng suốt mà đem lòng biết ơn cô ấy và cả bạn trai của cô ấy nữa, đừng tìm cách làm sứt mẻ tình cảm của hai con người dễ thương và tốt bụng kia, khiến cho cô ấy phải khó xử, mà tình anh em cũng thành ra có những vướng mắc sau này.
Nếu chị nhà không qua đời, thì cảnh “… nhiều đêm nằm phòng bên cạnh, hình dung khuôn mặt T. với má lúm đồng tiền, vầng trán cao tinh nghịch, tiếng ru ngọt ngào,…”… có lẽ đã không lạc lõng vào tâm hồn bạn. Bởi vì thực tế là “má lúm” đó, “vầng trán ” đó, “tiếng ru ” đó không phải thuộc về tổ ấm của bạn, mà là của một tổ ấm khác, tổ ấm của T. và người yêu của cô ta, xin bạn hãy tỉnh lại.
Cầu chúc bạn gặp được bạn đời như ý mà không làm cho cặp uyên ương nào khác phải tan vỡ.
Thuần Nhã (ĐPK)
Nếu nhà giáo dục quan tâm đến sự tự do cá nhân, và không có sẵn những thành kiến, thì ông ta sẽ giúp cho đứa trẻ tự khám phá ra cái tự do đó bằng cách khuyến khích nó hiểu được môi trường sống, cá tính, tôn giáo và hoàn cảnh xuất thân của gia đình nó, với tất cả những ảnh hưởng đã có thể thâm nhập vào nó.
Nếu trong trái tim của các bậc thầy đầy ắp tình thương yêu và lòng ham chuộng tự do thì, bằng sự sáng suốt, tỉnh táo, họ sẽ giúp từng đứa học trò điều nó cần và giúp nó giải quyết những khó khăn; như thế có nghĩa là họ sẽ không chỉ hành động như điều khiển những cái máy theo phương pháp và công thức, mà sẽ tạo cơ hội cho học sinh của họ, là những con người, được tự phát triển khả năng, với sự cảnh giác và giám sát.
Nền giáo dục chân chính cũng phải giúp cho người học sinh phát hiện được điều mà hắn thấy hứng thú muốn học hỏi nhất. Nếu hắn không tìm ra được đúng ngành nghề mà hắn có năng khiếu thì sẽ uổng phí cuộc đời; hắn sẽ cảm thấy thất vọng vì phải miễn cưỡng làm công việc mà hắn không thích suốt cuộc đời hắn. Nếu nguyện ước của hắn là trở thành nhà nghệ sĩ mà lại phải vùi đầu làm một thư ký văn phòng thì đời sống của hắn sẽ chỉ còn là chuỗi ngày buồn tẻ trong sự phàn nàn bất mãn.
Cho nên, điều quan trọng là mỗi người phải tự tìm coi mình muốn làm gì, sau đó hãy cân nhắc kỹ coi có xứng đáng dùng cuộc đời vào công việc đó không. Cậu thiếu niên có thể muốn trở thành một người lính; nhưng trước khi bước vào binh nghiệp, cậu ta nên được giúp đỡ để tìm hiểu coi nghề lính có đem lại phúc lợi cho toàn thể loài người chăng.
Nền giáo dục chân chính phải giúp cho học sinh, không những chỉ phát triển khả năng của hắn, mà còn khiến cho hắn hiểu rõ được điều hắn quan tâm, hứng thú nhất. Trong một thế giới bị tan nát vì chiến tranh, tàn phá và khốn cùng, người ta phải có khả năng xây dựng một trật tự xã hội mới và một cung cách sống khác trước.
Trách nhiệm xây dựng một xã hội an bình và sáng suốt nằm chủ yếu trong tay nhà giáo dục, điều đó thật rõ ràng, không phải vì cao hứng mà đề cao quá, nhưng quả thật là nhà giáo có cơ hội tuyệt vời để có thể giúp thành đạt sự chuyển hóa xã hội đó.
Nền giáo dục chân chính không lệ thuộc vào qui tắc cai trị của từng chính quyền hoặc cung cách điều hành của từng hệ thống chính trị, mà nó nằm trong tay của chính chúng ta, trong tay các bậc cha mẹ và các bậc thầy, cô giáo.
Nếu các bậc cha mẹ mà chăm sóc đời sống tinh thần của con cái một cách chu đáo thì họ đã xây dựng một xã hội đổi mới. Nhưng căn bản là phần đông chẳng quan tâm, cho nên họ chẳng dành thời giờ cho chuyện tối quan trọng này. Họ có thời giờ để lo chuyện kiếm tiền, để giải trí, để tham dự lễ lạc, cúng kiếng, nhưng không có thời giờ để suy tính, cân nhắc coi thế nào là một nền giáo dục đúng đắn cho con cái họ. Thực tế là phần lớn dân chúng không muốn đối diện với vấn nạn này. Đối diện với vấn nạn này có nghĩa là họ phải dẹp bớt những thú vui, những trò tiêu khiển, và chắc chắn là họ chẳng muốn làm những chuyện đó. Cho nên họ gửi con đến trường, nơi mà nhà giáo cũng chẳng quan tâm đến chúng nhiều hơn cha mẹ chúng.
Tại sao nhà giáo phải quan tâm nhỉ ? Đối với họ, dậy học chỉ là một nghề, một cách kiếm tiền !
Thế giới mà chúng ta tạo ra đây sao mà hời hợt, giả tạo, xấu xí, nếu nhìn vào phía sau bức màn. Chúng ta trang hoàng bức màn, hy vọng mọi sự rồi cũng sẽ coi được, rồi cũng sẽ đâu vào đấy thôi!
J. Krishnamurti – Education and the Significance of Life
Người dịch: Danny Việt (ĐPK)
Hỏi :
Bố em là người bảo thủ. Bố em rất ghét những người anh rể của em chỉ vì các anh ấy hay lấn át vợ. Bố em không muốn em cũng bị rơi vào hoàn cảnh vậy nên bố em tuyên bố rằng bố em chỉ chấp nhận bạn trai của em nếu trước đây em và bạn trai em quen từ tình bạn đi lên mà thôi. Và cũng chỉ có con đường đó là được bố em chấp nhận mà thôi.
Nhưng trước đây bố em không hề nói với em điều đó. Mà em lại quen bạn em không từ tình bạn đi lên, chúng em quen nhau trong một trường hợp rất dễ thương và tình cảm chúng em rất gắn bó.
Bố em mới chỉ gặp bạn em 1, 2 lần nhưng bố em đã tuyên bố rằng bố em rất ghét bạn em mặc dù bố em chẳng có lý do rằng tại sao hay bạn em không tốt ở điểm nào mà bố em không thích. Bố em nói rằng em thích là quyền của em nhưng không thích là quyền của bố em, nếu em muốn em cứ tiếp tục tiến tới nhưng bố em sẽ từ em. Bố em nói rằng thà bố em ngăn từ đầu chứ không thể nào để chuyện “con đặt đâu cha mẹ ngồi đó” xảy ra với bố em.
Nghe sao thật tàn nhẫn, bố em chẳng cần biết tình cảm của em ra sao cả trong khi bố em cho rằng em cũng chẳng coi suy nghĩ của bố em ra gì cả. Ở lần gặp thứ 2 với bạn em hồi trước Tết, bố em đã xúc phạm bạn trai em bằng lời lẽ không thể là của một vị trung tá quân đội đã về hưu.
Xin chị cho em vài lời khuyên. Em có nên dẫn bạn em tới nhà nữa không? Chúng em phải có cách cư xử sao cho hợp ý với bố em? Có phải thành kiến ban đầu là không thể vượt qua không vậy chị?
Em xin cám ơn chị rất nhiều.
Em H., San Jose
Đáp:
Bố em là người thương các con gái theo kiểu cổ điển, kiểu coi các con như những loại cây dây leo, từ bé đã được dậy dỗ theo kiểu lệ thuộc, chỉ biết bám vào cây cổ thụ là cha mình, kết quả là các chị của em khi đi lấy chồng cũng đã có thói quen tâm lý nương dựa như vậy, cho nên mới bị chồng lấn át. Bố tưởng là nếu chồng em sau này đã từng là bạn em thì em sẽ tránh được tình trạng bị lấn át như hoàn cảnh các chị của em là điều mơ ước hão huyền. Có câu “phải ăn với nhau một ký muối mới biết được lòng nhau”. Cùng với nhau ăn hết một ký muối có nghĩa là cùng ăn chung với nhau một thời gian dài lắm, liệu em có thể có được người bạn trai chơi với nhau lâu như vậy chưa, để hy vọng đã biết rõ tính tình của nhau, để tin rằng sau này sẽ không bị lấn át?
Vợ chồng sống chung với nhau, nhiều khi người ngoài không thấu suốt được. Họ có những thói quen, ước hẹn bất thành văn riêng, người ngoài nhìn, tưởng người này đang lấn át người kia, chắc là ngưòi bị lấn át khổ lắm, nhưng thực tế nhiều khi họ lại thấy vui vì “được chồng lấn át”. Cho nên mới có câu: “trái tim có những lý lẽ mà lý trí không thể hiểu nổi”. Vậy thì cứ “đèn nhà ai nhà nấy sáng” là tiện nhất.
Các chị đã đi lấy chồng, bố em nên mừng thấy gia đình con cái bền vững, không nên đi sâu vào chi tiết quá mà nẩy ra những thành kiến với các con rể, cũng có thể gây nên những bất đồng ý kiến, làm cho các chị khó xử.
Bố em có quyền thích hay không thích người bạn của em, điều đó rất đúng, Nhưng em cũng có quyền tán thành hoặc không tán thành cái quyền ấy của bố em, nếu nó có lý hay vô lý. Nếu vì những lý do chính đáng mà bố không đồng ý thì chị cũng đề nghị em nên xét lại. Nhưng nhìn toàn bộ vấn đề của em thì lý do của bố đưa ra là không chính đáng, em không cần phải vì cái lý do không chính đáng đó mà đành chịu tan vỡ mối tình của hai em.
Đọc câu ‘’Ở lần gặp thứ 2 với bạn em hồi trước Tết, bố em đã xúc phạm bạn trai em bằng lời lẽ không thể là của một vị trung tá quân đội đã về hưu.’’, chị thấy em tỏ ra ngạc nhiên, như thế có nghĩa là bố em khi xưa không có những hành động thô lỗ, mà nay thay đổi tính tình nên mới thế, làm chị nghĩ đến câu tục ngữ: “Khi cha cho con, cha con cùng cười, khi con cho cha, cha con cùng khóc”, nói lên rằng khi con còn nhỏ, cha âu yếm nhìn đứa con bé bỏng, chiều chuộng nó, cho nó cái này cái kia với niềm vui, từ đáy lòng đã có những mơ ước hoa mộng về tương lai của con. Khi cha già yếu bất lực rồi, con tặng quà cho cha, nhìn mái tóc bạc, gương mặt nhăn nheo, thấy trước những ngày tháng còn lại của cha, mà mủi lòng rưng rưng nước mắt, khiến cho cha cũng khóc theo.
Bố em xưa kia là một sĩ quan, đã từng là cấp chỉ huy, nay già rồi, tấm thân lưu lạc đất khách quê người, trở thành bất lực, cũng có nhiều hờn tủi lắm. Bởi vậy, em nên rất khéo léo tránh cho bố cái mặc cảm nay bố đã trở thành người vô dụng, không còn chút uy tín nào ngay đối với con ruột của mình, dù rằng đòi hỏi của bố là vô lý (nhưng dĩ nhiên là bố chủ quan, không biết là mình vô lý)
Các em còn đầy ắp ngày tháng của tương lai. Tạm thời, em đừng vội làm bố em buồn, nên tránh chuyện dẫn người yêu của em về nhà. Thời gian đứng về phía các em. Cuộc đời vô thường, có nghĩa là mọi sự đều luôn luôn thay đổi, chắc chắn là bố em sẽ thay đổi quan điểm và nếu tình yêu của hai em đủ bền chắc để kiên nhẫn chịu đựng thử thách, mối tình của hai em sẽ có kết quả tuyệt diệu.
Thân chúc hai em sẽ cùng nhau xây dựng tổ uyên ương
Thuần Nhã (ĐPK)
Ðời sống không thể thiếu sự quan hệ giữa mọi người với nhau, nhưng mà chúng ta đã làm cho những mối liên hệ ấy trở nên đau khổ, đáng chán, vì chúng ta đã đặt nền tảng trên căn bản cá nhân và tình yêu chiếm hữu.
Người ta có thể yêu mà không chiếm hữu chăng? Bạn sẽ tìm được câu trả lời đích thực, không phải là trong sự lẩn trốn, không phải bằng những lý thuyết cao siêu, hoặc bằng niềm tin, nhưng là xuyên qua sự thấu hiểu về căn nguyên của sự lệ thuộc và sự chiếm hữu. Nếu người ta thấu hiểu sâu xa cái vấn đề liên hệ giữa họ với người khác thì họa may chúng ta có thể giải quyết được những vấn đề rắc rối trong sự liên hệ giữa chúng ta với xã hội, vì xã hội cũng chỉ là sự mở rộng từ chính chúng ta mà thôi.
Cái môi trường sống mà chúng ta gọi là xã hội đó được tạo dựng bởi những thế hệ quá khứ; chúng ta chấp nhận nó, vì nó đã giúp chúng ta duy trì lòng tham, thói chiếm hữu và ảo tưởng. Trong cái ảo tưởng này, không có sự hợp nhất và an bình. Khi mà người ta còn không thấu hiểu nổi mối liên hệ giữa từng cá nhân đối với nhau thì người ta chưa thể có một xã hội an bình.
