Bertrand Russell và tư duy triết học

Tiểu luận dưới đây được Einstein viết cho lời tựa tập 5 của tuyển tập “Library of Living Philosophers” do Giáo sư A. Schilpp chủ biên, xuất bản lần đầu năm 1946, đề cập riêng về triết học Bertrand Russell, đặc biệt là tác phẩm “An Inquiry into Meaning and Truth” xuất bản năm 1940.

Khi hội đồng biên tập đề nghị tôi viết chút gì đó về Bertrand Russell, thì vì sự ngưỡng mộ và kính trọng của tôi đối với tác giả, tôi đã nhận lời ngay lập tức. Nhờ đọc các tác phẩm của ông, tôi đã được hưởng biết bao giờ hạnh phúc, điều mà tôi – ngoại trừ về Thorstein Veblen – khó có thể nói khi đọc bất kỳ cây bút khoa học đương thời nào khác. Song tôi đã nhanh chóng nhận ra rằng, đưa ra một lời hứa thường dễ hơn là thực hiện nó. Tôi đã hứa, sẽ viết gì đó về Russell như về một triết gia và một nhà nhận thức luận. Và khi tôi đầy tự tin bắt tay vào việc, tôi sớm nhận ra rằng, một người bấy lâu chỉ cẩn trọng dừng lại trong địa hạt vật lý như tôi đã liều lĩnh biết bao khi dám đặt chân vào một lĩnh vực hóc búa như vậy. Có thể hầu hết những điều tôi sắp trình bày sau đây là ngây ngô với những người am hiểu. Song tôi tự an ủi mình bằng ý nghĩ, một người với kinh nghiệm tư duy trong một lĩnh vực khác như tôi bao giờ cũng được ưu ái hơn so với người hoàn toàn không suy tư hay chỉ suy tư ít ỏi.

Trong quá trình phát triển của tư duy triết học những thế kỷ qua, câu hỏi sau đây đóng vai trò chủ đạo: Những nhận thức nào có thể được mang lại từ tư duy thuần túy, không phụ thuộc vào những ấn tượng cảm tính? Liệu có thể có những nhận thức như vậy không? Nếu không, nhận thức của chúng ta có quan hệ như thế nào với những chất liệu thô do những ấn tượng cảm tính của giác quan cung cấp. Các câu hỏi đó, và một số câu hỏi khác có liên hệ chặt chẽ với chúng tương ứng với một trường hỗn loạn hầu như không thể bao quát hết được của nhiều quan điểm triết học khác nhau. Trong những nỗ lực dũng cảm nhưng tương đối vô bổ này, dù sao cũng dễ nhận ra một vệt phát triển có hệ thống, đó là: sự hoài nghi ngày càng gia tăng trước mọi thử nghiệm theo hướng “tư duy thuần túy”, hòng nắm bắt được điều gì đó về “thế giới khách quan” và thế giới “sự vật”, đối lập với thế giới “của những biểu tượng và tư tưởng” đơn thuần. Độc giả cho phép tôi nói trong ngoặc kép rằng: ở đây cũng như nơi một triết gia đích thực, dấu ngoặc kép (“”) được dùng khi muốn du nhập một khái niệm không chính đáng, và mong bạn đọc tạm thời châm chước, mặc dù nó còn khả nghi trước con mắt cú vọ của triết học.

Niềm tin cho rằng, chỉ cần tư duy thuần túy là có thể tìm ra mọi tri thức đáng giá trên đời, niềm tin ấy khá phổ biến trong buổi đầu của triết học. Đó đã là một ảo tưởng mà bất kỳ ai cũng dễ dàng nhận ra nếu anh ta, trong một phút giây, tạm quên đi những gì anh ta đã học được từ triết học và khoa học tự nhiên sau này. Anh ta ắt sẽ không ngạc nhiên khi thấy Plato quy cho “ý niệm” một dạng thực tại cao hơn so với những sự vật có thể được nhận biết một cách thường nghiệm. Cả ở Spinoza và cho tới tận Hegel, định kiến này có vẻ vẫn còn giữ vai trò chủ đạo với tất cả sức mạnh sống động của nó. Có thể ai đó thậm chí sẽ đặt ra câu hỏi: Nếu không có một ảo tưởng như thế thì liệu có thể tạo ra được cái gì đó vĩ đại trong lĩnh vực tư duy triết học? Song về phần mình, chúng tôi không muốn đặt ra một câu hỏi như vậy.

Cái ảo tưởng nặng vẻ quý tộc về sức mạnh thâm nhập vô biên đứng đối đầu lại với cái ảo tưởng nặng vẻ bình dân về một thuyết duy thực ngây thơ, theo đó, sự vật “tồn tại” y hệt như khi ta tri giác chúng bằng giác quan. Ảo tưởng này chi phối hoạt động thường nhật của con người và thú vật. Nó cũng là khởi điểm của các khoa học, nhất là các khoa học tự nhiên.

Việc vượt qua hai ảo tưởng trên không độc lập với nhau. So ra, việc vượt qua thuyết duy thực ngây thơ là đơn giản hơn. Russell đã khắc họa quá trình này một cách đầy ấn tượng trong phần dẫn nhập của cuốn “An Inquiry into Meaning and Truth” của ông như sau:

“Chúng ta đều bắt đầu bằng ‘thuyết duy thực ngây thơ’, nghĩa là bắt đầu bằng học thuyết cho rằng, sự vật tồn tại như nó xuất hiện ra [trước giác quan của ta]. Chúng ta thừa nhận rằng, cỏ thì xanh, tuyết thì lạnh và đá thì cứng. Nhưng vật lý học lại cam đoan với ta rằng, cái xanh của cỏ, cái lạnh của tuyết và cái cứng của đá không phải y hệt với cái xanh, cái lạnh và cái cứng mà chúng ta biết theo kinh nghiệm, mà là một cái gì đó khác hẳn. Nếu chúng ta tin vào vật lý học, chúng ta sẽ thấy rằng, khi một người quan sát cho rằng mình đang quan sát một hòn đá, thì nghĩa là trên thực tế, anh ta đang quan sát những tác động của hòn đá vào chính mình. Có vẻ như khoa học đang tự mâu thuẫn với chính nó: khi nó tự cho mình là khách quan cực độ, thì, trái với mong muốn của nó, nó lại chìm ngập trong tính chủ quan. Thuyết duy thực ngây thơ dẫn đến vật lý học; và vật lý học, về phần mình, lại chỉ ra rằng thuyết duy thực ngây thơ này, bao lâu nó cứ triệt để như thế, là sai lầm. Sai về logic; nghĩa là sai.”

Không kể đến lối hành văn bậc thầy, những dòng chữ trên nói lên một điều gì mà trước đó tôi chưa hề nghĩ đến. Lối tư duy của Berkeley và Hume, nếu chỉ nhìn một cách hời hợt, có vẻ đối lập lại với lối tư duy của các khoa học tự nhiên. Nhưng nhận định trên của Russell đã phát hiện một mối liên hệ: Nếu Berkeley dựa trên nền tảng rằng chúng ta không trực tiếp nắm bắt các “sự vật” của thế giới bên ngoài thông qua giác quan, mà giác quan của chúng ta chỉ nhận biết được chúng thông qua các quá trình nối kết nhân quả với sự hiện diện của các “sự vật” – một sự suy tưởng như thế hẳn đã có được sức mạnh thuyết phục từ lòng tin vào lề lối tư duy vật lý học, thì sẽ không cần thiết phải đưa bất kỳ cái gì vào giữa khách thể và hành vi nhìn để ngăn cách khách thể và chủ thể, và biến “sự tồn tại của khách thể” thành một tồn tại đáng nghi vấn.

Lối tư duy vật lý này cũng như các kết quả thực tiễn của nó đã làm lay chuyển niềm tin vào khả năng cho rằng, chỉ bằng con đường tư duy tư biện đơn thuần là có thể hiểu được các sự vật và các mối quan hệ của chúng. Dần dần, niềm tin rằng tất cả sự hiểu biết về sự vật của chúng ta rốt cuộc đều là một sự xử lý các chất liệu thô của các giác quan đã chiến thắng. Nguyên lý ấy, trong hình thức phổ quát này (được diễn đạt mù mờ một cách cố ý) hiện đang được chấp nhận rộng rãi. Song niềm tin đó không hề dựa trên cơ sở, rằng đã có ai đó chứng minh được tính bất khả của việc thu hoạch các nhận thức hiện thực bằng con đường tư biện thuần túy, mà là: chỉ duy nhất con đường thực nghiệm nói trên đã chứng tỏ như là nguồn gốc của nhận thức. Galilei và Hume là những người đầu tiên đã đứng về phía nguyên lý này với tất cả sự sáng sủa và kiên quyết.

Hume đã nhận thấy rằng, các khái niệm được ta xem là cơ bản, ví dụ: “sự nối kết nhân quả”, không thể được rút ra từ chất liệu do giác quan cung cấp. Cách nhìn ấy đã khiến ông có thái độ hoài nghi với tất cả các loại nhận thức. Nếu đã đọc những tác phẩm của ông, người ta sẽ không khỏi kinh ngạc khi những triết gia sau ông – trong đó có không ít người được đánh giá cao – đã viết vô khối những thứ lộn xộn mà vẫn tìm được độc giả ngưỡng mộ. Ông đã giữ được ảnh hưởng sâu đậm đến những người xuất sắc sau ông. Người ta nhận ra ông khi đọc các bài phân tích triết học của Russell, mà sự sắc sảo và lối viết giản dị của chúng luôn làm tôi nghĩ tới Hume.

Khát khao của con người là đòi hỏi phải có nhận thức được đảm bảo chắc chắn. Bởi thế, thông điệp rõ ràng của Hume làm ta thất vọng ê chề: Chất liệu thô cảm tính – nguồn gốc duy nhất của nhận thức, nhờ thói quen, có thể đưa chúng ta tới niềm tin và sự mong đợi, nhưng không thể đưa chúng ta tới sự nhận biết hay thậm chí đến sự thấu hiểu về các quan hệ có tính quy luật. Đúng ở điểm này, Kant đã xuất hiện với một ý tưởng – dù ở dạng diễn giải của ông, nó khó mà đứng vững được, song vẫn là một bước tiến để giải quyết thế lưỡng nan của Hume: Tất cả những gì có nguồn gốc thường nghiệm ở nơi nhận thức đều không bao giờ chắc chắn cả (Hume). Nghĩa là (theo Kant – ND), nếu chúng ta sở hữu nhận thức chắc chắn, thì nhận thức ấy phải được đặt cơ sở ở trong bản thân lý tính. Chẳng hạn, điều này được khẳng định khi bàn về các định lý của hình học và về nguyên lý nhân quả. Nhận thức này, và các nhận thức vững chắc khác có thể nói là một bộ phận trong bộ công cụ của tư duy; do đó, chúng không cần phải nhờ đến các dữ liệu do giác quan cung cấp mới có thể có được (tức gọi là nhận thức “a priori” – tiên nghiệm). Ngày nay mỗi chúng ta đều biết rằng, những nhận thức ấy tuyệt không có gì là chắc chắn, vâng, chúng tuyệt không sở hữu một sự tất yếu nào bên trong như Kant từng tin tưởng. Nhưng với tôi, nếu nhìn vấn đề từ quan điểm logic, lập trường của ông lại có vẻ đúng: đó là sự xác nhận, rằng chúng ta có lý do “chính đáng” khi sử dụng các khái niệm ấy để tư duy, những khái niệm mà chúng ta không thể có được từ chất liệu của các kinh nghiệm do giác quan mang lại.

Theo tôi, người ta thậm chí phải khẳng định mạnh mẽ hơn nữa: Những khái niệm xuất hiện trong tư duy và trong các biểu đạt bằng ngôn ngữ của chúng ta, tất cả – từ điểm nhìn logic – là những sáng tạo tự do của tư duy và không thể có được một cách quy nạp từ các kinh nghiệm giác quan. Sở dĩ điều này là khó nhận ra, chỉ vì chúng ta thường có thói quen gắn chặt một số khái niệm và liên kết khái niệm (mệnh đề) nhất định với một số kinh nghiệm giác quan nào đó của chúng ta, đến nỗi chúng ta không ý thức được khe nứt ngăn cách – về mặt logic là không thể vượt qua – giữa thế giới của các kinh nghiệm giác quan với thế giới của các khái niệm và mệnh đề.

Theo đó, chẳng hạn dãy số nguyên rõ ràng là một phát minh của trí tuệ con người, một công cụ tự tạo, nhằm trợ giúp việc sắp xếp những kinh nghiệm giác quan nhất định được dễ dàng. Song tuyệt không có cách nào để khái niệm này (dãy số nguyên – ND) có thể được nảy sinh từ bản thân các kinh nghiệm. Ở đây sở dĩ tôi chọn khái niệm “số” vì nó thuộc về tư duy tiền-khoa học và dù sao, tính cấu tạo (constructive) ở nó vẫn còn dễ nhận diện. Song, khi ta càng đi sâu vào những khái niệm sơ đẳng nhất của đời sống thường nhật, sức nặng của thói quen thâm căn cố đế sẽ càng gây khó khăn cho chúng ta trong việc nhận diện khái niệm ấy như là một sáng tạo tự do của tư duy. Như vậy, từ những tương quan nói trên, có thể nảy sinh một quan niệm nguy hại cho rằng, những khái niệm sở dĩ ra đời đều là từ các kinh nghiệm giác quan thông qua quá trình “trừu tượng hóa”, nghĩa là bằng cách lược bớt đi một phần trong nội dung của nó. Tôi muốn chỉ ra rằng, tại sao quan niệm ấy với tôi lại nguy hại:

Nếu đã quen với phê phán của Hume, ta dễ có ý tưởng rằng, dường như có thể loại bỏ ra khỏi tư duy tất cả các khái niệm và mệnh đề có tính “siêu hình”, nếu những khái niệm và mệnh đề ấy không có nguồn gốc từ chất liệu thô của kinh nghiệm giác quan. Bởi tất cả tư duy đều chứa đựng nội dung là chất liệu vốn không có nguồn gốc từ đâu khác ngoài mối liên hệ của nó với kinh nghiệm giác quan. Tôi thấy mệnh đề thứ hai này là hoàn toàn đúng, nhưng dựa trên đó để đề ra điều lệnh cho tư duy thì lại là sai. Bởi yêu sách ấy – nếu được thực hiện triệt để – sẽ loại bỏ bất kỳ thứ tư duy nào chỉ vì xem nó là “siêu hình”.

Để tư duy không bị sa đà vào “siêu hình học” cũng như vào lý luận suông, chỉ cần có đủ các định luật của hệ thống khái niệm được kết nối chắc chắn với các kinh nghiệm giác quan; đồng thời hệ thống khái niệm – với nhiệm vụ sắp xếp các kinh nghiệm giác quan và làm cho ta dễ có cái nhìn thống quan về chúng – phải có tính thống nhất và tiết kiệm càng nhiều càng tốt. Ngoài ra, cái “hệ thống” ấy cần phải là một trò chơi tự do (có tính logic) với các biểu tượng dựa theo các luật chơi được đề ra một cách tùy tiện (nhưng hợp logic) theo các luật chơi. Tất cả các quy định trên cần được áp dụng như nhau cho tư duy thường nhật và cho lối tư duy được ý thức nhiều hơn về tính hệ thống trong khoa học.

Bây giờ hẳn tất cả đều hiểu điều tôi muốn nói sau đây: Bằng sự phê phán sáng sủa của mình, Hume đã không chỉ thúc đẩy triết học một cách quyết định mà sự phê phán ấy – không phải lỗi tại ông – đã trở thành một mối nguy hiểm, khi nó tạo ra một sự “sợ hãi trước siêu hình học”. Nỗi sợ hãi ấy chứa đầy hiểm họa và là một căn bệnh của triết học thực nghiệm ngày nay; căn bệnh này là cái đối ứng với loại “triết học trên mây” trước đây, loại triết học vốn tưởng rằng không cần đến hoặc có thể bỏ qua dữ liệu cảm tính.

Với tất cả lòng ngưỡng mộ trước sự phân tích sắc sảo mà Russell đã mang lại cho chúng ta trong “Meaning and Truth”, tôi vẫn thấy rằng, ngay cả ở đây, bóng ma của nỗi sợ siêu hình học vẫn hiện diện và gây ra một số tác hại. Chẳng hạn, tôi thấy hình như nỗi sợ này là nguyên nhân dẫn đến việc Russell coi “sự vật” như là “tập hợp các tính chất”, trong đó “các tính chất” cần được tìm thấy trong các chất liệu thô từ giác quan. Vấn đề nảy sinh là: hai sự vật chỉ là một khi và chỉ khi chúng giống hệt nhau về “các tính chất”, dẫn tới chỗ cần phải quy các quan hệ hình học giữa các sự vật với nhau thành “những tính chất” của chúng. (Nếu không, theo lý thuyết của Russell, ta sẽ phải coi tháp Eiffel ở Paris và tháp Eiffel ở New York là “cùng một sự vật”). Đối diện với vấn đề này, tôi hoàn toàn không thấy một “nguy cơ siêu hình” nào cả, khi ta đưa “sự vật” (tức “đối tượng” theo nghĩa vật lý học) như một khái niệm độc lập với cấu trúc không gian – thời gian của nó vào hệ thống.

Nhìn vào những nỗ lực ấy, tôi cảm thấy thỏa mãn khi rốt cuộc, chương cuối của cuốn sách đã đưa ra kết luận, rằng người ta không thể không cần đến “siêu hình học”. Điều duy nhất mà tôi thấy không thoải mái khi đọc tới đó là cái lương tâm trí thức cắn rứt của tác giả cứ lẩn khuất giữa các dòng chữ.

Albert Einstein

Nguồn: Bertrand Russell und das philosophische Denken, Albert Einstein,
Meinweltbild, Carl Seelig, Ullstein Taschenbuch 2005, tr. 40-46.
Bản dịch tiếng Việt: http://chungta.com

Phóng sinh

Hỏi:

Vào các ngày lễ như lễ Phật Đản, lễ Vu Lan và lễ Rằm Tháng Giêng, tôi thấy các chùa thường có lễ phóng sinh tiếp ngay sau phần nghi thức lễ chính. Vậy xin vui lòng cho tôi biết ý nghĩa của việc phóng sinh và có phải phóng sanh sẽ làm giảm bớt nghiệp bệnh của mình hay được phước thật hay không? Có người nói rằng mua chim phóng sanh không có phước mà lại vô tình sát hại chim và bị những người buôn bán chim cá lợi dụng bắt nhiều thêm để bán thủ lợi, xin cho biết ý kiến.

Đáp:

Đạo Phật xuất hiện trên thế gian là từ thành quả tu hành của thái tử Tất Đạt Đa. Sau một quá trình thanh tịnh hóa tâm, thái tử bừng tỉnh, giác ngộ thành Phật. Phật là phiên âm của chữ Phạn “Buddha”, có nghĩa là “người tỉnh thức”. Từ ngữ Buddha dịch sang tiếng Trung Hoa là “giác giả ”, có nghĩa là “người giác ngộ”. Người Trung Hoa phiên âm chữ Buddha thành ra Phật Đà, hoặc Phật.

Do sự bừng tỉnh, giác ngộ này, đức Phật thấu suốt cội nguồn của thế giới hiện tượng tương đối, trực nhận được rằng tất cả các loài hữu tình chúng sinh cũng đều có đầy đủ trí huệ, giác tánh – còn gọi là Phật tánh – y như Ngài, cũng có khả năng thành Phật như Ngài. Cho nên tuyên ngôn đầu tiên của Ngài sau khi thành Phật là:

“Tất cả chúng sinh đều có đức tướng trí tuệ Như Lai” 
và:
“Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”. 

Từ ngữ chúng sinh ở đây không để chỉ riêng loài người, mà là bao gồm tất cả mọi loài sinh vật có cảm giác.
Đức Phật do tu chứng mà giác ngộ được những điều trên. Khoa học ngày nay dù không do tu chứng, nhưng nhờ những nghiên cứu, thí nghiệm, cũng đã xác nhận phát biểu của Ngài là có cơ sở thực tế, không phải là mê tín.

Bản tin về Đại Hội Khoa Học ở Dublin, Ái Nhĩ Lan hồi tháng Chín năm 2005 thông báo rằng, theo kết quả thí nghiệm của bác sĩ Filippo Aureli, đồng giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu về Nhân Chủng và Cổ Sinh Học của trường đại học Liverpool John Moores, thì có lẽ mối liên hệ giữa loài người và loài vật gần nhau hơn là những điều trước kia người ta đã tưởng.

Trình bày kết quả công trình nghiên cứu từ các thú vật có lông, bác sĩ Aureli cho biết rằng ông thấy chúng biểu lộ cảm xúc y như loài người trong đời sống hằng ngày. Ông giải thích rằng trong khi nghiên cứu, ông đã thấy chúng có những hành động như kỳ cọ thân thể để được sạch sẽ, lo lắng khi cảm thấy có điều bất thường, nguy hiểm có thể xảy ra. Trong tình trạng bồn chồn, khắc khoải, chúng cũng cắn móng chân hoặc bứt lông như loài người cắn móng tay, bứt tóc khi thần kinh căng thẳng. Ông cho rằng khỉ và vượn là những loài phân biệt đối xử dựa theo tình cảm bằng hữu rất rõ ràng. Tùy theo mối liên hệ thân sơ mà chúng quyết định cách ứng xử với đối phương khác nhau theo từng trường hợp.

Nhiều nhà khoa học trải qua những năm tháng theo dõi đời sống của loài vật nhận thấy rằng không phải chúng là những sinh vật vô cảm, chỉ biết ăn rồi sinh đẻ, như những bộ máy chỉ cần cho nhiên liệu vào là sản xuất . Trái lại, đời sống của chúng đầy ắp những tình cảm, cũng sôi động yêu đương, đau khổ vì ghen tuông, vì sự chết chóc của con cái, vân vân.

Một nhà nghiên cứu thú hoang kể lại rằng trong dịp theo dõi một đàn voi, ông chợt phát hiện một con voi lớn bỗng nhiên rời khỏi đàn, đứng lại, rống lên ai oán. Ông ta cố gắng tìm hiểu, thì phát hiện ra rằng con voi đó đang đứng bên cạnh một con voi nhỏ nằm dưới đất, có thể là con nó, dường như đã chết rồi. Theo dõi suốt hai ngày tiếp theo, ông thấy voi mẹ vẫn quanh quẩn bên voi con, và cả đàn voi thì cũng không đi xa, chỉ loanh quanh gần đó, như chờ đợi. Cho đến sáng ngày thứ ba, có lẽ voi mẹ đã nhận ra được thực tế chăng, hay là nhờ đồng loại thuyết phục, nên nó dùng vòi hất đất cát như muốn lấp xác con nó, rồi vừa rống lên thê thảm, vừa bước theo đàn ra đi.

Nhiều người trong chúng ta cũng đã từng chứng kiến những biểu lộ tình cảm của loài vật. Chúng ta cũng đã được nghe kể về những con chó trung thành với chủ, bỏ ăn khi chủ đi xa, hoặc như tại địa phương kia, có con chó chiều chiều ra sân ga xe lửa đón chủ đi làm trở về. Một hôm, chủ bị bạo bệnh bất thình lình ở sở, được chở vào nhà thương rồi qua đời. Vì không có thân nhân lãnh xác nên bạn bè chôn cất ngay tại nghĩa địa gần nhà thương. Con chó vẫn như thường lệ, ngày ngày ra ga ngồi đón chủ hàng mấy tiếng đồng hồ, cho tới đêm tối lại lủi thủi một mình về nhà. Mọi người thấy lạ, đem đồ ăn cho mà nó không ăn. Mãi tới hai tuần lễ sau, nó gầy rạc rồi nằm lử ra ở sân ga mà chết. Dân chúng gần đó bèn xây một bức tượng của nó ngay tại sân ga để vinh danh tấm lòng trung thành của nó đối với chủ.

Có rất nhiều câu chuyện về lòng trung thành của loài vật nuôi trong nhà, được chủ âu yếm, săn sóc, đã đối đáp lại bằng những tấm chân tình. Ngay cả những con vật không được săn sóc, âu yếm, sự biểu lộ cảm xúc, lo âu của chúng nó cũng rất rõ ràng, thí dụ những người ở gần lò sát sinh, như lò heo Chánh Hưng, thường kể lại những câu chuyện thương tâm khi những con bò bị lôi vào lò mổ, có thể là do linh tính báo trước, hoặc do mùi đặc biệt nơi lò sát sinh, mà chúng thường trì lại, đôi khi khuỵu hai chân trước xuống như van lạy, nước mắt ứa ra từ cặp mắt bi thương, thống thiết. Có những bà nội trợ kể chuyện khi làm món ếch xào lăn phải lột da con ếch, thấy nó chắp hai chân trước như là người ta chắp tay lạy xin tha mạng.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng tuy loài vật không thể biểu lộ cảm xúc bằng ngôn từ của loài người, thay vào đó, chúng phát biểu bằng hành động.

