Archive | March 2015

Phật Giáo là một đường lối sống

Có câu hỏi như sau:

– Một người đang theo tôn giáo khác, nếu muốn học Phật pháp thì có gì trở ngại hay không?

Đáp:

– Bất cứ ai, dù đang theo tôn giáo nào hoặc không theo tôn giáo nào, mà muốn học Phật pháp, đều không có gì trở ngại cả. Phật giáo không phải là một tôn giáo mê tín, mà là một hệ thống giáo dục dựa trên quy luật nhân quả để chuyển hóa con người từ xấu thành tốt, “không làm điều xấu ác, siêng làm điều tốt lành”. Sau giai đoạn chuyển xấu thành tốt, con người trở nên hoàn thiện, thì sẽ có những thiện quả tạo thành duyên lành cho đương sự bước vào bước tu tập thứ hai là “tự thanh tịnh tâm ý”, hoàn toàn rũ bỏ Tham Sân Si, chuyển từ mê lầm sang giác ngộ, tỉnh thức, giải thoát khỏi vòng sinh tử, khai phóng tâm linh bất sinh bất diệt.

Nhà Phật rất hoan nghênh bất cứ ai muốn tìm hiểu Phật pháp và nghiên cứu Tam Tạng kinh, luật, luận, trong kho tàng kinh điển của đạo Phật. Có nhiều học giả thâm hiểu giáo lý nhà Phật, – trong số đó có những người Tây Phương, – viết sách luận giải về đạo Phật, là những người thuộc các tôn giáo khác, không phải là Phật tử. Nhiều kinh sách nhà Phật đã được dịch ra tiếng Anh bởi những học giả vốn là tín đồ các tôn giáo khác, đọc kinh sách Phật giáo vì tò mò, hoặc có trường hợp đọc với mục đích tìm những điểm không ưng ý để chỉ trích. Nhưng sau khi tiến sâu vào tư tưởng nhà Phật, họ cảm nhận được tinh thần khai phóng, từ bi, bình đẳng, nên trong lòng họ có sự chuyển hóa, tăng trưởng thiện cảm đối với đạo Phật. Khởi đầu là tìm hiểu phần lý thuyết, dần dần họ bước vào phần thực hành các phương pháp luyện tâm qua thiền quán Phật giáo, thấy được an lạc. Càng đi sâu vào tư tưởng uyên áo của đạo Phật, họ càng thấy tâm hồn được tự tại, giải thoát.

Một số người tìm tòi nghiên cứu kinh sách nhà Phật không vì thiện ý, nhưng cuối cùng lại trở thành những tu sĩ đáng kính, có công lớn trong việc hoằng truyền Phật pháp tại các quốc gia Tây Phương. Ngày nay, nếu chúng ta vào một tiệm sách online, thí dụ Amazon.com, click vào chữ Buddhism, chúng ta sẽ thấy xuất hiện gần bốn chục ngàn tựa sách Phật giáo, hầu hết đều do người Tây Phương viết.

Câu hỏi thứ hai:

– Muốn tu tập theo Phật giáo, có cần phải bỏ tôn giáo của mình, chuyển qua đạo Phật không?

Đáp:

– Điểm son của đạo Phật là tinh thần tôn trọng đời sống nội tâm và sinh mạng muôn loài. Tôn giáo, tín ngưỡng, là vấn đề rất tế nhị, có những ràng buộc tình cảm sâu xa đối với quá khứ và thân quyến của đương sự. Cho nên người Phật tử không thuyết phục người khác bỏ tôn giáo của họ để theo đạo Phật. Đức Phật là bậc Giác Ngộ. Đạo Phật là đạo Giác Ngộ. Giác thì không mê, cho nên người Phật tử không muốn ai bước vào đạo Phật bằng con đường mê tín.

Những người từ đạo khác chuyển qua đạo Phật, phần lớn là do họ nghiên cứu kinh điển thâm sâu, hiểu được phần cốt tủy, tự ý đi tìm các vị tu sĩ để làm thủ tục gia nhập cộng đồng Phật tử. Cũng có những trường hợp không cần thủ tục gì cả, người muốn thực hiện những bước tu tập của đạo Phật cứ tự nhiên y theo lời dạy của đức Thế Tôn: “Không làm điều xấu ác, siêng làm điều thiện lành và tự thanh tịnh hóa tâm”, không để cho tâm hồn bị dính mắc vào bất cứ một giáo điều, một hình ảnh nào cả, như thế cũng xứng đáng là một Phật tử đúng nghĩa rồi.