Vì mối liên hệ giữa chúng ta với nhau đặt nền tảng trên tình yêu chiếm hữu cho nên chúng ta cứ phải tỉnh giác, về phần chúng ta, đối với sự phát sinh, nguyên nhân và hoạt động của cái mối liên hệ đó. Khi chúng ta đã thấu hiểu sâu xa cái tiến trình chiếm hữu cùng với tính cách hung bạo, sự sợ hãi và phản ứng của nó, chúng ta sẽ thấu triệt một sự trọn vẹn, toàn hảo . Chỉ riêng sự thấu triệt này đủ để giải thoát tư tưởng con người ra khỏi sự lệ thuộc và chiếm hữu.
Chính là từ nội tâm mà con người tìm ra được sự hài hòa trong mối liên hệ giữa mọi người, chứ không phải là từ người khác hoặc từ môi trường sống mà người ta đạt được điều đó.
J. Krishnamurti — On Relationship.
Người dịch: Danny Việt (ĐPK)
Hỏi:
Năm nay em 24 tuổi, làm thư ký cho một hãng sản xuất dụng cụ y khoa. Người yêu của em là M., 28 tuổi. Chúng em yêu nhau đã trên 3 năm, trải qua biết bao nhiêu là sóng gió vì gia đình M. giầu lớn, quen biết nhiều, không muốn M. lấy em là người ít học, không xứng đáng với anh ấy (ảnh có bằng Master).
Cũng nhờ M. kiên trì yêu em nên mấy lần gia đình mai mối ảnh với những con cái của các bạn cha mẹ mà ảnh đều từ chối. Nay thì gia đình ảnh cực chẳng đã phải bằng lòng cho ảnh cưới em vì ảnh hăm nếu không thì ảnh sẽ xin đi làm overseas. Nội chuyện đám cưới cũng phiền lắm. Gia đình ảnh thì muốn làm lớn cho nở mặt, muốn đám cưới ở khách sạn Mỹ như cái mốt bây giờ. Họ nói rằng nhà họ quen biết rộng, toàn tai to mặt lớn, mời tới gần cả ngàn người, không có nhà hàng Tầu hay Việt Nam nào mà chứa cho nổi. Đồng thời cũng nói với chúng em là ăn ở đó thì mắc, mỗi người phải tốn cỡ trên 150 dollars, nhưng chuyện đó thì khỏi lo lỗ vốn, khách đến ăn sẽ mừng lại cho mình đủ để trả tiền nhà hàng, tiền mừng sẽ tùy theo cấp bậc của nhà hàng chớ không phải mời tới đâu họ cũng mừng đồng hạng mà lo. Về chuyện này bố mẹ em nói rằng như thế là họ không muốn thân nhân và bạn bè bên em tham dự rồi, vì phần lớn các bác bạn ba em đều là HO, hai vợ chồng mà đi thì phải tốn 300 dollars, tiền đâu ra!
Ngay cả chuyện sắp tới là đám hỏi cũng nhức đầu lắm. Bố mẹ em thì muốn đơn giản thôi, phận mình nghèo, chỉ xin một cặp đèn cầy, một cặp rượu, một mâm trái cây, một chục hộp bánh và trà để cúng ông bà là đủ. Nhưng bên nhà ảnh nói làm vậy mang tiếng là nhà họ kẹo, đòi mang một con heo quay, một mâm xôi gấc và các loại bánh và trà hảo hạng, đồng thời muốn gia đình em mời bên đàng trai ở lại dự tiệc bánh hỏi thịt quay cho đúng theo truyền thống…
Gia đình em ở apartment, chật chội lắm. M. thì rất thương em nhưng cũng sợ gia đình, không dám cãi nhiều, chỉ chống đối một cách tiêu cực thôi.
Em không biết phải làm sao để gia đình M. chịu làm đám cưới đơn giản hơn, thí dụ mời ăn tại nhà hàng Việt Nam mình, để cha mẹ em có thể mời bạn bè chung vui cho khỏi tủi thân, chị giúp em với.
Ng. H- Tustin
Đáp
Em Ng. H rất thương,
Đọc thư em, chị hoàn toàn cảm thông với nỗi phiền muộn của em. Quả là như em viết “hai vợ chồng mà đi ăn cưới em phải tốn 300 dollars, tiền đâu ra!”, chị biết có một số vị mỗi khi nhận được Thiệp Báo Hỉ là mặt mũi nhớn nhác, vội vã mở ra, chỉ đến lúc không thấy có “Thiệp Mời” đi nhà hàng mới mừng rỡ thở phào. Nếu có thiệp mời – mà lại mời đi Hotel này nọ – thì nét lo âu hiện lên mặt rất rõ ràng, bắt đầu “động não” để tìm lý do từ chối, thí dụ “hôm đó nhà có giỗ”, “đi out of town”, v . v… Chuyện hậu trường “vui buồn cưới hỏi” kể rằng có ông kia khi bước chân vào hotel để dự đám cưới, được bố chú rể ra đón, vừa cười vừa nhắc khéo:
“Chà, ở đây họ cứa cổ thiệt ta, chỉ riêng chỗ ngồi, chưa tính tiền ăn do nhà hàng Tầu mang lại, đã gần trăm rưởi mỗi người rồi”.
Báo hại ông khách lót tót mang tấm card mừng kèm theo có một trăm, bèn phải giả bộ quên đồ, chạy ra xe ký lại cái check thành ra hai trăm! Oan ôi ông Địa!
Dĩ nhiên là đồng thời cũng có những người rất thích đi ăn cưới, nhất là đám cưới lớn, vì nơi đó chính là môi trường lý tưởng để biểu diễn màn “trình diễn với một vẻ khiêm tốn”, có khán, thính giả chiêm ngưỡng những biểu tượng của sự hơn người như về nhan sắc, về trang sức, về những thành công lớn, những bằng cấp cao của con cái, về những tài sản lẫy lừng mà gia đình sở hữu, và cả về những nguồn gốc rất gồ ghề của những ông cố ông sơ, những tôn thất Đinh Lê Lý Trần, hoàng thân quốc thích nào đó xa tít mù khơi, v . v … Với những vị này thì năm ba trăm mừng cưới không thành vấn đề, trái lại, còn là dịp mua vui lớn, niềm hãnh diện tưng bừng còn tràn đầy hương vị cả trong giấc ngủ sau đó nữa, em à.
Trong lễ hỏi, bên nhà M. đòi “gia đình em mời ở lại dự tiệc bánh hỏi thịt quay cho đúng theo truyền thống…” là một điều tức cười. Có những cái gọi là “truyền thống” nhưng cũng đã thay đổi nhiều, mất nguyên bản của “truyền thống” rồi, thí dụ “truyền thống heo quay”. Truyền thống này bắt nguồn từ một tục lệ thời cổ, nhà trai khi đi đón dâu phải dắt theo những con vật sống như trâu, bò, để đổi lấy cô dâu, theo như hôn ước. Vì nhà gái đã mất một “nhân công”, nên những con trâu bò này sẽ thay cô ta mà làm lụng trả hiếu cho gia đình. Từ trâu bò là những con vật to kềnh, xã hội chuyển đổi dần thì tục lệ cũng chuyển đổi theo cho phù hợp với trào lưu văn hóa. Thay vì đưa con trâu con bò để làm ruộng cho gia đình cô dâu thì nay chỉ còn đưa qua con heo tượng trưng, kèm theo là tiền dẫn cưới để trong mâm quả trùm mảnh khăn hồng xinh xỉnh xình xinh thôi. Nhưng chẳng lẽ lại nghễu nghện dắt con heo đi nghênh ngang trên đường, cho nên nó được hân hạnh chui vào lò quay trước khi leo lên cái khay sơn đỏ chót, mồm ngậm một đóa hoa hồng như cái bình cắm hoa tội nghiệp nhất trên đời!
Vì có con heo quay nên mới có “truyền thống” bánh hỏi thịt quay. Nay cứ bỏ phắt luôn cái “truyền thống heo quay”, bắt nguồn từ “truyền thống” lạc hậu “đổi vật lấy người” là mọi sự sẽ đơn giản, ăm ắp tình cảm hơn nhiều.
Trong chuyện các em, có lẽ chỉ M. là có thể thuyết phục cha mẹ anh ta. Nếu M. quả đã có gan tính đi overseas, sau đó, cha mẹ anh ta đã nhượng bộ, thì cha mẹ M. cũng mềm lòng với con, không đến nỗi khắt khe quá với anh ta đâu. Có thể là em và M. nên nhờ vào đồng minh thời gian. Đồng minh này luôn luôn đứng về phía tuổi trẻ. Các em cứ thưa với các bậc cha mẹ là hãy từ từ, chờ vài năm nữa cũng được, để các ngài có thời giờ nghĩ lại. Các em chờ vài năm dễ dàng, nhưng cha mẹ mong con có vợ có chồng, ông bà mong có cháu bế thì sốt ruột lắm. Điều đó cũng nẩy sinh từ lòng thương yêu con cháu mà ra thôi. Cho nên mình đành phải hy vọng quý vị ấy bỏ cuộc xuyên qua nhược điểm tình cảm rất đáng kính này vậy. Có thể là thấy M. lì ra, không tính chuyện đám cưới nữa, cha mẹ anh ta sẽ chiều anh ta, đồng ý cho các em tổ chức hôn lễ đơn giản, có sự hòa đồng giữa hai gia đình hơn, ngay trong mùa cưới năm nay, biết đâu!
Hôn nhân là một trong những nghi lễ trọng đại nhất của cuộc đời, vì khởi đi từ đó, một gia đình mới được hình thành. Cho nên, hôn lễ nên được cử hành trong bầu không khí trang nhã, tràn ngập niềm vui chân thật, nồng ấm. Danh sách mời tham dự nên là những thân nhân, họ hàng bằng hữu gần gũi, thật lòng quý mến hai gia đình cô dâu chú rể, muốn đến để cùng chung vui, để thành thật chúc phúc cho cặp uyên ương chắp cánh bay những nhịp đầu của tình nghĩa vợ chồng. Không nên vì muốn phô trương mà biến những buổi tiệc cưới thành những cuộc triển lãm, thi đua nhau phát triển khả năng xa hoa, phung phí tiền móc ra từ túi gia đình có hỉ sự và túi thực khách tham dự. Được xếp vào hàng ngũ thân hữu gần gũi, thật lòng yêu quý này thì mỗi đám cưới có chừng 500 thực khách cũng là quý lắm rồi, có thể tổ chức tại những nhà hàng Việt Nam, vừa ấm áp tình tự dân tộc, vừa giúp đỡ cho nền thương mại của cộng đồng thăng tiến.
Thuần Nhã cũng tha thiết mong quý vị “mạnh vì nhiều gạo, bạo vì nhiều tiền” rủ lòng thương nhìn xuống đám dân nghèo như Thuần Nhã, đừng mời đi ăn cưới tại những nhà hàng lớn quá, khiến cho người tham dự phải cắn răng ký tấm check “Mừng Cô Dâu Chú Rể” có con số vừa viết vừa hoa cả mắt, ký xong rồi là ngân quỹ hổng một lỗ to đùng, chỉ có nước ăn mì gói nguyên tháng để bù vào chỗ thâm thủng.
Chúc hai em được mọi điều như ý.
Thuần Nhã (ĐPK)
Chiếc xe Jeep chồm lên rồi ngừng lại. Ân nhẩy xuống, tay xách va li của Hạnh:
– Tới rồi chị ạ. Đợi tôi một chút tôi trình giấy nhé.
Rồi Ân buông cái va li, đi vùn vụt. Hạnh leo xuống đất. Trời mới hơi hừng sáng. Sương phủ mờ mờ. Xa xa, từng dãy phi cơ nằm im lìm. Cách chỗ nàng đứng chừng hai chục thước là hai chiếc máy bay lớn mầu trắng bạc, thấp thoáng bóng người qua lại. Văng vẳng bên tai Hạnh có tiếng ồn ào, tiếng gọi nhau ơi ới. Một bà mẹ dắt đứa con đứng bên cạnh cửa máy bay cứ vẫy mãi ông chồng đứng dưới đất. Cạnh đó là một cặp vợ chồng coi bộ như mới cưới. Cô vợ trẻ đưa khăn lên lau nước mắt hoài. Còn anh chồng thì cứ nắm lấy bàn tay vợ mà vuốt. Chắc là anh chàng dỗ dành. Bất giác, Hạnh thở dài. Nàng tưởng tượng ra cái anh chàng ấy trong tương lai, sẽ sống trong một căn nhà chật hẹp, với một bầy con nghịch ngợm bẩn thỉu, anh chàng sẽ cau có, hết cả sự dịu dàng âu yếm như lúc này. Hạnh thấy chán nản cùng cực. Nàng chỉ muốn chóng được lên máy bay, chóng ra tới Huế.
Nàng tưởng tượng tới lúc nằm vào giường chị Dung, trong lòng chị mà nói, mà than thở cho vơi nỗi buồn bực. Nàng sẽ ở lại chơi với chị mãi cho tới bao giờ Khánh đi tìm nàng. Nếu Khánh không tìm, nàng sẽ đi luôn. Nàng chán quá rồi. Chán đời sống buồn tẻ, ngày nào cũng như ngày nào. Chán bộ mặt khó đăm đăm của Khánh. Chán sự cau có gắt gỏng. Nàng muốn đạp đổ tất cả. Tình yêu là như thế sao. Là sự nhàm chán, bình thản đến thế hay sao. Loan muốn đi thật mau, thật mau, để được nằm vào lòng chị cho vơi niềm u uất.