Đức Phật là bậc Toàn Trí và Toàn Bi. Sau khi thành đạo, Ngài dùng tất cả quãng đời còn lại gần nửa thế kỷ để đi các nơi từ gần đến xa mà giáo hóa chúng sinh. Tựu trung, những lời dạy dỗ của Ngài đều nhằm mục tiêu phát triển lòng từ bi và trí tuệ nơi con người. Những lời dạy đó đã được chư đệ tử của Ngài thu thập và viết lại trong kinh tạng, nhờ vậy, chúng ta ngày nay tuy ra đời sau khi Phật diệt độ đã trên hai ngàn năm trăm năm, mà vẫn còn được thấm nhuần những lời dạy dỗ vàng ngọc của Ngài.

Về mặt Trí Tuệ, Ngài dạy các phương pháp thiền quán, giữ gìn giới hạnh, tu tập để sống tỉnh thức, hóa giải Tham Sân Si, thanh tịnh hóa tâm.

Về mặt Từ Bi, đức Phật dạy mở rộng lòng trắc ẩn, tăng trưởng tình thương đối với chúng sinh, không chỉ riêng đối với loài người, mà còn phải dàn trải tâm từ tới tất cả các chủng loại sinh vật, vốn cũng có giác quan cảm xúc, cũng biết đau đớn, thậm chí cũng biết ghen tuông, buồn vui, biết thương yêu cha mẹ con cái, đau khổ khi phải biệt ly nhau, y như con người.

Với hành trang tinh thần phong phú và cao quý đó trong tâm, chư Tăng Ni và các Phật tử thuần thành của nhà Phật đều siêng năng thực hành lời dạy này. Đó là nguồn gốc của tục lệ phóng sinh trong những dịp lễ lớn của nhà Phật, hành động đã trở thành một biểu tượng nói lên lòng tri ân sâu xa, như là một lễ vật tinh thần thiêng liêng dâng lên đức Phật, để tỏ lòng thành kính vâng theo những lời dạy của Ngài.

Vậy phóng sanh là gì?

Phóng sanh có nghĩa là giải thoát những sinh vật đang bị tù đày, giam hãm trong lồng chậu, nhà giam, đang bị tra tấn, đánh đập hoặc sắp bị giết, tức là hành động mang lại sự sống cho chúng sinh đang bị đe dọa đến tính mạng.

Bắt nguồn từ hai bộ kinh Phật giáo Bắc Tông là kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới và kinh Kim Quang Minh, tục lệ phóng sinh được phát triển mạnh ở Trung Hoa, truyền sang Tây Tạng, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam.

Trong kinh Phạm Võng, đức Phật dạy:

“Người con Phật vì lòng từ bi mà làm việc phóng sanh và khuyên bảo người khác làm. Nếu thấy người đời sát sanh thì nên tìm cách cứu cho chúng được thoát khỏi nạn khổ.”

Kinh Kim Quang Minh cũng kể lại những thí dụ về lòng từ bi cứu giúp chúng sinh khỏi chết.

Vào thời đại nhà Tùy bên Trung Hoa, đại sư Trí Khải ở núi Thiên Thai truyền giảng kinh Kim Quang Minh và kinh Pháp Hoa, phát động phong trào đào ao phóng sinh, tiết kiệm tiền để mua lương thực nuôi cá. Sự việc này mở đầu cho việc phóng sinh và đào ao phóng sanh ở Trung Hoa từ đó. Đến cuối đời nhà Minh có đại sư Liên Trì là một trong những cao tăng rất tích cực truyền bá việc phóng sinh. Ngài đã để lại các bài thuyết giảng về ăn chay, về giới sát, về phóng sinh, cũng như về nghi thức phóng sinh trong tập “Trúc Song Tùy Bút”, khuyên mọi người không nên ăn thịt chúng sinh để khuyến khích tôn trọng giới sát và tích cực phóng sinh.

Tục phóng sinh được phát khởi từ tinh thần từ bi và bình đẳng giữa chúng sinh. Phóng sinh cũng như ăn chay, chính là một phần của việc giữ giới không sát sinh, một trong năm giới cấm mà người Phật tử khi quy y Tam Bảo thường phát lên lời nguyện giữ gìn, không vi phạm.

Gần năm chục năm giáo hóa chúng sinh, đức Phật để lại rất nhiều lời dạy trong kinh tạng, nhưng tóm lại đều cô đọng trong mấy câu sau đây:

— Không làm điều ác
— Siêng làm việc thiện
— Thanh tịnh hóa tâm 

Không sát hại sinh vật, dù gián tiếp như ăn thịt động vật, hoặc trực tiếp như cầm dao giết con vật, là làm việc thiện một cách thụ động, nằm trong lời dạy thứ nhất “Không làm điều ác” 

Phóng sinh cứu mạng sống, là làm việc thiện tích cực, nằm trong lời dạy thứ hai “Siêng làm việc thiện”

Đối với những người tu tập trên con đường Bồ Tát đạo thì ngoài những giới luật gọi là “chỉ trì”, là những giới “cấm không được làm”, còn phải giữ những giới gọi là “tác trì”, nghĩa là những giới “phải làm”, thí dụ nếu thấy có sự lâm nguy, đau khổ tới cho chúng sinh mà người tu theo Bồ Tát đạo lại khoanh tay đứng nhìn, không giúp kẻ khốn cùng, thì tức là đã phạm vào giới “tác trì”, tức là giới “phải làm”.

Như thế theo tinh thần này, người Phật tử không những không sát hại sinh vật mà còn phải cứu sinh vật đang bị đe dọa đến tính mạng, đang bị giam giữ tù đầy trong lồng chậu, cứu cho chúng khỏi chết, nghĩa là giải thoát chúng, trả tự do cho chúng về với bầu trời sông nước, về với gia đình tổ ấm của chúng. Chính vì vậy, theo truyền thống Phật giáo Bắc Tông, Giới Sát bao gồm cả việc phóng sinh.

Như vậy, phóng sinh là một việc làm rất tốt, rất đáng đươc ca ngợi. Tuy nhiên, nhà Phật có câu “tùy duyên, bất biến”. Bản chất của sự tu hành để tăng trưởng lòng từ bi là bất biến. Nhưng trong hành động thì cần tùy duyên, nghĩa là tùy trường hợp, tùy địa phương mà hành động, để vẫn có thể phù hợp với chân lý, đồng thời cũng hợp thời, hợp cảnh, kinh Phật gọi là khế lý và khế cơ.

Vào thời xa xưa, trong những dịp lễ có phóng sanh, các cụ mua cá cho bơi trong chậu nước hoặc mua cả dỏ cua đồng, loại cua nhỏ bằng ngón chân cái, đem lên chùa cúng rồi đem ra sông thả. Sau khi được thả, mấy con vật thường lặn ngay xuống nước.

Ngày nay thì khác. Chúng ta ở trong thành phố nên ít khi có được cá hoặc cua sống, cho nên chúng ta mua chim để thả. Những con chim bị bắt để bán cho người phóng sinh này thường phải chờ đợi một thời gian trước khi tới giờ phút được tháo cũi xổ lồng. Trong thời gian chờ đợi đó, chúng không được săn sóc chu đáo vì dường như không ai có bổn phận phải chăm lo cho mấy con chim trong lồng nằm chờ nơi góc sân kia được ăn uống no đủ.

Chúng tôi xin trình bày một trường hợp cụ thể về phóng sinh ngay tại một ngôi chùa ở quận Cam. Vì phải trải qua nhiều thời gian chờ đợi buổi lễ cầu an, cầu siêu nên chim đã chịu đói khát, lại phải chịu thân phận tù đày thêm cả buổi nữa ngay nơi chánh điện chùa. Cuối cùng, sau khi chấm dứt phần chót của lễ quy y cho chúng do vị Thượng Toạ chủ lễ thì chim cũng được sổ lồng đấy, nhưng có một số đã quá yếu sức, lừ đừ, bay lên không nổi, chỉ là đà rồi rớt xuống, quờ quạng, tắt hơi.

Vậy thì chúng ta cần phải xét lại việc phóng sinh chim và thả cá. Chim bị bắt nhốt vào lồng, cá bị bắt thả trong chậu bán ngoài chợ là do người giăng lưới vây bắt vì nhu cầu tiêu thụ, để ăn hoặc để phóng sinh. Điều này có nghĩa là nếu không có nhu cầu mua chim cá thì chim cá sẽ không bị giăng lưới và nhốt vào lồng chậu.

Qua sự kiện này chúng ta nhận thấy, vì muốn phóng sinh nhằm tạo phước mà người phóng sinh lại vô tình thúc đẩy những người khác giăng lưới bắt chim cá, đến nỗi tự họ lại mắc vào nghiệp sát sinh.

Ngoài ra, chim cá bán ngoài thị trường để cung ứng cho nhu cầu phóng sinh tại các đô thị thường là do người ta bắt ở các ao cá, vườn chim. Những sinh vật này có thể sẽ không thích ứng với hoàn cảnh mới.

Hơn nữa, các giống chim, cá đều có thói quen của chúng. Có những loài cá phải sống trong những hoàn cảnh nhất định như chất nước, độ sâu, độ chảy. Cá sông không thể sống dưới biển và cá biển không thể sống dưới sông. Chỉ có những con chim bồ câu bị bắt để phóng sinh thì may ra ít khổ nhất, chúng chỉ bị tù túng mấy ngày, có thể là phải chịu đói khát, nhưng nếu sống sót cho đến lúc được phóng sinh mà còn đủ sức để bay thì cũng có nhiều cơ may có thể “trở về mái nhà xưa”, vì loài chim bồ câu vốn nhớ đường về, chúng sẽ có thể bay về với gia đình, sẽ được chủ nó cho ăn uống bồi bổ lại sau những ngày bị giam cầm tù tội và đói khát.

Trong tình hình như vậy, có nên phóng sinh hay không ? Điều này xin quý vị tự định đoạt.

Tuy nhiên, việc bắt, mua bán rồi thả, rồi bắt lại ..v..v..là không đúng với tinh thần phóng sinh. Phóng sinh chỉ có ý nghĩa khi chúng ta giải thoát được con vật trong hoàn cảnh ngẫu nhiên hay thả chúng sống trong một môi trường thích hợp, tạo cho chúng có cơ hội sống dài lâu hơn. Không nhất thiết phải mang chúng đến chùa mới phóng sinh được. Chỗ nào thích hợp thì thả chúng.

Thật ra việc phóng sinh ai cũng có thể làm, không nhất thiết phải có tiền (mua chim cá) mới thực hành được. Chỉ cần có tấm lòng từ bi thương xót chúng sinh, xem mọi loài chúng sinh đều bình đẳng, đều có quyền sống. Khi đi bộ trên đường thấy con giun đang giẫy giụa trước sức nóng mặt trời, chúng ta mang chúng vào nơi có đất ẩm, hay gặp con sên đang bò trên vỉa hè, chúng ta nhặt chúng đem vào bãi cỏ xanh mát. Hoặc là khi khởi tâm muốn phóng sinh, chúng ta rủ bạn bè, thân nhân, đi ăn một bữa cơm với rau đậu, như thế là chúng ta cũng đã có thể cứu dăm ba mạng tôm, cua, sò, cá, chim câu, vân vân, thế là cũng đã thực hiện hạnh phóng sinh rồi.

Theo quy luật nhân quả, mình có lòng muốn cho chúng sinh khỏi đau đớn, giải thoát chúng sinh, thì mình cũng sẽ được khỏi đau đớn, được giải thoát. Nhưng đó chỉ là kết quả tự nhiên của những hành động từ thiện, không phải mục tiêu của sự phóng sinh trong nhà Phật. Nhà Phật phóng sinh là vì lòng từ bi.

Nói như thế không có nghĩa là hành động phóng sinh chỉ đem lại ít lợi ích. Thật ra việc phóng sinh đúng cách và với Tâm Vô Sở Cầu thì sẽ có kết quả vô cùng lớn lao, là vơi đi nghiệp sát đã vướng phải trong vô lượng kiếp.

Nguồn: Thư viện Hoa Sen.

Trí Tuệ

Hỏi: 

– Trí tuệ là gì, nếu không phải là kiến thức? Tại sao ông nói rằng phải dẹp bỏ kiến thức? Bộ kiến thức không cần thiết sao? Không có kiến thức, chúng ta sẽ tới đâu? Chúng ta sẽ vẫn là những con người thời thái cổ, chẳng biết tí gì về cái thế giới ngoại hạng mà chúng ta đang sống. Không có kiến thức, chúng ta khó có thể tồn tại nổi, dù sống ở mức sống nào. Tại sao ông cứ khăng khăng rằng kiến thức làm trở ngại cho trí tuệ ? 

J. Krishnamurti đáp:

– Kiến thức là tùy thuộc. Kiến thức không đem lại cho chúng ta tự do. Người ta có thể biết cách ráp cái máy bay để bay qua phía bên kia trái đất trong vòng vài giờ, nhưng đó không phải là tự do.

Kiến thức không phải là nhân tố sáng tạo, mà là sự liên tục, mà đã là cái liên tục thì không thể dẫn đến tuyệt đối, đến cái không thể cân lượng, cái thực tại ngoài tri thức.

Kiến thức cản trở sự bừng tỉnh, cản trở cái thực tại ngoài tri thức. Thực tại không thể bị kiến thức che phủ.

Kiến thức luôn luôn trôi về quá khứ; quá khứ luôn luôn che mờ hiện tại, che mờ cái thực tại.

Không có tự do, không có tâm trí khai phóng, không thể có trí tuệ. Trí tuệ không đi kèm kiến thức.

Từ khoảng cách giữa những lời nói, những tư tưởng, trí tuệ bừng lên. Khoảng cách này là sự tĩnh lặng không bị khuấy động bởi kiến thức, đó là sự bừng tỉnh, là cái không thể cân lượng, là cái hoàn hảo, là tuyệt đối.

Trích Commentaries on Living – J. Krishnamurti

 Người dịch: Danny Việt

Tình cảm của đứa trẻ

Tính tò mò thiên nhiên của đứa trẻ, sự ham tìm hiểu vốn sẵn có ngay từ thủa sơ sinh, chắc chắn rằng cần được liên tục khuyến khích một cách thông minh, để duy trì cho nó luôn luôn sống động và không bị méo mó, đồng thời sẽ từ từ hướng dẫn đứa trẻ tìm hiểu về nhiều đề tài khác nhau. Nếu sự say mê học hỏi của đứa trẻ mà được khuyến khích liên tục, thì đối với những môn học như toán học, địa dư, lịch sử, khoa học, hoặc đối với bất cứ bộ môn nào, sẽ không còn có vấn đề gì có thể gây rắc rối cho đứa trẻ hoặc cho nhà giáo dục được nữa. Nếu đứa trẻ được sống trong một bầu không khí vui vẻ, hạnh phúc, cảm nhận được sự âu yếm, săn sóc của mọi người, sự học đối với nó sẽ càng trở nên dễ dàng biết bao!

Sự cởi mở và bén nhậy về cảm xúc chỉ có thể phát triển tốt đẹp khi đứa trẻ có được sự tin cậy trong giao tiếp với các bậc thầy. Cảm giác an toàn khi giao tiếp là điều cần thiết đầu tiên của đứa trẻ.

Có một sự khác biệt rất lớn lao giữa cảm giác an toàn và cảm giác lệ thuộc. Vì hữu ý hay vô tình, nhiều nhà giáo dục đã nhồi vào đầu đứa trẻ cái cảm giác lệ thuộc, và do dó, ngấm ngầm tạo cho đứa trẻ sự sợ hãi, điều mà cha mẹ chúng cũng làm trong thái độ cư xử trìu mến hoặc hung dữ. Sự dùng quyền lực và cách cư xử độc đoán đối với đứa trẻ của cha mẹ và các bậc thầy đã tạo áp lực lên đứa trẻ về những gì nó phải trở thành, phải làm.

Với sự lệ thuộc, luôn luôn kèm theo bóng tối của sợ hãi và sự sợ hãi thúc ép đứa trẻ vâng lời, rập khuôn, nhắm mắt tuân hành những mệnh lệnh và nhận lãnh không suy nghĩ những trừng phạt của người lớn.

Trong bầu không khí của lệ thuộc này, sự nhậy cảm bị tan rã. Nhưng khi đứa nhỏ biết, hoặc cảm thấy, được sống trong bầu không khí an toàn, sự bừng nở cảm xúc của nó sẽ không còn bị ngăn trở bởi sự sợ hãi.

Trích Life Ahead – J. Krishnamurti

 Người dịch: Danny Việt

Vấn đề cúng lễ người quá vãng

Hỏi:

Ba tôi mất tháng 10 này sẽ là một năm. Lúc đầu thì mẹ tôi đem tro của ba tôi vào chùa ký gởi nhờ thầy tụng kinh. Sau đó như ý nguyện của ba tôi, mẹ tôi đem tro về chôn ba tôi gần mộ ông bà nội tôi. Thế là ở nhà tôi chỉ có tấm hình của ba tôi, chỉ vậy thôi, không có thường cúng kiếng gì cả.

Tôi thấy ở Việt Nam, gia đình có người thân thì hay tụng kinh cho người đã khuất. Tôi sắp về Việt Nam. Tôi xin hỏi quý vị rằng tôi có nên nhờ thầy tụng kinh cho ba tôi không? Tôi nghe nói, nếu mà mình nhờ thầy nào đắc đạo cao hơn, thì linh hồn người chết sẽ có hy vọng được siêu thoát. Tôi không biết điều đó có đúng không và tôi phải làm như thế nào để linh hồn của ba tôi được siêu thoát? 

Đáp:

Về nghi thức cúng kiếng, cầu nguyện cho người qua đời thì tôn giáo nào cũng có. Không những thế, ngay cả từ thời kỳ mông muội, chưa có tôn giáo, cũng đã có những sự cầu nguyện các đấng mà họ nghĩ là linh thiêng, nhiều quyền phép nào đó, để che chở, cứu vớt người thân đã chết của họ.

Họ làm vậy vì trước những tai họa xảy đến, con người cảm thấy quá bé nhỏ trước thiên nhiên, nên nảy sinh nỗi sợ hãi mênh mông đối với bóng tối, sấm chớp, núi cao, sông sâu, dịch bệnh, vân vân, họ tưởng tượng ra nhiều loại thần, nhiều loại ma, và khi người thân chết đi, họ thương xót, thấy là từ nay không còn giúp đỡ, bảo vệ được người thân nữa, họ bèn nghĩ tới các Thánh Thần, đến những nhân vật được tưởng tượng ra từ biết bao nhiêu đời trước mà cho đến nay thì đã được tô đậm thành những hình ảnh huyền bí, đầy quyền năng nơi cõi u linh nào đó chưa ai biết tới, nhưng là nơi mà họ tin rằng thân nhân họ có lẽ đang bơ vơ lạc lõng trong đó.

Từ niềm thương xót người thân mà nay mình đã đành chịu bất lực, họ cầu cứu đến các đấng được gọi là khuất mày khuất mặt đầy bí mật, các đấng đã được những kẻ lợi dụng hình ảnh linh thiêng để hù dọa thân nhân người đã chết, khiến cho họ phải biện lễ hậu hĩnh đến xin xỏ các lọai Thần Thánh này.

Ðạo Phật khi tới các vùng đất mới, thường uyển chuyển hội nhập, gọi là tùy duyên phương tiện, dùng bình của địa phương đựng nước Cam Lồ của nhà Phật, cho nên bên cạnh những nguyên tắc sống Từ Bi Hỉ Xả, tham thiền, nhập định, hành trì tu tập trong khuôn khổ của đạo Giác Ngộ, các tu sĩ Phật giáo vẫn tham dự các nghi lễ vốn có từ ngàn xưa của địa phương, chỉ tùy thời mà từ từ chuyển hóa họ.

Cho nên, trên con đường Bắc truyền, một số hình thức lễ nghi của những vùng mà đạo Phật đi qua vẫn cùng với đạo Phật chung vai sát cánh ôn hòa. Một số quốc gia trong trường hợp này vốn sẵn có những nền đạo học rất uyên áo, sâu sắc, thí dụ Khổng giáo, Lão giáo, vân vân. Cúng kiếng là một lễ nghi quan trọng của Khổng giáo, coi như là một nguyên tắc sống của con người. Cúng giỗ là một hình thức báo hiếu. Không có con trai nối dõi tông đường để thờ cúng tổ tiên bị coi như là tội đại bất hiếu. Trong niềm tin ấy, đạo Phật muốn sống hài hòa với đời, tất nhiên là cũng tùy duyên mà áp dụng các nghi thức cúng bái, miễn sao không trở nên quá mê tín, vi phạm vào quy luật nhân quả là niềm tin cốt tủy của Phật tử trong thế giới hiện tượng tương đối mà thôi.

Vậy thì đạo Phật quan niệm thế nào về sự cúng kiếng cho người chết?

Muốn trả lời câu hỏi này, chúng ta cần tìm hiểu coi đạo Phật quan niệm thế nào về Sinh và Tử và theo đạo Phật thì có một linh hồn trường tồn sống mãi mãi trong một cõi giới u linh nào đó để hằng năm trở về nhà con cháu ăn một bữa cơm không?

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta hãy cùng đọc một bài pháp, lược trích trong cuốn Ðức Phật và Phật Pháp do Hòa Thượng Narada biên soạn theo kinh sách nhà Phật và do cư sĩ Phạm Kim Khánh dịch:

“Theo triết học Phật Giáo (Vi Diệu Pháp), ba hiện tượng có thể xuất hiện cho con người thấy trong giai đoạn hấp hối là:

– Nghiệp,
– Hiện Tượng Của Nghiệp,
– và Biểu Hiện Lâm Chung.

Nghiệp là hành động tốt hay xấu trong đời sống hoặc ngay trước phút lâm chung. Nếu người hấp hối đã phạm một trong năm tội nặng là các tội giết cha, giết mẹ, giết một vị A La Hán, làm tổn thương Ðức Phật và chia rẽ Tăng chúng, hoặc người ấy có một thiện nghiệp lớn như đã đắc một trong các tầng Thiền, thì sẽ chứng nghiệm Hiện Tượng cùa Nghiệp trước khi chết. Những hành động thiện hay bất thiện đặc biệt ấy có năng lực thật mạnh, chen vào, áp đảo tất cả các hành động khác và biểu hiện thật rõ rệt trước mắt người hấp hối.

Nếu không có Nghiệp xấu hoặc tốt mạnh mẽ như vậy thì có thể tiến trình tư tưởng cuối cùng của người ấy sẽ tùy theo cái Nghiệp vừa tạo liền trước khi chết, gọi là Cận Tử Nghiệp. Cận Tử Nghiệp là hành vi cuối cùng hoặc hành vi nào mà luồng tư tưởng cuối cùng sực nhớ ra ngay lúc lâm chung.

Nếu không phải Cận Tử Nghiệp thì có thể là Thường Nghiệp, là những việc mà đương sự thường làm hằng ngày, hoặc thưòng nhớ đến và ưa thích hơn hết. Trong trường hợp này, nếu người hấp hối là một bác sĩ thì thấy đang săn sóc bệnh nhân, một nhà tu thì thấy đang thuyết pháp, một tên trộm thì thấy đang cạy cửa, khoét vách v.v…

Nếu ba trường hợp trên không xảy ra thì Nghiệp Tích Trữ xuất hiện. Nghiệp Tích Trữ gồm tất cả những trường hợp không kể trong ba loại Nghiệp trên, mà là những hành động tốt hoặc xấu thông thường.

Hiện Tượng của Nghiệp là những biểu tượng xuất hiện trong tâm thức của người hấp hối dưới hình thức sắc, thanh, hương, vị, xúc hay pháp, tức là những hình sắc, âm thanh, mùi, vị hay tư tưởng mạnh mẽ, quen thuộc trong nếp sinh hoạt hằng ngày, thí dụ người đồ tể thì thấy con dao hay con thú chết, bác sĩ thì thấy bệnh nhân, người mộ đạo thì thấy các món lễ vật vân vân…

Biểu Hiện Lâm Chung là vài dấu hiệu có liên quan đến cảnh giới mà người hấp hối sắp được tái sanh vào mà do đó, mặt người sắp lâm chung lộ vẻ vui sướng hoặc đau khổ. Khi triệu chứng phát sinh, nếu là xấu thì ta có thể sửa chữa kịp thời bằng cách giảng kinh hay nói pháp để tạo đối tượng tốt đẹp trong tư tưởng người sắp chết. Những Biểu Hiện Lâm Chung thường là lửa, rừng, vùng sơn cước, bào thai người mẹ, thiên cung v.v…

Dầu trong trường hợp bất đắc kỳ tử, tiến trình tư tưởng của người sắp chết vẫn diễn tiến và đối tượng của chập tư tưởng cuối cùng ấy là một trong ba hiện tượng: Nghiệp, Hiện Tượng của Nghiệp và Biểu Hiện Lâm Chung .

Thí dụ một người sắp lâm chung và sẽ tái sanh vào cảnh người thì đối tượng của chập tư tưởng cuối cùng là một vài nghiệp tốt.

Cái chết thật sự đến lúc Tử Tâm tức luồng tâm thức cuối cùng chấm dứt. Kể từ đó tâm và vật thực không còn tạo năng lực vật chất nữa. Chỉ còn một loại năng lực vật chất phát sanh do hơi nóng tiếp tục tồn tại đến khi cơ thể vật chất tan rã.