Có rất nhiều thí dụ về thái độ tôn trọng các tôn giáo khác của người Phật tử. Chúng tôi xin đơn cử vài trường hợp, như vua A Dục, trị vì xứ Maurya, miền Bắc Ấn Độ từ năm 272 đến năm 236 trước công nguyên, mất năm 231. Ông là một Phật tử thuần thành, đã ứng dụng lời dậy của đức Phật vào việc trị nước, đem lại thanh bình cho toàn xứ Ấn Độ thời đó. Quan điểm của ông là làm sao cho dân chúng có một đời sống hạnh phúc, gồm tự do, lòng từ bi, tránh chém giết, tôn trọng sự thật. Ông cũng là người cổ võ việc ăn chay và chống tệ nạn giết thú vật để cúng tế. Trong một trụ đá kỷ niệm, có khắc lời ông như sau:

– “Ta không nên chỉ đề cao tôn giáo của mình mà chê bai các tôn giáo của người khác, mà nên tôn trọng những điều hay của các tôn giáo khác nữa. Hành xử như thế, ta sẽ giúp cho nếp sống đạo của ta tăng trưởng và đồng thời cũng giúp những người thuộc các tôn giáo khác sống đạo. Nếu làm ngược lại, là chúng ta tự chôn vùi tôn giáo của mình và cũng làm hại những tôn giáo khác. Bất cứ ai tôn vinh tôn giáo mình trong khi chỉ trích các tôn giáo khác, mà nghĩ rằng: “Tôi ngợi ca, thờ phượng tôn giáo của tôi”, thật ra là làm thương tổn sâu xa cho tôn giáo của chính họ. Cho nên, sống hài hòa với nhau thì tốt hơn. Hãy lắng nghe, lắng nghe với thiện ý những học thuyết của các tôn giáo khác”.

Tiến sĩ Malasekara cũng nói :

– “Không bao giờ có chuyện đạo Phật truyền giáo bằng cách ép buộc những người không thích phải tin theo mình, lại càng không dùng các thủ đoạn gây áp lực, hoặc nịnh nọt tâng bốc, hoặc dối trá lừa phỉnh, để đạt được thắng lợi trong sự hoán chuyển tư tưởng người khác. Những nhà truyền giáo của đạo Phật không bao giờ tranh đua để giành người cải đạo như ở nơi chợ búa”.

Đạo Phật đã bị hiểu lầm rất nhiều, người thì cho rằng đạo Phật chỉ lo cúng đám làm chay cho người chết, kẻ lại nghĩ rằng đạo Phật chỉ thích hợp với các bậc tu sĩ ở ẩn. Với mục đích trình bày sự trong sáng của đạo Phật, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một bài pháp trích dịch từ cuốn “What the Buddha Taught”, do hòa thượng Walpola Rahula giảng:

…”… Có một số người cho là đạo Phật quá cao siêu, một đường lối tu quá nghiêm túc, khắc khổ, khiến cho những người dân bình thường sống trong thế giới ngày nay không thể kham nổi. Như thế, nếu muốn thực hành giáo pháp, muốn làm một Phật tử chân chính, người ta phải rút lui vào các tu viện, hoặc những nơi vắng vẻ.

Rõ ràng đây là một sự hiểu lầm rất đáng tiếc, do thiếu hiểu biết về giáo lý nhà Phật. Người ta thường vội vã có những kết luận sai lầm như thế, sau khi nghe một vài mẩu chuyện, hoặc tình cờ đọc một cuốn sách, mà vì thiếu sự tìm hiểu rộng rãi, tác giả đã viết về đạo Phật một cách phiến diện.

Giáo lý của nhà Phật không phải chỉ dành riêng cho giới tu sĩ trong tu viện, mà là của tất cả mọi người, kể cả những nam nữ cư sĩ sống trong gia đình. Tuân theo Bát Chánh Đạo là sống trong tinh thần Phật giáo. Dù là tu sĩ hay cư sĩ, mọi người đều có thể áp dụng nguyên tác này vào cuộc đời, không phân biệt.