Nàng đã cầy cục cả ngày hôm qua để mua vé máy bay mà không được. Chiến tranh làm đường bộ trở nên gần như vô dụng. Sự di chuyển trông cả vào đường hàng không. Mua vé phải chen chúc như đi lĩnh chẩn. Hạnh đã tìm bao nhiêu người quen nhờ mua hộ mà đành chịu. Sau cùng may gặp Ân, chồng một người bạn cũ, làm phi công. Ân sốt sắng đề nghị sẽ xin cho Hạnh đi bằng máy bay quân sự.
Với Hạnh bây giờ thì tất cả phương tiện nào đưa nàng tới Huế đều tốt. Nàng thèm được nép vào lòng chị, nàng cần được bàn tay xinh xắn gầy gò có nốt ruồi nơi ngón cái của chị vuốt vào mái tóc. Nàng nhắm nghiền mắt lại cho hai hàng nước mắt lăn xuống. Sương lạnh thấm vào người Hạnh. Nàng rùng mình. Có tiếng Ân bên cạnh làm Hạnh mở choàng mắt. Ân chỉ vào cái máy bay gần nhất có người lên xuống tấp nập và nói:
– Tôi vừa cố dàn xếp cho chị đi cái này mà không thể được. Máy bay chở nặng rồi. Thôi chị đành đi chuyến sau vậy.
Hạnh hỏi :
– Chuyến sau thì bao giờ khởi hành hở anh ?
Ân chỉ tay qua phía bên kia trả lời ngập ngừng:
– Khởi hành thì cũng ngay bây giờ đây. Nhưng chỉ hiềm vì …
Vừa nói, Ân vừa xách va li lên. Hạnh bỡ ngỡ bước theo. Bỗng nhiên, nàng đứng sững lại. Trước mặt nàng là ba chiếc quan tài phủ cờ chung quanh có mấy người lính ôm súng ngồi la liệt. Ân dừng lại nhìn vào mắt nàng :
– Đó, tôi cũng hơi ngại chị sợ. Vậy nếu chị không muốn thì để tôi xin lại giấy phép cho chị đi ngày mai.
Thoáng nghĩ lại nỗi bực bội âm ỷ từ mấy tháng nay, nhớ lại nét mặt buồn tẻ của Khánh, Hạnh vội vã:
– Thôi, anh cho tôi đi ngay chuyến này.
Vừa lúc đó, một xe nhà binh chở tới mấy đứa trẻ con và bốn người đàn bà. Tất cả đều chít khăn tang trắng và có người mặc áo trắng nữa. Xe vừa ngừng thì một người đàn bà đã lao xuống đâm bổ vào chiếc quan tài nằm giữa gào lên :
– Anh ơi ! Anh nằm đây cả đêm có lạnh không ? Nói đi anh, trả lời em đi. Nói với em một lời đi…
Tiếng khóc khàn khàn như đặc lại ai oán. Hạnh sững sờ cả người. Mấy đứa trẻ trên xe đã tụt cả xuống đất, đứng sau lưng bà ta. Bây giờ thì bà ta ôm lấy quan tài mà khóc. Mấy đứa bé cũng bật lên khóc.
Mé bên kia một người đàn bà ngồi ôm mặt bên chiếc quan tài ngoài cùng. Đầu bà ta gục xuống. Mái tóc loà xòa phủ lên lá cờ ngay cạnh chỗ tấm ảnh một người đàn ông mặc quân phục. Lẫn trong tiếng khóc, Hạnh nghe có tiếng “con ơi”. Tiếng khóc nghe não nuột như từ chốn xa xăm nào vọng về. Hạnh chợt nghĩ đến con mình, bé Nga. Con bé Nga với đôi má xệ, với cái bụng phệ, với bàn chân thô. Không biết lúc này nó đã dậy chưa. Chị vú có có pha sữa cho nó không? Nó có đái dầm ra quần không? Hạnh muốn quay về với nó. Nhưng nghĩ đến chồng, nàng lại bực. Thật ra thì nàng cũng không có cớ gì lớn lao để giận chồng. Chỉ là sự bực bội chán nản mà thôi. Nàng thèm được thay đổi không khí. Thèm được thấy lại mình xưa kia. Nàng nôn nóng nhìn về phía chiếc máy bay.
Những anh lính hồi nãy ngồi la liệt dưới đất đã đứng thành hai hàng dọc nối liền với cửa máy bay. Tất cả đều bồng súng chỉnh tề. Một tiếng hô vang, Hạnh thấy sáu người lính khác cúi xuống từ từ nâng chiếc áo quan ngoài cùng lên vai. Bây giờ Hạnh mới trông thấy người ngồi khóc là một bà cụ già, mái tóc đã bạc. Bà cụ ôm chặt bát hương trong tay, ôm trong đôi cánh tay mà ngày xưa đã dùng để ôm người con khi còn nhỏ. Hạnh nhắm mắt lại. Hình ảnh con bé Nga lại chập chờn ẩn hiện. Hạnh như còn thấy nó nhe răng cười, tay nó vẫy vẫy nàng mỗi khi nàng đi đâu về. Có tiếng người đàn bà thét :
– Ới anh ơi ! Nay anh về quê cha đất tổ. Ngày anh đi, anh hẹn nghỉ phép sẽ về sửa lại cái mái nhà dột, anh nói dối em, anh bỏ em lại, anh đi một mình…
Chiếc áo quan thứ nhì đang từ từ tiến vào lòng máy bay. Dưới sân chỉ còn lại một chiếc và người đàn bà gục đầu suốt từ lúc nãy vẫn như ngồi bất động.
Ánh nắng ban mai chiếu le lói vào thân máy bay. Hạnh nghĩ đến Khánh lúc này chắc đang sửa soạn đi làm. Hình ảnh Khánh hiện lên với nét mặt buồn buồn lúc nàng ra xe hẹn một tháng mới trở về. Khánh nghĩ gì? Hạnh không muốn tưởng tượng lan man thêm nữa.
Trên sân đã vắng. Ân xách chiếc va li dùm Hạnh tiến về phía máy bay. Rồi chàng đỡ Hạnh bước vào. Nàng đưa mắt nhìn. Ngay dưới về phía đuôi, mấy người lính ngồi ngổn ngang, súng dựa vào mấy chiếc ba lô. Có người đang tháo giầy bốt, có người đang moi móc tìm thuốc lá. Trên hai hàng ghế sát thành máy bay từ mé giữa trở xuống, người ngồi chật ních. Nhưng từ giữa máy bay trở về phía đầu chỉ có thưa thớt mấy người mặc đồ tang mà thôi. Giữa hai hàng ghế là ba chiếc quan tài nằm nối đuôi nhau. Rồi tới cái rương bằng thiếc mầu xanh để sát chiếc áo quan thứ ba, trên mặt cũng cắm mấy nén hương.
Hạnh đứng ngập ngừng. Chợt nàng có cảm tưởng như có người nhìn mình. Hạnh ngẩng lên vừa gặp ánh mắt người đàn bà xõa tóc hồi nãy. Ánh mắt thản nhiên lạnh lùng. Bụng bà ta lớn vượt mặt. Nàng cúi xuống xách va-li tiến lại phía bà ta. Cửa phi cơ đóng lại. Máy nổ ầm ỳ. Người đàn bà có bầu sửa lại cái bát hương trên mặt áo quan cho ngay ngắn. Đầu kia, sát phòng máy, bà cụ già giở tràng hạt lẩm bẩm tụng kinh.
Máy bay bò đi từ từ rồi dừng lại, rồi rú lên, phóng nhanh. Thảm cỏ xanh lao vun vút giật lùi. Ruột gan Hạnh nhẹ bỗng. Trước mặt Hạnh, ba dứa trẻ ôm chầm lấy mẹ. Đứa giữa là con gái cỡ năm tuổi, tai đeo đôi khuyên vàng, tóc nó uốn quăn tít giống mẹ. Mẹ nó mặc chiếc áo dài trắng. Tay bà ta đánh móng đỏ nhưng đã tróc loang lổ verni với những ngón thô kệch nổi gân. Trên miệng chiếc giỏ bên cạnh bà, Hạnh còn thấy một chiếc guốc cao gót mầu xanh lá cây.
Phi cơ đang bay lướt trong từng đợt mây. Hơi lạnh tỏa ra làm Hạnh rùng mình. Nàng mở va-li lấy chiếc khăn quàng. Thoang thoảng đâu đây có mùi ung ủng. Ngồi cạnh Hạnh về mé ngoài là một bà trạc bốn mươi. Người bà mập mạp và đẹp. Bà móc túi lấy lọ dầu ra bôi rồi trao cho Hạnh:
– Cô xoa đi. Quái, nghe như có mùi sầu riêng ấy. Cái giống này cứ lúc nào máy bay lên cao là tỏa mùi ra, úi dà, tệ lắm. Tôi đã bị một lần rồi. Của cô đấy hả?
Hạnh lắc đầu. Nàng cảm thấy choáng váng. Bà kia vội dí lọ dầu vào mũi Hạnh. Mắt Hạnh hoa lên. Trước mặt Hạnh, cái áo hoa của bà nhảy múa nhòe nhoẹt. Đôi môi mọng đỏ của bà như cười. Hơi dầu làm Hạnh tỉnh dần. Nàng cảm ơn bà bạn tốt bụng. Bà ta chuyển chai dầu cho Hạnh bảo đưa cho bà có bầu. Chiếc máy bay lắc mạnh. Chiếc bát hương trên quan tài giữa chao đi. Bà có ba đứa con chụp lấy ôm vào lòng rồi oà lên khóc:
– Ối anh ơi ! Anh bảo anh nghỉ phép anh về với em. Anh bảo chúng mình sẽ về quê ngoại. Anh bảo em uốn tóc. Anh bảo em may áo giống bà thiếu úy San. Nay anh đi đâu bỏ em bơ vơ thế này.
Mọi người nhìn về phía bà. Tiếng bà gào át cả tiếng máy bay:
– Anh ơi ! Anh mua guốc cho em làm gì. Em có thích uốn tóc hồi nào đâu. Bây giờ anh ở đâu…
Mấy anh lính choàng dậy càu nhàu vu vơ. Mé đầu máy bay bà cụ già tụng kinh lớn hơn. Hạnh nghe loáng thoáng… “vạn kiếp nan tao ngộ… “. Khuôn mặt bà cụ nhăn nheo. Nước mắt bà cụ lăn chậm chạp trên hai gò má đen sạm. Bà cụ tụng kinh không ngừng. Ba đứa bé thì ngơ ngác nhìn tất cả mọi nơi, từ trần xuống sàn máy bay. Thỉnh thoảng thằng lớn nhất lại nhìn ra cửa. Hạnh đoán có lẽ chúng đi máy bay lần đầu. Con bé giữa mặc áo đầm nylon. Bà mẹ cúi xuống lục ở cái giỏ lấy ra hai quả xoài đặt lên lá cờ phủ áo quan rồi lại kể lể:
– Hôm anh đi em đã bảo anh ăn xoài. Anh kêu đau bụng không ăn để nhường cho con. Bây giờ anh ăn đi anh ơi ! Anh thích ăn xoài mà.
Bỗng nhiên, bà có bầu ngồi canh Hạnh gục xuống. Hạnh vội đỡ bà ta lên. Mặt bà ta xanh xám. Bà mặc áo hoa ngồi bên trái Hạnh vội dốc lọ dầu vào đầu bà có bầu rồi phân trần:
– Đấy cái hơi độc thế đấy. Phải đổ dầu vào kẻo nguy.
Lúc này thì hầu như cả mọi người đều biết là không phải hơi sầu riêng. Nhưng không ai xác nhận rõ là mùi gì cả. Máy bay lượn làm chiếc áo quan ngoài cùng hơi nghiêng về phía Hạnh. Nàng hoảng hốt rút chân lên, e dè nhìn vào những vết loang lổ trên lá cờ.
Mé sau, cái rương xanh xô vào phía mấy người lính. Một anh đẩy cái rương lại chỗ cũ rồi chép miệng:
– Cái ông này thì còn được vài ký thịt, quá lắm là thêm bàn tay thôi chứ gì mà cũng chạy tới chạy lui.
Người bên cạnh cãi :
– Bậy nào, đâu đến nỗi.
Người thứ nhất trợn mắt:
– Cậu thì biết cái cóc gì. Hồi nãy, chính tớ rinh lên mà. Nhẹ hểu à.
Hạnh vỗ vỗ lưng bà bụng bầu. Bà ta đã tỉnh tỉnh. Đầu bà ngả vào vai Hạnh. Hạnh gục đầu vào cửa sổ nhìn xuống. Dưới kia là dòng sông uốn khúc, nhỏ như trong mô hình triển lãm với những thửa ruộng như ô bàn cờ. Những mái nhà nhỏ bé làm Hạnh liên tưởng đến những mái nhà, mái chùa mà dạo bé Hạnh vẫn loay hoay ngắm nghía ở trong bể non bộ của ông ngoại. Tất cả lướt qua phía dưới, thanh bình và êm đềm quá. Nhưng những mái nhà hiền lành kia liệu có bao bọc những cuộc đời êm đềm hạnh phúc, hay cũng đầy dẫy những trái tim tan nát như những gia đình này. Bất giác Hạnh gợn lên niềm nhớ thương chồng con. Nàng cũng có một mái nhà mà sao nàng lại bỏ đi. Đời sống bình thản và hiền lành. Nó không có gì ầm ỹ đặc sắc. Nhưng khi sự ầm ỹ đặc sắc xẩy đến, như sự chết, sự chia ly, thì trái tim đã tan nát rồi.