Sự diệt tắt của tâm trong kiếp vừa qua là cơ hội để cho một tâm mới phát sanh trong kiếp sống kế. Tuy nhiên, không có cái gì vĩnh cửu, nguyên vẹn đơn thuần, không biến đổi, được chuyển từ quá khứ sang hiện tại. Cũng như bánh xe lăn tròn trên đường, mỗi một lúc chỉ có một điểm của bánh xe chạm với đường. Nói một cánh chính xác, chúng ta chỉ sống trong từng chập tư tưởng. Ta chỉ sống trong hiện tại và hiện tại nhất định phải trôi vào dĩ vãng.

Trong tiến trình luôn luôn biến đổi của đời sống, trong một khoảnh khắc, mỗi chập tư tưởng đều trải qua sanh, trụ, rồi diệt, và trong khi diệt, nó chuyển tất cả năng lực và cảm giác đã ghi nhận cho chập tư tưởng kế. Vậy mỗi chập tư tưởng mới gồm những năng lực tiềm tàng của chập trước và thêm vào đó chút gì khác. Ðến lúc chết, chập tư tưởng cuối cùng chấm dứt, để nhường chỗ cho chập tư tưởng kế phát sanh trong kiếp sống mới. Vậy, cái Thức mới gồm chứa tất cả những kinh nghiệm trong quá khứ, vì tất cả những cảm giác trong quá khứ đều được ghi nhận trong cái tâm biến đổi, và tất cả tiềm năng đều được chuyển từ kiếp nầy sang kiếp khác, mặc dầu phần vật chất tan rã. Vì lẽ ấy, đôi khi có người còn nhớ được kiếp quá khứ của mình. Nếu trí nhớ chỉ tùy thuộc vào bộ não, tức nhiên không thể có người nhớ được tiền kiếp.

“Chúng sanh mới” là sự biển hiện của luồng nghiệp trong hiện tại, không giống hệt, không phải là một, nhưng cũng không hoàn toàn khác với chúng sanh trước kế đó.

“Những thành phần (ngũ uẩn) tạo nên chúng sanh ấy không giống hệt, không phải là một với thành phần (ngũ uẩn) đã tạo nên chúng sanh trước. Tuy nhiên, cũng không phải hoàn toàn là khác vì cả hai cùng nằm chung trong một luồng nghiệp, mặc dầu biểu hiện dưới hình thức mới, trong thế gian mà ngũ quan ta có thể thâu nhận, và ta cho là có một “chúng sanh mới.”

Theo Phật giáo, cái chết là sự chấm dứt của đời sống tâm-vật-lý của cá nhân. Chết là sự diệt tắt của sinh lực, tức là đời sống tâm linh và vật lý, cùng với hơi nóng và thức.

Chết không phải là sự tiêu diệt hoàn toàn của một chúng sanh, mặc dầu kiếp sống chấm dứt. Cái tiềm lực làm sống chúng sanh không bị tiêu diệt.

Cũng như ánh sáng đèn điện là biểu hiện bề ngoài mà ta có thể thấy của luồng điện vô hình, chúng ta là biểu hiện bề ngoài của luồng nghiệp vô hình. Bóng đèn có thể vỡ và ánh sáng có thể tắt, nhưng luồng điện vẫn tồn tại, và ánh sáng có thể phát hiện trở lại nếu ta đặt vào đấy một bóng đèn khác. Cũng như thế, sự tan rã của thể xác không làm xáo trộn luồng nghiệp lực, và sự chấm dứt của thức hiện tại dẫn đến sự phát sanh mới. Tuy nhiên, không có gì trường tồn bất biến, như một thực thể đơn thuần, “chuyển” từ hiện tại sang tương lai.

Trong trường hợp nêu trên, nếu người chết tái sanh trở lại vào cảnh người, chập tư tưởng cuối cùng tất nhiên là một loại tâm thiện. Thức-tái-sanh là từ tâm thiện ấy phát sanh, tự nhiên chuyển đến cái trứng và tinh trùng tương xứng trong cảnh người.

Như thế có nghĩa là cho đến lúc chết, luồng nghiệp lực vẫn luôn luôn trôi chảy, không có một điểm thời gian gián đoạn. Ngay lúc chết những chập tư tưởng vẫn liên tục kế tiếp như trong đời sống.

Hiện tượng chết và tái sanh diễn ra tức khắc, dầu ở bất cứ nơi nào, cũng như làn sóng điện phát ra trong không gian được thâu nhận tức khắc vào bộ máy thâu thanh. Luồng nghiệp lực trực tiếp chuyển từ cái chết ngay đến tái sanh, không trải qua một trạng thái chuyển tiếp nào. Phật giáo thuần túy không chủ trương có linh hồn người chết tạm trú ở một nơi nào, chờ đến khi tìm được một nơi thích hợp để đầu thai”.

Trên đây là quan điểm của Phật giáo Nguyên Thủy, hay còn gọi là Nam Tông.

Về phía Phật giáo Bắc Tông, hay còn gọi là Ðại Thừa, thì quan niệm rằng không hẳn là tất cả mọi người sau khi chết đều tái sinh ngay lập tức. Trường phái này quan niệm rằng những người có nghiệp cực thiện thì ngay sau khi chết sẽ sanh vào các cõi Tịnh, thí dụ cõi Tây Phương Tịnh Ðộ, Ðông Phương Tịnh Ðộ, vân vân, và những người có nghiệp cực ác thì sau khi chết sẽ sanh ngay vào các cảnh giới ác, như Ðịa Ngục, Ngạ Quỷ hoặc tái sinh thành các loài súc sinh. Trường hợp đó gọi là chết đây sinh kia.

Ngoài các trường hợp đó, sau khi chết, người ta còn có thể còn lưu tâm thức lại một thời gian trong trạng thái gọi là Thân Trung Ấm,và mơ màng trong cảnh giới này từ 1 lần 7 ngày, cho tới 7 lần 7 ngày, là 49 ngày. Trong thời gian đó, nhất là 21 ngày đầu, người đã qua đời vẫn còn có ấn tượng mạnh mẽ về kiếp sống vừa qua. Và chính từ niềm tin này, người ta coi trọng sự cầu nguyện để giúp chuyển hóa tâm trạng người chết khiến cho thần thức của họ hòa nhập được vào các cõi an lành.

Như vậy thì cả hai truyền thống Phật giáo, Bắc Tông và Nam Tông đều không nói đến những hình thức cúng kiếng cho người đã chết từ lâu, hàng năm trời, mà chỉ có thể giúp cho người mới chết qua những lời kinh tiếng kệ, qua lòng chí thành thanh tịnh của chư vị chân tu và thân nhân, hy vọng họ chuyển hóa các tâm niệm xấu để nghiệp nhân đó mà cũng chuyển thôi.

Tuy nhiên, như trên đã nói, cúng giỗ thân nhân đã qua đời, nhất là tổ tiên, ông bà, cha mẹ, đối với người Ðông Phương, là một hình thức báo hiếu, trước là nói lên lòng thành kính tưởng nhớ chư vị đã khuất, sau là nhắc nhở con cháu nên tiếp nối mỹ tục biết cảm ơn các bậc sinh thành, cũng như mỗi quốc gia đều có những ngày kỷ niệm Chiến Sĩ Trận Vong, để nói lên lòng nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ có công với đất nước vậy.

Về việc cúng giỗ này, chúng ta có thể tổ chức tại nhà, hoặc tại chùa. Nhưng nếu đủ phương tiện để có thể làm lễ trên chùa thì rất tốt. Trước nhất, đây là một duyên lành giữa thân nhân người chết đối với nhà Phật, có dịp cho họ tiếp cận với các vị Sư, nhân đó, có thể hiểu thêm về Phật pháp. Thứ nữa là thân nhân người chết có thể tạo chút phước qua việc cúng dường Tam Bảo chút tịnh tài (là đồng tiền trong sạch, lương thiện), để nhà chùa có thêm khả năng ấn tống kinh sách, phổ biến Phật pháp rộng rãi, thêm phương tiện để hoàn thành các Phật sự.

Các vị Sư là những Trưởng Tử Như Lai, có nhiệm vụ hoằng dương Chánh Pháp song song với việc tu tập bản thân. Phật tử cũng vậy, cũng cần tu tập bản thân và giúp phương tiện cho các Sư trong công cuộc hoằng truyền và bảo vệ sự trong sáng của đạo Phật.

Nói rằng: “Tôi nghe nói, nếu mà mình nhờ thầy nào đắc đạo cao hơn, thì linh hồn người chết sẽ có hy vọng được siêu thoát.” là mê tín. Đạo Phật không tin chuyện “người này có thể ban phúc giáng họa cho người kia” mà họa phúc đều do chính đương sự tự tạo và tự giải nghiệp.

Nếu có chuyện người này có thể cầu cúng cho người kia siêu thóat thì Đức Phật và chư Bồ Tát đại từ đại bi đã hóa phép cứu hết thảy 5, 6 tỷ chúng sinh ra khỏi biển khổ, đâu còn những sinh linh sống dở chết dở khắp thế giới nhất là tại các nước Phi Châu, sống khốn khổ, chết từ từ trong cảnh đói khát, dịch bệnh và súng đạn, chiến tranh liên miên khắp nơi.

Trích Thư viện Hoa Sen

Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ không ăn chay

HỎI:

– Có người xem lịch sử Việt Nam thấy Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ, là một vị giác ngộ, thầy của vua Trần Nhân Tông, sơ tổ Thiền phái Trúc Lâm cũng ăn mặn nên nói rằng ăn chay không cần thiết. Lý này là thế nào? Có phải Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ ăn mặn không?

ĐÁP:

Theo sách Thiền Sư Việt Nam [1] thì Tuệ Trung Thượng Sĩ là một cư sĩ thọ Bồ Tát Giới, thầy của vua Trần Nhân Tông, sáng tổ Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử, do đó không có ý gì nghi ngờ về việc ngài ăn mặn hay ăn chay vì trong 10 giới trọng và 48 giới khinh của Bồ Tát Giới có giới cấm sát sinh (giới trọng thứ nhất), giới cấm không được ăn tất cả thịt của mọi loài chúng sinh (giới khinh thứ 3), và giới cấm cất chứa những khí cụ sát sinh (giới khinh thứ 10).

Việc ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ ăn mặn là nhân một bữa tiệc do em gái ngài, Hoàng Thái Hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm, thiết đãi khách quí trong hoàng cung. Mặc dù trên bàn tiệc có cả thức ăn chay và thức ăn mặn, nhưng ngài vẫn điềm nhiên ăn thịt cá. Thái Hậu thấy lạ mới hỏi:

“Anh tu thiền mà ăn cá thịt thì thành Phật sao được?”

Ngài cười đáp:

” Phật là Phật, anh là anh. Anh không cần làm Phật, Phật không cần làm anh..”

Có nhiều nghi vấn và giải thích về việc nầy. Một trong những lời giải thích cho là hành động ăn thịt cá của Thượng Sĩ nhằm mục đích đả phá quan niệm sai lầm rằng ăn chay là đủ để thành Phật của Hoàng Thái Hậu, ý ngài muốn nói sự tu tâm mới là điều quan trọng. Ngài là bậc giác ngộ, tâm đã bình đẳng, đã thoát ra khỏi qui luật của thế giới hiện tượng tương đối, mọi sự việc xảy ra trong đời đối với ngài chỉ còn là câu truyện trong giấc mộng đêm qua, mọi hành động của ngài đều là tùy duyên phương tiện tháo đinh nhổ chốt cho chúng sinh còn kẹt mà thôi.

Chú thích:
1. HòaThượng Thích Thanh Từ, Thiền Sư Việt 
Nam, in tại Hoa Kỳ 1995. Trang 256 

Nguồn Thư viện Hoa Sen

Vô thường – Không bám níu

Nhà Phật quan niệm:

“Cuộc đời thì vô thường, đầy bất trắc, sự sống chỉ có mặt ngay trong giây phút hiện tại”.

Nếu chúng ta nhìn kỹ lại bản thân thì sẽ thấy là dường như chúng ta ít khi thực sự sống ngay trong giây phút hiện tại, mà thường để tâm trí hồi tưởng về những việc trong quá khứ hoặc suy nghĩ, tính toán tới những chuyện sẽ xảy ra trong tương lai.

Trong khi đó, đối với những người và việc trước mặt, ngay trong hiện tại, thì lại lơ là, thấy như phơn phớt ẩn hiện trước mắt, chứ chúng ta không chú tâm, không sống hết mình với giây phút hiện tại. Đôi khi người đối diện chúng ta nói, nhưng chúng ta thì lại còn đang mải nghĩ về những vấn đề nào đó của riêng mình, nên chỉ nghe thấy tiếng ồn ào mơ hồ mà không hiểu họ nói gì, đến nỗi chính người đối thoại phải hỏi:

“Ủa, đang nghĩ gì thế, có nghe tôi nói không vậy?”.

Đó là tình trạng “sống say, chết mộng”, không “thực sự sống”.

Đức Phật là vị giác ngộ. Đạo Phật là đạo Giác Ngộ.

Giác ngộ cái gì?

Giác ngộ chính con người thật, bộ mặt thật từ ngàn đời trước khi chúng ta trôi lăn vào dòng sông sinh tử, bị làn sóng tâm ý thức lôi cuốn, nhận chìm vào vòng vô minh tham ái sinh diệt, tạo ra cái thế giới hiện tượng tương đối này, nó vốn là cái gì?

Nhà Phật quan niệm rằng giác ngộ được nguồn gốc của kiếp nhân sinh rồi thì mình sẽ tự giải thoát được, ra khỏi sự ràng buộc của mê vọng, của vòng luân hồi sinh tử. Muốn thế, người hành giả phải hoàn toàn thanh tịnh hóa được tâm mình, chấm dứt mọi suy nghĩ mông lung, tâm viên ý mã.

Mục tiêu tối hậu là giác ngộ giải thoát hoàn toàn, nhưng giáo lý nhà Phật đã chia con đường lớn ra thành từng giai đoạn nhỏ để mọi người, tùy theo hoàn cảnh, cơ duyên, đều có thể tự mình đạt được từng bước giải thoát trong đời sống hằng ngày. Những bước giải thoát nho nhỏ này chính là sự thực tập trong ngày, dành đôi chút thì giờ để “sống trong giây phút hiện tại”. Đó chính là những giây phút mà tâm trí con người thoát ra khỏi sự o ép căng thẳng vì những sự suy nghĩ triền miên về quá khứ và tương lai.

Những nỗi thống khổ của kiếp người có thể chia đại cương ra thành hai nhóm, thân khổ và tâm khổ. Nghèo đói, bệnh tật, vân vân, là thân khổ. Buồn rầu ghen tức, tiếc nuối, lo sợ, vân vân, là tâm khổ. Nhưng thường thì hai loại khổ này liên đới với nhau, thân khổ thì tâm cũng thấy khổ. Tuy nhiên, người mải chạy theo mê vọng quá thì sẽ có thể bị những nỗi khổ mà lẽ ra không đáng bị khổ, thí dụ nghèo đói, thất nghiệp thì lo sợ ngày mai không có cơm ăn là hợp lý. Nhưng nếu không nghèo đói, mà lại vẫn quá lo sợ về một tương lai sẽ nghèo đói, rồi từ đó nẩy sinh ra những sự quá lố, keo kiệt, bon chen, bần tiện khiến cho tâm trí bị o ép, không được giải thoát ngay cả những khi có thể sống thanh thản thì thật là đáng tiếc.

Nhà Phật theo con đường trung đạo. Mỗi Phật tử đều có thể áp dụng giáo lý nhà Phật vào hai giai đoạn tu tập, giai đoạn thứ nhất là ứng dụng giáo lý vào đời sống tương đối để đem lại niềm an lạc và giải thoát cho mình và cho xã hội và giai đoạn thứ hai là giai đoạn tu tập để giác ngộ giải thoát triệt để, gọi là Toàn Giác.

Trong đời sống thường nhật thì ứng dụng hai quy tắc “Không làm những điều xấu ác” và ”Siêng làm những việc tốt lành”, thực hiện được những điều này, người Phật tử tin chắc sẽ được hưởng quả báo tốt lành. Nếu đã làm toàn những điều tốt lành mà vẫn gặp những điều xấu thì người Phật tử biết rằng họ đang phải trả những món nợ cũ, những ân oán trong quá khứ mà họ đã tạo.

Và một con đường thứ hai dành cho những người muốn hoàn toàn giác ngộ, giải thoát, thì bản thân người hành giả phải tự mình thanh tịnh hóa tâm, chấm dứt dòng suy nghĩ miên man che mờ Chân Tâm, để Trí Tuệ Bát Nhã, cũng còn gọi là Phật Tánh, hoặc Chân Tâm, hiển lộ.

Đối với nhà Phật thì “quá khứ qua rồi, tương lai chưa đến”, sự sống của chúng ta chính ở ngay giây phút hiện tại này. Nhà Phật đã ví sự sống của mỗi sinh vật tiếp giáp với cuộc đời cũng như cái bánh xe lăn trên mặt đất, nó chỉ tiếp cận ngay tại khúc cong ngắn ngủi của cái bánh xe đúng vào lúc lăn trên đất mà thôi.

Cũng như mỗi sinh vật đều chỉ “sống thật” ngay tại cái hơi đang hít vào và thở ra, hơi thở trước thì đã chấm dứt, hơi thở sau thì chưa xuất hiện — và có thể sẽ không bao giờ xuất hiện, nếu đương sự thở ra mà không hít vào nữa, thì cuộc đời đã chấm dứt rồi. Cho nên chỉ có giây phút hiện tại là quan trọng mà thôi. Do đó, đức Phật dạy rất nhiều pháp môn để cho đệ tử nhà Phật tu tập, ngõ hầu đạt được khả năng nhận biết được khi tâm ý thức của mình hoạt động miên man, lăng xăng, nhảy nhót từ chuyện này qua chuyện khác, từ quá khứ chạy qua tương lai, như con vượn chuyền cành, như con ngựa lồng phi nước đại. Nhận biết được để mà lập tức chấm dứt dòng thường lưu suy tưởng, đem tâm trở về hiện tại, đó là những pháp môn tu như Quán Niệm Hơi Thở, Tứ Niệm Xứ, Thiền Tông, Thiền Minh Sát Tuệ, Thiền Mật Tông, Trì Chú, Niệm Phật, … vân vân . . .

Trong bài kinh Nhất Dạ Hiền Giả, đức Phật dạy:

Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Đêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền, 

Bậc an tịnh, trầm lặng.

Mải mê với quá khứ và tương lai, chúng ta quên mất hiện tại. Cũng như câu chuyện ẩn dụ về một người bị cọp đuổi, anh ta phóng mình chạy, không kịp coi trước coi sau, lọt ngay xuống một cái giếng khô bỏ hoang. May thay, anh quơ tay chụp vội được cái rễ cây cổ thụ thòng xuống thành giếng. Bám chặt rễ cây, anh nhìn lên miệng giếng, thất kinh hồn vía khi thấy hai con chuột trắng và đen đang gặm rễ cây. Trong lúc tuyệt vọng, anh nhìn thấy một chùm nho đong đưa trước mặt. Vừa đói vừa khát, chùm nho đối với anh bây giờ chính là nguồn tiếp nối sự sống, anh vươn cổ tới gặm một trái, ôi mới ngon ngọt mát mẻ làm sao!

Có nhiều lối giải thích câu chuyện và pháp môn Tổ Sư Thiền cũng dùng câu chuyện này làm một công án. Nhưng nếu giải thích theo tinh thần đề tài kỳ này: “Cuộc đời thì vô thường, đầy bất trắc, sự sống chỉ có mặt ngay trong giây phút hiện tại” thì rõ ràng đối với anh chàng này, nghĩ về quá khứ giầu sang hoặc tương lai huy hoàng đều không ích lợi gì nữa, chỉ có quả nho trong hiện tại là giúp cho anh sống còn mà thôi. Cọp rượt dụ cho những bươi chải trong cuộc đời, lọt xuống giếng dụ cho những hiểm nguy mà con người thường gặp, chuột trắng và đen dụ cho ngày và đêm cứ lẳng lặng gặm mòn dần đời sống của kiếp nhân sinh và cái rễ cây sẽ bị gặm đứt bất cứ lúc nào là dụ cho vô thường đến bất chợt, không ai có thể biết trước.

Cuộc đời thì vô thường, không có gì là bảo đảm chắc chắn cho tương lai, tai họa do thiên nhiên giáng xuống ít người biết trước, và ngay như có biết trước cũng ít người thoát khỏi bị ảnh hưởng.

Vào ngày 26 tháng 12 năm 2004, trong số gần hai trăm ngàn nạn nhân sóng thần bên Á Châu, có biết bao nhiêu người ra đi không về, chết tức tủi trong buổi sáng hôm đó, để lại cho thân nhân niềm tiếc nuối khôn nguôi vì bản thân đã “mải mê suy nghĩ về quá khứ và tương lai”, không ngẩng lên nhìn người thân của mình, nở một nụ cười thân ái chia tay, dù là chia tay một lát hay là chia tay lần cuối cùng, vĩnh viễn.

Không riêng nhà Phật nói về vô thường, văn hào Pháp Alexandre Dumas cũng căn dặn: “Mỗi ngày nên nghĩ đến sự chết một lần”. Để làm gì? Để nhắc chúng ta về lẽ vô thường.

Trong đời sống tương đối, không có cái gì vĩnh cửu, tất cả đều trong vòng “sinh, trụ, dị, diệt”, có nghĩa là mỗi sự vật đều xuất hiện, có mặt một thời gian, biến đổi dần, rồi chấm dứt, hoặc là chết, hoặc là tan vỡ. Đôi khi, có những sự vật không kịp đi đủ chu kỳ, sự chết hoặc tan vỡ đến bất thình lình, quá mau, khiến cho không ai biết trước được thời điểm biến mất của nó.

Vậy mà chúng ta lãng quên đi, cứ tưởng rằng những người thân kia sẽ hiện hữu mãi mãi với chúng ta, cho nên chúng ta không tiếc những phút giây hiện tại, có thể là những giây phút cuối cùng trong cuộc đời mà họ và chúng ta có nhau. Chúng ta lơ là, không “sống thực sự ” với họ trong lúc còn có thể, để rồi đây nếu chẳng may vô thường ập đến, thì lúc đó chúng ta có tiếc nuối cũng đã quá muộn màng.

Vậy thì hôm 26 tháng 12 năm 2004 đó, trong khi cuộc đời của cả thế giới đang trôi chảy, một ngày như mọi ngày, thản nhiên bình lặng, người nào việc nấy, thì bỗng nhiên thiên tai giáng xuống, trong vòng giây lát, một cơn sóng lớn như trái núi bằng nước ầm ầm đánh ập vào một miền bờ biển Á Châu, đập tan cả một vùng nhà cửa mênh mông vốn là vùng nghỉ mát trù phú, giết chết trên hai trăm ngàn người.

Một bài báo kể lại:”Hai tuần lễ trước, phần lớn chúng ta không hề biết đến từ ngữ tsunami có nghĩa là gì, cứ tưởng nó cũng có nghĩa hiền lành như là sushi hoặc tempura. Nhưng vào ngày 26 tháng 12 năm 2004, cả thế giới mới biết cái nghĩa thật sự kinh hoàng của nó, là nhà tan cửa nát, người và vật suốt một giải bờ biển châu Á chết trong vòng giây phút.

Từ một mẩu phim video tài tử được chiếu trên màn ảnh Internet, chúng ta thấy cảnh mọi người đứng trên bờ biển vui vẻ ngắm núi nước cuồn cuộn đánh vào bờ, chỉ có vài người nhận ra được sự nguy hiểm. Nhưng đã quá trễ, núi sóng trườn lên mình họ, phăng phăng cuốn đi tất cả, từ lâu đài dinh thự cho đến xe cộ, làm tan nát biết bao nhiêu gia đình, bao nhiêu cộng đồng, hình ảnh đau thương của những nạn nhân gây xúc động đến tận đáy lòng của mọi người trên thế giới. Tai nạn xảy ra chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi, vừa bằng thời gian uống một chén trà.

Vào cái ngày định mạng đó,, Tilly Smith – một cháu bé gái 10 tuổi người Anh – đang đứng trên bờ biển Maikhao thuộc tỉnh Phuket, Thái Lan. Cả gia đình cháu đang vui vẻ thưởng thức cảnh sóng ngoài khơi cuồn cuồn nhồi và khởi sự bung ra. Những người lớn thấy lạ thì chăm chú nhìn một cách tò mò. Nhưng cháu Tilly thì sợ điếng đến tê dại cả người, hét lên thất thanh:

– Chúng ta phải chạy ra khỏi bờ biển ngay lập tức, mẹ ơi, con sợ rằng đây sẽ là tsunami!

Đám người lớn ngẩn ra tỏ vẻ không hiểu cho đến khi Tilly hét thêm một từ ngữ thần diệu ngắn gọn:

– Một cơn sóng lớn khủng khiếp!

Lời cảnh báo của em được truyền đi như lửa cháy rừng. Trong giây phút, cả bãi biển bỗng vắng ngắt. Nhờ thế, vùng Maikhao trở thành một trong số rất ít nơi thoát được cảnh người chết hoặc thương tích nặng nề.