Đại đa số dân chúng trên thế giới không thể trở thành tu sĩ, hay rút lui vào các hang động hoặc rừng sâu núi thẳm để ẩn tu. Vậy nếu những người này mà không ứng dụng được lời dạy của đức Phật vào đời sống hằng ngày của họ thì dù những lời dạy ấy có cao siêu, tinh khiết đến đâu đi nữa, đối với họ cũng là vô dụng. Tuy nhiên, nếu bạn hiểu đúng tinh thần của giáo pháp, — không phải chỉ hiểu theo từ ngữ — thì chắc chắn bạn có thể thực hành Phật pháp trong khi vẫn sống cuộc đời bình thường.

Có thể có một số người cảm thấy nếu ở ẩn tại một nơi xa xôi vắng vẻ, chấm dứt các hoạt động xã hội, thì sự hành trì Phật pháp sẽ dễ dàng và thoải mái hơn. Nhưng lại cũng có thể có người thấy rằng đời sống ẩn dật đó thật là tẻ nhạt, khiến cho cả tâm hồn và thể xác của họ đều uể oải, không thể giúp cho cuộc sống tinh thần và nội tâm của họ được thăng hoa.

Sự ẩn dật chân chính không có nghĩa là phải xa lánh hẳn thế gian. Tôn giả Sariputta, một đại đệ tử của Phật nói rằng, một người có thể tu khổ hạnh trong rừng nhưng tâm vẫn đầy những tư tưởng ô nhiễm, bất tịnh, trong khi một người khác có thể sống trong làng mạc hay thành thị, không thực hành khổ hạnh, mà tâm lại thanh tịnh, trong sáng. Ngài nói, so sánh giữa hai người ấy, thì người sống cuộc đời thanh tịnh nơi làng mạc, thành thị, lại cao cả và giá trị hơn người kia rất nhiều.

Dường như đối với một số người thì sự lui về ẩn tu trong một nơi vắng vẻ, không bị quấy nhiễu phiền phức, sẽ cảm thấy thoải mái. Nhưng nếu có thể thực hành Phật pháp tại nơi ồn náo, sống giữa đồng loại để giúp đỡ và phục vụ họ, thì lại càng can đảm và đáng khuyến khích hơn. Trong vài trường hợp, người ta có thể sống ẩn dật để tịnh tu một thời gian cho đời sống nội tâm thêm sâu sắc, đạo lực thêm bền chắc, ngõ hầu trau giồi cho nhân cách tăng trưởng, thêm khả năng để sau này giúp đỡ mọi người.

Mặc dầu vậy, nếu có người nào mà lại đem cả cuộc đời dành cho sự sống trong cô độc, chỉ nghĩ đến hạnh phúc và “cứu rỗi” cho riêng mình, không quan tâm đến đồng loại, thì điều này chắc chắn không phù hợp với lời dạy của đức Phật, vốn đặt nền tảng trên tình thương, lòng trắc ẩn và sự phục vụ tha nhân.

Kinh Sigala đã nói lên sự quan tâm sâu sắc của đức Phật đối với cách hành xử của người cư sĩ tu tại gia, trong những mối dây liên hệ với gia đình và thân bằng quyến thuộc, như sau:

Có một chàng thanh niên tên Sigala, vâng theo lời dặn dò của người cha trước khi qua đời, hằng ngày thường quay mặt về sáu Phương là Đông, Nam, Tây, Bắc, Trên, Dưới, để sì sụp lễ lạy.

Đức Phật bảo anh ta rằng theo Phật pháp, sáu Phương có nghĩa khác. Phật pháp dạy rằng Phương Đông là cha mẹ, Phương Nam là thầy dạy, Phương Tây là vợ con, Phương Bắc là bạn bè, quyến thuộc, láng giềng, Phương Dưới là người làm công và thợ thuyền, Phương Trên là tu sĩ và đạo sư. Ngài dạy Sigala phải tôn kính sáu Phương này. Ở đây chữ tôn kính có ý nghĩa rất đặc biệt, vì người ta chỉ tôn kính cái gì thiêng liêng, cao quý, đáng kính. Đạo Phật coi sáu nhóm người này như là những điều thiêng liêng, xứng đáng được tôn kính.

Nhưng làm thế nào để tỏ lòng tôn kính?