Máy bay đi trong đám mây. Hạnh nhìn thấy như từng quả núi nhỏ bằng mây trắng vây phủ quanh nàng. Nàng nhớ lại thuở bé cứ ước ao sau làm nữ hiệp để đằng vân đi cứu nhân độ thế. Nàng ngậm ngùi nghĩ đến chồng. Nàng lại tự trách mình sao hay đòi hỏi. Giá nàng biết tự quên mình thì có lẽ Khánh sung sướng hơn nhiều. Nàng chợt nhớ lại vẻ ngượng nghịu của Khánh lúc nàng bóng gió so sánh cảnh nghèo nàn của nàng với sự giầu sang của các bạn. Nàng thấy mình quá tàn nhẫn….
Vai Hạnh nhẹ bỗng hẳn đi. Bà có bầu đã ngồi dậy. Hạnh liếc bà ta. Mắt bà cứ nhìn đăm đăm về phía đầu quan tài. Có tiếng bà lẩm bẩm rất bình thản:
– Tôi đi tìm nhà tôi từ ngoài mặt trận. Tôi đi tìm khắp các nhà thương, nhà xác. Tôi lật từng cái xác để tìm nhà tôi đã mười hai ngày. Lật từng cái xác…
Mắt bà như bất động. Mặt bà cũng bất động, chỉ có miệng bà mấp máy :
– Từng cái xác, từng cái xác đã thối, đã xình…
Hạnh bỗng rợn cả người. Nàng kinh hoàng nhìn bà ta. Bà ta gầy gò xanh xao là thế, bụng chửa vượt mặt, lại yếu đuối như thế, sao bà có thể làm được công việc cực nhọc nhường ấy. Đôi mắt bà nhìn vào phía quan tài không chớp, vẻ quê mùa của bà làm cho Hạnh khó tìm thấy cái sức mạnh nào đã đẩy bà đi mười hai ngày trời để mà lật từng cái xác tìm chồng.
Phi cơ chao đi. Một quả xoài rơi xuống sàn, thằng bé út chộp lấy. Bên này, bà có bầu vội đỡ lấy bát hương vào lòng thì thầm:
– Anh ơi ! Em còn làm gì cho anh, còn làm gì cho anh được nữa, anh ơi!
Hạnh xiết chặt tay bà. Bà mới đáng thương chứ không phải người nằm trong kia. Nằm đấy là yên nghỉ rồi. Vậy mà bà không nghĩ tới mình, chỉ nghĩ tới sự gì còn có thể làm được cho chồng. Chao ôi! Lòng người đàn bà này sao mà rộng rãi và đầy tình thương yêu đến thế.
Bỗng bà ngồi thẳng dậy đăm đăm nhìn áo quan. Hạnh tưởng như xuyên qua lớp gỗ, đôi mắt người chồng đang mở ra tha thiết nhìn vợ. Đôi mắt đầy yêu thương trìu mến. Đôi mắt của Khánh vẫn nhìn nàng. Hạnh phúc ở bên cạnh nàng như đôi tay đối với người lành mạnh. Đối với người lành mạnh, sự hiện hữu của đôi tay không có nghĩa gì cả. Nhưng nếu có một tai nạn xẩy đến thì sự mất mát đôi tay mới thật sự là một tai họa hãi hùng và đã quá trễ rồi.
Hạnh nhìn suốt một lượt từ bà cụ già tới bốn mẹ con, những người lính, lá cờ, tất cả đều mơ hồ nhòe nhọet một mầu mờ nhạt, hai hàng nườc mắt lăn dài. Nàng quay về phía cửa sổ máy bay nhìn xuống, dưới kia là Ngũ Hành Sơn xa lạ. Hạnh muốn chiếc máy bay quay trở lại. Nàng thấy tiếc những thời giờ phí phạm đang trôi. Nàng muốn chắt chiu níu giữ thời khắc của tình yêu như người biển lận xót những đồng tiền phung phí.
Nàng thiết tha muốn trở về để được xà ngay vào lòng Khánh. Và Khánh sẽ hôn lên tóc nàng. Rồi nàng sẽ ôm con đi tắm. Con bé Nga bé bỏng của nàng, với hai cái má xệ xệ, cái bụng phệ phệ và bàn chân mũm mĩm thô kệch.
Mơ hồ, Hạnh thoáng thấy chị Dung mỉm cười trìu mến.
Đỗ Phương Khanh
(Trong tập truyện ngắn Hương Thu)

Đỗ Phương Khanh sinh ngày 9 tháng 8 năm 1936 tại Hành Thiện, Xuân Trường, Nam Định, xuất hiện lần đầu với truyện ngắn Đi Mua Giầy trên Giai Phẩm Văn Hóa Ngày Nay của Nhất Linh kể từ số 4 (tháng 8-1958). Bà có 3 truyện ngắn được Nhất Linh chọn in trên Giai Phẩm này ở các số kế tiếp. Sau khi Văn Hóa Ngày Nay đình bản, bà qua cộng tác với tạp chí Tân Phong của nhà văn Nguyễn thị Vinh với nhiều truyện ngắn khác, sau xuất bản thành tập truyện Hương Thu do Đông Phương ấn hành.
Sau biến cố Tết Mậu Thân 1968, bà về làm quản lý cơ sở ấn loát Hồng Lam ở Sài Gòn do Linh Mục Cao văn Luận làm Giám Đốc.
Đầu thập niên 70, bà giữ vai trò quản lý trị sự cho tuần báo Thiếu Nhi đồng thời phụ trách trang Vườn Hồng và sinh họat với Gia Đình Thiếu Nhi là một tập hợp độc giả của tuần báo này cho tới năm 1975.
Cũng trong thời gian này, Đỗ Phương Khanh phụ trách trang Nhi đồng cho nhật báo Hòa Bình với bút hiệu Mai Loan và là người phụ trách trang Phụ Nữ của nhật báo Dân Chủ cho tới năm 1975.
Bà cũng là Giám Đốc vườn trẻ Anh Vũ, một cơ sở mẫu giáo chuyên dạy trẻ em theo phương pháp Montessori từ năm 1973 tới 1975.
Tháng 4 năm 1980, bà cùng hai ái nữ vượt biên, tới được bờ biển Mã Lai và nhập trại tỵ nạn Pulau Tengah tại Mã Lai, sáu tháng sau đi đoàn tụ với gia đình (nhà văn Nhật Tiến) ở Hoa Kỳ vào tháng 10-1980.
Tại Hoa Kỳ, bà dịch những tài liệu về Bảo Vệ Lòai Vật và những câu chuyện của J. Krishnamurti với những bút hiệu Danny Việt, Vy Khanh …, đồng thời biên soạn “Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng” phát thanh hằng tuần trên Little Saigon Radio và Hồn Việt TV với bút hiệu Liên Hương.
Bà hiện cư ngụ tại Nam California.
Hỏi :
Tôi năm nay gần 40 tuổi, lập gia đình được vài năm và có 2 cháu rất xinh xắn. Chồng tôi đi làm còn tôi ở nhà chăm sóc con còn rất bé đã được hai năm. Đời sống gia đình vừa đủ. Đi làm về chồng tôi giúp tôi việc nhà và chăm sóc con.
Vì 2 cháu còn quá bé, hai vợ chồng rất bận rộn và ít có thời gian cho nhau. Nói là ít chứ không phải là không có, nếu chồng tôi dành thì giờ ít ỏi này cho tôi. Tôi tôn trọng sở thích riêng của ảnh và hiểu rằng mỗi người cần có thời gian riêng cho công việc của mình, nhưng nếu thỉnh thoảng ảnh biết nghĩ tới tôi mà dành cho tôi chút thời giờ thì tôi không nghĩ đòi hỏi này là quá đáng. Tôi cố gắng thay đổi quan hệ vợ chồng và nhiều lần nói chuyện để hiểu nhau. Chồng tôi tỏ ra hiểu biết, xin lỗi và hứa thay đổi. Nhưng chỉ thấy nói mà chẳng thấy làm.
Tôi cũng không thể trách ảnh được. Một ngày 24 tiếng mà công chuyện và đi làm đòi hỏi và chiếm hết thì giờ. Ngủ ngày vài tiếng là quý lắm. Dù biết vậy nhưng tôi cũng vẫn thấy buồn. Gần 40 tuổi, không trẻ không già, nhưng cuộc sống sao thấy khô khan và nhàm chán quá.
Tôi hy vọng vài năm sau, khi 2 cháu lớn một chút, cuộc sống giữa 2 vợ chồng sẽ đỡ buồn chán. Nhưng đợi vài năm sao thấy quá xa xôi và liệu sau thời gian chờ đợi này sẽ có gì thay đổi ???
Tôi mong chị sẽ có vài lời giúp tôi sống sao để thấy mỗi ngày không chỉ có tã, sữa và tối đi ngủ thui thủi một mình, mà là một ngày đỡ đen tối và chán nản. Cám ơn chị.
HN. – Norwalk
Đáp:
Đọc thư bạn, Thuần Nhã lại nghĩ đến hình ảnh tiêu biểu của những gia đình Việt nam tại quê nhà cách nay chừng sáu, bảy chục năm. Đó là vào thời mà những loại ca dao như:
“Con gái là con người ta,
Nàng dâu mới thực mẹ cha MUA về ”
và
“Trai ƠN vua đứng mũi thuyền rồng,
Gái ƠN chồng tay bồng con thơ “,
… thường xuyên được nhắc tới. Bạn thấy không, thời đó, được bế con là đã phải “ơn ” chồng rồi đó! Người phụ nữ sau khi lấy chồng chỉ còn biết chúi mũi vào công việc hầu hạ nhà chồng, đầu tắt mặt tối, xốc xếch lấm lem, không biết đến “hạnh phúc lứa đôi” là cái gì đâu.
Nhắc lại chuyện xưa tích cũ cho giãn thần kinh một chút thôi, bạn ạ. Bây giờ Thuần Nhã xin cùng bạn tâm tình. Vì thư bạn viết kín đáo, nên Thuần Nhã xin tóm lược lại vài ý, như sau:
– Vợ chồng bạn mới kết hôn chừng 3 hoặc 4 năm và có hai cháu, hoặc là sinh đôi, hoặc là chỉ cách nhau một năm, cháu bé mới 2 tuổi.
Vì hai cháu quá nhỏ, nên bạn rất bận bịu, do đó, sau khi tan sở trở về, anh nhà cũng phụ giúp bạn một tay.
Sau khi được anh nhà phụ giúp trong việc săn sóc các cháu, ba mẹ con bạn ôm nhau đi ngủ, không có chuyện vợ chồng âu yếm mặn nồng gì, vì anh nhà cũng cần thời giờ cho những sở thích của anh (thí dụ say sưa với computer chẳng hạn), sau khi đã dành gần hết cả ngày cho sở làm và phụ bạn trong việc nhà.
Hẳn là sự xa cách của anh đã tới mức quá đáng cho nên bạn đã phải nhiều lần nói chuyện với anh, mong hai người sẽ hiểu nhau hơn. Anh nhà tỏ ra hiểu biết, nói lời xin lỗi, nhưng không biểu lộ bằng hành động thực tế là anh bù đắp, sưởi ấm cõi lòng bạn.
Bạn HN thân mến,
Bây giờ Thuần Nhã thử đứng vào vị trí anh nhà để nhìn vấn đề nhé.
Mãi đến tuổi trên dưới bốn mươi, hai bạn mới kết hôn. Như thế, hai bạn hẳn là cũng xây đắp nhiều kỳ vọng cho đời sống lứa đôi, muốn có những ngày sống tươi vui, tràn ngập hạnh phúc của thời gian trăng mật. Thế nhưng hai bạn đã sớm có ngay hai cháu với công việc nhà bận bù đầu, có thể là đã đưa tới tình trạng vì không có thời giờ, bạn cũng bỏ rơi luôn sự vén khéo, gọn gàng, chải chuốt của thời con gái. Thay vào đó, có thể bạn đã trở thành một bà mẹ xốc xếch, bận rộn lu bù, cằn nhằn về những việc linh tinh không hoàn tất, v. v …
Hằng ngày nhìn vào cái cảnh tượng như thế, chính anh nhà cũng thấy nản, mà không muốn nói ra. Sự kiện “Tôi cố gắng thay đổi quan hệ vợ chồng và nhiều lần nói chuyện để hiểu nhau. Chồng tôi tỏ ra hiểu biết, xin lỗi và hứa thay đổi. Nhưng chỉ thấy nói mà chẳng thấy làm.”… nói lên rằng có thể là anh ấy đã nản, không muốn cãi, chỉ ừ ào cho qua chuyện mà thôi.
Cái khổ cho phụ nữ chúng ta sống vào thời đại này là chúng ta không còn được quyền ngồi nhà cho chồng nuôi như khi xưa nữa, nhưng cũng nhờ vậy mà chúng ta thoát ra được khỏi cái cảnh ông chồng phát tiền chợ cho, mình chỉ biết lo cơm nước, con cái, còn ông ta thì tự do bồ bịch bên ngoài, thậm chí còn ngang nhiên lập phòng nhì, phòng ba,..v….v… Và đời sống tinh thần của người phụ nữ thời nay cũng được nâng cao, trong hôn nhân, người phụ nữ cũng có quyền đòi hỏi hạnh phúc như nam giới, chứ không còn là công cụ để chiều chồng và làm máy đẻ.