Mẹ cô bé kể lại:

“Nghe con tôi la thất thanh, tôi chạy vắt giò lên cổ đến tối đa để thoát ra khỏi bãi biển, một mạch về khách sạn, phóng vội lên lầu vì nghĩ rằng nơi đó an toàn. Mấy phút sau, sóng biển đánh thốc vào ngay bãi biển đó và xóa tan tất cả mọi thứ trên đường sóng thần lướt qua. Thật là một quang cảnh kinh hoàng và tôi rất hãnh diện rằng con gái tôi đã biết để mà báo nguy cho mọi người”.

Cũng là tình cờ may mắn mà Tilly có dịp biết được đó là tsunami. Vì cháu vừa mới được học về động đất ngay trước khi đi du lịch, kiến thức còn nóng hổi trong đầu, em đã cứu được biết bao nhiêu người. Trên đây là một trong số hiếm hoi những người chạy thoát lưỡi hái của tử thần. Ngoài ra, những hoàn cảnh thương tâm làm tê điếng lòng người thì đầy dẫy, xuất hiện ngay trong buổi sáng ngày hôm sau, 27 tháng 12 năm 2004, khi ánh mặt trời ló dạng thì cũng là lúc sự thật kinh hoàng phơi bày trước mắt.

Đó đây, những người mẹ thất thần đi tìm con, lật lên từng cái xác, từng cái xác mà khi dòng nước rút lui đã bỏ lại trên bãi cát. Tiếng những người mẹ khóc gào thảm thiết, đó đây còn văng vẳng:

– Con ơi, con ơi, con đâu rồi, con ơi, …

Và những gương mặt chai đá tuyệt vọng của những người cha nhẫn nại mò mẫm trong những đống xác đã trương phình, mùi hôi xông lên nồng nặc để tìm đứa con thân yêu bé nhỏ từ nay xa cách ngàn đời. Không ai dám nhìn vào đôi mắt bi thương tuyệt vọng của những người mẹ, những người cha tội nghiệp.

Trên màn ảnh Internet, hình cháu bé Sophia Michl mặt mũi xây xát, trầy trụa với cái nhìn không hồn, ở dưới là lời ghi chú:

– Cháu bé trong hình không còn nhớ bất cứ điều gì, chỉ nói một câu duy nhất “Cháu muốn cha mẹ”.

Sau này, nhờ tấm hình, bạn của cha cháu tìm tới lãnh cháu về, nhưng cha mẹ cháu đã lìa bỏ cháu vĩnh viễn, không bao giờ còn trở lại như niềm mơ ước của cháu.

Cũng đến từ nước Đức xa xôi như cháu Sophia Michl, cháu bé Tom 4 tuổi được đưa trở về Frankfurt để gặp lại ông bà. Cha cháu đã mất tích nhưng mẹ cháu còn sống với đầy vết thương cả thể xác và tâm hồn. Ít nhất, cháu Tom còn đỡ khổ hơn Sophia, còn niềm hy vọng có ngày gặp lại mẹ cháu.

Trong một ngôi chùa ở Batapola, Tích Lan, cháu Sujeewa Samarasingha, một cháu bé có cha mẹ, gia đình khá giả, có nhà cao cửa rộng, có quần áo đẹp đẽ, bỗng nhiên một buổi sớm mai, cháu mất tất cả, trở thành một trẻ mồ côi, được các nhà sư Phật giáo đem về sống tạm trong chùa, được nuôi bằng lòng hảo tâm của các thí chủ bố thí vật thực. Cháu kể lại:

– Tất cả gia đình cháu đều biến mất hết, nhà cửa bị phá xập, quần áo bị cuốn đi. Chúng cháu buồn quá …

Cháu Sanga, 12 tuổi, tiếp lời:

– Khi nước đánh vào, cháu sợ quá, chỉ còn biết chạy một mạch. Tất cả những gì trong nhà cháu đều đã bị cuốn đi hết sạch …

Bốn chục cháu chen chúc trong một phòng, những đứa bé này tuy bất hạnh nhưng cũng còn chưa đến nỗi xuống tận đáy địa ngục. Rất nhiều cháu bé khác đã rơi vào những tình trạng khốn khổ hơn. Trong tai nạn sóng thần này, trẻ em thật là đáng thương. Những cháu nhỏ thì vì chạy chậm nên bị nước cuốn, trông những cái xác nhỏ xíu trương phềnh nằm còng queo trên bãi biển để gia đình nhận diện, nếu Trời có mắt thì cũng phải nhỏ xuống giọt lệ thương cảm.

Về trường hợp những cháu sống sót nhưng đã mất hết cha me, nếu may mắn thì gặp được các nhà hảo tâm hoặc nhân viên những cơ sở từ thiện lượm về cho tạm trú để chờ ổn định. Còn một số không may, bị những kẻ bất lương nhặt được, đem về các nơi xa xôi nuôi để làm nô lệ.

Trong vùng đất thiên tai giáng xuống tróc tận gốc như vậy, khó có thể biết cháu nào đã chết trong biển nước và cháu nào đã bị cuốn vào những vũng lầy tội ác của xã hội. Vì tuổi còn nhỏ, các cháu sẽ không thể làm gì để tự cứu, rồi một mai thời gian qua đi, ký ức mơ hồ của các cháu sẽ xóa sạch nguồn gốc vốn hiền lành lương thiện, mà chỉ còn biết cái xã hội đen, nơi các cháu lớn lên. Cha mẹ các cháu thì đã qua đời trong tai nạn, không còn cơ hội để cứu những đứa con thân yêu ra khỏi chốn bùn lầy.Nhà Phật có lời khuyên như sau:

Ngày hôm nay đã qua đi
Mạng sống đã thu ngắn lại
Như cá trong chậu thủy tinh
Dưới đáy có một lỗ nhỏ
Mỗi ngày rơi một giọt nước
Sống tối đa một trăm năm
Nhưng vô thường bỗng đến thăm
Cái chậu vỡ thành từng mảnh
Con cá giẫy giụa dưới đất
Rồi mắt nhắm lại, im lìm.
Đại chúng,
Hãy nhớ đời người lâu nhất
Cũng chỉ một trăm năm thôi
Nhưng nếu vô thường đến gấp
Thì cuộc đời chấm dứt ngay
Cơ duyên gặp được Phật pháp
Hãy nên tu tập đêm ngày
Như lửa cháy đầu, tinh tấn
Một đời giải thoát mới hay.

Nguồn: Thư viện Hoa Sen

Vấn Đáp về Ăn Chay

HỎI

Tôi thấy một số món ăn chay trong các tiệm ăn và đôi khi cả trong một vài chùa, có hình thức các con vật và tên gọi giống y như các món mặn, thí dụ như: “cá chiên, cá hấp, thịt quay bánh hỏi, tôm xào chua ngọt.. v..v..”. Nếu tâm còn thèm ăn các món mặn thì ăn quách đồ thật còn hơn là giả dối như vậy. Đạo Phật nói trực tâm là đạo tràng cơ mà?
ĐÁP:

Đây là một câu hỏi có nội dung phức tạp, có thể chia ra làm bốn phần:

(1) Món ăn chay giả thịt cá bán tại các chùa

(2) Món ăn chay giả thịt cá bán tại các tiệm

(3) Ăn chay vì lý do sức khỏe,
và 
(4) Người ăn chay chỉ vì có lòng thương súc sinh, không liên quan đến tu tâm theo Phật giáo.

Món ăn giả thịt cá tại các chùa:

Đức Phật dạy rằng “Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh”, “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”, chữ chúng sinh ở đây là chỉ tất cả mọi loài động vật có cảm giác, chứ không chỉ riêng loài người.

Cửa chùa là nơi truyền bá đạo Phật, tu sĩ ở chùa là Trưởng tử Như Lai, đem chánh pháp dạy chư Phật tử. Một trong những lời dạy quan trọng, cốt tủy của Đức Phật là phải dùng tâm bình đẳng để đối xử với mọi loài, cả người lẫn vật. Vậy thì chúng ta không nên tạo thói quen xấu là thản nhiên nhìn hình ảnh con cá con tôm nằm cong queo giữa đĩa nước xốt, hoặc cầm muỗng, đũa xắn cắt con cua, con gà, dù chỉ là gà giả.

Ngoài ra chư vị nào đã thọ Bồ Tát Giới thì đừng quên là, khác với giới Thanh Văn, chỉ ràng buộc trong một kiếp người và chỉ phạm khi có hành động, giới Bồ Tát là Tâm Giới, chỉ khởi tâm phạm, chưa hành động, là phạm giới rồi. Vậy thì chư vị Cư Sĩ Bồ Tát Giới chỉ cần nghĩ là :

“Ăn con tôm rang muối này ngon quá”,

… dù là tôm giả, tâm của quý vị khởi niệm muốn ăn, là phạm giới rồi.

Món ăn giả thịt cá tại các nhà hàng.

Về các nhà hàng dùng tên giả để gọi các món ăn chay thì chúng ta nên cảm thông rằng họ làm thương mại, họ cần có những phương pháp lôi cuốn khách hàng, là những người đã quen ăn thịt cá nay chuyển sang ăn chay. Nếu món nào cũng chỉ dùng tên vật liệu để gọi thì chỉ còn là: nấm xào rau, đậu om, rau luộc, rau kho..v..v.., rất ít món, khó lôi cuốn khách hàng.

Dầu sao, thực khách khi ăn một món giả, cứ nghĩ đến một con thật đã thoát chết thì lòng từ bi cũng đang tăng trưởng rồi đó.

Ăn chay vì lý do sức khỏe:

Nhóm người này tránh ăn thịt động vật vì thấy rằng thịt động vật mang đến nhiều chất độc và bệnh tật. Đối với họ, lý do ăn chay hoàn toàn vị kỷ. Nếu một mai khoa học tìm ra rằng ăn vẩy rồng, gân cọp sẽ khỏe mạnh sống lâu, thì họ sẽ lại hỳ hục đi săn rồng, săn cọp. Tuy nhiên, dù mục tiêu ăn chay của họ vị kỷ, không vì loài vật, nhưng phó sản của nó lại vô tình cứu loài vật bớt chết (có nghĩa là bớt bị sản xuất ra để rồi phải sống tù tội và chết đau đớn), và cũng giúp cho dòng nghiệp lực sinh tử tử sinh của họ bớt nợ máu.

Cho nên, đối với nhóm người này, món ăn giả nếu có làm cho họ cảm thấy hấp dẫn, thích ăn, bớt thèm thịt, thì vẫn có ích lợi cho cả phiá người và vật.

Ăn chay vì lòng thương loài vật:

Nhóm này thuộc đủ mọi thành phần tôn giáo và không tôn giáo. Họ tránh ăn thịt chỉ vì lòng thương xót loài vật, không nỡ đóng góp thêm vào nỗi thống khổ của cuộc sống đầy đau thương, bị hành hạ, trà đạp, đánh đập, sống chen chúc, bị ép cho đẻ nhiều rồi chia rẽ mẹ con, trước khi chết còn bị sống những ngày kinh hoàng trên những chiếc xe chuyên chở khổng lồ, đói khát, dồn ép trong một trạng thái thần kinh rất là khủng khiếp, rồi bị lùa vào hành lang dẫn đến lò sát sinh, để nghe thấy những tiếng thét thất thanh trong giây phút dẫy chết. Do được thấy tận mắt, hay coi phim, hoặc xem sách báo, tâm những người này đã chuyển, họ cảm thấy ăn thịt là kéo dài những nỗi thống khổ cho loài vật, cũng là những sinh vật có đầy đủ tình cảm, xúc động v..v.. như con người.

Nhóm người này ăn chay dễ dàng và còn cổ động mọi người ăn chay để toả rộng lòng nhân từ ra khắp nơi. Điển hình nhóm này là những hội viên hội PETA (People For The Ethical Treatment of Animals). Đối với họ khi nhìn tôm thịt cá giả trên bàn, thì họ cũng cảm thông với những người đang từ từ chuyển hướng sang ăn chay, và mừng rằng một con tôm, con cá, con gà giả trên bàn ăn là đã cứu một con tôm, con cá, con gà thật khỏi chết.

Cho nên, nhóm người này rất ủng hộ những tiệm ăn chay và hoan nghênh những con tôm cá giả, gà giả trên bàn ăn. Họ quan niệm rằng:

“Nếu như tật xấu ăn thịt cá đã bám rễ sâu xa trong óc con người, thì những món chay giả mặn đã cứu những con vật thật thóat chết”.

Nguồn: Thư viện Hoa Sen

Mời xem thêm:

http://www.vietfreefun.com/forum/showthread.php?185667-T%C3%ACnh-th%C6%B0%C6%A1ng

.

Thân cũ không tái sanh – Thân mất, việc làm còn

Thân cũ không tái sanh

Vua hỏi:

— Bạch Ðại đức, con người sau khi chết có trở lại mang thân cũ mà tái sanh không?

— Tâu Ðại vương, sau khi chết rồi, con người bỏ thân cũ mà mang thân mới.

— Xin cho ví dụ.

— Vi như người ta châm đuốc. Hết đuốc này, lửa lan qua cháy sáng đuốc kia. Con người ta cũng thế. Cái thân cũ không đem đi theo. Phải thọ lãnh một thân mới.

Na Tiên trở ngược lại hỏi vua:

— Ðại vương hồi nhỏ có theo thầy học chữ không?

— Thưa có. Và ngày nay, trẫm vẫn còn nhớ.

— Những kinh sách của Ðại vương học, sau khi phụ đạo dạy xong và Ðại vương đã thông hiểu, phụ đạo còn nhớ gì không, hay Ðại vương đã tóm thâu hết sạch rồi?

— Thưa không, phụ đạo vẫn nhớ và thông hiểu như trước khi chưa dạy trẫm.

— Con người ta cũng thế, lìa bỏ thân cũ thì liền nhận thân mới.

Thân mt, vic làm còn

Vua hỏi:

— Bạch Ðại đức, có cái thần hồn để nhớ không?

— Tâu Ðại vương, không.

— Thế thì trong con người cái gì ghi lại các việc làm đã qua?

Na Tiên trở hỏi ngược lại nhà vua rằng:

— Ví như có người hái trộm xoài của kẻ khác thì có chịu tội không?

— Dĩ nhiên là có tội.

— Khi mới trồng, cây xoài mầm đâu đã có trái? Ðây chỉ là hái trái, đâu có trộm cây xoài mầm mà cũng chịu tội?

— Nhưng nếu không trồng cây xoài mầm thì lấy đâu ra xoài trái để người kia hái trộm?

— Con người cũng giống như thế. Với cái thân hiện tại, người ta làm các việc lành dữ. Các việc lành dữ này không có tướng trạng gì hết, nhưng trong khoảng “minh minh chi trung” ấy, đương tựu thành một thân mới, để đời sau tái sanh mà thành thọ quả báo.

— Theo trẫm nghĩ, không phải con người đời sau chịu quả báo, mà nó dựa vào thân mới ấy để tiếp tục làm điều thiện điều ác khác.

— Thế thì những việc lành dữ của nó trước kia đi đâu?

— Như vậy, xoài mầm của Ðại vương đâu có kết trái? Làm sao kết tội người hái trộm xoài trái được?

— Vậy theo Ðại đức, những việc lành dữ trước kia đi đâu?

— Chúng không đi đâu hết. Chúng theo sát gót kẻ đã tạo tác ra chúng, như bóng theo hình. Người chết chỉ mất cái thân, không bao giờ đánh rơi những việc đã làm. Ví như đêm tối đốt đèn viết sách, khi sách viết xong và đèn đã tắt, chữ vẫn tiếp tục tồn tại trên giấy. Vì vậy cho nên, những việc thiện ác đã làm trong đời này, đời sau đương nhiên phải thành tựu kết quả, và kết quả ấy cũng chính tác giả phải tự thọ lãnh lấy.

Trích: Kinh Na Tiên Tỳ Kheo – Cao Hữu Ðính dịch

Bá Nha và Chung Tử Kỳ – Ngậm ngùi tình bạn tri âm

Bá Nha và Tử Kỳ là đôi bạn tri âm thời Xuân Thu Chiến Quốc. Bá Nha làm quan, Tử Kỳ là tiều phu. Do đó, nơi bao lơn Tòa Thánh có đắp bức tranh Bá Nha – Tử Kỳ để tượng trưng TIỀU, một trong Tứ Dân Tứ Thú.

Bá Nha họ Du tên Thụy, người ở Sính Đô nước Sở (nay là phủ Kinh Châu, tỉnh Hồ Quảng). Tuy là người nước Sở, nhưng làm quan cho nước Tấn, chức Thượng Đại Phu.

Tử Kỳ, họ Chung tên Huy, nhà tại Tập Hiền Thôn, gần núi Mã Yên, ở cửa sông Hán Dương, là một danh sĩ ẩn dật, báo hiếu cha mẹ tuổi già nua, làm nghề đốn củi (Tiều).

Một hôm, Bá Nha phụng chỉ vua Tấn đi sứ qua Sính Đô nước Sở, vào triều kiến vua Sở, trình quốc thư và giải bày tình giao hiếu giữa hai nước, được vua Sở và quần thần thiết tiệc khoản đãi. Bá Nha nhơn dịp nầy đi thăm mộ phần tổ tiên, thăm họ hàng, xong vào từ biệt vua Sở trở về nước Tấn.

Khi thuyền trở về đến cửa sông Hán Dương, nhằm đêm Trung Thu, trăng sáng vằng vặc, phong cảnh hữu tình, Bá Nha cho lịnh cắm thuyền dưới chân núi Mã Yên để thưởng ngoạn. Cảm thấy hứng thú, muốn dạo chơi một vài khúc đàn, Bá Nha liền sai quân hầu lấy chiếc lư ra, đốt hương trầm xông cây dao cầm đặt trên án. Bá Nha trịnh trọng nâng đàn, so dây vặn trục, đặt hết tâm hồn đàn lên một khúc réo rắt âm thanh, quyện vào khói trầm, chưa dứt, bỗng đàn đứt dây.

Bá Nha giựt mình tự nghĩ, dây đàn bỗng đứt thế nầy ắt có người nghe lén tiếng đàn, bèn sai quân hầu lên bờ tìm xem có ai là người nghe đàn mà không lộ mặt. Quân hầu lãnh lịnh lên bờ thì bỗng có người từ trên bờ lên tiếng:

– Xin đại nhân chớ lấy làm lạ, tiểu dân là tiều phu kiếm củi về muộn, trộm nghe được khúc đàn tuyệt diệu của Ngài.

Bá Nha cười lớn bảo:

– Người tiều phu nào đó dám nói hai tiếng nghe đàn với ta, sao ngông cuồng thế?

– Đại nhân nói sai quá vậy. Há chẳng nghe: Thập thất chi ấp, tất hữu trung tín (Một ấp 10 nhà ắt có nhà trung tín). Nếu đại nhân khinh chỗ quê mùa không người biết nghe đàn, thì cũng không nên có người khảy lên khúc đàn tuyệt diệu.

Nghe đáp xong, Bá Nha hơi choáng váng, hối hận những lời vừa thốt ra, vội bước ra mũi thuyền, dịu giọng nói:

– Người quân tử ở trên bờ, nếu thực biết nghe đàn, biết vừa rồi ta khảy khúc gì không?

– Khúc đàn đại nhân vừa tấu đó là: Đức Khổng Tử khóc Nhan Hồi, phổ vào tiếng đàn, lời rằng:

Khá tiếc Nhan Hồi yểu mạng vong,
Dạy người tư tưởng tóc như sương.
Đàn, bầu, ngõ hẹp vui cùng đạo,

Đến cuối câu ba thì dây đàn đứt, còn lại câu bốn là:

Lưu mãi danh hiền với kỹ cương.

Bá Nha nghe xong, đúng quá, mừng rỡ sai quân hầu bắc cầu lên bờ mời người quân tử xuống thuyền đàm đạo.

Người tiều phu ung dung xuống thuyền, chấp tay vái Bá Nha. Bá Nha vội đưa tay đáp lễ, nói:

– Xin quí hữu miễn lễ cho.

Rồi bắc ghế mời ngồi, phân ngôi chủ khách.

– Quí hữu biết nghe đàn, ắt biết ai chế ra đàn?

– Mong ơn Ngài hỏi tới, kẻ tiểu dân đâu chẳng dám nói hết cái biết của mình.

Khi xưa, vua Phục Hy thấy tinh hoa của năm vì sao rơi xuống cây ngô đồng, chim phượng hoàng liền đến đậu. Vua Phục Hy biết ngô đồng là gỗ quí, hấp thụ tinh hoa Trời Đất, có thể làm đồ nhã nhạc, liền sai người đốn cây ngô đồng xuống, cắt làm ba đoạn để phân Thiên, Địa, Nhơn.

Đoạn ngọn thì tiếng quá trong mà nhẹ, đoạn gốc thì tiếng quá đục mà nặng, duy đoạn giữa thì tiếng vừa trong vừa đục, có thể dùng được, liền đem ra giữa dòng sông nước chảy ngâm 72 ngày đêm, rồi lấy lên phơi khô, chọn ngày tốt, thợ khéo Lưu Tử Kỳ chế làm nhạc khí, bắt chước nhạc Cung Dao Trì, đặt tên là Dao cầm.

Dao cầm nầy dài 3 thước 6 tấc, án theo 360 độ chu Thiên , phía trước rộng 8 tấc án theo Bát tiết, sau rộng 4 tấc án theo Tứ Tượng, dầy 2 tấc án theo Lưỡng Nghi, đầu như Kim đồng, lưng như Ngọc Nữ, trên chạm Long Phụng, gắn phím vàng trục ngọc.

Đàn ấy có 12 phím tượng trưng 12 tháng, lại thêm một phím giữa tượng trưng tháng nhuận, trên mắc 5 dây, ngoài tượng Ngũ Hành, trong tượng Ngũ Âm: Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ.

Vua Thuấn khảy Dao cầm, ca bài Nam phong, thiên hạ đại trị.

Vua Văn vương bị Trụ vương giam cầm nơi Dũ Lý, con trưởng Bá Ấp Khảo thương nhớ không nguôi, nên thêm một dây nữa gọi là dây Văn (Văn huyền), đàn nghe thêm ai oán.

Võ vương đem quân phạt Trụ, thêm vào Dao cầm một dây phấn khích gọi là dây Võ (Võ huyền).

Như thế, Dao cầm lúc đầu có 5 dây, sau thêm 2 dây Văn và Võ nữa thành 7 dây, gọi là Thất huyền cầm.

Đàn ấy có Sáu kỵ, Bảy không, Tám tuyệt, kể ra:

* Sáu Kỵ là: Rét lớn, nắng lớn, gió lớn, mưa lớn, sét lớn, tuyết rơi nhiều.

* Bảy Không là: Nghe tiếng bi ai và đám tang thì không đàn, lòng nhiễu loạn thì không đàn, việc bận rộn thì không đàn, thân thể không sạch thì không đàn, y quan không tề chỉnh thì không đàn, không đốt lò hương thì không đàn, không gặp tri âm thì không đàn.

* Tám Tuyệt là: Thanh cao, kỳ diệu, u uất, nhàn nhã, bi đát, hùng tráng, xa vời, dằng dặc.
Đàn ấy đạt đến tận thiện tận mỹ, hổ nghe không kêu, vượn nghe không hú, một thứ nhã nhạc tuyệt vời vậy.

Bá Nha nghe xong , kính phục bội phần, hỏi thêm:

– Quí hữu quả thấu triệt nhạc lý. Khi xưa, Đức Khổng Tử đang khảy đàn, Nhan Hồi từ ngoài bước vào, thoảng nghe tiếng đàn u trầm, nghi là có ý tham sát, lấy làm lạ, liền hỏi Đức Khổng Tử. Ngài đáp: Ta đang khảy đàn, bỗng thấy mèo bắt được chuột, liền khởi lên ý niệm tham sát mà hiện ra tơ đồng.

– Nhan Hồi đã nghe tiếng đàn mà biết lòng người khảy đàn. Nay Hạ quan khảy đàn, lòng tư lự điều gì, quí hữu có thể đoán biết chăng?

– Đại nhân thử dạo một khúc xem.

Bá Nha nối lại dây đàn, tập trung tinh thần đến chốn non cao, khảy lên một khúc. Tiều phu khen rằng:

– Đẹp thay vòi vọi kìa, chí tại non cao.

Bá Nha ngưng thần, ý tại lưu thủy, khảy lên một khúc nữa. Tiều phu lại khen rằng:

– Đẹp thay, mông mênh kìa, chí tại lưu thủy.

Bá Nha thấy tiều phu đã thấy rõ lòng mình qua tiếng đàn, lấy làm kính phục, liền gác đàn, sai bày tiệc rượu, đối ẩm luận đàm. Hai người hỏi nhau tên họ, nguyên quán, nghề nghiệp.

Bá Nha lại sanh lòng cảm mến Tử Kỳ về sự hiếu với phụ mẫu, nên xin kết nghĩa anh em với Tử Kỳ, để không phụ cái nghĩa TRI ÂM mà suốt đời Bá Nha chưa từng gặp.

Hai người đến trước bàn hương án lạy Trời Đất, rồi lạy nhau 8 lạy kết làm anh em. Tử Kỳ nhỏ hơn Bá Nha 10 tuổi nên làm em.