Đức Phật dạy rằng chỉ có thể tỏ lòng tôn kính chân thành bằng cách làm tròn bổn phận đối với họ. Những bổn phận này được đức Phật giảng giải rõ ràng cho Sigala như sau:

– Thứ nhất: cha mẹ là thiêng liêng đối với con cái. Cha mẹ là Trời. Từ ngữ “Trời” để biểu tượng sự cao quý và thiêng liêng nhất, theo tư tưởng Ấn Độ. Cho nên ngay tại thời đại này, trong những gia đình theo đạo Phật thuần thành, sáng chiều hằng ngày, con cái vẫn có những hành động để tỏ lòng tôn kính cha mẹ. Họ phải làm một số bổn phận đối với cha mẹ theo giáo lý nhà Phật: Săn sóc khi cha mẹ già yếu, làm những điều cần thiết để giúp đỡ cha mẹ, giữ gìn danh dự và truyền thống gia đình, bảo vệ tài sản cha mẹ để lại, và khi cha mẹ qua đời thì cử hành các nghi thức trong tang lễ của cha mẹ.

Về phần cha mẹ, họ cũng có những bổn phận đối với con cái, phải giữ gìn, dạy bảo cho con cái tránh xa những đường tà, khuyến khích con cái làm những việc tốt lành và ích lợi, cho con cái được hưởng một nền giáo dục chu đáo, tìm những gia đình lương thiện cho con cái kết hôn và khi con cái đã trưởng thành thì chia gia tài cho họ.

– Thứ hai: liên hệ giữa thầy và trò. Người học trò phải kính trọng và vâng lời thầy, phải chú ý đến những sự cần thiết của thầy, nếu thầy cần, phải chăm lo học hành. Về phía thầy, phải tận tâm dạy bảo học trò một cách chu đáo, giới thiệu bạn tốt cho trò và khi trò tốt nghiệp thì cố gắng tìm việc làm để bảo đảm kế sinh nhai cho trò.

– Thứ ba: liên hệ giữa chồng và vợ. Tình yêu giữa vợ chồng được coi gần như một nếp sống đạo, có tính cách thiêng liêng. Giữa vợ và chồng phải có sự tin cậy, kính trọng, hy sinh, và có những bổn phận đối với nhau. Chồng phải luôn luôn tôn trọng vợ, không được thiếu sự kính nể đối với vợ, phải thương yêu và chung thủy đối với vợ, phải bảo đảm vị trí và tiện nghi của vợ, và nên làm vui lòng vợ bằng cách tặng nàng y phục và nữ trang. (Sự kiện đức Phật không quên đề cập đến việc tặng quà cho vợ khiến chúng ta thấy được sự mẫn cảm và tế nhị đầy nhân bản của Ngài đối với niềm cảm xúc của những con người bình thường). Về phía người vợ, phải tề gia nội trợ chu đáo, làm vui lòng khách khứa, bạn bè, thân nhân và người làm công. Vợ phải yêu thương và chung thủy với chồng, phải biết giữ gìn gia sản, phải khôn khéo và hoạt bát trong công việc.

– Thứ tư: liên hệ giữa bạn bè, bà con, hàng xóm láng giềng: Mọi người phải niềm nở và tử tế đối với nhau, nói năng vui vẻ, hòa nhã, phải làm việc có lợi ích cho nhau và đối xử bình đẳng với nhau, không cãi cọ mà giúp đỡ lẫn nhau khi cần và đừng bỏ rơi khi người ta gặp hoàn cảnh khó khăn.

– Thứ năm: liên hệ giữa chủ và người làm công: người chủ có nhiều bổn phận đối với người giúp việc hoặc người làm công, phải lượng sức của người ta để mà giao việc phù hợp, tiền lương phải tương xứng, phải cung cấp thuốc men và thỉnh thoảng tặng thưởng cho người ta. Về phía người làm công thì phải chăm chỉ làm lụng, không lười biếng, phải lương thiện và vâng lời chủ, không ăn gian nói dối và phải tận tụy trong công việc

– Thứ sáu: liên hệ giữa tu sĩ và cư sĩ: với niềm kính quý, người cư sĩ phải quan tâm đến những nhu cầu vật chất của tu sĩ,người tu sĩ phải truyền bá sự hiểu biết cho cư sĩ với tấm lòng từ bi, lân mẫn và hướng dẫn họ đi trên chánh đạo, không lọt vào tà đạo.