Thuần Nhã góp ý với bạn là, tạm thời trong thời gian các cháu còn nhỏ quá, bạn ở nhà săn sóc các cháu, nhưng cũng sửa soạn sẵn những phương tiện để có thể sớm gửi các cháu vào trường vườn trẻ, khi các cháu đủ tuổi, rồi kiếm việc để đi làm, bạn ạ. Hầu hết phụ nữ chúng ta trong thời buổi này đều phải đi làm, trước là nhờ có hai pay checks, sự chi tiêu cũng bớt phải tính toán quá, nó làm mụ người đi. Sau nữa là, nhờ có ra ngoài, đời sống tinh thần cũng bớt bó chặt trong bốn bức tường, bạn cũng có thêm những hiểu biết vòng quanh thế giới để chiều về quanh bàn ăn, hai người còn có thêm đề tài thảo luận với nhau, nhờ vậy mà cuộc sống tinh thần thêm phần linh động. Sự kiện bạn có đi làm nó cũng khiến cho chính bạn thấy thêm tự tin, bớt bị mặc cảm, tủi thân.
Trong khi chờ đợi chuyện sẽ đi làm, xin bạn quan tâm đến những câu chuyện với nhau, nên bớt nói về tiền bạc hoặc những đề tài nặng về vật chất, và xin bạn để ý cách ăn mặc, trang điểm, sao cho đừng quá khác khi xưa, lúc hai người còn đang trong thời kỳ hò hẹn.
Có một cặp vợ chồng, bạn của Thuần Nhã, bỏ nhau. Người chồng than với Thuần Nhã là anh ta không bỏ người anh ta yêu khi xưa, mà bỏ một người khác, vì vợ anh ta ngày nay đã khác hẳn người mà anh ta đã từng say mê, cả về tính tình lẫn hình thức bề ngoài.
Thuần Nhã không so sánh họ với trường hợp bạn, nhưng tục ngữ có câu: ” Lượm kinh nghiệm của người khác mà xài thì mình đỡ phải trả giá”,
… cũng hay, bạn nhỉ.
Thân chúc bạn sớm tìm lại những ngày hạnh phúc như khi trước.
Thuần Nhã (ĐPK)
Hỏi:
Nhiều người bảo em yêu nhiều nên lận đận, em nghiệm ra hình như họ nói đúng. Hồi còn là sinh viên năm thứ ba, em có cảm tình với một bác sĩ hơn mình 10 tuổi. Sau 3 năm yêu đương, vì cảm thấy anh ấy giống như một người anh đáng tin cậy hơn là bạn trai, em đã nói lời chia tay. Tất nhiên, anh ấy không đồng ý và lúc nào cũng khuyên em phải biết nuôi dưỡng tình cảm bấy lâu nay.
Sau đó, em gặp và yêu Bình. Anh Bình rất tốt bụng, khéo tay, khôi hài, mỗi lần ở bên cạnh Bình, em cũng cảm thấy được một hạnh phúc thật sự. Lúc đó, gia đình em rất khó khăn, mẹ em đã mất, bố em vắng nhà thường xuyên, có khi cả tuần mới về nhà lo toan những việc lặt vặt trong nhà rồi lại đi tiếp. Trách nhiệm của một người chị cả không cho phép em được nghĩ đến hạnh phúc bản thân. Em đã khước từ lời đề nghị kết hôn của Bình.
Một năm sau, em gặp Định, chồng em bây giờ. Khi yêu, em đã thẳng thắn nói với anh rằng không còn trinh tiết nữa bởi em đã trao cho Bình. Định nói chuyện đó không quan trọng. Chúng em kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống rất hạnh phúc. Đến khi sinh con đầu lòng, tình cảm của Định đối với em bỗng lạnh nhạt, anh lại còn vụng trộm, lăng nhăng với những bạn gái thời còn đại học. Em vô cùng đau khổ và đã đề nghị với Định hai đứa nên ly dị. Định không đồng ý và nói rằng anh chọn em chứ không phải cô bạn.
Sau nhiều lần cải vã, giận hờn, lúc tan, lúc hợp, vợ chồng em lại sinh thêm một cháu nữa. Song dường như đứa con ấy cũng không thể cứu vãn hạnh phúc gia đình. Định vẫn ngoại tình, muốn đi thì đi, muốn về thì về, cư xử như một người thuê phòng không hơn không kém. Còn em cảm thấy mệt mỏi lắm rồi, không còn đủ khả năng, nghị lực để mong hàn gắn cái tình cảm dối trá, hời hợt này nữa. Chị nghĩ em có nên dứt khoát hẳn với Định hay không? Chị có nghĩ rằng Định không muốn ly dị với em âu cũng là vì muốn trốn cái trách nhiệm “child support” sau khi ly dị. Em nhiều lần cũng nghĩ về vấn đề này, nhưng em không biết em nghĩ có đúng hay không. Em thì hiện đang là software engineer cho một cơ quan của thành phố. Em nghĩ em cũng đủ khả năng để nuôi hai đứa con một mình em. Em xin cảm ơn chị.
T.H., Hayward
Đáp:
Em T. H. thân mến,
Chị xin phân tích phía em trước khi nhìn qua phía Định, nghe em.
Người yêu dầu tiên của em hơn em 10 tuổi, vì thế mà đã chín chắn, chăm lo săn sóc em quá chu đáo, có thể là thiếu tính cách bồng bột, lãng mạn, đến nỗi khiến cho em “Sau 3 năm yêu đương, vì cảm thấy anh ấy giống như một người anh đáng tin cậy hơn là bạn trai, em đã nói lời chia tay. Tất nhiên, anh ấy không đồng ý và lúc nào cũng khuyên em phải biết nuôi dưỡng tình cảm bấy lâu nay”. Tuy nhiên, em đã phát chán với sự săn sóc “như một người anh đáng tin cậy hơn là bạn trai, …” của anh ta, nên em đã quả quyết cắt đứt.
Sau đó, “em gặp và yêu Bình. Anh Bình rất tốt bụng, khéo tay, khôi hài, mỗi lần ở bên cạnh Bình, em cũng cảm thấy được một hạnh phúc thật sự”.
Lần này thì có thể nói rằng em đã gặp đúng đối tượng, vì em đã cảm thấy được một hạnh phúc thật sự, em đã ăn ở với Bình như vợ chồng. Nhưng khi Bình cầu hôn thì “Lúc đó, gia đình em rất khó khăn, mẹ em đã mất, bố em vắng nhà thường xuyên, có khi cả tuần mới về nhà lo toan những việc lặt vặt trong nhà rồi lại đi tiếp. Trách nhiệm của một người chị cả không cho phép em được nghĩ đến hạnh phúc bản thân. Em đã khước từ lời đề nghị kết hôn của Bình”.
Nhưng chỉ một năm sau thì em gặp Định, và em đã kết hôn với Định, dù em đã “yêu” Bình đến nỗi trao thân cho anh ta.
Câu hỏi đặt ra là:
Tại sao em lại phải vì lo cho các em mà không được kết hôn với Bình, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó lại có thể kết hôn với Định?
Tại sao em không thể vẫn kết hôn với Bình mà vẫn lo cho các em được, thí dụ sau khi cưới cả hai cùng ở chung trong nhà, và cả hai cùng “lo cho các em”?
Hỏi như vậy, không phải là chị muốn làm khó em, mà là chị muốn mổ xẻ căn bệnh ngay tại gốc, trước nhất là về phía em, để chúng ta tìm ra đầu mối của sự bế tắc này, có thế mới tìm ra lối thoát, em à.
Về “người yêu” đầu tiên, em bỏ vì lý do em không thích có cuộc sống buồn tẻ.
Về “người yêu” thứ hai, Bình, dù em nói là vì lý do gia đình, chị vẫn có cảm tưởng là còn lý do nào khác mà em không nói ra, vì lập luận “hy sinh cho gia đình nên không thể lấy chồng” của em không vững.
Nhưng dầu sao, chỉ một thời gian sau, em cũng đã “yêu” và lấy Định. Hình như em hơi dễ dãi và hoang phí khi dùng từ ngữ “yêu”.
Có câu: “Người ta cưới một người rồi ly dị người khác”, câu đó có nghĩa là khi còn trong thời gian yêu đương, hai người cùng tỏ ra đáng yêu, nhưng khi đã cưới nhau rồi, thì hai người đều có cảm giác “chắc ăn” nên từ đó, họ coi nhau như vật sở hữu, như món đồ dùng cũ trong nhà, không sợ mất, nên không quan tâm, không thấy cần phải tôn trọng nhau nữa, vì thế, trong cách cư xử với nhau, dường như mỗi người đã trở thành người khác.
Nói vậy, ý chị muốn hỏi là em có ở vào trường hợp kể trên không? Cứ xét theo hai mối tình đầu của em, thì cung cách cư xử của em có vẻ là người hơi nông nổi, và cũng có vẻ như ít quan tâm đến nỗi lòng của “người yêu em”, khi em muốn chấm dứt, thường em chỉ quan tâm đến những điều lợi hại về phía em mà thôi.
Có bao giờ em đặt lại vấn đề là chính em đã làm gì đó khiến cho Định không còn muốn nồng nàn với em nữa chăng? Và nếu điều đó là có thật, thì giả tỉ như em thay đổi nếp suy nghĩ, cung cách cư xử, tình thế có hy vọng cải thiện chăng?
Có câu: “Đời như tấm gương, mình cười thì đời cười với mình”, em thử cười xem tấm gương tình vợ chồng có cười với em không? Nếu chuyện cười đó mà xẩy ra thì thật là quá may mắn cho hai cháu nhỏ, nó sẽ có cả cha và mẹ, để mà yêu thương, đùm bọc, cho các cháu sống vui với đời.
Trong trường hợp không thể cải thiện thì cũng đành phải chia tay, vì ngày tháng của cuộc đời qua đi trong sự buồn tủi, hờn giận như thế thì cũng chẳng có gì là tốt đẹp cho cả hai, em ạ.
Câu em hỏi: “Chị có nghĩ rằng Định không muốn ly dị với em âu cũng là vì muốn trốn cái trách nhiệm “child support” sau khi ly dị?”, chị không thể trả lời, vì chị không thể biết trong đầu Định nghĩ gì và cũng không đủ dữ kiện để suy luận. Nhưng có khi nào em nghĩ rằng Định cũng rất muốn cùng sống với em và hai cháu, nhất là hai cháu còn quá nhỏ, nên cứ nấn ná chăng? Vả lại, chẳng lẽ chỉ vì không muốn trả tiền “child support” cho các con mà Định đành phí phạm hẳn một thài gian dài của cuộc đời, chịu sống trong cảnh chỉ còn là “người thuê phòng”, mà lại là “người thuê phòng đáng ghét” để chờ cho các cháu tới tuổi thành niên, không thể tự do đi tìm hạnh phúc với những người bạn gái hiện nay, nếu Định muốn hay sao?
Điều quá buồn trong cuộc đời là khi người ta yêu nhau, người ta có thể chết vì nhau, mạng sống cũng không tiếc. Nhưng khi bỏ nhau, chuyện tiền bạc biến thành đám mây đen ngòm bao phủ cả nhân cách con người khi nghĩ về nhau và nếu đã nhìn nhân cách nhau qua đám mây “tiền” như thế, e rằng những kỷ niệm đẹp về nhau cũng khó tránh bị đám mây đó xóa nhòa mất rồi, em ơi!
Thân chúc em, Định và hai cháu mọi điều tốt lành.
Thuần Nhã (ĐPK)
Thuở bé tôi thường có những giấc mơ lạ. Tôi thấy mình lang thang trong những khu vườn sạch sẽ, gọn gàng, ngăn nắp và đầy hoa lá xanh tươi. Trong mơ, tôi có niềm an lạc nào đó mà nếu bất thình lình tỉnh dậy, tôi tiếc lắm. Thậm chí có lúc tôi lại muốn đi ngủ để gặp lại những giấc mơ đẹp như thế. Sau này, khi đọc sách thấy những khu vườn Nhật gọn gàng, ngăn nắp, mầu sắc hài hòa, tôi lại nhớ những giấc mơ xưa. Có lần tôi kể lại cho một ông bác tinh thông Phật pháp, ông bảo:
– Có lẽ trong những kiếp quá khứ, cháu đã từng sống ở bên Nhật nên hình ảnh còn đọng lại trong tàng thức, là cái kho chứa tâm linh của cháu, vì thế trong mơ nó hiện lên đấy.
Càng thêm tuổi thì những giấc mơ có vườn hoa đẹp càng ít dần. Nhưng tôi vẫn thích những bức tranh có cô gái Nhật mặc kimono bới tóc thật đẹp, hoặc chàng hiệp sĩ Nhật mắt xếch, tay lăm lăm thanh kiếm.
Tuổi thơ của tôi chìm đắm trong khói lửa mịt mù của những năm dài kháng chiến chống Pháp. Gia đình tôi tản cư lưu lạc vào những vùng rừng sâu núi thẳm, người ít cây nhiều. Tôi lớn lên bên những dòng suối trong, những bóng nắng chiếu xuyên qua khe lá, ánh chiều vàng ngả xuống núi, tiếng lá cây cây xào xạc, tiếng chim chóc, khỉ, dơi, đủ loại động, thực vật và trong những giấc mơ đẹp đôi khi chợt tỉnh giấc vì tiếng rống của hùm beo đi tìm mồi.
Quen sống với thiên nhiên như thế nên sau này, khi đã trưởng thành, đã có cuộc đời ổn định, tôi thường mơ ước có dịp được đi du lịch để thưởng thức cảnh trí êm đềm với hoa thơm cỏ lạ.
Tôi cũng đã được tới năm bảy quốc gia, tuy vậy, trong lòng vẫn muốn được đi thêm, thấy thêm cho “mở rộng tầm mắt”. Nhưng trong bối cảnh kinh tế toàn cầu ảm đạm, quỹ hưu trí 401K tự nhiên đã biến mất một phần ba, tôi cũng tự nhủ hãy tạm hoãn mơ ước, chờ lúc kinh tế phát triển trở lại.