Hai anh em đối ẩm cùng nhau tâm sự mãi cho đến sáng mà không hay. Tử Kỳ vội đứng lên từ biệt.
Bá Nha bùi ngùi xúc động, hẹn ước Tử Kỳ, đúng ngày Trung Thu năm sau, hai anh em sẽ hội ngộ nhau tại ghềnh đá nầy. Bá Nha lấy ra hai đỉnh vàng, hai tay nâng lên nói:

– Đây là chút lễ, kính dâng bá phụ và bá mẫu. Tấm tình chí thành, em đừng từ chối.

Hai người từ biệt, lòng đầy lưu luyến.

Chẳng bao lâu, thuyền về tới bến. Bá Nha vào kinh đô tâu trình Tấn Vương các việc, được Tấn vương khen tặng.

***

Thời gian lặng lẽ trôi qua. . . Nhớ ngày ước hẹn với Tử Kỳ, Tử Nha tâu xin vua Tấn cho nghỉ phép về thăm quê nhà.

Bá Nha thu xếp hành trang đến núi Mã Yên kịp ngày Trung Thu ước hẹn. Kìa là núi Mã Yên mờ mờ sương lạnh, tịch mịch, không một bóng người.

Bá Nha nghĩ thầm, năm trước nhờ tiếng đàn mà gặp được tri âm, đêm nay ta phải đàn một khúc để gọi Tử Kỳ. Rồi sai đốt hương trầm, đem Dao cầm ra so dây. Bá Nha đặt hết lòng nhớ nhung của mình vào tiếng đàn réo rắt, bỗng trong tiếng đàn lại có hơi ai oán nổi lên. Bá Nha dừng tay suy nghĩ: Cung Thương có hơi ai oán thảm thê, ắt Tử Kỳ gặp nạn lớn. Sáng mai ta phải lên bờ dọ hỏi tin tức về Tử Kỳ.

Đêm ấy, Bá Nha hồi hộp lo âu, trằn trọc suốt đêm, chờ cho mau sáng, truyền quân hầu mang theo Dao cầm, 10 đỉnh vàng, vội vã lên bờ, tiến vào núi Mã Yên. Khi qua cửa núi, gặp ngã ba đường, chưa biết nên đi đường nào, đành ngồi chờ người trong xóm đi ra hỏi thăm. Không bao lâu, gặp một lão trượng tay chống gậy, tay xách giỏ, từ từ đi lại. Bá Nha thi lễ, hỏi:

– Xin lão trượng chỉ giùm đường đi Tập Hiền Thôn?

– Thượng quan muốn tìm nhà ai?

– Nhà của Chung Tử Kỳ.

Vừa nghe 3 tiếng Chung Tử Kỳ, lão trượng nhòa lệ, nói:

– Chung Tử Kỳ là con của lão. Ngày Trung thu năm ngoái, nó đi đốn củi về muộn, gặp quan Đại Phu là Du Bá Nha kết bạn tri âm. Khi chia tay, Bá Nha tặng hai đỉnh vàng, nó dùng tiền nầy mua sách học thêm, ngày đi đốn củi, tối về học sách, mãi như vậy, sức khỏe hao mòn, sanh bệnh rồi mất.

Bá Nha nghe vậy thì khóc nức nở, thương cảm vô cùng. Lão trượng ngạc nhiên hỏi quân hầu thì biết thượng quan đây chính là Du Bá Nha, bạn tri âm của Chung Tử Kỳ. Chung lão biết vậy lại càng bi thảm hơn nữa nói:

– Mong ơn thượng quan không chê con lão hàn tiện. Lúc mất, nó dặn rằng: Con lúc sống không vẹn niềm hiếu dưỡng, lúc chết không vẹn nghĩa tri giao, xin cha chôn con nơi cửa núi Mã Yên để thực hiện lời ước hẹn với quan Đại Phu Bá Nha.

Lão phu y lời con trối lại. Con đường mà thượng quan vừa đi qua, bên phải có một nấm mộ mới, đó là mộ của Tử Kỳ. Hôm nay là đúng 100 ngày, lão mang vàng hương ra cúng mộ.

– Việc đời biến đổi, may rủi không lường. Xin Lão bá đưa đến mộ Tử Kỳ, bốn lạy cho vẹn tình tri kỷ.

Khi đến phần mộ, Bá Nha sửa lại áo mũ, sụp lạy khóc rằng:

– Hiền đệ ơi, lúc sống thông minh anh tuấn tuyệt vời, nay chết, khí thiêng còn phảng phất, xin chứng giám cho ngu huynh một lạy ngàn thu vĩnh biệt.

Lạy xong, Bá Nha phục bên mồ, khóc nức nở. Sau đó, Bá Nha gọi mang Dao cầm tới, đặt lên phiến đá trước mộ, ngồi xếp bằng trên mặt đất một cách nghiêm trang, so dây tấu lên một khúc nhạc thiên thu, tiễn người tri âm tài hoa yểu mạng.

Bỗng thấy gió rừng thổi mạnh, mây đen kéo lại, u ám bầu trời, hồi lâu mới tan. Có lẽ đó là anh hồn của Tử Kỳ hiển linh chứng giám. Tấu khúc nhạc xong, Bá Nha phổ lời ai oán, thay lời ai điếu, vĩnh biệt bạn tri âm, rồi đến vái cây Dao cầm một vái, tay nâng đàn lên cao, đập mạnh vào phiến đá trước mộ Tử Kỳ, đàn vỡ tan nát, trục ngọc phím vàng rơi lả tả.

Chung lão không kịp ngăn, sợ hãi nói rằng:

– Sao đại quan hủy cây đàn quí giá nầy?

Bá Nha liền ngâm 4 câu thơ thay câu trả lời:

Dao cầm đập nát đau lòng phượng,
Đàn vắng Tử Kỳ, đàn với ai?
Gió Xuân khắp mặt bao bè bạn,
Muốn kiếm tri âm, ôi khó thay!

– Nguyên do là vậy. Âm nhạc là một bộ môn nghệ thuật cao siêu. Nhân đây, xin mời thượng quan đến nhà lão để lão cảm tạ tấm lòng tốt đẹp của thuợng quan đối với con lão.

– Cháu quá bi thương, không dám theo bá phụ về quí phủ e gợi thêm nỗi đau lòng. Nay nghĩa đệ vắn số mất rồi, cháu kính dâng lên bá phụ và bá mẫu 10 đỉnh vàng, một nửa dùng mua mấy mẫu ruộng làm Xuân Thu tế tự cho Tử Kỳ, một nửa xin để phụng dưỡng bá phụ và bá mẫu trong tuổi già. Chừng cháu trở về triều, dâng biểu lên vua xin cáo quan, cháu xin đến rước bá phụ, bá mẫu đến an hưởng tuổi già.

Nói xong, Bá Nha lấy vàng dâng lên, rồi khóc lạy mộ Tử Kỳ một lần nữa, mới trở về thuyền.

Chung lão cảm động không cùng, nghẹn ngào đứng lặng nhìn theo bóng Bá Nha cho đến khi khuất bóng.

http://caodaism.org

Cái DŨNG của người viết Sử

Vào thời Xuân Thu, sau khi tướng quốc nước Tề là Thôi Trữ giết vua Tề là Trang Công để thâu tóm quyền lực, bèn gọi quan Thái sử Bá đến ra lệnh:

– “Ông phải viết rằng Tiên Vương chết vì bị bệnh nặng.

Thái sử Bá nói:

– Lịch sử không thể ghi chép hồ đồ. Viết theo sự thật là bổn phận của Thái sử.

Thôi Trữ không ngờ Thái sử Bá dám chống lệnh, nổi giận:

– Ông định viết thế nào?

Thái sử Bá đáp:

– Tôi viết xong rồi, ông sẽ biết ngay thôi.

Thôi Trữ cầm lên đọc thấy rõ:

– Hạ ngũ nguyệt Thôi Trữ thích quân (nghĩa là vào tháng 5 mùa hạ, Thôi Trữ giết vua).

Thôi Trữ nói:

– Ông phải viết khác đi, nếu không ta giết ông.

Thái sử Bá lắc đầu:

– Giết thì giết, tôi không thể viết khác.

Thôi Trữ liền chém đầu Thái sử Bá.

Thái sử Trọng là em trai Thái sử Bá, nghe tin anh bị giết liền đến thay chức vụ của anh. Thôi Trữ kinh ngạc vì thấy Trọng vẫn viết đúng như anh trai mình, liền rít lên:

– Ông không biết Thái sử Bá đã bị chém hay sao?

Trọng đáp:

– Thái sử chỉ sợ viết không trung thực chứ không sợ chết.

Thôi Trữ lại chém Thái sử Trọng.

Thái sử Thúc, em trai Thái sử Bá và Thái sử Trọng được vào thay. Ông cũng chép đúng như hai anh của mình và lại bị chém. Thái sử Quý, em út của ba Thái sử trên vào thay, vẫn viết: “Hạ ngũ nguyệt Thôi Trữ thích quân”. Viết xong ông nói với Thôi Trữ:

– Ông càng giết người thì càng chứng tỏ sự tàn bạo. Nếu tôi không viết thì người khác sẽ viết và thiên hạ cũng biết. Ông có thể giết chết Thái sử nhưng không thể giết chết được sự thật.

Thôi Trữ nghe xong lắc đầu, thở dài, không dám giết tiếp.

Được Thôi Trữ tha mạng, Thái sử Quý cầm cái thẻ trên viết việc Thôi Trữ giết vua đi ra, sắp đến cửa sử quán, lại gặp Nam Sử Thị. Thái sử Quý hỏi đi đâu, Nam Sử Thị nói:

– Ta nghe nói anh em nhà ngươi đều chết cả, sợ bỏ mất cái việc ngày Ất Hợi, tháng 5, mùa Hạ mới rồi, vậy nên ta cầm thẻ đến để chép .

Quý đưa cái thẻ của mình đã chép cho Nam Sử Thị xem . Nam Sử Thị mới cáo từ mà về .

Lời bàn:

Ngày nay nếu có thể bịa đặt, xuyên tạc sự thật để làm vừa lòng bề trên hoặc chụp mũ, vu cáo cho hấp dẫn để lôi cuốn độc giả ngu dốt trên báo lá cải kiếm chút lợi thì cũng chẳng thiếu gì người sẵn sàng bán lương tâm.

Ôi, “Những người muôn năm cũ, Hồn ở đâu bây giờ?” (Thơ Vũ Đình Liên)

(Theo Sử Ký Tư Mã Thiên)

Thanh bảo kiếm của công tử Quý Trát

Công tử Quý Trát người nước Ngô, sống vào thời Xuân Thu, có thanh kiếm báu. Trong dịp qua nước Từ, vua Từ tỏ ý thích thanh kiếm, cứ tấm tắc khen.

Vì còn phải đi qua nhiều nước du thuyết, cần có thanh kiếm hộ thân, nhưng thấy vua Từ thích quá, nên Quý Trát có ý định trong lòng rằng sau khi xong việc trở về sẽ tặng vua Từ thanh kiếm.

Nhưng khi Quý Trát trở về qua nước Từ thì hay tin vua Từ đã tạ thế. Quý Trát giữ lời tự hứa trong lòng khi trước, ra mộ vua Từ tháo thanh kiếm đeo bên mình treo lên thành mộ, lặng lẽ ra đi.

Lời bàn:

Chỉ là lời tự hứa trong tâm mà người xưa cũng gìn giữ tôn trọng còn hơn thanh bảo kiếm hộ thân, cao quý thay!

(Theo Đông Chu Liệt Quốc)

.

Philip Kapleau (1912-2004) – một thiền sư người Mỹ

Philip Kapleau (1912-2004)
một thiền sư người Mỹ
Thích Nguyên Tạng

Ông Philip Kapleau, được xem là một trong những Thiền sư người Mỹ đầu tiên, một Thiền sư người phương Tây nổi tiếng ở khắp nước Mỹ và các nước ở châu Âu. Ông sinh năm 1912 trong một gia đình theo đạo Tin Lành ; ông học ngành luật và sau khi ra trường làm thư ký nhiều năm ở Tòa án Liên bang Mỹ. Trong thế chiến thứ II (1939-1945), ông được chỉ định làm báo cáo viên tại hai phiên tòa xử tội ác chiến tranh Tòa án Quân sự Quốc tế tại Nuremberg-Đức và tại Tokyo-Nhật Bản. Đây cũng là nhân duyên đẩy đưa ông đến với Phật giáo (PG). 

 

 

Thiền Sư Philip Kapleau và các đệ tử

Tháng 3 năm 1947, ông cùng với người bạn trẻ Richarch Demartino đến làm việc tại Tòa án Quân sự Quốc tế tại Tokyo. Khác với phiên xử những tội phạm khủng bố của phe trục phát xít ở Nuremberg, phiên xử ở Tokyo dễ chịu hơn, ít căng thẳng hơn. Vì người Nhật nhìn chung biết chấp nhận hậu quả chiến tranh với sự điềm tĩnh và tự kiềm chế mình. Qua tìm hiểu, Kapleau biết rằng người Nhật chấp nhận quả khổ này là dựa trên “Luật nghiệp quả báo ứng” (The law of karmic retribution). Khái niệm về luật nhân quả này được hoạt động trên bình diện đạo đức kích thích sự chú ý của Kapleau, vì nó ngược lại hoàn toàn với sự tự bào chữa rất thường nghe ở Đức. Với sự tò mò về vấn đề nghiệp lực, cuối cùng Kapleau được người ta đưa đến gặp Đại sư Suzuki. Tại Kamakura, ông gặp và tiếp xúc với Suzuki, nghe giảng giải về cốt lõi của nghiệp quả và giáo lý thiền Đại thừa. Kapleau rất vui mừng và bắt đầu quan tâm đến PG. 

Tiếp đó, ông tới thăm Trung Hoa rồi trở về Mỹ, ông tiếp tục đi làm ở thị trấn Connecticut, nhưng cuộc sống của ông không thể trở lại ổn định được sau hai phiên xử tội ác chiến tranh, có hàng trăm ấn tượng và suy nghĩ chưa giải quyết được, cứ lơ lửng trong đầu ông, giống như có nhiều đồ giặt cần phơi khô và xếp lại. Cuộc sống của ông trống rỗng, không còn ý nghĩa nhưng vẫn chưa có gì thay thế được, ngoài việc tìm đến New York vào những ngày cuối tuần để xem xét những tôn giáo lớn ở châu Á. Không có thầy dạy thiền, ông tham gia vào một lớp giáo lý đạo Bahai và những cuộc họp của Hội Vệ Đà, nhưng rốt cuộc không giúp gì được cho ông. Sự quan tâm đến đời sống tâm linh đã héo mòn. Năm 1950, tiến sĩ Suzuki đến Mỹ, nhóm ngòi nổ mà sau này làm nổ ra “sự bùng nổ thiền” (Zen boom). Philip Kapleau liền ghi danh học triết lý Phật giáo thiền cùng với 20 họa sĩ, nhà sáng tác, nhà thơ, bác sĩ tâm lý, các giáo sư triết học tại Đại học Columbia. Suzuki nhắc nhở các học trò :

“Thiền không phải là triết học mà là một lối sống. Nếu các vị muốn học thiền nên đến thẳng Nhật Bản, các vị phải sống với nó và cuộc đời của các vị sẽ thay đổi”.

Năm 1953, ở tuổi 44, Kapleau bỏ việc làm và đến xin xuất gia tu học. Trước tiên ông đã gặp chướng ngại, hai Thiền sư Nhật Bản không nhận ông làm đệ tử, vì ông không biết nói tiếng Nhật. Tuy nhiên, với lòng nhiệt thành cầu đạo, cuối cùng Lão sư Soen đã tiếp nhận Kapleau ở tu tại chùa Phát Tâm (Hosshinji). Ông tu ở đây được 3 năm, sức khỏe của ông ngày càng một tệ đi vì bầu không khí căng thẳng, giới luật khắc nghiệt và chế độ ăn uống thiếu thốn. Theo lời giới thiệu của Lão sư Soen, Kapleau đến cầu pháp với Thiền sư Bạch Vân (Yasutani), người thừa tự pháp của Lão sư Đại Vân (Harada), lúc bấy giờ Thiền sư Bạch Vân không có tu viện, điều kiện tu học rất khó khăn. Thiền sư Bạch Vân khuyên Kapleau:

Sứ mệnh của con là đem thiền sang truyền bá ở phương Tây, nên con phải kham nhẫn đối với mọi thứ ở đây”

Nhờ sự nỗ lực thiền tập mà trong khóa tu thứ 20 (mùa Hè năm 1958) với TS Bạch Vân, Kapleau đã đạt ngộ, được Thiền sư Bạch Vân ấn chứng và ban cho danh hiệu “Roshi” – Lão sư (một danh hiệu khó đạt được, chỉ được ban cho những ai đã đạt ngộ chân lý).

 


Thiền Sư Philip Kapleau

và Bổn Sư của mình Lão sư Soen

Với khả năng ghi tốc ký của người báo cáo viên cộng với khả năng thành thạo Nhật ngữ của mình, thiền nhân Philip Kapleau được Lão sư Bạch Vân cho phép ghi lại hầu hết các bài giảng về thiền, đặc biệt là những bài giảng nhập môn tu thiền. Cuối cùng Kapleau đã biên soạn thành cuốn sách với tựa đề là “Ba Trụ Thiền” (Three Pillars of Zen), in tại Nhật Bản vào năm 1965. Điều đáng chú ý, đây là quyển sách tiếng Anh viết chi tiết về cách thức thực tập thiền. Trong phần lời nói đầu, Kapleau nói rõ mục tiêu của ông:

“Người phương Tây thích tu thiền, nhưng gặp một chướng ngại lớn là không có tài liệu chỉ dẫn. Sự thiếu thốn này không những hạn chế trong tiếng Anh mà còn cả trong những ngôn ngữ châu Âu khác nữa (…). Do đó, họ cần có một bản đồ mà tâm trí của họ có thể tin tưởng được, đây là một phác họa lộ trình tâm linh mà họ có thể tin được trước khi khởi hành”.

Một trăm năm mươi ngàn (150.000) bản tiếng Anh (quyển Ba Trụ Thiền) được phát hành đi khắp thế giới, đến nay nó được dịch ra nhiều thứ tiếng như Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Ba Lan, Việt Nam (do Đỗ Đình Hồng dịch)… Rõ ràng đây là loại sách kinh điển của thiền và nó sẽ tiếp tục được sử dụng như cuốn sách hướng dẫn cho những ai muốn tu thiền trong tương lai, năm 1980 tại Mỹ lại tái bản cuốn sách này. 

Sau 13 năm tu học tại Nhật, năm 1965, Kapleau trở về nước và bắt đầu sứ mệnh truyền giáo. Khởi đầu Ngài được thỉnh về Rochester, một vùng thuộc miền Tây tiểu bang New York, nơi đã có nhiều tôn giáo phát sinh trong quá khứ.

Năm 1966, Ngài cho xây dựng Trung tâm thiền Rochester và liên tục mở những khóa tu nhiếp tâm cho thiền sinh Mỹ đến dự. Bấy giờ cuốn “Ba Trụ Thiền” đã gây được tiếng vang lớn. Từ giữa thập niên sáu mươi đến giữa thập niên bảy mươi, Lão sư Kapleau đi khắp nước Mỹ để thuyết giảng cho mọi tầng lớp trong xã hội Mỹ. Ngài nói chuyện ở trường cao đẳng, viện đại học, trung tâm phát triển và các hội nghị chuyên đề, Ngài xuất hiện trước những tổ chức tôn giáo và những nhóm tham vấn. Ngài cũng được mời đến Canada, Mexico, Costa Rica, Đức, Pháp và Ba Lan. Sự hiện diện của Ngài, phong cách bình dị, kinh nghiệm và đầy khôi hài, đã khẳng định thêm những giá trị mà Ngài đã hứa hẹn trong tác phẩm “Ba Trụ Thiền”. Ngài là người phương Tây hoàn toàn tự nhiên quen thuộc với thiền. Hơn nữa, qua phong thái, hành động, cử chỉ cho thấy Ngài đã tiến sâu vào lãnh vực của thiền, Ngài đã vượt qua và giải quyết rất nhiều điều từng làm cản trở và làm thất vọng ở nhiều người đang lắng nghe Ngài. Kết quả trước tiên là dòng chảy, rồi đến một dòng suối rồi một biển người đổ về Trung tâm thiền Rochester để được Ngài hướng dẫn tu học. 

Năm 1968, cơn hỏa hoạn tàn khốc đã thiêu rụi tất cả chỉ còn lại cái sườn của Trung tâm. Lão sư Kapleau cùng với đệ tử tái tạo lại trung tâm tu học và trung tâm đã được mở rộng kể từ đó và nhiều sự cải thiện đã được thực hiện. Dù bị hỏa hoạn, những đề án xây dựng, những thay đổi liên tục, thời khóa tu học, tọa thiền, nhiếp tâm, hội thảo, lễ lạt… vẫn được thực hiện. Những buổi lễ truyền thống đã được chọn và được điều chỉnh lại để đáp ứng những đòi hỏi phù hợp với thời đại và nền văn hóa Mỹ. Tuy vậy, Lão sư Kapleau vẫn không ngừng giữ gìn tinh thần thiền được các tiền bối Đại Vân và Bạch Vân để lại.

 


Lão sư Philip Kapleau (hình chụp năm 1975)

Hai mươi năm sau từ ngày ấn hành quyển Ba Trụ Thiền, năm 1980, lão sư Kapleau đã cho in quyển Thiền, ánh bình minh ở phương Tây (Zen, dawn in the West, cuốn này đã có bản Việt ngữ). Đây cũng là một quyển sách thiền có giá trị, nó chuyên chở một nội dung cũ trong một hình thức mới, nó phản ánh sự tác động của thiền ở những người Bắc, Nam Mỹ và châu Âu, những phản ứng thân thiện và khác nhau trong chính bối cảnh văn hóa Tây phương. Trong phong cách thiền, nó trả lời những câu hỏi mà họ háo hức đi tìm và những hoài nghi thẳng thừng của họ. Cũng như quyển Ba Trụ Thiền, quyển sách này cũng trình bày những cuộc đối thoại giữa thầy và trò, những lá thư mang đến xoáy sâu vào những e dè của những người mới tu thiền. Để giúp đỡ các thiền sinh Tây phương, lão sư Kapleau đã dịch những bài kệ, kinh thiền chính yếu ra tiếng Anh để cho họ thọ trì hàng ngày. 

Đặc biệt trong phần cuối cuốn sách, tác giả đã đề cập đến vấn đề đạo đức trong xã hội Mỹ. Ngài viết :

“Người ta nói rằng thiền ở trên đạo lý nhưng đạo lý không nằm dưới thiền. Câu phát biểu mâu thuẫn này cùng với sự tự do thoát khỏi sự đa cảm và những thuyết giảng đạo đức đã nảy sinh khái niệm sai lầm là thiền chống lại đạo lý và làm ngơ trách nhiệm xã hội. Thật ra, độc giả sẽ khám phá thì vấn đề sẽ hoàn toàn ngược lại, thiền nuôi dưỡng hành vi đạo đức và có trách nhiệm với xã hội bằng cách chế ngự ngọn lửa tham, sân si đang đốt cháy con người”.
 

Mặc dù được xem là người có tư tưởng tự do, phóng khoáng, nhưng Lão sư Kapleau rất khắt khe đối với những ai bước vào Trung tâm Thiền của Ngài. Những đòi hỏi của Ngài đối với người đệ tử cũng lớn như những đòi hỏi được thực hiện ở chùa Phát Tâm khi xưa ở Nhật Bản. Ngài không tha thứ cho sự buông thả và tự ti, Ngài cũng không chấp nhận các lời xin lỗi hoặc lời cầu xin đặc biệt, Ngài chỉ mong đợi sự thành tâm và tinh tấn ở mọi đệ tử. Ngài từng nhắc nhở học trò của mình rằng: 

Nếu trò không bằng thầy hoặc hơn thầy, thì đều xem là thất bại“. 

Lão sư Philip Kapleau rõ ràng là một người Tây phương vừa đạt ngộ, vừa là một Pháp sư, một Thiền sư nổi tiếng tại Mỹ, người biết được những nghi ngờ, những mối quan tâm và những hy vọng của những người thiên về kỹ thuật thời hiện đại. Thật hiếm thấy một con người có được sự kết hợp các phẩm chất độc đáo như vậy.

 


Lão sư Philip Kapleau (hình chụp năm 2002)

 

Vào đầu tháng 5 năm 2004, Lão sư Philip Kapleau cảm thấy pháp thể khiếm an, mặc dù được các hàng đệ tử tận tình chăm sóc chữa trị, nhưng vì tuổi cao sức yếu, Ngài đã không qua khỏi.

Ngài đã an tường xả báo thân lúc chiều ngày Thứ Năm, ngày 6 tháng Năm 2004 (nhằm ngày 18 tháng 3 năm Giáp Thân) trụ thế 92 tuổi đời, 49 tuổi đạo.