Như vậy, chúng ta đã thấy rõ rằng dù là một người dân bình thường sống trong gia đình, tham dự những sinh hoạt ngoài xã hội, họ vẫn được thụ hưởng sự giáo hóa của đức Thế Tôn, vẫn có thể tu tập, tạo sự an lạc trong nếp sống của một người Phật tử …”…

thuvienhoasen online

Ánh Sáng cho Chính Mình

Mỗi người phải được tự do để trở thành ánh sáng cho chính mình. “Ánh sáng cho chính mình”. Ánh sáng này không thể nhận được từ người khác, cũng không thể thắp lên bằng ngọn nến của người khác. Nếu bạn thắp bằng ngọn nến của người khác, nó chỉ là ngọn nến, nó có thể bị thổi tắt.

Sự nghiên cứu ráo riết để tìm ra thế nào là ánh sáng cho chính mình là một phần của thiền quán. Chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu xem thế nào là ánh sáng cho chính mình và sự có ánh sáng này nó đặc biệt quan trọng đến mức nào.

Thân phận của chúng ta là chấp nhận thẩm quyền, thẩm quyền của vị tu sĩ, thẩm quyền của cuốn sách, thẩm quyền của vị đạo sư, thẩm quyền của người nào đó tuyên bố rằng họ biết.

Đối với tất cả những vấn đề thuộc về tâm linh, nếu có thể dùng từ “tâm linh”, thì không có bất cứ loại thẩm quyền nào cả. Nếu không như vậy, bạn sẽ không có tự do để mà lắng tâm, trầm tư, để tự tìm ra ý nghĩa mà thiền quán mang lại.

Để đi vào thiền quán, bạn phải hoàn toàn thả nổi bản thân, giải phóng nội tâm khỏi tất cả mọi loại thẩm quyền, so sánh, kể cả thẩm quyền của người phát ngôn, nhất là khi người phát ngôn lại là chính tự ngã, là “cái tôi”, bởi vì nếu bạn nghe theo lời của “hắn” thì…, thế là hết, là tiêu rồi!

Bạn phải nhận thức được sự quan trọng về thẩm quyền của ông thầy thuốc, của nhà khoa học; đồng thời hiểu rằng hoàn toàn không có sự quan trọng về thẩm quyền đối với nội tâm, dù rằng đó là thẩm quyền của người khác, hay của kinh nghiệm, kiến thức, quyết định, thành kiến của chính bạn.

Kinh nghiệm của ai đó, hiểu biết của ai đó rồi cũng sẽ trở thành thẩm quyền của chính họ: “Tôi hiểu, cho nên tôi đúng”.

Nên tỉnh giác trước những loại thẩm quyền đó, nếu không, bạn sẽ không bao giờ có thể trở thành ánh sáng cho chính bạn được…..

…..Trong thiền quán, sẽ không có ai chỉ dẫn bạn, không có ai nói cho bạn biết rằng bạn đang tiến bộ, không có ai khuyến khích bạn, bạn phải hoàn toàn đơn độc. Và cái ánh sáng cho chính bạn chỉ có thể bừng lên khi chính bạn tự tìm hiểu nội tâm một cách sâu xa, coi xem mình là cái gì. Đó là sự tự thức tỉnh, biết mình là cái gì. Cái biết ấy không dựa theo các tâm lý gia, không dựa theo các triết gia, không dựa theo các diễn giả, các nhà hùng biện, nhưng là bạn “biết”, bạn “tỉnh thức” về cái bản thể của bạn, sự suy nghĩ của bạn, cảm xúc của bạn, tìm ra toàn bộ cấu trúc của cái toàn thể.

Biết rõ chính mình là điều tối quan trọng. Đó không phải là do người khác mô tả về mình, mà là “đích thực là cái gì?”, bạn là cái gì;

Đó cũng không phải “cái mà bạn tưởng rằng bạn là…”, hoặc “cái mà bạn nghĩ rằng bạn nên là…”, nhưng là “cái đang hiện hữu thực tế là cái gì”?

J. Krishnamurti – This Light in Oneself – True Meditation

Người dịch: Danny Việt (ĐPK)

 

Trên Đường Đời

Hỏi:

   Thân chào Chị, thật ra tôi cũng không biết nói gì, chỉ là sự chia sẻ của cuộc sống. Tôi chỉ là một đứa con gái, nhan sắc hơn trung bình, có bằng đại học 4 năm về kế toán và đang làm cho một công ty lớn ở bên này. Đến nay cũng đã 38 tuổi, vậy mà tôi vẫn chưa lập gia đình.