Nhưng chuyện đời thường không theo dự tính của mình, mà xuất hiện rất tình cờ, nhà Phật có câu “vô thường” và câu “đủ nhân duyên” thật hay, tôi kinh nghiệm nhiều chuyện như thế đã xảy ra trong đời, như lần này vậy.
oOo
Một hôm tôi tới hãng du lịch Five Oceans để hỏi giá vé cho người bạn muốn đi hành hương, gặp cô Tanya Diệu Đạt, một Tour Director của hãng này, tính tình vui vẻ, nhanh nhẩu, tận tâm, mà tôi đã cảm nhận qua vài lần đi trong đoàn của cô. Nhìn thấy tôi, cô vừa cười vừa hỏi đùa:
– Bác lúc này trông khỏe mạnh đẹp lão quá, cháu có Tour 2 tháng nữa đi Trung Quốc, bác muốn gia nhập cho vui không?
Tôi cũng đùa lại:
– Đang recession phải keo kiệt, Trung Quốc đi rồi, giá là đi Nhật thì tôi liều mạng thôi.
Nào ngờ cô mau mắn:
– Cháu cũng có Tour đi Nhật nè, 10 ngày nữa thôi, bác đi thật không?
Tự nhiên tôi thấy lòng náo nức, nhưng chưa trả lời mà chỉ cười trừ.
Về nhà, tôi đi tìm passport. Thì ra đã gần hết hạn. Tôi phone lại văn phòng nói cho Diệu Đạt biết là passport chỉ còn giá trị có 3 tháng nữa thôi, vậy thì không được rồi, phải còn thời gian là 6 tháng tính đến ngày trở về cơ mà. Tôi thất vọng hỏi:
– Làm sao bây giờ. Nói đi Nhật làm bác nghĩ tới các Zen Masters tác giả các sách mà bác đã từng được đọc, nhờ thế được hiểu thêm về cốt tủy của đạo Phật. Nay bác muốn đến sờ tay vào đất Nhật để cảm tạ các ngài. Bây giờ passport hết hạn, không còn thời gian để làm kịp, không đi được đâm ra buồn. Bác nhỡ tầu rồi.
Tanya Diệu Đạt trấn an ngay:
– Bác đừng buồn, bác đã muốn đi thì cháu sẽ giúp bác. Để cháu lấy hẹn rồi sẽ tới chở bác lên Los làm passport khẩn cấp.
Qua chuyến đi Hành Hương Trung Quốc mấy năm trước, tôi đã biết sự tận tâm của Tanya, nên mừng lắm. Đêm đó tôi vào giấc ngủ, lòng náo nức với phong cảnh Nhật Bản mà tôi tưởng tượng trong đầu.
Diệu Đạt giữ đúng lời hứa, sáng hôm sau mới 7:30AM, cô đã gõ cửa nhà tôi. Hóa ra cô đã lấy được hẹn gặp nhân viên sở Di Trú lúc 9 giờ nên phải dậy từ 4 giờ sáng để xong thủ tục cần thiết và lái 80 miles từ mãi tuốt gần San Diego đến nhà tôi tại Orange County vào giờ này. Từ nhà tôi lên Los Angeles nếu không kẹt xe thì chỉ 1giờ 30 phút, nhưng nếu vào giờ cao điểm, mọi người đổ ra đường đi làm thì có thế tốn cả 2, 3 tiếng đồng hồ như không. Và như thế chúng tôi sẽ lỡ hẹn với sở Di Trú.
Cho nên chúng tôi vội vã chạy ra xe, may mà tới Los vừa kịp giờ. Nhờ có sự tận tâm giúp đỡ của Diệu Đạt, sau hai buổi xếp hàng làm thủ tục và xếp hàng để nhận giấy, tôi đã cầm được passport mới trong tay.
Nay thì hình ảnh Nhật Bản không còn xa xôi nữa. Thời gian trôi qua thật lẹ, cuối cùng, tôi đã đặt chân lên đất Nhật.
oOo
Cảm giác đầu tiên của tôi khi bước vào không gian Nhật Bản là một cảnh tượng sạch sẽ, trong trẻo với những lời trao đổi rất nhẹ nhàng. Nhân viên Hải Quan coi giấy tờ, yêu cầu tôi lăn tay với lời nói êm ả, gương mặt ôn hòa như bạn bè trò chuyện, khác hẳn gương mặt khó đăm đăm của nhân viên ở đâu đó khi tôi về thăm quê hương.
Tôi bỗng thấy dường như tinh thần Thiền tỏa sáng từ ngay nơi những người dân thường. Trong một tuần lễ lưu ngụ tại Nhật, cảm giác đó của tôi càng thêm sâu sắc. Tôi thấy họ rất tự trọng. Từ khi tới cho đến khi trở lại Mỹ, tôi không hề thấy một người hành khất nào, không hề có cảnh người ta lôi kéo mời chào mua hàng và điểm đặc biệt là họ không nhận tiền tip.
Tôi cũng có một kỷ niệm đẹp trong việc “tiền tip” này. Số là, trong một dịp phải leo dốc cao, tôi dùng phương tiện xe kéo. Đây cũng là một điều thú vị mà tôi không ngờ. Có lẽ nước Nhật nhiều danh lam thắng cảnh tọa lạc trên cao nên họ có hãng xe kéo mà chi nhánh gần như khắp nước. Nhân viên kéo xe là những thanh niên tinh thông võ nghệ, rất mạnh khỏe, nhanh nhẹn. Họ lĩnh lương tháng như công tư chức chứ không giống xe xích lô tại Việt Nam, nơi mà ngày nào không có khách ngồi xe là đói.
Dốc khá cao, thấy cậu thanh niên khòm lưng vất vả quá, tôi trạnh nghĩ tới đứa con trai út, vào những ngày khó khăn khi miền Nam mới xụp đổ, nó cũng vất vả ngược xuôi chở đồ, vác giấy, thồ rơm kiếm thêm tiền giúp bố mẹ, cũng cực nhọc như cậu này. Lòng dưng dưng, tôi móc túi lấy ra tờ giấy bạc dúi vào tay cậu. Cậu ta quyết liệt chối từ, cố gắng giải thích một cách khó khăn bằng tiếng Anh cho tôi hiểu rằng cậu làm việc để kiếm tiền chứ không nhận tiền ”được cho vì lòng trắc ẩn”. Tôi cũng phải dùng thứ tiếng Anh nghèo nàn của tôi để giải thích rằng “đây không phải là tiền tip, mà là gift tôi tặng cậu vì nhìn cậu tôi nhớ tới con trai tôi”.
Thấy cậu ta vẫn khăng khăng không nhận, người bạn đồng nghiệp ghếch xe ngay bên cạnh cậu nãy giờ đứng nhìn, bỗng cúi xuống ghé vào tai cậu nói nhỏ một tràng tiếng Nhật, tôi thấy cậu ta gật gật đầu rồi cười mà cầm lấy tờ giấy bạc “gift”. Tôi đoán có lẽ người bạn đã nói:
– Bà cụ này đi xa nhớ con, anh cầm lấy cho bà vui.
Phải vậy không nhỉ? Thế thì cậu lại nhận tiền vì lòng trắc ẩn đối với tôi rồi.
Chuyến đi Nhật này chỉ có một tuần lễ mà làm cho nội tâm tôi phong phú biết mấy. Tại phi trường Tokyo International Airport, chúng tôi gặp cô hướng dẫn viên địa phương. Sau này, qua bảy ngày đi với cô, lúc gần chia tay, nhân lúc chỉ có hai người, tôi thì thầm bên tai cô mấy câu “Người đi qua đời tôi, Không nhớ gì sao người…”. Cô tròn mắt:
– Bà hát gì vậy, dịch cho tôi hiểu với.
Tôi bèn dịch ra Anh ngữ, dịch xong, tôi liếc qua thấy mắt cô ướt ướt. Sony Tsai, tôi nhớ cô quá, bẩy ngày trời, em luôn cặp chặt cánh tay tôi vì sợ rằng tôi, một bà già ngoại quốc, đi đứng loạng quạng sẽ ngã, hoặc sẽ lạc vào rừng người xa lạ. Cầu mong em bớt hút thuốc lá để lần sau qua Nhật, tôi còn có dịp gặp em.
oOo
Đêm đầu tiên tại khách sạn, tôi ngơ ngác trước những chỉ dẫn cách sử dụng đồ điện tử toàn bằng tiếng Nhật. Có lẽ người Nhật đề cao tự ái dân tộc quá lố nên không dùng ngoại ngữ. Nhưng Anh Ngữ đã thành tiếng quốc tế, chẳng nên tị hiềm mà không dùng, gây phiền phức cho khách mà cũng mất thì giờ của nhân viên. May mà họ đáp ứng rất nhanh, tôi vừa điện thoại xuống văn phòng yêu cầu cử nhân viên chỉ dẫn thì chỉ mới khoảng hơn một phút đã nghe tiếng gõ cửa rất nhẹ rồi một cậu thanh niên xuất hiện cúi chào và nói nhỏ bằng tiếng Anh xin được giúp đỡ điều tôi cần.
Nhìn phong thái ôn hòa, trầm tĩnh của cậu và tiếng khép cửa nhẹ nhàng như tiếng mỏ chim gõ vào thân cây khiến tôi nhớ lời vị thiền sư căn dặn học trò:
– Ông đóng cửa nhè nhẹ thôi, trước là người chung quanh không bị giật mình, sau là những con sâu mọt trong cánh cửa không sợ chết điếng.
Ứng xử như thế quả thật đã nói lên tinh thần bình đẳng và tôn trọng muôn loài chúng sinh của nhà Phật.
Nước Nhật nhỏ bé, xinh xắn, không như Trung Quốc, nên khi di chuyển trong nội địa, chúng tôi dùng phương tiện xe hơi. Đoàn chỉ có 10 người nhưng cô trưởng đoàn yêu cầu hãng cung cấp xe 24 chỗ để chúng tôi ngồi cho thoải mái. Đi xe hơi như thế, chúng tôi thấy được rất nhiều cảnh đẹp, từ những rừng hoa mênh mông, những dòng suối uốn lượn, cảnh ánh mặt trời phản chiếu lóng lánh trên đỉnh núi Phú Sĩ, những căn nhà cổ xưa mà tôi tưởng như trong đó còn đang có những phụ nữ mặc kimono quỳ gối cởi giầy cho chồng. Tôi nói lên điều này làm cho mấy bác trong xe cười lăn ra:
– Thôi đi bác, ngày nay mà mơ mộng vợ cởi giầy cho thì có mà chết, nó cởi xong tiện tay nó xách ngay giầy phang cho bể mặt.
Những người bạn đồng hành vui tính và thật là dễ mến của tôi trong những ngày tươi đẹp đó, này là bác Tịnh Trang, tôi còn nhớ hình ảnh bác lui cui lục giỏ tìm kẹo ho mỗi khi nghe tiếng khục khặc của tôi, cảm ơn bác, thật ấm lòng biết mấy, này là cô bé Ngọc Dung dễ thương ơi là dễ thương, một tay thọc túi quần một tay cầm máy thu hình cha mẹ, hình các bác trong đoàn. Gọi là “cô bé” vì cô xinh xắn đáng yêu quá mà thôi chứ dường như cô là giám đốc một hãng nào đó bên Texas thì phải. Còn mẹ cô thì, ôi, ước gì tôi có được nét hiền hậu, tươi tắn của bà!
Tôi đã từng đi vài Tours với Tanya Diệu Đạt, chưa bao giờ tôi có bất cứ phiền lòng nào. Tanya đúng là có khiếu trưởng đoàn du lịch trời sinh. Cô ấy lập chương trình những địa điểm thăm viếng, nơi ăn uống ngủ nghỉ rất chu đáo hài hòa, bảo đảm sức khỏe thành viên trong đoàn từ lúc ra đi tới khi trở về đều không hề mất sức. Nhất là về vấn đề bệnh hoạn bất thình lình xảy ra cho các vị lớn tuổi, cô ấy giải quyết một cách rất chuyên nghiệp. Phần lớn các khách sạn đoàn lưu ngụ đều thuộc hạng cao cấp, để có thể có bác sĩ hoặc chuyên viên y tế sẵn sàng trong nội vi.
Tôi còn nhớ chuyến đi Hành Hương Trung Quốc năm 2005, đoàn rất đông và có nhiều vị lớn tuổi hoặc có những bệnh của người già như tiểu đường, cao máu, bệnh tim. Dù lớn tuổi, dù bệnh, quí vị đó muốn đi hành hương chiêm bái Phật tích nên Tanya rất hoan hỉ sửa soạn sẵn cho những tình huống khẩn cấp. Quả nhiên là một tối kia vào lúc 9 giờ, chuông điện thoại phòng trưởng đoàn Tanya reo, tiếng đầu dây bên kia hốt hoảng báo tin bác ngụ chung phòng bị khó thở. Ngay lập tức Tanya báo cho khách sạn và chưa đầy 5 phút, bác sĩ và y tá đã tới với bệnh nhân. Đêm đó Diệu Đạt và cô y tá thức cho tới sáng luôn. Bà cụ nằm nghỉ một ngày, qua hôm sau lại vui vẻ tiếp tục hội nhập vào với đoàn chúng tôi đi vãn cảnh chùa chiền.
Tanya tâm sự:
– Có người nói đưa các cụ già hoặc có bệnh kinh niên đi rất mệt. Nhưng cháu lại thấy rất nên đưa các cụ đi, vì càng ngày các cụ càng già thêm, càng bệnh thêm, chẳng lẽ các cụ không còn được đi hành hương, đi du lịch, không còn được thấy cảnh đẹp bốn phương nữa hay sao?