Suốt cuộc đời, từ khi xuất gia hành đạo cho đến lúc viên tịch, Lão sư Philip Kapleau đã nỗ lực không ngừng trong công việc xiển dương đạo pháp. Cuộc đời Ngài là một tấm gương sáng ngời về đạo hạnh và sự nghiệp hoằng hóa cho Tăng ni và Phật tử noi theo.

* Theo các tài liệu: 
– Zen : Dawn in the West, Anchor Press, USA, 1980
– How the Swans came to the Lake, a narrative history of Buddhidm in America. USA, 1992
– http://www.rzc.org/html/gallery/photo.shtml (5-2004)

Thích Nguyên Tạng
http://www.tuvienquangduc.com.au

***

Founder of local Zen Center dies at 91

Renowned teacher Philip Kapleau wrote ‘Three Pillars.’
By Corydon Ireland
Staff writer

 

(May 7, 2004) — Philip Kapleau, founder of the Rochester Zen Center, who in the 1950s traded an American commuter train for a monastery in Japan, died Thursday afternoon, surrounded by students, friends and family at the center on Arnold Park.

He was 91 and had suffered from Parkinson’s disease for many years.Born in 1912, and a native of a working-class section of New Haven, Conn., he has long been regarded as one of the foremost teachers of Zen Buddhism in the Western world.

After World War II, Mr. Kapleau worked as a court reporter at the military tribunals in Germany and Japan, a racking experience that later drove him onto a spiritual path.

His 1965 book, The Three Pillars of Zen, introduced many Americans to Zen Buddhism, a traditional Japanese religious practice of disciplined meditation and self-examination. It is still considered a seminal text.

He wrote many other books.

Mr. Kapleau is survived by his wife, deLancey, and a daughter, Sudarshana.

”He will be missed by thousands,” said Margaret Lee Braun, a Brighton writer and friend who was with Mr. Kapleau when he died lying in a recliner in the center’s sunlit garden. “He gave us so many gifts — genuine teaching about life and death, a genuine spiritual practice.”

A student of Mr. Kapleau’s for more than 30 years, Braun called him “a profound person of his era.”

In a 1966 interview, Mr. Kapleau said that after the war, “a sense of the futility and the horror of life was very strong with me.”

Propelled by the defensive testimony of the Germans — and the testimony of Japanese defendants who acknowledged guilt and its consequences — Mr. Kapleau in 1952 started a 13-year study of Zen Buddhism in Japan.

He returned to the United States in 1965, an ordained Zen priest, and founded the Rochester Zen Center a year later in a rented house at 10 Buckingham St.

For years since then, it has been in linked converted mansions at 5 and 7 Arnold Park. It remains one of the premier U.S. centers of Zen Buddhism.

Mr. Kapleau’s death “is the culmination of an amazing life,” said John Pulleyn, who administers the center. “What he started in Rochester has grown worldwide.”

Seven successive nights of services for members and friends started Thursday at the center. They will be followed by weekly services for seven weeks.

A public funeral service, said Pulleyn, will be held “sometime in the future.”

CIRELAND@DemocratandChronicle.com

http://www.democratandchronicle.com/news/0507LQ45VBK_news.shtml

Cái gì đi tái sanh? – Lý Vô Ngã

“Không là một, cũng không phải khác.”

Thanh Tịnh Đạo

Ngoài Danh và Sắc, phần tâm linh và phần vật chất, là hai thành phần cấu tạo chúng sanh, Phật Giáo không chấp nhận có một linh hồn vĩnh cửu hay một bản ngã trường tồn mà con người đã thọ lãnh một cách bí ẩn, từ một nguồn gốc cũng không kém bí ẩn.

Một linh hồn mà trường cửu tất nhiên phải bất biến, trước cũng như sau. Nếu linh hồn mà người ta giả định là phần tinh túy của con người là trường tồn vĩnh cửu thì linh hồn không thể tái sanh hay hoại diệt, mà ta không thể giải thích vì sao “từ lúc sơ khởi, linh hồn nầy lại khác biệt rất xa với linh hồn kia.”

Để chứng minh rằng có những lạc thú vô cùng tận trên một thiên đàng vĩnh cửu và cảnh khổ đau vô cùng tận dưới một địa ngục trường tồn, tức nhiên phải chủ trương có một linh hồn trường cửu.

Bertrand Russell viết :

“Ta phải nói rằng sự phân biệt cũ kỹ giữa linh hồn và thể xác đã tiêu tan như mây khói, bởi vì vật chất đã mất tính chất cứng rắn của thể đặc mà tâm cũng mất tính chất tinh thần của nó. Tâm lý học vừa bắt đầu trở thành một ngành khoa học. Trong tình trạng hiện hữu của tâm lý học, sự tin tưởng nơi một cái gì trường tồn vĩnh cửu không có cái nào đòi hỏi khoa học tán trợ” [1].

Theo nhà học giả uyên bác, tác giả quyển “The Riddle of the Universe”:

“Biện chứng Thần Linh Học chủ trương có một đấng Tạo Hóa thổi vào con người một linh hồn bất diệt (thường được xem là một phần của Thần Linh). Đó là một câu truyện thần thoại. Biện chứng Vũ Trụ Luận cho rằng “trật tự luân lý của thế gian” đòi hỏi phải có một linh hồn trường tồn bất diệt. Đó là giáo điều vô căn cứ.

Biện chứng Chung Quả Luận chủ trương rằng do sự tiến triển không ngừng của con người để cải thiện vận mạng mình, những khuyết điểm của linh hồn phàm tục phải được cải tiến mãi mãi trong đời sống và sau kiếp sống. Đó là một lối hiểu sai lầm của thuyết sinh vật đồng nhân (anthropomorphism) cho rằng tất cả những sinh vật đều có hành động và tư tưởng như người.

Theo biện chứng Đạo Đức Luận, những khuyết điểm và những tham vọng chưa được thỏa mãn trong đời sống phải được bổ khuyết và “đền bù một cách công bình và vĩnh viễn” sau kiếp sống. Đó chỉ là một điều mong ước cuồng nhiệt.

Biện chứng Nhân Chủng Luận cho rằng sự tin tưởng nơi tánh cách bất diệt của linh hồn cũng như sự tin tưởng nơi một đấng Tạo Hóa là chân lý cố hữu trong toàn thế nhân loại. Đó hiển nhiên là một sai lầm.

Biện chứng Bản Thể Luận chủ trương rằng linh hồn là một thực thể đơn giản, vô hình, và bất khả phân, tất không thể bị liên quan đến sự vong hoại do cái chết gây ra. Điều nầy căn cứ trên quan niệm sai lạc về hiện tượng tâm linh. Đó là ảo mộng của Duy thần luận.

Tất cả những biện chứng kể trên cũng như tất cả những giả thuyết tương tợ về bản ngã đã lâm vào tình trạng nguy ngập trong vòng mười năm nay và đã bị khoa học chỉ trích và bác bỏ hoàn toàn.” [2]

— Nếu không có chi dưới hình thức linh hồn, chuyển từ kiếp sống nầy sang kiếp sống khác thì cái gì được tái sanh?

Hỏi như vậy đương nhiên là chấp nhận có một cái gì tái sanh.

Cách đây vài thế kỷ có lập luận “Cogito, ergo sum”, “tôi tư tưởng, tức là có tôi”. Đúng như vậy. Tuy nhiên, trước tiên phải chứng minh rằng có một cái “tôi”, đang tư tưởng.

Chúng ta nói rằng mặt trời mọc ở phương Đông và lặn ở phương Tây, mặc dầu ta biết rằng thật sự không phải mặt trời mọc lên và lặn xuống mà chính là quả địa cầu quay. Chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng ta không thể gõ hai lần đúng y vào một chỗ, mặc dầu bề ngoài là như vậy. Tất cả đều biến đổi rất nhanh chóng. Không thể có hai khoảnh khắc giống hệt nhau.

Người Phật tử đồng ý với Bertrand Russell khi ông nói:

“Hiển nhiên có vài lý do để chủ trương rằng cái “Tôi” ngày hôm nay và cái “Tôi” ngày hôm qua là một; và để lấy một thí dụ hiển nhiên hơn nữa, nếu cùng một lúc, tôi thấy một người và nghe người ấy nói ắt, có cảm giác rằng cái “Tôi” đang nghe và cái “Tôi” thấy là một.” [3]

Cho đến những ngày gần đây các khoa học gia còn tìm nơi tính cách bất khả phân tán và bất khả diệt của nguyên tử.

“Với đầy đủ lý lẽ, các nhà vật lý học đã phân tán hạt nguyên tử ấy ra từng loạt những thành phần nhỏ. Cũng vì những lý do không kém chánh đáng, các nhà tâm lý khám phá rằng tâm không phải là một thực thể đồng nhất với cái gì liên tục trường tồn mà là một loạt những yếu tố kết hợp với nhau trong những liên quan mật thiết nào. Do đó, vấn đề trường tồn bất diệt trở thành câu hỏi rằng sau khi thể xác kia chết thì những yếu tố của tâm và những yếu tố của thân có còn tiếp tục liên quan mật thiết với nhau không?” [4]

Cũng như C. E. M. Joad viết trong quyển “The Meaning of Life”:

“Vật chất đã tan rã dưới chính mắt chúng ta. Nó không còn ở thể đặc, không còn bền vững trường tồn, không còn bị những định luật cưỡng chế quy định, và quan trọng hơn tất cả, không còn được biết là gì.”

Vậy, hình như cái được gọi là nguyên tử “có thể bị phân tán và có thể bị tiêu diệt”. Những điện tử và dương tử cấu thành một nguyên tử “có thể gặp nhau và tiêu diệt lẫn nhau”. Trong lúc ấy, sự bền vững của hai thành phần điện tử và dương tử, chỉ tựa hồ như sự vững bền của một lượn sóng, không có giới hạn chắc chắn, và luôn luôn nằm trong tiến trình biến đổi liên tục, cả hai đều thay đổi hình thức và vị trí.”

Theo Đức Giám Mục Berkeley, cái được gọi nguyên tử là một giả tưởng của siêu hình học và Ngài chủ trương có một thực chất tinh thần gọi là linh hồn.

Sau khi tìm hiểu cái hồn, Hume viết như sau:

“Có vài triết gia tư tưởng rằng trong mỗi chập tư tưởng chúng ta mật thiết ý thức cái gọi là “Ta” và chúng ta cảm giác rằng cái “Ta” có thật, và thật sự tồn tại. Các triết gia ấy, ngoài sự hiển nhiên của mọi luận chứng, cũng quả quyết rằng cái “Ta” hoàn toàn không biến đổi và không thể phân chia.

“Riêng về phần tôi, khi xâm nhập mật thiết vào cái mà tôi gọi là “Tôi” thì luôn luôn tôi vấp phải một cảm giác đặc biệt như nóng hay lạnh, sáng hay tối, thương hay ghét, vui hoặc buồn. Tôi chưa từng bắt gặp cái “Tôi”, ngoài những cảm giác ấy, và chưa hề chiêm nghiệm được cái gì ngoài cảm giác …” [5]

Bergson nói:

“Tất cả mọi tâm thức chỉ tồn tại trong thời gian sinh hoạt và một trạng thái tâm, nếu không biến đổi thì không còn là trạng thái nữa. Trạng thái tâm là một sự biến đổi không ngừng. Nếu sự biến đổi ngưng là trạng thái tâm cũng ngưng. Trạng thái tâm chẳng qua là sự biến đổi.”

Theo nhà tâm lý học trứ danh Watson:

“Chưa có ai từng sờ đụng một linh hồn, hay nhìn thấy linh hồn trong một ống thí nghiệm, hay bằng cách gì khác, để tiếp xúc với linh hồn, như đã từng tiếp xúc với các vật khác trong phòng thí nghiệm. Tuy nhiên, ngờ vực sự hiện hữu của linh hồn được coi là phản tôn giáo và có thể bị rơi đầu. Cho đến ngày nay, người có địa vị ưu tú cũng không dám nêu vấn đề ấy lên.” [6]

Đề cập đến vấn đề linh hồn, Giáo sư James viết:

“Cho đến nay, để giải thích những sự kiện thật sự có thể chứng minh được về kinh nghiệm của thân thì thuyết linh hồn là hoàn toàn vô ích. Cho đến nay không ai có thể bị cưỡng bách phải chấp nhận thuyết ấy vì những lý do khoa học.

“Cái Ta (dùng như một túc từ) là sự kếp hợp do kinh nghiệm, cấu tạo với sự vật đã được biết một cách khách quan. Vậy cái Ta (thường dùng như một chủ từ) biết được sự vật ấy không thể là một sự kết hợp. Không thể dùng cái Ta ấy trong những nhu cầu tâm lý và xem nó như một thựa thể siêu hình không biến đổi, một linh hồn trường tồn bất biến.

Cũng như không thể xem nó như một nguyên lý, một bản ngã siêu việt vượt ra ngoài thời gian. Cái “Ta” chỉ là một tư tưởng biến đổi từng chập. Không một tư tưởng nào giống chập tư tưởng trước kế đó, nhưng luôn luôn thuận ưng theo chập tư tưởng trước để cùng chung hợp lại thành một tư tưởng riêng biệt.” [7]

Và giáo sư James kết luận đoạn sách thích thú về linh hồn như sau:

“Chính cái tư tưởng là người tư tưởng”

Và đó là dư âm của những lời mà Đức Phật đã dạy từ hơn 2500 trước, trong vùng thung lũng sông Hằng (Ganges).

Phật Giáo dạy một thứ tâm lý học trong đó không có linh hồn. Phật Giáo chủ trương rằng chúng ta là sự cấu hợp của hai thành phần Danh và Sắc (nama-rupa), phần tâm linh và phần vật chất, và hai thành phần nầy ở trong trạng thái luôn luôn biến đổi như một dòng suối trường lưu bất tức.

Từ ngàn xưa, những nhà hiền triết Ấn Độ cũng có tin một nguyên tử bất khả phân tán gọi là Paramanu. Theo quan niệm thời bấy giờ, 36 Paramanu hợp thành một Anu; 36 Anu hợp thành một Tajjari; 36 Tajjari hợp thành một Ratharenu. Một hạt bụi rất nhỏ mà ta thấy vởn vơ trong làn ánh sáng, gọi là Ratharenu. Vậy, nếu chia hột bụi kia làm 46.656 phần thì Paramanu là một phần nhỏ ấy (1/46.656).

Theo quan niệm thời bấy giờ thì Paramanu là đơn vị vi tế nhất của vật chất, không thể phân chia được nữa.
Với nhãn quang siêu phàm, Đức Phật phân tách Paramanu và tuyên bố rằng Paramanu gồm có những năng lực tương quan gọi là Paramattha, hay là thành phần chánh yếu của vật chất .

Những Paramattha ấy là Đất (Pathavi), Nước (Apo), Lửa (Tejo), và Gió (Vayo), gọi là Tứ Đại.

Đất (Pathavi) là thành phần có đặc tính duỗi ra, thể chất của phần vật chất. Nếu không có thành phần đất (Pathavi), thì một vật thể không thể chiếm không gian. Hai tánh cách tương đối, cứng và mềm, là điều kiện của thành phần ấy.

Nước (Apo) là thành phần có đặc tính làm dính liền lại. Do ngũ quan, ta có thể tiếp xúc với thành phần Đất (Pathavi), nhưng không thể dùng mắt, tai, mũi, lưỡi và thân để tiếp xúc với thành phần Nước (Apo) trong vật chất. Chính thành phần nầy làm cho những phân tử rời rạc của vật thể dính liền lại và cho ta ý niệm hình thể. Khi một vật ở thể đặc chảy ra thì thành phần Nước (Apo) trong chất lỏng ấy trở nên trội hơn. Khi một vật ở thể đặc bị phân tán thành bụi, trong mỗi hột bụi tí ti cũng có chứa thành phần Nước. Hai Paramattha, Đất (Pathavi) và Nước (Apo), trong vật chất liên quan với nhau thật là mật thiết. Khi thành phần Nước (Apo), có đặc tánh làm dính liền, tiêu tan, thì thành phần Đất (Pathavi), có đặc tính duỗi ra cũng không còn.

Lửa (Tejo) là thành phần nóng trong vật chất. Lạnh cũng là một hình thức của Lửa (Tejo). Cả nóng lẫn lạnh đều nằm trong thành phần Lửa (Tejo) của vật chất và cả hai đều có năng lực làm cho vật chất trở nên chín mùi, hay nói cách khác tạo sinh lực cho vật chất. Vật chất được tồn tại hay bị hư hoại đều do thành phần Lửa. Trái với ba thành phần khác trong Tứ Đại, Lửa (Tejo), cũng gọi là Utu, có năng lực làm cho vật chất tự mình hồi sinh.

Gió (Vayo) là thành phần di động. Chính thành phần Gió (Vayo) trong vật chất tạo nên sự vận chuyển và được xem là năng lực làm phát sanh hơi nóng.

Sự di động và nhiệt lực trong phạm vi vật chất cũng tương đương như tâm và nghiệp trong phạm vi tinh thần.

Tứ Đại, Đất-Nước-Lửa-Gió, là những đơn vị căn bản của vật chất, luôn luôn pha lẫn với bốn chuyển hóa là màu sắc (vanna), hương (gandha), vị (rasa), và bản chất dinh dưỡng (oja).

Tứ Đại và bốn chuyển hóa luôn luôn dính liền nhau và liên quan với nhau rất mật thiết. Nhưng trong một loại vật chất, thành phần nầy có thể trội hơn thành phần khác. Thí dụ như trong đất, thành phần Đất (Pathavi) trội hơn ba thành phần kia. Trong nước thì thành phần Nước (Apo) trôi hơn. Trong lửa thì thành phần Lửa (Teio) và trong không khí thì thành phần Gió (Vajo) trội hơn.

Như vậy, vật chất gồm có những năng lực và những đặc tính trong trạng thái liên tục biến đổi, luôn luôn trôi chảy như một dòng suối. Theo Phật Giáo vật chất chỉ tồn tại trong thời gian bằng 17 lần một chập tư tưởng.[8]

Tâm, thành phần quan trọng hơn trong guồng máy phức tạp của con người gồm có 52 trạng thái tâm (tâm sở) luôn luôn biến đổi. Thọ (vedana), hay cảm giác, là một. Tưởng (sanna), hay tri giác, là một tâm sở khác. 50 tâm sở còn lại gọi chung là Hành (samkhara), hay là những sinh hoạt có tác ý của tâm. Trong 52 trạng thái tâm, hay tâm sở, tác ý (cetana), hay “ý muốn làm” là quan trọng nhất. Tất cả tâm sở đều phát sanh trong thức (vinnana), hay Tâm.

Theo triết học Phật Giáo, không có một khoảnh khắc nào mà tâm có thể trống rỗng, nghĩa là không lúc nào không có một loại tâm duyên theo một đối tượng vật chất hay tinh thần. Thời gian tồn tại của một loại tâm như vật gọi là chập tư tưởng. Khi một chập tư tưởng diệt, tức khắc có một chập mới phát sanh. Như vậy, những chập tư tưởng liên tục nối tiếp, và thời gian tồn tại của một chập tư tưởng thật ngắn, khó mà quan niệm được.

Mỗi chập tư tưởng gồm ba giai đoạn (khana): Sanh (uppada), Trụ (thiti), và Diệt (bhanga).

Ngay khi một tư tưởng vừa qua giai đoạn diệt (bhanga), tức khắc giai đoạn sanh (uppada) của chập tư tưởng kế khởi lên. Trong tiến trình luôn luôn biến đổi của đời sống, mỗi chập tư tưởng khi diệt, chuyển tất cả năng lực và tất cả những cảm giác thâu nhận cho chập tư tưởng kế tiếp. Mỗi chập tư tưởng mới gồm những tiềm năng do chập tư tưởng trước trao lại và thêm vào đó còn có cái gì khác nữa. Như vậy có sự luân lưu không ngừng của tâm. Luồng tâm như một dòng suối luôn luôn trôi chảy. Chập tư tưởng mới không hoàn toàn giống chập tư tưởng trước bởi vì thành phần cấu tạo đã đổi mới, mà cũng không tuyệt đối là khác bởi vì cả hai cùng nằm trong một luồng sống, một dòng đời. Không có chúng sanh đồng nhất nhưng có sự đồng nhất trong tiến trình đời sống của chúng sanh.

Không nên nhận định rằng tâm là một chuỗi dài những chập tư tưởng riêng biệt, kế tiếp nối liền với nhau, như một sợi dây xích, hay một đoàn những toa xe lửa nối liền. Trái lại, “nó liên tục trôi chảy như một dòng sông, luôn luôn tiếp nhận dồi dào những thành phần mới, từ những chi lưu ngũ quan và luôn luôn cung cấp cho thế gian chung quanh những tư tưởng mới thâu nhập trên đường đời [9]”.

Trong chuỗi dài những trạng thái tâm, có sự kề nhau nối tiếp mà không có trạng thái chập chồng cái nầy trên cái kia như có người lầm tưởng. Không có chập tư tưởng đã qua mà còn trở lại. Không có chập tư tưởng hoàn toàn giống hệt chập qua. Những trạng thái ấy luôn luôn biến đổi, không thể tồn tại trong hai khoảnh khắc kế tiếp. Hạng phàm nhân còn lúng túng trong ảo mộng, lầm nhận sự liên tục giả mạo bên ngoài ấy là cái gì vững bền, vĩnh viễn, không đổi thay, và còn đi xa đến đổi đưa một linh hồn trường tồn bất biến (giả định là người vừa hành động vừa quan sát hành động) vào trong cái tâm luôn luôn biến đổi.

Bốn loại hiện tượng tâm linh, hợp với một hiện tượng vật lý, tạo nên Ngũ Uẩn (pancakkhandha), sự kết hợp vô cùng phức tạp của năm thành phần cấu tạo một chúng sanh.

Mỗi cá nhân là sự phối hợp của năm uẩn ấy.

Nhìn ra đại dương ta thấy một biển nước bao la, những thành phần bé nhỏ trong biển cả là sự kết hợp của nhiều giọt nước li ti. Trên bờ biển, cát nhiều vô số kể, nhưng ta chỉ thấy một thảm cát trãi dài trên bãi. Những lượn sóng kế tiếp nhô lên rồi tan ra trên mặt cát, nhưng một cách chính xác, không có một lượn sóng đồng nhất, bất biến, từ đáy sâu của biển cả nhô lên để rồi tan mất sự đồng nhất ấy trên bãi cát.

Xem xi-nê, ta thấy cảnh vật di động trên màn ảnh, nhưng thực ra chỉ có những hình ảnh riêng biệt, liên tục tiếp diễn theo một tốc độ nào và cho ta cảm giác đang nhìn một hoạt cảnh liên tục.

Ta không thể nói hương hoa tỏa ra từ tai hoa, nhụy hoa, hay từ sắc màu của hoa, nhưng mùi thơm là của hoa.

Cùng một thế ấy mỗi cá nhân là sự kết hợp của năm uẩn.

Toàn thể tiến trình của những hiện tượng tâm-vật-lý ấy luôn luôn trở thành rồi tan biến, sanh rồi diệt. Đôi khi Đức Phật dùng danh từ thông thường mà gọi tiến trình ấy là “Ta” hay atta. Tuy nhiên, đó chỉ là một tiến trình luôn luôn biến đổi chớ không phải là một thực thể trường tồn bất biến.

Phật Giáo không hoàn toàn phủ nhận sự hiện hữu của một cá tính theo nghĩa thông thường của nó. Phật Giáo chỉ phủ nhận – trong định nghĩa cùng tột (Paramatha Saccena, Chân đế) – một chúng sanh bất biến, một thực thể vĩnh cửu, chớ không phủ nhận có sự liên tục trong tiến trình.

Danh từ triết học Phật Giáo gọi một cá nhân là Santati, một sự trôi chảy, một triều lưu, hay sự liên tục.

Dòng triều lưu bất tức hay sự liên tục không ngừng ấy của hiện tượng tâm-vật-lý – do nghiệp lực tạo điều kiện – đã bắt nguồn từ quá khứ xa xôi mà ta không thể quan niệm, và sẽ còn liên tục diễn tiến trong tương lai vô tận, ngoại trừ trường hợp ta áp dụng Bát Chánh Đạo một cách đầy đủ và đúng mức.

Chính dòng triều lưu liên tục của hiện tượng tâm-vật-lý ất là cái mà các hệ thống tín ngưỡng khác gọi là cái “Ta” vĩnh cửu hay cái “linh hồn” trường tồn.

— Nếu không có linh hồn, coi như một thực thể đơn thuần, không biến đổi, thì cái gì tái sanh?

Theo Phật Giáo, sanh là sự kết hợp của những uẩn (khandas) hay nhóm, hợp thể (khandhanam patubhavo).
Cũng như sự tái sanh của một trạng thái vật chất phải do trạng thái trước làm nguyên nhân và tạo điều kiện, những hiện tượng tâm-vật-lý nầy cũng phát hiện do những nguyên nhân từ trước khi sanh làm điều kiện. Tiến trình biến đổi hiện tại là kết quả của lòng khao khát ham muốn duyên theo sự biến đổi trong một kiếp sống trước, và bản năng ham muốn tự nhiên trong hiện tại sẽ tạo điều kiện cho sự tái sanh sắp đến. Trong một kiếp sống, tiến trình của đời sống có thể diễn tiến mà không cần có một thực thể trường tồn di chuyển từ chập tư tưởng nầy sang chập tư tưởng kế, thì một loạt tiến trình cũng có thể đặc tính mà không cần có một cái gì khác chuyển từ kiếp nầy sang kiếp khác.