          Đã qua vài lần trong tình yêu, tôi không biết có phải là số phận hay không, nhưng khi những người theo đuổi tôi và khi tôi bắt đầu “cảm nhận” được tình cảm của mình thì đối phương lại chơi trò “rượt bắt”.

          Nhiều lúc chán nản, tôi muốn buông xuôi tất cả, sống dễ dàng, tôi không biết là những tháng năm đánh đuổi tuổi trẻ và ngay cả tình cảm của mình để đổi lấy cái bằng đại học là điều đúng hay sai trong cuộc sống của tôi.

          Khi tôi đến Mỹ thì đã hơn 24 tuổi, đa số các cô gái cùng trang lứa hay đám em tôi cũng đi lấy chồng. Riêng tôi, ngày đó cũng có một mối tình, nhưng tôi đã “đau lòng” mà gạt bỏ qua để tập trung cho việc học, vì người bạn tôi quen bấy giờ qua cùng lúc với tôi, nhưng anh ta lại không muốn tiếp tục học. Sau khi xác định rõ hướng đi của cả 2 khác nhau, và tôi quyết định chia tay dù rất là buồn, tôi đã khóc rất nhiều, càng buồn, tôi lại cố tập trung vào việc học.

          Sáu năm sau tôi ra trường và được giữ lại làm chính thức cho công ty mà trong thời gian đi học tôi đã làm bán công cho họ. Vào những ngày Chủ nhật thì tôi tham gia công việc giảng dạy tiếng Việt thiện nguyện cho nhà thờ ở thành phố tôi đang ở, và cũng tham gia một vài hoạt động của ca đoàn.

          Đến bây giờ công việc đã ổn định, tôi chỉ mong ước có một mái ấm gia đình như bao nhiều người khác, nhưng việc đó hình như là quá xa vời với tôi trong cuộc sống này. Hình như hạnh phúc không dành cho tôi, đã qua vài lần thất bại, tôi đã chán nản, tôi không mất niềm tin vào con người, nhưng tôi mất niềm tin vào “số phận”.

Xin nhờ Chị giúp cho ý kiến: chẳng lẽ số kiếp của tôi phải mãi cô đơn…

H.

 

Đáp:

Em H. thân mến,

Kể tuổi, thì em nhỏ hơn chị, vậy chúng ta xưng hô chị em cho nó thân mật, ấm cúng nhé.

Tuy chị nhiều tuổi hơn em, phải nói ngay là chị rất thán phục em đấy. Còn trẻ thế, mà em đã bước được những bước rất đẹp, rất vững chãi, trong cuộc đời.

 Này nhé, để chị liệt kê ra cho em coi:

– Khi mới 24 tuổi, em đã biết nhận ra sự khác biệt căn bản giữa em và người yêu, để gạt nước mắt chia tay, mà dấn thân vào việc học, xây dựng bản thân cho có vốn liếng học vấn, để sau này bước vào đường đời. Nếu em không có ý chí, muốn an phận ngay khi mà vốn liếng vào đời còn non nớt như thế, thì ngày nay em sẽ ra sao?

Em là người yêu chuộng sự học vấn, sự hiểu biết, sự phát triển về mặt kiến thức, tinh thần, trong khi bạn em lại không thích học, thì với sở học nghèo nàn, cuộc đời sẽ rất vất vả, tương lai gia đình con cái các em sẽ khó mà có được những sự chọn lựa tốt đẹp, khó tránh được đời sống thiếu thốn, giật gấu vá vai.

Trường hợp bạn em không thích đi học, nhưng sau khi hai em cưới nhau rồi, chồng em vẫn cho em tới trường, rồi em cũng có bằng cấp như ngày nay, thì cuộc sống lứa đôi sẽ lại có những khó khăn về mặt tinh thần, về sự mặc cảm của người đàn ông ít học, không hiểu biết bằng vợ.