Trong chuyến đi Nhật lần này, kỷ niệm đẹp thì tôi giữ trong tâm nhiều lắm, chẳng thể nói cho hết lời. Nhưng có vài nơi đem lại cho tôi nhiều ấn tượng đặc biệt. Đó là quang cảnh khu chùa Thanh Thủy Tự (Kiyomizu Dera Temple) thuộc Duy Thức Tông, là một trong những ngôi chùa thờ Phật lớn nhất nước Nhật dựng trên gần đỉnh núi do sức chống của những cây cột gỗ quí gắn vào nhau bằng những khớp gỗ, không dùng đến đinh sắt, cho nên trải qua nhiều trăm năm mà không bị đinh sắt han gỉ gây hư hoại đến sự vững vàng uy nghi. Sát bên là ngôi đền danh tiếng Jishu-Jinja Shrine, đền thờ Thần Tình Yêu, nơi có 2 tảng đá dựng cách nhau chừng 60 feet, được gọi là tảng đá tình yêu. Hai nơi thờ tự thuộc hai niềm tin khác biệt lại sánh vai hài hòa sừng sững tôn nghiêm trong cùng một khu, nói lên tinh thần hòa đồng tôn giáo tại Nhật, người đi lễ tới chùa Phật tọa thiền cho tâm hồn an lạc, thanh tịnh, rồi bước qua đền thờ Thần cầu nguyện cho tình yêu thăng hoa, được cùng người yêu lý tưởng đi trọn đường đời.
Ngoài ra, cảnh đẹp thần tiên mà tôi sẽ còn nhớ lâu là “Con đường của triết gia” (Philosopher’s Path). Con đường thật tuyệt vời! Ở giữa là dòng suối nhân tạo nước trong veo nhìn suốt tận đáy. Mỗi bên dòng suối là hai dẫy đá tảng xếp liên tục làm lối đi, song song với hai hàng cây anh đào hoa nở rộ rợp bóng, chạy dài hàng cây số, vun vút tít mù xa. Gió nhè nhẹ mơn man rung rinh rừng anh đào, những cánh hoa lả tả theo gió la đà xuống dòng suối bập bềnh trôi, người lữ khách bâng khuâng nhớ về quê hương xa xôi, có gia đình yên vui bên ánh lửa hồng trong căn nhà êm ấm.
Một điểm son dành cho giới khách sạn Nhật Bản là trong số sáu nơi tôi lưu ngụ, có hai khách sạn để sẵn cuốn The Teaching of Buddha ngay trong ngăn kéo bàn đầu giường, bên cạnh cuốn Kinh Thánh của đạo Thiên Chúa.
Chỉ có một tuần lễ trên đất Nhật mà chan chứa trong lòng tôi biết bao nhiêu kỷ niệm, với những người bạn đồng hành, với người hướng dẫn viên bản xứ, với người tài xế và chú kéo xe tử tế, với những sự dịu dàng ưu ái của mọi người chung quanh. Nhưng ý nghĩa nhất chính là niềm vui tôi được tới tận miền đất đã sản sinh ra các thiền sư uyên thâm Phật học, mà những sách luận giải của các ngài đã giúp tôi hiểu được cốt tủy của đạo Phật.
Xin cảm ơn đời, cảm ơn người, cảm ơn những danh lam thắng cảnh, những hoa thơm cỏ lạ mà tôi đã được thưởng thức trong một tuần lễ trên đất Nhật.
Liên Hương (ĐPK)
Hỏi:
Chào chị Thuần Nhã,
Khi mới vào đại học em đã quen và có tình cảm với L., sau nhiều lần đi chơi, trò chuyện, và khoảng một năm sau thì em đã nói lời yêu L.. L. chỉ cười và nói rằng bây giờ thì chưa được và hỏi em có chờ được không. Tất nhiên là em nói có và vẫn nuôi niềm hi vọng. Nhiều lần em có hỏi L. về việc L. có bạn trai hay chưa, L. đều trả lời là chưa. Còn về phần em, em đã thật sự yêu cô ấy, em hay đến nhà L chơi và mọi người trong nhà L. rất quý mến em, dành cho em những tình cảm rất chân thành. Em cảm thấy mình thật may mắn.
Tuy nhiên, trong một tối em đã thấy L. đi ăn cùng với một người con trai khác, em không hề hỏi L. về chuyện đó, nhưng sau nhiều lần thì em không thể làm ngơ được nữa. Lúc đầu thì L. nói đó chỉ là bạn, em không tin và tìm cách gặp người con trai kia và được biết họ đã quen nhau từ lâu, từ thời L. còn học trung học. Anh ta nói anh ta biết khá rõ về em bởi vì L. đã nói hết cho anh ta những gì tụi em chia xẻ với nhau.
Tới khi đó thì L. đã không còn giấu em nữa. Em thật sự đau khổ và chấp nhận là người thua cuộc bởi em nghĩ mình đã bị L. lừa dối một cách tội nghiệp. Từ đó em không sang nhà L. chơi nữa vì em nghĩ chẳng còn gì để đến với nhau. Tuy nhiên, em lại tự hỏi, mình làm như vậy thì gia đình L. sẽ nghĩ gì về mình. Mọi người trong nhà L. sẽ nói mình chỉ là một thằng con trai không ra gì, chẳng lẽ tình yêu là tất cả hay sao, còn tình cảm của mọi người khác thì sao, nhưng nếu đến nhà L. thì khó cho em quá.
Thưa chị, bây giờ em phải làm sao đây, chị có thể cho em một lời khuyên trong hoàn cảnh này. Cảm ơn chị nhiều.
Em,
T. – San Jose
***
Đáp
Đọc thư em, chị cảm nhận được sự chân thành, mộc mạc của tâm hồn em. Có lẽ gia đình L. quý em, dành cảm tình chân thành cho em, một phần cũng vì ưu điểm này của em.
Nhưng cái nhìn của các bậc phụ huynh và cái nhìn của các cô gái mới lớn, mơ mộng, có đôi chút khác biệt, em ạ. Cha mẹ và gia đình cô gái thường có thiện cảm với những chàng trai hiền lành, chất phác, trong khi nhiều cô gái mới lớn lại nhìn đời một cách lãng mạn, thích những chàng trai có nếp sống và tư tưởng phóng khoáng, đôi khi quá lố đến trở thành phóng đãng, đượm tính chất giang hồ, thậm chí có những ngôn ngữ, cử chỉ không còn phù hợp với nếp sống của các gia đình Á Đông có giáo dục nữa, nhưng nhờ thế nó mới ồn ào, mới vui, mới “fun”.
Cũng có khi không phải là vì cô gái thích loại người kể trên, nhưng cô ấy cần có người “hiểu” cô ấy, có thể là bạn tri kỷ của cô ấy, loại bạn thông cảm được những gút mắc trong lòng nhau, “nói ít hiểu nhiều”.
Cũng có khi cô gái có tâm hồn mơ mộng, thích quay về quá khứ, trọng kỷ niệm xa xưa. Mà đã nhớ về kỷ niệm trong quá khứ thì kỷ niệm nào cũng đều thấy êm đềm, đẹp đẽ.
Nếu L. ở trong mấy trường hợp kể trên thì có thể là anh chàng kia đã đáp ứng được những nhu cầu tinh thần của nàng rồi.
Em nên lặng lẽ rút lui ra khỏi đời nàng, không nên lui tới nhà nàng nữa, vì sự em lui tới có thể bị hiểu lầm như là em đang muốn lấy lòng gia đình nàng, chứ không phải vì thiện cảm của em đối với họ hoặc vì em là người ăn ở thủy chung. Trường hợp đó, nàng lại càng coi thường em, và có thêm đề tài để cùng “anh chàng kia” của nàng “thảo luận” về em. Sự ngưng lui tới của em sẽ không bị gia đình nàng hiểu lầm đâu, vì “biết con không ai bằng cha mẹ”, họ sẽ hiểu rõ mọi sự, em à.
Trong cuộc đời, có những lúc mình phải “biết lùi”, và “biết lùi” là biết một nghệ thuật sống đẹp.
Có một bài thơ về Yêu đẹp nhẹ nhàng, chị gửi tới em như một món quà tinh thần. Tác giả là một nhà thơ Trung Quốc hiện đại, tên là Phùng Chí, do Bích Hải dịch, như sau:
Tôi Là Một Dòng Sông Nhỏ
Tôi là một dòng sông nhỏ,
Tình cờ chảy qua bên em
Em tình cờ đem bóng hình như ráng mây rực rỡ
Ngả vào ngọn sóng êm đềm.
Tôi chảy qua một khu rừng rậm,
Ngọn sóng tôi lay động êm đềm
Đem bóng lá rừng xanh thắm
May thành xiêm áo cho em.
Tôi chảy qua khóm hoa tươi nở
Ngọn sóng tôi trong vắt êm đềm
Đem bóng hoa rực rỡ
Dệt thành mũ miện cho em.
Dòng sông tôi kết thúc cuộc hành trình
Chảy vào biển cả vô tình
Biển mênh mông sóng cuồng, gió dữ
Đánh rách áo xiêm, thổi tan cả mũ hoa rực rỡ !
Tôi cũng lênh đênh theo sóng biển,
Lênh đênh đến nơi không bờ không bến;
Và bóng hình lộng lẫy của em
Cũng lộng lẫy hòa tan trong biển êm đềm.
Phùng Chí (1925)
Cuộc đời cũng như dòng sông. Dòng sông không phải luôn luôn giống nhau, khúc này thì có thác, có ghềnh, dòng sông gầm thét, khúc kia thì dòng sông lặng lờ, êm đềm trôi. Qua cơn mưa trời lại sáng, em chân thật tốt lành như thế, sẽ có người chân thật tốt lành đương hiện hữu đâu đó trên thế giới này, sẽ tới với em.
Thân chúc em an lạc.
Thuần Nhã (ĐPK)
Hỏi:
Thưa bà,
Tôi ở với con gái và rể – vì con trai chưa thành gia thất. Rể và con gái tôi đều là bác sĩ. Tôi nghĩ ở với con gái dễ hơn là dâu.
Nói là ở chung nhưng thật ra nhà cháu rộng có làm thêm một phòng ngủ và bếp rất tiện cho một người ở. Tôi đi làm tối về nấu ăn và cho ngày mai bới đi làm, ngày nghỉ ở nhà săn sóc vườn nên hoa cỏ rất đẹp. Lâu lâu thì 2 mẹ con lại đi shopping hoặc cũng đi chợ. Vợ chồng con gái tôi ăn riêng và ở trên lầu.
Được 2 năm nay, bỗng cháu có ý định mua nhà khác ở vùng nhà giàu trên đồi với lý do rất chính đáng: vì vùng này bây giờ họ cho housing nhiều quá, phần đông là người mới qua. Họ có cách sống giống ở VN — cả ngày ở nhà và coi phim bộ — vài ba ngày lại chửi bới con cái, đuơng nhiên là bằng tiếng Việt.
Thật sự, tôi không chịu nổi họ, chứ nói gì con tôi học hành đỗ đạt bên này. Nhưng con gái tôi dọn ra thì không mang tôi theo — lý do: nhà mới vừa đủ hai phòng và chúng không muốn tôi ở chung.
Tôi nay đã 60, nay đau mai yếu, lại bị cao máu, vả lại 5-3 năm nữa cũng về hưu ở nhà cả ngày làm sao ở một mình được. Tôi đã khóc lóc nói ra ý tưởng cô đơn của mình, nhưng con gái tôi bảo:
“Ở Mỹ có ai con cái ở chung với cha mẹ đâu?”
Ở địa vị tôi, bà Thuần Nhã nghĩ ra sao?
Xin chân thành cảm ơn bà nhã ý chia sẻ cùng tôi.
Độc giả – Oakland
Đáp:
Thưa bà,
Đọc xong thư của bà, lòng nặng trĩu, tôi mở cửa bước ra vườn. Chiều hôm nay trở gió, bầu trời u ám, sương phủ mờ rặng núi xa xa.
Những ngày xa xưa trên quê hương đâu, đâu rồi?
Quê hương chúng ta, ở đó có cô Nguyên, nhà gần chợ Nguyễn Tri Phương, có bà mẹ bị ngã từ trên sân thượng xuống đất, gẫy xương sống ngay trước ngày đám cưới của cô chỉ chừng gần một tháng. Cô lặn lội trong nhà thương nuôi mẹ, rồi bệnh không hết, mẹ về nhà ăn, ngủ, tiêu, tiểu, đều trên giường, một mình cô là con độc nhất, hầu giường phân chiếu tiểu, vị hôn phu gớm quá từ hôn, cô nói:
“Ảnh biểu tui giao mẹ cho người làm rồi đi theo ảnh, ảnh không chịu ở chung nhà. Má tui biểu nghe theo lời ảnh, nhưng mà thôi, ảnh không thương thì tui chịu, tui hổng nỡ bỏ mẹ cho người ngoài cắng đắng khi dể trong lúc bịnh hoạn này, tội nghiệp mẹ tui”.
Ở đó có nhà thím Ba Hồi, góa chồng sớm,hẩm hút một mình nuôi hai con. Con lớn đạp phải mìn cụt hai chân trong chiến tranh, không làm ăn gì được, sống nhờ vào gánh hàng rong của thím Ba hai sương một nắng, vậy mà tối nào về, thím cũng mang theo mấy tờ báo cũ thím xin được trên đường, để dưới ánh đèn mờ, con đọc mẹ nghe, mái nhà tôn tối nhờ nhờ lại vang lên tiếng cười thương yêu, đầm ấm.