Thuyết tái sanh của Phật Giáo không phải thuyết chuyển sinh linh hồn, hiểu như có sự di chuyển của một linh hồn từ thân xác nầy đến cơ thể vật chất khác. Trong sách vua Milinda Vấn Đạo (Milinda Panha) và Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga), Đại Đức Nagasena và Đại Đức Buddhagosa đã dùng nhiều truyện ngụ ngôn để giúp ta lãnh hội dễ dàng định luật tái sanh của Phật Giáo.

Câu truyện mồi lửa rất là rõ ràng. Đời sống xem như một ngọn lửa, và hiện tượng tái sanh như sự mồi lửa từ cây đèn nầy sang cây đèn khác. Ngọn lửa của đời sống liên tục tiếp diễn, mặc dầu có sự gián đoạn bộc lộ ra bên ngoài mà ta gọi là cái chết.

Vua Milinda hỏi Đại Đức Nagasena:

“Kính bạch Đại Đức, phải chăng có sự tái sanh mà không có gì chuyển sinh thân nầy đến xác thân khác?”

– Đúng như vậy, sự tái sanh diễn tiến không cần có cái gì chuyển sinh thân nầy đến thể xác khác?”

– Xin Ngài ban cho một thí dụ.

– Tâu Đại Vương, thí dụ người nọ dùng lửa của cây đèn nầy để mồi cây đèn kia. Có phải ngọn lửa cây đèn nầy chuyển sang cây đèn kia không ?

– Kính bạch Ngài, không phải vậy.

– Đúng thế, tâu Đại Vương, tái sanh diễn tiến không cần có sự di chuyển của một cái gì từ nơi nầy đến nơi khác.

– Kính bạch Đại Đức, xin Ngài ban cho một thí dụ khác.

– Tâu Đại Vương, Ngài còn nhớ không, thửa nhỏ đi học, ông thầy dạy làm thơ đọc cho Ngài nghe vài vần thơ để Ngài đọc theo đến thuộc lòng.

– Bạch Ngài, có như vậy.

– Vậy, tâu Đại Vương, có phải lời thơ chuyển từ ông thầy sang trí nhớ của Đại Vương không?

– Bạch Ngài, không.

– Cùng một thế ấy, tâu Đại Vương, hiện tượng tái sanh diễn tiến mà không cần có cái gì chuyển từ chổ nầy sang qua nơi khác.

Và Đức vua Milinda hỏi tiếp:

– Kính Bạch Đại Đức, vậy thì cái gì tiếp nối từ kiếp nầy sang kiếp khác?

– Tâu Đại Vương, chính Danh và Sắc, phần tâm linh và phần vật chất, cũng được sanh ra trong kiếp sống kế.

– Có phải cũng tâm và thể xác trước được di chuyển đến và sanh trở lại trong kiếp sống sau không?

-Tâu Đại Vương, không phải chính tâm và thể xác trong kiếp trước được được sanh trở lại trong kiếp sống nầy. Tuy nhiên, Danh và Sắc ở kiếp trước đã hành động, gây nhân , tạo nghiệp – thiện hay ác – và tùy thuộc nơi nghiệp ấy, tâm và thể xác được sanh ra trong kiếp nầy.

– Kính bạch Đại Đức, nếu không phải chính tâm và thân trước được sanh trở lại trong kiếp kế thì ta có thể tránh khỏi quả báo của những hành động bất thiện không?

– Nếu không có sự tái sanh thì ta không còn trả quả của những hành động bất thiện, nhưng tâu Đại Vương, ta đã tái sanh trong một kiếp sống khác thì tức nhiên phải còn chịu hậu quả của những hành động quá khứ.

– Kính thỉnh Đại Đức cho một thí dụ.

– Tâu Đại Vương, cũng như người nọ bẻ trái xoài của một người khác, bị chủ bắt, nạp cho vua và thưa: “Tâu Đại Vương, người nầy đã lấy của tôi một trái xoài”, và người nọ trả lời: “Tâu Đại Vương, tôi không có lấy trái xoài của ông ấy. Trái xoài mà tôi bẻ không phải là trái mà ông ấy đã trồng ra cây xoài. Như vậy tôi không đáng bị trừng phạt.” Vậy, Tâu Đại Vương, người lấy trái xoài có đáng bị phạt không?

– Kính bạch Đại Đức, dĩ nhiên người ấy đáng tội.

-Vì lẽ gì?

– Bạch Ngài, dầu có viện lẽ nào để chạy tôi, người ấy cũng đáng bị phạt vì trài xoài mà người ấy bẻ là do xoài của ông kia trồng ra cây.

– Cùng một thế ấy, Tâu Đại Vương, với tâm và thân nầy ta làm một điều gì – thiện hay ác – và do hành động ấy, một tâm và thân khác được sanh ra trong kiếp mới. Như ,vậy, ta không tránh khỏi sự ràng buộc của nghiệp quá khứ. [10]

Đại Đức Buddhaghosa giải thích điểm phức tạp nầy bằng những thí dụ như tiếng dội, ánh sáng, con dấu và sự phản chiếu của mặt gương.

Một văn hào hiện đại cũng giải thích tiến trình tử-sanh ấy bằng một loạt những quả bi da. [11]

“Thí dụ như, nếu một quả bi da lăn đến đụng một quả khác đang ở yên một chổ, thì quả lăn tới ngưng lại và quả bị đụng lại lăn. Không phải quả banh lăn chuyển sang quả banh bị đụng. Nó vẫn còn nằm lại phía sau, nó chết. Nhưng ta không thể phủ nhận rằng chính sự di chuyển của nó, sức xung kích của nó, cái kết quả dĩ nhiên, hay cái nghiệp lực của quả banh trước phát hiện trong quả banh kế, chớ không phải một chuyển động mới khác được tạo ra.”

Cùng một lối ấy – để dùng những danh từ thông thường – xác thân chết, và nghiệp lực tái sanh trong một cơ thể khác mà không cần có cái gì di chuyển từ kiếp sống nầy sang kiếp khác. Chúng sanh mới được sanh ra, không thể hoàn toàn là một, nhưng cũng không tuyệt đối khác hẳn với chúng sanh vừa chết, bởi vì cả hai cùng nằm trong một luồng nghiệp. chỉ có sự liên tục của dòng đời, triền miên thay đổi, tiếp diễn trong một thể xác mới, bất di bất dịch, chuyển sang từ thể xác nầy sang thân khác.

***
Chú thích:
[1] Religion and Science, trang 132.
[2] Bertrand Russell, The Riddle of the Universe, trang 166.
[3] Religion and Science, trang 132.
[4] Religion and Science, trang 166.
[5] William James, Principles of Psychology, trang 351.
[6] Watson, Behaviourism, trang 4.
[7] Principles of Psychology, trang 215.
[8] Theo các nhà chú giải kinh điển, nếu chia thời gian của một cái nhoáng ra làm một triệu phần thì thời gian của một chập tư tưởng còn ngắn hơn là một phần triệu của thời gian một cái nhoáng.
[9] Xem Compendium of Philosophy – Introduction, trang 12.
[10] Xem Warren, Budhism in Translations, trang 234-235.
[11] Xem sách “Buddha and the Gospel of Budhism”, trang 106, của tác giả Dr. Ananda Coomasvami.
Trích:
Đức Phật và Phật Pháp
(The Buddha and His Teachings)
Tác giả: Hòa thượng Narada – Dịch giả: cư sĩ Phạm Kim Khánh[/I]

Địa Ngục có thật hay hoang đường ?

Câu hỏi:

…”…Năm nay tôi đã trên sáu chục tuổi, ở cái tuổi mà hằng ngày tìm tên bạn bè trên những mục cáo phó, phân ưu trong các nhật báo và tuần báo. Biết rằng giờ phút ra đi của mình cũng chẳng còn bao xa, cho nên đêm đêm nằm trằn trọc, tôi băn khoăn không biết tương lai sau khi tắt hơi, mình sẽ về đâu.

Thuở nhỏ, mỗi khi làm điều lỗi, tôi thường được nghe người lớn hù dọa về Thập Ðiện Diêm Vương, về các loại địa ngục ở dưới đất, vân vân, nhưng tôi không quan tâm. Ðến nay gần đất xa trời, nhiều lúc tôi mơ hồ cảm thấy một nỗi sợ hãi mênh mông, nên gửi thư này xin thỉnh ý quý vị về vấn đề địa ngục….”…

Đáp:

Không riêng vị thính giả gửi là thư này, mà nhiều người trong chúng ta, dù có niềm tin về một tôn giáo nào đó, hoặc không tin thần thánh gì cả, cũng có đôi chút ấn tượng trong đầu về một cảnh giới được đặt tên là Địa Ngục.

Ý niệm về địa ngục được hình thành từ thời cổ xưa, xuất hiện cùng với ý niệm về ông Trời, về Thượng Ðế, về các loại thánh thần vân vân. Hầu hết các tôn giáo đều nói đến những sự thưởng phạt sau khi chết, được thưởng thì được sinh lên thiên đường hưởng phước, bị phạt thì bị đầy xuống địa ngục chịu tội. Thời trước người ta tin là trái đất vuông, mặt đất bằng phẳng, cho nên thiên đường được giới thiệu là ở cao tít trên mây, và địa ngục ở dưới sâu trong lòng đất. Lý do để được thưởng hay bị phạt thì tùy theo luật lệ của mỗi tôn giáo quy định.

Suốt chiều dài của lịch sử loài người, hình ảnh về Thiên Đường và Địa Ngục đã giúp những bậc trưởng thượng trong các bộ lạc, làng mạc, thôn xóm, gia đình, như là một trợ huấn cụ đắc lực để răn đe con cháu khỏi làm điều sai trái.

Sau này, khi các “tổ chức tôn giáo” hình thành, thì vai trò thiên đường và địa ngục lại càng đắc lực hơn, trong việc tạo ấn tượng về thưởng phạt, về nỗi khiếp sợ sẽ bị đầy xuống địa ngục nếu trái lệnh, hoặc sự cứu rỗi nếu người tín đồ vâng lời, khiến cho từ trong tiềm thức, người ta tin chắc rằng cần phải có một nơi để bấu víu, để nương tựa sau khi chết, nếu không sẽ phải chịu muôn vàn khốn khổ, thiêu đốt vĩnh viễn trong địa ngục.

Có niềm tin cho là sau khi con người chết đi, linh hồn xuống tới âm phủ, thì “quỷ thần hai vai” của người ấy sẽ đem tất cả công và tội của họ tâu lên vua Diêm Vương để ông ta quyết định sự thưởng phạt, hoặc cho lên trời hưởng phước, hoặc đầy vào các loại địa ngục mà tên gọi thường là rất rùng rợn, tùy theo sáng kiến của người phát minh.

Ðạo Phật không tin chuyện quỷ thần hai vai và ông Diêm Vương nào đó lại có thể quyết định vận mạng của ai được. Nền đạo đức Phật giáo không xây dựng trên sự thưởng phạt ở thiên đường hoặc địa ngục, do các thần linh áp đặt, mà lấy quy luật nhân quả làm căn bản.

Tâm lý học Phật giáo cho rằng tất cả những việc mà mỗi dòng đời tạo ra, trải dài theo cuộc hành trình trong thế giới hiện tượng tương đối này, là những hạt giống, hay còn gọi là chủng tử thiện hoặc ác, trong tương lai khi hội đủ cơ duyên, sẽ nẩy nở thành những thiện quả hoặc ác báo, đều chứa tại Thức Thứ Tám, còn gọi là Tàng Thức hoặc A Lại Da Thức, của chính dòng sinh mạng đó. Thức này là lớp Vọng, cũng mênh mông như Chân Tâm, tạm ví như làn sóng điện trong không gian.

Những chủng tử thiện hoặc ác này sẽ xuất hiện vào giây phút lâm chung, để quyết định cảnh giới tái sinh của đương sự, nhà Phật gọi là “gió Nghiệp cuốn đi tái sinh”. Một số người có kinh nghiệm về cận tử (near death experience) kể lại đại khái rằng vào cái lúc họ cảm thấy muốn ngừng thở, bỗng nhiên trước mắt nổi lên một cảnh tượng tràn ngập không gian, cả quãng đời quá khứ, những việc làm khiến cho họ rất sung sướng hoặc rất đau khổ, xuất hiện như là đồng thời. Họ cảm thấy như trong giấc mơ, như là hình ảnh của ký ức. Ðối với quan điểm của nhà Phật thì đó là giây phút mà một người có thể nhìn thấy được chính cái kho chứa các nghiệp nhân, tức là Tàng Thức của mình.

Chiếu theo thành quả tự tu, tự giác ngộ lại Bản Thể của đức Phật, người Phật tử không tin vào sự cứu rỗi do bên ngoài mang đến, mà tin vào chính mình, theo gương sáng của đức Bổn Sư. Trong đời sống, người Phật tử từng bước chuyển hóa tâm, từ xấu ác trở thành lành thiện, đó là giai đoạn chuyển hóa tương đối. Sau đó sẽ bước qua giai đoạn cốt tủy của quá trình tu chứng là “thanh tịnh hóa tâm”, vượt lên trên những khái niệm thiện và ác tương đối, chỉ còn lại tâm Từ Bi và Trí Tuệ Bình Ðẳng, hóa giải tam độc Tham Sân Si, vốn là căn bản trói buộc con người vào vòng sinh tử. Từ đây dòng sinh mệnh được hoàn toàn giải phóng, đạt được mục tiêu tối cao của con đường tu Phật, là Toàn Giác.

Có câu chuyện ẩn dụ về sự tự tu, tự độ như sau:

“Trong khu vườn kia có một nhóm thiền sinh đang đứng chung quanh vị thiền sư. Góc vườn là một con cọp bị trói. Thiền sư hỏi đám học trò:

– Có ai biết cách cởi trói cho con cọp không?

Ðám thiền sinh góp ý, người thì bàn “lấy tấm lưới chụp nó”, người thì bảo ”xông thuốc mê cho nó”. Cuối cùng, một thiền sinh ung dung:

– Cứ bảo người nào đã trói được nó, thì chính người đó mở trói cho nó là xong.”

Câu chuyện nói lên tính chất của quy luật nhân quả, người nào tạo nhân thì người đó lãnh quả, người nào ăn thì người đó no, người nào tu hành thanh tịnh hóa tâm thì người đó giác ngộ.

Như thế về căn bản, đạo Phật không tin vào sự cứu rỗi, mà tin lời Phật tuyên bố khi mới thành đạo:

“Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”

… và câu di huấn khi Ngài sắp nhập cảnh giới Niết Bàn:

“Mọi người hãy tự thắp đuốc lên mà đi”. 

Ðuốc ở đây là đuốc Tuệ, là ngọn đèn trí tuệ mà đức Phật đã giơ cao, nay còn nằm trong kinh điển, mỗi người đều cần phải “tự học, tự tu, tự giác thành Phật”.

Tuy nhiên, trên con đường giáo hóa chúng sinh từng bước, đạo Phật đi trong nhân gian thường dùng những phương tiện đã sẵn có của người dân địa phương để truyền bá tư tưởng nhà Phật, theo tôn chỉ “tùy duyên mà bất biến”, dùng bình địa phương đựng thuốc Phật giáo, khiến cho mọi người đều được thấm nhuần tư tưởng từ bi hỷ xả mà không cảm thấy nền văn hóa truyền thống của họ bị xúc phạm. Thí dụ tượng ảnh đức Phật khi ở Ấn Ðộ thì gầy gò, nghiêm túc, đúng là hình ảnh người tu khổ hạnh. Sang tới Mỹ, tại tu viện Shasta trên sườn núi Shasta, nơi có trên sáu chục vị sư người Tây Phương từ các tôn giáo khác chuyển qua đạo Phật đang tu hành, thì tượng Bồ Tát Quán Thế Âm lại giống hệt tượng Ðức Mẹ. Trong khi đó, tượng ảnh Phật và chư Bồ Tát bên Trung Hoa thì lại mập mạp, hơi mỉm cười, đượm vẻ từ bi, cảm thông với chúng sinh, theo truyền thống hiếu khách của người Á Đông là “đem lại niềm vui cho nhau”.

Tóm lại, đạo Phật cũng nói về thiên đường và địa ngục, nhưng với ý nghĩa hoàn toàn khác hẳn. Từ quan điểm “nhất thiết duy tâm tạo” trong kinh Hoa Nghiêm, thiên đường và địa ngục dưới mắt người Phật tử chính là những cảnh giới tâm thức, mà mỗi người đều trải qua hằng ngày. Nếu con người không chế ngự được ba thói xấu là tham lam, sân hận và si mê, để cho bản thân rong ruổi trong sự bon chen, tính toán lợi mình hại người, thì tâm hồn không được an lạc, mà phiền não triền miên, ăn không ngon, ngủ không yên, thường thấy ác mộng do những bực bội bất mãn gặp phải hằng ngày, đó cũng đã được coi là cảnh giới địa ngục của tâm thức rồi.

Trong kinh Ðịa Tạng, chúng ta cũng thấy nói đến những cảnh giới địa ngục. Vì “nhất thiết duy tâm tạo” nên những cảnh giới trong kinh Ðịa Tạng cũng là những cảnh giới tâm thức. Ðịa Tạng cũng có nghĩa là Tâm Ðịa, là Ðất Tâm. Nhà Thiền có câu “Ðất Tâm nếu trống không thì mặt trời Trí Tuệ tự chiếu”. Người nào có thể “thanh tịnh hóa tâm”, khiến cho Ðất Tâm trống không, thí Trí Tuệ Bình Ðẳng tự hiện, cũng có nghĩa là Bồ Tát Ðịa Tạng đã phá xong cửa ngục tâm thức cho người đó rồi. Còn như nếu Ðất Tâm mà ô nhiễm quá, thì vào giờ phút lâm chung, do nghiệp thiện hoặc ác trong quá khứ, mà thần thức người đó sẽ bị chiêu cảm vào cảnh giới tương ưng.

Quan điểm của nhà Phật về tất cả hiện hữu trên thế gian là vô thường. Tâm cũng vô thường, khi tâm chuyển thì tất cả mọi thứ do tâm tạo cũng chuyển theo tâm.

Cho nên, đối với nhà Phật, không có cảnh giới địa ngục vĩnh viễn. Mỗi người đều có thể tự ra khỏi địa ngục bằng sự “thanh tịnh hóa tâm” của họ. Ðó là niềm hy vọng về giải thoát của tất cả mọi người.

Nhà Phật có câu: “ Buông dao đồ tể là thành Phật” hoặc “Biển khổ mênh mông quay đầu là bến”. “Buông dao” và “quay đầu” ở đây có nghĩa là buông bỏ đời sống ô nhiễm, bước vào con đường thực hành các phương pháp để “thanh tịnh hóa tâm” như Mật Tông, Thiền Bắc Tông, Thiền Nam Tông, Tịnh Ðộ Tông, vân vân …

Trên đây chúng tôi đã trình bày vài khái niệm về địa ngục. Nay xin nói về nỗi sợ hãi mênh mông của vị thính giả gửi về câu hỏi.

Xin thưa rằng, tất cả loài người chúng ta, mà có lẽ luôn cả các loài sinh vật nữa, kể từ thời tiền sử, đều đã mang sẵn một nỗi sợ hãi mênh mông. Ngay khi vừa mới lọt lòng mẹ, đứa bé đã khóc thét lên vì sợ, tay chân quờ quạng, chới với. Nó đang được nằm trong bào thai, được bảo bọc chặt chẽ, ấm áp trong lòng mẹ nó, nay bỗng nhiên rơi tõm vào một khoảng không gian trống rỗng, nên nó thất kinh hồn vía.

Rồi theo với thời gian, càng ngày con người càng có thêm nhiều nỗi sợ hãi, từ những nỗi sợ nhỏ nhít linh tinh như sợ bị đòn, cho tới nỗi sợ mất mát người thân yêu, mất nước, vân vân. Vì nỗi sợ hãi triền miên này mà tinh thần con người bị giam hãm, không khai phóng nổi.

Chúng tôi xin trích dịch một đoạn bình luận về sự sợ hãi do tư tưởng gia J. Krishnamurti trình bày trong cuốn On Fear, ông viết:

“Ðầu tiên chúng ta hãy tự hỏi “sợ là gì” và “nỗi sợ hãi nổi lên như thế nào”?

Ðối với chúng ta, bản thân từ ngữ “sợ” nghĩa là gì? Tôi đang tự hỏi “sợ là cái gì”, chứ không phải là “tôi sợ cái gì”.

Hiện tại, ngay lúc tôi đang ngồi đây, tôi không sợ. Lúc này tôi không sợ, chẳng có chuyện gì xẩy ra cho tôi, chẳng ai đe dọa hoặc lấy cái gì của tôi. Nhưng ngoài cái thời gian đang hiện hữu này, trong tâm thức tôi còn có một lớp sâu hơn, đó là vùng ý thức hoặc vô thức, đâu đó, manh nha tới điều gì đó có thể xảy ra cho tôi trong tương lai, hoặc e ngại về một cái gì đó từ thời quá khứ đột nhiên ụp xuống đầu tôi. Cho nên tôi sợ cả quá khứ lẫn tương lai. Thế là tôi đã chia thời gian ra thành quá khứ và tương lai. Ðến đây thì sự suy nghĩ nhẩy vào lên giọng:

“Coi chừng, sẽ không gặp được điều đó một lần nữa đâu”,
hoặc
“Sửa soạn sẵn cho tương lai đi. Tương lai anh có thể sẽ nguy khốn. Bây giờ tuy là anh đã có chút đỉnh, nhưng rồi ra có thể là anh sẽ bị mất hết. Biết đâu chừng ngày mai anh sẽ chết, vợ anh có thể bỏ anh, có thể anh sẽ mất công ăn việc làm. Anh có thể chẳng bao giờ trở thành người có danh vọng. Có thể anh sẽ cô đơn… “

Bây giờ chúng ta hãy thử xét tới cái dạng sợ hãi của chính bạn. Nhìn coi. Quan sát kỹ phản ứng của bạn đi. Bạn có thể nhìn nỗi sợ hãi đó mà không nhấp nhổm muốn bỏ chạy, không nẩy ra chút ý muốn bào chữa, kết án hoặc kiềm chế chăng? Bạn có thể trực diện nỗi sợ đó mà không có trong tâm cái từ ngữ đã làm thức dậy nỗi sợ chăng? Bạn có thể trực diện sự chết, thí dụ thế, mà không có từ ngữ đã đánh thức nỗi sợ chết chăng? Bản thân từ ngữ đã đem tới sự chấn động, cũng như từ ngữ “yêu” có sự rung động của chính nó, có ấn tượng của chính nó, phải vậy không?

Bây giờ hãy coi có phải là những hình ảnh trong tâm trí bạn về sự chết, ký ức về biết bao nhiêu cái chết mà bạn đã nhìn thấy, cùng với sự bạn tự liên tưởng chính bản thân với những chuyện đã xẩy ra còn giữ trong tiềm thức đó, — phải chăng đó chính là hình ảnh đã tạo ra sự sợ hãi trong lòng bạn? Hay là quả thật bạn sợ sự chết sẽ đến chứ không phải là bạn sợ những hình tượng trong tâm đã tạo ra sự chết. Có phải là từ ngữ “chết” làm cho bạn sợ hay là sự chết thật? Nếu chỉ là từ ngữ hoặc ký ức là lý do để bạn sợ thì chẳng có gì đáng sợ hết ráo.

Giả dụ như hai năm trước bạn bị bệnh, ký ức về sự đau đớn, về cơn bệnh vẫn còn tồn tại trong trí nhớ, nay nó trỗi dậy nhắc nhở “Coi chừng, đừng để bị bệnh lại như lần trước nữa đấy nhé”. Thế rồi ký ức cùng với bè đảng của nó là guồng máy suy tư bèn tạo nên sự sợ hãi, mà thật ra thì chẳng có cái gì đáng để mà sợ hết ráo, vì lẽ lúc đó bạn đang rất là khoẻ mạnh.

Tư tưởng, vốn là cái luôn luôn cũ mèm, bởi vì tư tưởng thoát thai từ ký ức, mà ký ức thì dĩ nhiên là luôn luôn cũ mèm — tư tưởng, vào lúc đó, tạo ra cái cảm giác là bạn đang sợ hãi, nhưng đó chỉ là cảm giác, không có trong thực tế. Thực tế là bạn đang khỏe mạnh. Nhưng cái kinh nghiệm về sự đau ốm, vốn đã khắc ghi trong tâm trí, trỗi lên nỗi sợ “Cẩn thận, đừng để bị bệnh lại nữa đấy nhé!”

Như thế chúng ta thấy rằng chính suy nghĩ gây ra một loại sợ hãi.”

Như J. Krishnamurti đã nói “… chính suy nghĩ gây ra một loại sợ hãi”, đạo Phật từ hai ngàn năm trăm năm trước cũng đã khuyên mọi người nên “thanh tịnh hoá tâm”, nghĩa là đừng để cho tâm chạy nhẩy như con vượn, con ngựa (tâm viên ý mã), thì sẽ được hưởng một đời sống giải thoát từng bước, rồi sẽ tới giải thoát triệt để.