Đối với người ngoài, thì người đàn ông nào cũng có thể dốt, không thành vấn đề. Nhưng dốt hơn vợ thì cuộc sống chung, ông nói gà, bà nói vịt, mới là ác mộng. Những trường hợp chênh lệch học vấn mà phần yếu kém về phía vợ, thì không hại gì, có khi lại còn là một trong những yếu tố tạo hạnh phúc nữa, vì bà vợ cứ việc ỏn ẻn:” Anh ơi, không có anh thì em chẳng hiểu gì cả”, thế là ông chồng vui thích lắm rồi.

 Nhưng chị đã thấy có trường hợp vợ học cao hơn chồng, mỗi khi cãi nhau, người chồng luôn luôn hằn học: ”Cô cho là cô học cao hơn tôi rồi khi dể tôi phải không?” Trong khi người vợ chỉ biết ôm mặt khóc thút thít, có thể chính vì sự có học của cô ta đã không cho phép cô ta cãi cọ với chồng.

Dù vậy, với thời gian sống chung hàng nửa thế kỷ, bất trắc lúc nào cũng có thể xảy ra, một gia đình mà hai vợ chồng tương đương với nhau về mọi mặt, sẽ có nhiều triển vọng hòa hợp, hạnh phúc lâu dài hơn. Em đã làm việc đúng quá rồi nhé.

–  Trong khi đi học, em đi làm bán thời gian, cho nên khi ra trường, em có việc làm ngay. Như thế là em đã chăm chỉ làm việc để đầu tư cho tương lai. Đầu tư đó mang lại kết quả lớn, em đã có ngay việc làm trong khi những người khác khi mới ra trường, thường rất vất vả, mất nhiều thời gian kiếm việc, vì công ty thì muốn mượn người có kinh nghiệm, người đi xin việc lại cần phải có việc làm thì mới có thể có kinh nghiệm để đáp ứng với đòi hỏi của công ty! Sự khó khăn và mất thì giờ này tới với tất cả những người đi kiếm công việc đầu tiên, khi chưa có kinh nghiệm. Nhưng em đã vượt qua được cửa ải này thật là gọn gàng và đẹp, chị ngả nón ca ngợi em.

Rồi tới khi đã bước vững vàng trong cuộc đời, đã có thể nhìn rộng ra xã hội, thì em lại dành thời giờ của những ngày nghỉ để đi dậy tiếng Việt và làm các công tác tinh thần tại nhà thờ. Bây giờ thì em cũng sửa soạn cho mình một cuộc sống trong tương lai dưới mái nhà êm ấm có hai mái đầu âu yếm bên nhau, nên bắt đầu giao thiệp về mặt tâm tình đôi lứa.

Nhưng chuyện này là chuyện của trái tim, của duyên số và của tiếng sét ái tình. Em chưa gặp tiếng sét. Mấy người em gặp rồi chẳng bao lâu đã bay đi, mới chỉ là mấy “gợn sóng trong chén trà”, chưa phải tiếng sét, chưa phải là “người của em”, chưa phải là “người mà không có anh ta xuất hiện, thà rằng em sống độc thân”, em ơi, anh ta chưa xuất hiện, nhưng sẽ xuất hiện.

Em “mới 38 tuổi”, chứ không phải là “đã 38 tuổi”. Em sẽ gặp “người của em”, chị tin chắc một trăm phần trăm. Tại sao chị dám tin như vậy? Tại vì em là một người rất vững vàng, em đã không tiến tới trước những mối tình hời hợt, nhưng em sẽ gặp người sâu sắc, cùng cảm nghĩ như em, hai người sẽ yêu nhau tới răng long đầu bạc.

Chị chỉ có một lời tâm tình với em thôi, là em đang bước những bước rất đẹp trong cuộc đời. Em cứ bước tiếp với tinh thần tích cực, yêu người, yêu đời. Em làm việc Thiện Nguyện, em dạy Việt Ngữ cho các cháu bé không quên cội nguồn, yêu Chúa, em dâng lên Ngài lời ca. Em ơi, em hạnh phúc quá, có một việc làm vững chắc, trong khi biết bao nhiêu người chỉ xin được ở lại Mỹ để làm những việc vất vả tạm thời mà cũng khó, em lại có tấm lòng tốt để chia sẻ hiểu biết và tiếng ca của mình, đem lại niềm vui cho người khác, chị chúc mừng và ngưỡng mộ em.

Khi nào em gặp “người của em”, nhớ mời chị một chén trà để cùng cười với nhau, em nhé.

Thuần Nhã (ĐPK)