Ở đó có nhà cụ Tâm Thái, hồi còn ở quê hương, mỗi chiều khi đi làm về, ngang qua, tôi liếc mắt vào thường thấy cụ ngồi ngay một đầu chiếc bàn bầu dục, đó là chỗ danh dự của cụ, cụ ngồi đó nghe các cháu chia nhau đọc truyện Tầu cho cụ giải trí. Đến bữa thì các con và các cháu ngồi quây chung quanh cụ, lao xao “Mời mẹ, . . . Mời bà xơi cơm . . . “. Tôi nghe nói hình ảnh này cũng vẫn còn quen thuộc đối với một số gia đình người Trung Hoa trên San Francisco, California.
Bà ạ,
Thế hệ bà là thế hệ khoảng trống của bước nhẩy giữa hai nền văn hóa. Nền văn hóa mà bà lãnh hội thì cha mẹ hết lòng hy sinh cho con cái đến tối đa, đến tận khi nào đã kiệt lực, miễn sao con đủ lông cánh ra đời. Con ra đời rồi, mà thất bại, thương tích, tàn tật, cha mẹ lại sẵn lòng đem con về, tiếp tục tận tụy lo cho con, bất kể tuổi tác. Tất cả là vì tình thương yêu, tình phụ tử, mẫu tử.
Khi cha mẹ già yếu, bất lực, con cái cũng ăn ở cho tận hiếu đạo, để đền đáp tối đa tấm lòng cha mẹ đã nghĩ đến con, chăm lo, thương yêu con khi xưa. Trong cái xã hội mà mọi người đều sống với nề nếp như vậy, thì sự bảo bọc nhau đó là tự nhiên, bà ạ.
Con gái bà nói “ở Mỹ có ai con cái ở chung với cha mẹ đâu?”, cô ta nói cũng có phần đúng, đó là vì cũng có những người như thế. Tuy nhiên, hàng xóm nhà tôi cũng là người Mỹ, họ ở chung 3 thế hệ, bà cụ hằng ngày dắt cháu đi học, vẫn đi qua nhà tôi. Thực tế, quả là cũng có những gia đình không ở chung với cha mẹ, thậm chí bỏ rơi cha mẹ luôn, cha mẹ có nhớ con mà già quá không còn di chuyển được, thì phải mua vé máy bay cho con về thăm.
Nhưng chuyện gì cũng có nguyên nhân của nó, có lẽ cô con gái của bà cũng biết, nhưng không muốn nói ra, rằng cũng có nhiều cha mẹ bên đây đã bắt con phải tự lập khi vừa đủ 18 tuổi, không tiếp tục nuôi con nữa, vì cha mẹ còn phải thủ tiền để đi du lịch, đi sòng bài, v.v. . . , để enjoy cuộc đời, hơi đâu mà đóng tiền học cho con. Cha mẹ đuổi con ra khỏi nhà, bắt con phải tự lập khi con vừa mới đúng 18 tuổi, thì con bỏ rơi cha mẹ lúc về già, tuy là bất hiếu bất nhân thật đấy, nhưng cũng chỉ là nhân quả.
Bà được giáo dục bằng nền văn hóa Đông Phương của chúng ta, nên đau đớn, bàng hoàng, kinh ngạc, khi thấy con nhẫn tâm bỏ rơi mình lại.
Cô con gái lại đem một khía cạnh của nếp sống lạnh lùng ở đây ra ví von để đủ lý do hất mẹ ra khỏi vòng tay nâng đỡ mẹ lúc tuổi già.
Đã đến nông nỗi này thì tôi nghĩ rằng sự con bà đổi ý, cho bà đi theo là chuyện rất khó xẩy ra. Cho nên tôi đề nghị là bà nên can đảm tiếp tục đi làm cho đến khi về hưu, sẽ tiếp tục sống như những người già về hưu khác. Bà nên tiếp xúc với các Hội Người Già (Senior Citizen Community Center), kể cả hội của người Việt Nam và hội của người Mỹ.
Gần nhà tôi có một hội Người Già Mỹ. Hằng ngày tôi thấy có cả các cụ Việt Nam tới ăn cơm trưa. Họ có cả thư viện và các loại thể thao, Tai Chi, Khí Công, và các trò giải trí, chơi các loại bài, thí dụ mà chược, bài tây, v . v . . . Nhiều cuối tuần tôi thấy các cụ leo lên nhiều xe bus, hỏi ra mới biết là các cụ đi picnic ngoài biển, hoặc đi chơi tiểu bang khác, hoặc sang chơi bên Mexico, v. v… Tôi thấy các cụ phải đi xe lăn cũng được họ thả cần trục xuống cho các cụ lăn xe vào, rồi kéo lên. Thấy các cụ vui cười trong lúc tuổi già, tôi mừng lắm.
Bà cũng đừng quá lo lắng về chuyện bệnh hoạn, hoặc già quá không còn tự lập được. Trong khu tôi ở có một cụ già Mỹ đã 87 tuổi. Hằng ngày, cụ trang điểm gọn gàng, xinh xắn, rồi thủng thỉnh chống gậy đi bách bộ trong khu, gặp ai cũng tươi tỉnh “Hello!”, hoặc “Hi, how are you, honey?”. Mỗi buổi trưa lại có người của Hội Già đem phần ăn của cụ tới, vì cụ không lái xe ra phòng ăn của Hội được. Khoảng 11 giờ mỗi sáng là cụ đã ngồi sẵn cạnh cửa sổ, kéo rèm mở hé để chờ người của Hội. Trông thấy họ từ xa, cụ đã bước ra đón tận phía ngoài, ríu rít chào hỏi, vui lắm.
Ngoài ra, hệ thống y tế cho người già bên đây cũng rất tốt. Bà mới 60 tuổi, kể ra là còn trẻ đối với đời sống văn minh khoa học tân tiến này. Hãy nhìn về tương lai, tạo một nhóm bạn hợp với quan niệm sống của mình để mà cùng nhau thưởng thức cuộc đời, nhìn đời một cách lạc quan. Không nên u sầu mà cơ thể héo hon dần, lại thành bệnh hoạn sớm.
Nhập gia tùy tục, bà ạ. Đời cho ta quả chanh thì ta hãy pha thành ly nước chanh cho nó đỡ chua.
Chỉ tiếc cho con gái của bà, cô ta sẽ không được hưởng niềm vui ấm áp khi nhìn thấy mẹ già run rẩy xỏ kim, mình chạy lại giành lấy để làm giùm mẹ, rồi hai mẹ con cười khanh khách, tiếng cười vang lên khiến cho mấy cháu chạy ùa ra, miệng bi bô :” Bà… bà… mẹ … mẹ … “.
Thuần Nhã (ĐPK)
Hỏi:
Em năm nay cũng đã lớn tuổi, 28 tuổi. Em đang có ý định tìm kiếm một người bạn để làm vợ. Tuy nhiên em cảm thấy rất khó khăn trong việc này không bởi vì em không có đủ điều kiện hay khả năng trong việc này mà vì em thấy rằng khó có thể hiểu hết người phụ nữ để tìm một người mà bản thân cho là phù hợp hoặc đúng mong đợi.
Hiện em có quen một người bạn gái cô ấy có vẻ rất yêu em và cũng muốn tiến tới hôn nhân nhưng có điều cô này không tạo được niềm tin trong em là cô ấy là người chung thuỷ. Theo em biết cô ấy thuộc mẫu người thích ngoại giao và thích làm việc bên ngoài, ham kiếm tiền, thích giao du, không thích việc gia đình. Về chuyện đảm đang gia đình thì trước đây cô ấy không chú ý đến việc này lắm nhưng dưới áp lực của em, cô ấy cũng đã cố gắng nhiều. Cô ấy cũng đã đi làm thêm cho một số văn phòng khác cho dù nơi đó chỉ có một ông chủ. Hơn nữa cô ấy cũng là người ham vui và có sở thích lấn lướt nam giới. Đi chơi với cô ấy, em thấy cô ấy giao tiếp với bạn bè rất tự nhiên và không ngại đụng chạm chân tay vào người đàn ông hay con trai hoặc không ngại người khác đụng chạm vào thân người mình. Cộng những chuyện trên lại gây cho em hoài nghi là trong những hoàn cảnh “vắng vẻ và nhạy cảm” trong công việc như thế và với tính cách dễ dãi cô ấy không biết cô ấy có làm những việc…
Tuy nhiên dù sao đó cũng chỉ là chuyện quá khứ. Xin chị giúp em làm sao biết được, có phép nào thử để biết được cô ấy có phải là người tôn trọng chung thủy, không có hoặc không còn tính lăng nhăng.
Em thì lại cứ mong đợi một mẫu người chu đáo, đảm đang, chung thủy, đề cao vai trò gia đình. Có phải em là người mơ mộng quá cao không? Lý tưởng người bạn đời quá đáng không? Nếu có, em thì em chỉ muốn đến mức nào thôi và em cũng chấp nhận (thiệt thòi do chịu đựng vô lý).
3. Em là người quyết định việc gì cũng mong muốn biết chính xác bản chất người em lựa chọn. Em biết rất là khó và đôi khi là không thể hiểu hết mọi chuyện. Nhưng trong việc tìm chọn người bạn đời em có nên phải tìm hiểu kỹ hay cứ để phó mặc cho người đó?
V.G.H. – San Jose
Trả lời:
Đọc thư em xong, chị chợt nhớ tới câu chuyện hồi xưa chị đọc, có nhan đề là”Nam nữ thụ thụ bất thân”. Chuyện kể rằng:
“Ngày xưa ở bên Tầu có người thiếu phụ làm dâu trong một gia đình cổ kính, mới sinh được một đứa con. Mẹ chồng nàng cũng có một con trai nhỏ, hãy còn cho bú. Một hôm, mẹ chồng đi vắng, đứa nhỏ con bà ta ở nhà khóc quá, cô con dâu thương tình cho đứa nhỏ bú chực, để nó đỡ đói. Đang khi đứa bé mút chùn chụt thì chồng nàng bước vào phòng. Nhìn cảnh tượng đứa bé vừa bú vừa sờ soạng vợ (thói quen của con nít khi nằm bú thường sờ soạng phía bên kia) Anh ta đứng chết trân, không nói một lời, rồi quay phắt ra, tuyên bố với gia đình là vợ anh ta không giữ tiết trinh, đã để cho một người khác phái, không phải là chồng con mình, sờ vào thân thể, và đuổi cô ta trở về nhà cha mẹ ruột.”
Chắc em cười bò, cho là chị nói dóc chứ gì? Chị có đọc câu chuyện đó thật mà. Thì cũng như nếu có cô gái Tây phương thời nay nghe kể rằng có người bình phẩm tư cách của một phụ nữ thế kỷ 21 là “… Đi chơi với cô ấy, em thấy cô ấy giao tiếp với bạn bè rất tự nhiên và không ngại đụng chạm chân tay vào người đàn ông hay con trai hoặc không ngại người khác đụng chạm vào thân người mình …”…, họ cũng cười bò, cho là “làm gì có ai hẹp hòi như người dân của chế độ Taliban, bắt đàn bà quấn kín mít khi ra đường thế !”
Em hơi khó tính đấy, em ạ. Có thể là cô ấy quen sống trong môi trường tự nhiên, không ẩn ý, trong sự giao dịch, cô ấy coi đàn ông cũng như đàn bà. Tuy nhiên, như thế không có nghĩa là cô ấy sẵn sàng ngả vào lòng đàn ông khi chỉ có hai người trong văn phòng đâu, em ạ. (Ông nào tưởng bở, bờm xơm, coi chừng mà cô ấy cho “lỗ mũi ăn trầu, cái đầu xỉa thuốc”, đó đa).
Em viết : “ Em thì lại cứ mong đợi một mẫu người chu đáo, đảm đang, chung thủy, đề cao vai trò gia đình”, thì cô này cũng có thể hội đủ, miễn là chính em cũng phải có cái nhìn phóng khoáng. Cô ấy yêu chiều em, thí dụ “Về chuyện đảm đang gia đình thì trước đây cô ấy không chú ý đến việc này lắm nhưng dưới áp lực của em, cô ấy cũng đã cố gắng nhiều“, vậy nếu hai người đều cố gắng “xích lại gần nhau” thì chị tin rằng khó khăn nào cũng có thể vượt qua, miễn là hai người yêu nhau.
Nhưng em ơi, chị hơi nghi là em không yêu cô ấy, bởi vì “yêu nhau trái ấu cũng tròn”, “yêu nhau tam tứ núi cũng trèo, thất bát sông cũng lội, cửu thập đèo cũng qua”, mà em. Đàng này, dường như em chỉ muốn có một ngườisống chung với em, phục vụ em theo ý em thích, mà không thấy em quan tâm đến ý thích của cô ấy, phải không em?
Em muốn trước khi lấy ai, em phải biết chính xác bản chất của người em lựa chọn, thì coi chừng mà sẽ rơi vào trường hợp:
“Đi đâu mà chẳng cưới nàng,
Người ta cưới mất kêu than thấu Trời.
Ông Trời cúi xuống mỉm cười,
Kén chọn cho lắm đáng đời lẻ loi!”
Không ai có thể biết chính xác về người khác, em ạ. Có câu “Cùng nhau ăn hết 1 ký muối mới có thể biết nhau chút đỉnh” mà.
28 tuổi chưa phải là già, nhưng nếu em đã cảm thấy mình già, muốn cưới vợ, thì nên nhớ là vì tình yêu người ta có thể hy sinh cho nhau. Em và cô bạn gái, nếu muốn sống chung, thì hai em có thể chiều nhau, như cô ấy đã từng chiều em, chịu “đảm đang gia đình” rồi mà.
Thân chúc em một cuộc đời đầy hạnh phúc.
Thuần Nhã (ĐPK)