Không cần phải đi tới đích mới được hưởng hoa trái, mà ngay khi quyết định bước lên con đường thanh tịnh hóa tâm là đã bắt đầu được hưởng kết quả, tâm hồn đã thấy thơ thới hân hoan rồi.Có bài kệ trong kinh Phật như sau:

Tội từ tâm khởi đem tâm sám
Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu
Tội tiêu tâm tịnh, thẩy đều không
Ấy mới thật là chân sám hối.

Sám hối ở đây là “thanh tịnh hoá tâm”, làm cho “tâm tịnh”, chứ không phải là đem nải chuối tới chùa cúng Phật, hứa hẹn và cầu xin lung tung. Nhà Phật cho rằng con người ta vì vô minh mà tạo nghiệp, thọ báo, cũng ví như một người đang đi trong căn nhà tối. Khi tâm được tịnh rồi “Trí Tuệ Bình Ðẳng tự chiếu”, thì cũng ví như bật ngọn đèn bừng sáng lên, bóng tối biến mất, màn vô minh bỗng tan rã, là lúc con người giác ngộ giải thoát vậy.

Trích: Thư viện Hoa sen

Từ David Bohm đến Kinh Lăng Nghiêm – Nguyễn Tường Bách

Như chúng ta đều biết, Albert Einstein là người triển khai thuyết Tương đối cách đây đúng một thế kỷ. Einstein cũng đóng góp rất nhiều cho nền vật lý lượng tử bằng cách là người đầu tiên nêu lên quan niệm ánh sáng là những hạt quang tử photon. Với quan niệm này cơ học lượng tử ngày càng được phát triển một cách mạnh mẽ, đồng thời những đặc tính của vật chất trong thuyết lượng tử cũng ngày càng xuất hiện rõ nét.

Suốt một trăm năm qua, hai nền vật lý tương đối và lượng tử được phát triển cao độ với những lý thuyết mới cũng như các phương pháp thực nghiệm mới. Song song, người ta tìm cách thống nhất hai lý thuyết đó với hy vọng tiến tới một lý thuyết chung nhằm soi sáng toàn bộ thế giới vật chất, từ lĩnh vực vô cùng nhỏ của nguyên tử và hạ nguyên tử đến mức độ vô cùng lớn của các thiên hà cách ta hàng tỉ năm ánh sáng. Giữa hai lĩnh vực cực tiểu và cực đại này, người ta hy vọng tìm những đơn vị cuối cùng của vật chất trong lĩnh vực cực tiểu và do đó thuyết lượng tử được phát triển hết sức mạnh mẽ. Ngày nay ngành vật lý lượng tử vẫn nằm trong đà triển khai, chưa ai có thể kết luận điều gì về cơ chế cuối cùng của vật chất cả.

Trong quá trình khảo sát những đơn vị nhỏ nhất của vật chất, nền vật lý lượng tử phát hiện rất nhiều “nghịch lý” xuất phát từ những kết quả đo lường và phương cách xuất hiện của vật chất. Những nghịch lý đó nêu lên những câu hỏi quan trọng về triết học, về nhận thức luận, về bản thể học…, thậm chí về cả những vấn đề dường như không liên quan đến vật lý như khả năng của ngôn ngữ khi diễn đạt các vấn đề vật lý, như các vấn đề sinh lý học (physiology) liên quan đến cái thấy cái nghe trong việc thu lượm kết quả thực nghiệm v.v…

Vì những lý do trên, nền vật lý lượng tử đang đứng trước những luận đề vô cùng cơ bản của loài người như: thế giới vật chất này gồm những gì tạo ra, tự tính nó là gì, mối tương quan của nó với ý thức con người ra sao, liệu thế giới vật chất như ta thấy phải chăng nó tồn tại độc lập thực như thế, hay nó chỉ là bóng dáng của một thực tại khác…Bài này sẽ giới thiệu một trong những hướng phát triển của vật lý lượng tử và nêu lên sự song hành của nó với vũ trụ quan của Phật giáo Đại thừa, được phát biểu trong kinh Lăng Nghiêm.

1. Điểm xuất phát

Trong thời điểm hiện nay, theo thuyết lượng tử, vật chất có ba đặc tính sau đây:

1. Trong thế giới cực tiểu, vật chất vận động một cách phi liên tục, trong nghĩa là hoạt động của vật chất được hình thành bởi những “lượng tử” rất nhỏ nhưng cụ thể và không thể phân chia. Sự vận động của vật chất “nhảy từng bước” chứ không “chảy” một cách liên tục.

2. Các đơn vị vật chất (thí dụ electron) có những đặc tính khác nhau. Khi thì nó xuất hiện như hạt, khi thì như sóng, khi thì nửa sóng nửa hạt, tùy theo điều kiện xung quanh và tùy theo các phương tiện quan sát và dò tìm chúng.

3. Trong một số trường hợp, hai đơn vị vật chất (thí dụ hai electron trước đó thuộc về một phân tử nay đã bị cách ly) có một mối liên hệ liên thông (non-local). Hai đơn vị đó “biết” đến tình trạng của nhau một cách tức thời, dù chúng bị cách ly với khoảng cách bất kỳ.

Đặc tính thứ nhất của sự vận động của vật chất trong mức độ vô cùng bé là khác với sự vận động trong thế giới vĩ mô của chúng ta. Đường đi của vật thể trong sự rơi tự do hay quĩ đạo của thiên thể luôn luôn vẽ nên một đường cong liên tục. Tuy thế đặc tính thứ nhất này vẫn còn tương thích với lý tính (reason) của đầu óc con người. Đặc tính thứ hai được xem là một nghịch lý vì sóng và hạt là hai dạng tồn tại của vật chất hoàn toàn khác nhau, loại bỏ lẫn nhau. Thế nhưng hai dạng tồn tại đó của vật chất được kết quả thực nghiệm thừa nhận một cách thuyết phục, do đó người ta vẫn chấp nhận chúng như hai dạng tồn tại song song, thậm chí thiết lập mối quan hệ về toán học giữa hai bên một cách dễ dàng.

Đặc tính thứ ba của vật chất mới nghe qua không có gì to tát lắm, nhưng thực ra nó dẫn ta tới nghịch lý quan trọng nhất từ xưa tới nay. Đó là, vì tính chất “liên thông” này, ta phải từ bỏ một trong hai quan niệm sau đây:

a) có một thế giới khách quan tồn tại độc lập ở bên ngoài ý thức con người,
hay
b) vận tốc của tín hiệu vật lý có thể đi nhanh hơn ánh sáng.

Cả hai quan niệm nói trên đều là những điều bất khả xâm phạm trong ngành vật lý, bởi lẽ nếu không có một thế giới vật chất độc lập thì toàn bộ ngành vật lý mất đi đối tượng của mình, thì vật lý và tâm lý sẽ bị qui thành một. Mặt khác, nếu có tín hiệu đi nhanh hơn ánh sáng thì thuyết tương đối bị bác bỏ, thì con người có thể đi trước cả tương lai và biết bao nhiều điều “vô lý” của khoa học giả tưởng sẽ thành sự thực cả.

Nhưng trước hết ta cần giải thích do đâu mà có đặc tính thứ ba nói ở trên. Năm 1935, Einstein và cộng sự đề nghị một phép “thí nghiệm bằng tư tưởng” nhằm nêu lên sự thiếu sót của thuyết lượng tử trong việc tìm hiểu tính chất thực sự của các hạt hạ nguyên tử [1]. Thí nghiệm nổi tiếng này được mệnh danh là nghịch lý EPR. Ở đây ta chỉ trình bày EPR một cách hết sức đơn giản. Trong nghịch lý này Einstein cho cách ly hai đơn vị vật chất A và B (thí dụ nguyên tử hay electron), chúng vốn nằm trong một thể thống nhất và do đó chúng có sẵn một mối liên hệ với nhau, thí dụ tổng số spin của chúng bằng không. Nay ta cách ly chúng hàng vạn dặm, không để cho chúng có thể tương tác lẫn nhau. Khi đo một trị số spin của A thì B lập tức có một trị số, để tổng số của chúng bằng không. Trong thuyết lượng tử vì nguyên lý bất định, người ta cho rằng hành động đo lường đã xác định một trị số tại A và làm “nhòe” đi các trị số khác cũng tại A. Câu hỏi của Einstein là tại sao B “biết” được trị số tại A để phản ứng tức khắc, mà điều này sẽ vi phạm qui luật vật lý là không có tín hiệu nào đi nhanh hơn vận tốc ánh sáng.

Nghịch lý EPR này được tranh cãi suốt nhiều thập niên. Nhà duy thực [2] Einstein cho rằng A và B phải có những tính chất thực sự, khách quan, riêng biệt, có thể cô lập được, chúng đã có những tính chất đó trước khihành động đo lường xảy ra.

Khoảng ba mươi năm sau khi nghịch lý EPR ra đời, Bell’s Theorem quả quyết quan niệm tính chất “thực sự, khách quan, riêng biệt” là không thể tương thích với cơ học lượng tử [3] . Năm 1981, Alain Aspect tại đại học Paris đã chứng minh là kết quả thực nghiệm tuân thủ cơ học lượng tử và bác bỏ các lý thuyết của tính chất “thực sự, khách quan, riêng biệt” [4] của vật chất. Điều đó có nghĩa hai hạt A và B có mối liên hệ liên thông, khi đã ở trong một thể thống nhất rồi, chúng cần được quan niệm là một hạt dù có tách rời chúng ta vạn dặm đi nữa. Hơn thế nữa, hạt đó không có tính chất riêng biệt gì cả, mà khi ta đo lường, các tính chất riêng biệt của chúng (thí dụ spin) mới xuất hiện.

Khi thuyết “thực sự, khách quan, riêng biệt” của vật thể bị bác bỏ thì một thực tại vật lý độc lập, có tính chất riêng biệt cũng bị đặt lại vấn đề. Dĩ nhiên ở giai đoạn này, các kết quả vật lý đã sinh ra những phép diễn giải(interpretation) khác nhau, mang đậm tính triết học. Người ta ngờ rằng thế giới hiện lên trước mắt ta sở dĩ có tính chất riêng tư là vì hành động đo lường của chính chúng ta. Thế thì phải chăng thế giới mà chúng ta đang thấy vì ta đo lường nó (hay nói chung vì ta nhận thức nó) mà nó “có”? Phải chăng nó không hề tồn tại một cách độc lập. Đó là lý do mà đặc tính thứ ba nói ở trên buộc ta phải từ bỏ một trong hai điều bất khả xâm phạm của ngành vật lý, một bên là có tín hiệu đi nhanh hơn ánh sáng, bên kia là thế giới vật chất với những đặc tính riêng của nó không hề tồn tại độc lập mà chỉ xuất hiện khi ta nhận thức nó.

Nếu mệnh danh thực tại trước khi ta nhận thức nó là “thực tại lượng tử” (quantum reality) thì ít nhất ta phải thấy là sự biến hình từ thực tại lượng tử ra thế giới mà ta đang nhận thức bằng cảm quan là rất kỳ lạ. Hiện nay chưa ai đề ra được một giải pháp thuyết phục được tất cả mọi người về vấn đề này. Người ta chỉ biết rằng, cần phải đưa hành động đo lường (tức là quan sát viên) vào trong một tổng thể vật được quan sát-người quan sát thì mới hiểu được sự vật.

Đi xa hơn, nhiều người thấy phải đưa ý thức hay hoạt động của ý thức như một yếu tố chủ yếu vào tổng thể này, thí dụ Eugene Wigner, nhà vật lý đoạt giải Nobel. Thế nhưng đi xa hơn nữa, người ta phải thấy “ý thức” thông thường của con người là một loại ý thức bị qui định trong tầm nhìn “cổ điển”, không tương thích với tính chất lượng tử của nền vật lý mới. Nhà vật lý Nick Herbert viết như sau:

“Nguồn gốc của mọi nghịch lý lượng tử hình như xuất phát từ thực tế là, sự nhận thức của con người tạo ra một thế giới gồm những thực thể chuyên biệt – do đó kinh nghiệm của chúng ta buộc phải có tính chất cổ điển – trong lúc thế giới lượng tử thì hoàn toàn không phải như thế”.

Có lẽ Nick Herbert đã điểm đúng huyệt của vấn đề. Đó là phép nhận thức của con người phương Tây, nhất là các nhà vật lý duy thực, xuất phát từ hệ tư tưởng xem “vật ở ngoài nhau”, xem sự vật bị dàn trải trong không gian và được nối với nhau bằng lực tương tác. Đó là đặc trưng của nền vật lý cổ điển Newton. Trong lúc đó, vật lý lượng tử – dù đang có nhiều kiến giải khác nhau – ít nhất cũng đòi hỏi cần xem vật được quan sát và người quan sát phải được thống nhất trong một thể chung.

Vì vấn đề phức tạp này của bản thể học và nhận thức luận, hiện nay người ta đứng trước một tình trạng phân kỳ trong ngành vật lý khi tìm đến thực tại “cuối cùng” của thế giới hiện tượng.

2. Thuyết “sự vận động toàn thể” của David Bohm

Nhằm tiến tới một lý thuyết giải thích được những hiện tượng vật lý trong hai thuyết, cơ học lượng tử và thuyết tương đối và nhất là những nghịch lý được nêu lên, David Bohm phát triển một lý thuyết được gọi là “sự vận động toàn thể” (holomovement). Khái niệm trung tâm của thuyết này là “thứ bậc nội tại ” (implicate order).

2.1. Thứ bậc và thứ bậc nội tại [7]

“Thứ bậc” (Order) là khái niệm mới do Bohm nêu lên. Đối với Bohm mỗi thực tại, mỗi sự vận động có thứ bậc của nó. Cùng với các phát hiện mới, ngành vật lý dần dần khám phá thứ bậc của sự vận động, với những mức độ từ cạn tới sâu. Sự vận động cơ giới trong lý thuyết của Newton được Bohm gọi là có “thứ bậc không gian Descartes”. Trong thứ bậc này, mọi sự vật đều được xem là riêng lẻ, cái này nằm ngoài cái kia và tác động lên nhau bằng lực tương tác giữa vật thể.

Với lý thuyết tương đối và cơ học lượng tử, dù giữa hai bên có những khác biệt vô cùng cơ bản (như tính chất phi liên tục, tính ngẫu nhiên, tính liên thông…của vật lý lượng tử), Bohm thấy cả hai đều mang chung một thứ bậc mới, đó là ta phải xem sự vật là một cái toàn thể không thể phân chia (undivided wholeness), trong đó sự cách ly các yếu tố của sự vận động không còn được chấp nhận. Thứ bậc này hoàn toàn khác với thứ bậc trong nền vật lý của Galileo và Newton. Thí dụ không gian, thời gian là một thể thống nhất trong thuyết tương đối, người quan sát và vật được quan sát là một thể thống nhất trong cơ học lượng tử.

Sự phát triển của vật lý hạ nguyên tử gần đây cũng như những nghịch lý trong ngành vật lý đòi hỏi ta phải có một lý thuyết lý giải được vấn đề. Nhất là nghịch lý EPR xem ra buộc ta phải từ bỏ một trong hai quan niệm hầu như bất khả xâm phạm của ngành vật lý như đã trình bày ở trên. Ở đây, Bohm cho rằng phải đi sâu thêm một mức độ nữa để thấy một thứ bậc mới của thực tại. Thứ bậc này được Bohm mệnh danh là “thứ bậc nội tại” (implicate order). Nội dung của thứ bậc này là “cái toàn thể nằm trong từng cái riêng lẻ”. Nói rõ hơn, thực tại là hình ảnh của toàn vũ trụ được chứa ẩn tàng trong từng đơn vị nhỏ nhất của bản thân nó.

2.2. Ảnh toàn ký (Hologram)

Khái niệm thứ bậc nội tại nói trên khó hiểu nên Bohm đề nghị ta hãy liên tưởng đến một “ảnh toàn ký” (Hologram) để nắm bắt được ý nghĩa của quan niệm này. Ảnh toàn ký là hình ảnh ba chiều được hình thành bởi tia sáng laser. Đầu tiên, một vật thể ba chiều được chiếu rọi bằng laser và sau đó cho phản chiếu lên phim. Tấm phim lại được rọi bằng một nguồn laser thứ hai. Hai nguồn laser sẽ giao thoa với nhau trên phim và ảnh giao thoa sẽ được ghi lại trên phim. Ảnh giao thoa chỉ là những nét chi chít đậm nhạt hầu như vô nghĩa. Thế nhưng nếu ta rọi phim đó bằng một nguồn laser khác thì sẽ hiện lên hình ảnh của vật thể ban đầu trong dạng ba chiều.

Điều kỳ lạ là nếu ta cắt tấm phim ra làm hai phần và chỉ rọi một nửa thì toàn bộ hình ảnh ba chiều vẫn tái hiện. Nếu ta cắt nhỏ tấm phim ra thành những đơn vị rất nhỏ, hình ảnh toàn phần ba chiều vẫn hiện lên đầy đủ, dĩ nhiên kích thước của nó bị thu nhỏ đi. Điều đó có nghĩa, mỗi phần nhỏ nhất của tấm phim vẫn chứa đầy đủ nội dung toàn phần của vật thể ban đầu.

Theo Bohm thế giới hiện ra trước mắt ta chỉ là một hình ảnh hologram của thực tại và sự vận động của thực tại được Bohm gọi là holomovement (sự vận động toàn thể).

2.3. Quan niệm về thực tại của David Bohm

Theo Bohm vũ trụ, thế giới vật chất mà ta đang thấy xung quanh mình là dạng hình được khai triển (unfolded) từ một thực tại sâu kín hơn. Thực tại sâu kín này là một cái toàn thể bất khả phân, không thể định nghĩa, không thể đo lường. Trong thực tại này mọi sự đều liên kết chặt chẽ với nhau. Thực tại này không nằm yên mà luôn luôn vận động nên được mệnh danh là “sự vận động toàn thể” (holomovement) và nó là nguồn gốc, là cơ sở của mọi dạng xuất hiện của vật chất và tâm thức.

Muốn hiểu quan niệm thực tại của Bohm ta cần từ bỏ phép giải tích, từ bỏ cách nhìn vũ trụ hiện nay như ta đang nhìn, xem nó gồm nhiều phần tử đang dàn ra trong không gian thời gian, điều mà Bohm gọi là “thứ bậc dàn trải” (explicate order). Sự thay đổi thứ bậc này trong cách cảm nhận vũ trụ là khó khăn hơn cả sự chuyển đổi tư duy từ vật lý cơ giới qua thuyết tương đối hay qua cơ học lượng tử. Thứ bậc nội tại đòi ta biết cách nhìn “một trong tất cả, tất cả trong một”, một điều rất xa lạ với con người bình thường.

Hãy nêu lên vài ẩn dụ để tới với cách nhìn này:

Xem hệ phát sóng truyền thanh truyền hình. Nội dung phong phú của chương trình đã được chứa “ẩn tàng” trong mỗi đơn vị của sóng, lan tỏa trong không gian với vận tốc ánh sáng. Khi gặp máy thu hình thì thứ bậc ẩn tàng đó đã được “bung” ra để thành hình ảnh hay lời nói. Hoặc khi ngắm nhìn vũ trụ, ta thấy vô số vật thể trong không gian vô tận, chúng đại biểu cho sự vận động trong thời gian vô tận. Vô số những quá trình đó được chứa ẩn tàng trong sự vận động của ánh sáng thông qua một khoảng không gian tí hon của con mắt. Và sau đó nó “bung” ra trong óc ta để ta thấy vũ trụ. Trong cơ thể sinh vật, mỗi một tế bào nhỏ nhất cũng chứa DNA, thông tin của toàn bộ cơ thể đó. DNA cũng là một hình ảnh dễ hiểu của quan niệm “một trong tất cả, tất cả trong một”.

Thí dụ giản đơn và có tính cơ giới nhất là một thanh nam châm với hai cực nam bắc. Nếu ta cắt thanh nam châm đó làm hai thì lập tức chỗ cắt sẽ sinh ra hai cực nam bắc. Nếu tiếp tục cắt thì ta sẽ có tiếp những thanh nam châm nhỏ hơn nữa. Do đó ta có thể nói mỗi điểm trong thanh nam châm đã chứa “ẩn tàng” hai cực nam bắc. Có cắt thì hai cực đó mới hiện ra, không cắt thì chúng nằm trong dạng “nội tại”.

Những ẩn dụ trên có thể có ích để hình dung về một thứ bậc nội tại nhưng chúng có hiểm nguy là làm ta lầm tưởng thực tại như là “sóng truyền hình” hay một không gian với các đơn vị vật chất riêng lẻ và tuân thủ theo những qui luật nhất định.

Ngược lại, theo Bohm, thực tại là một thể thống nhất đang vận động, không thể phân chia, không thể định nghĩa, không thể đo lường mà một số dạng xuất hiện của nó hiện ra với ta như hạt, như sóng hay như những đơn vị tách lìa nhau và có tính chất ổn định tương đối. Những đơn vị vật chất, thí dụ electron, chỉ là một cái tên tạm đặt cho một khía cạnh xuất hiện của thực tại đó. Vật chất chỉ là một số dạng được “dẫn xuất” (abstracted) từ thực tại đó. Các qui luật vật lý đều là những lý thuyết áp dụng cho một số hiện tượng xuất phát từ sự vận động toàn thể đó. Và toàn thể vận động chính là sự tiếp nối liên tục giữa hai giai đoạn ẩn-hiện (enfold-unfold) của sự vận động toàn thể, mà vũ trụ của chúng ta chỉ là một phần rất nhỏ của nó.

Theo Bohm, phương pháp thông thường đến nay của vật lý là xem sự vật vốn tách biệt và được nối với nhau bằng những lực tương tác. Nhiệm vụ của khoa học là xét các sự vật riêng biệt và sau đó thấy cái toàn thể là tổng số các sự vật. Ngược lại, trong quan niệm thứ bậc nội tại, người ta phải bắt đầu với cái toàn thể bất khả phân và nhiệm vụ của khoa học là suy ra các phần đơn lẻ của nó bằng cách trích dẫn, xem chúng chỉ là những phần tử tạm thời ổn định và độc lập. Những phần tử xuất hiện có tính tạm thời đó được mô tả bằng “thứ bậc dàn trải”. Trên cơ sở này Bohm nêu lên những nhận định như sau:

– Trong quá trình ẩn-hiện nhanh chóng của sự vận động toàn thể đó, có những dạng xuất hiện mà giác quan ta thấy là hạt. Chúng nối tiếp nhau xuất hiện trong thứ bậc dàn trải, khi thì ta thấy chúng nằm trên đường thẳng, khi thì hình cong trong không gian và tưởng có những lực tương tác chúng với nhau. Thực tế chúng là dạng xuất hiện kế tiếp nhau của một “tập hợp” (ensembles) không mang tính chất không gian. Ngược lại vì chúng “hiện” ra liên tiếp, cái này sau cái kia mà ta thấy có không gian. Quan niệm này giải thích dễ dàng sự phi liên tục trong sự vận động được nêu ra bởi cơ học lượng tử. Ngoài ra vì hạt chỉ là dạng xuất hiện của sự vận động toàn thể, nên khi những điều kiện thay đổi thì dạng xuất hiện cũng thay đổi, lúc đó nó có dạng sóng. Nghịch lý của sóng-hạt không còn tồn tại trong quan niệm về thực tại này nữa. Vật chất chỉ là một số khía cạnh thứ cấp của cái toàn thể đang vận động (subtotality of movement).

– Xuất phát từ cơ học lượng tử, đặc biệt từ nghịch lý EPR, ta phải tin rằng thứ bậc nội tại có nhiều chiều (multidimensional). Thứ bậc dàn trải ba chiều của chúng ta chỉ là một hình chiếu (projection) của thứ bậc nội tại. Trước vấn đề của mối liên hệ “liên thông” (đặc tính thứ ba) nói ở trên, Bohm dùng thứ bậc nội tại nhiều chiều để giải thích và dùng ẩn dụ “hồ cá” sau đây để minh họa. Trong một hồ cá chỉ có một con cá duy nhất. Hồ cá được thu hình bằng hai máy quay phim từ hai hướng khác nhau. Hai máy quay phim đó được ghi hình lên hai màn ảnh khác nhau A và B. Như ta thấy, hình A và B không hề có mối liên hệ nhân quả hay tương tác gì với nhau cả, chúng chỉ là hai hình của một vật thể (con cá) duy nhất.

Tương tự như thế, hai đơn vị vật chất có mối liên hệ liên thông chẳng qua chỉ là hình chiếu của một đơn vị duy nhất của một thực tại nhiều chiều hơn. Thật ra chúng chẳng tương tác với nhau gì cả, chỉ là hai dạng khác nhau của một thực thể. Sự tách biệt của chúng trong không gian chỉ là một ảo tưởng (illusion) của chúng ta khi đứng trước thứ bậc dàn trải, nơi đó thực thể nọ đã bị “dàn trải” làm hai đơn vị. Theo Bohm số lượng kích chiều của thứ bậc nội tại là vô tận (infinite).

– Xuất phát từ quan niệm năng lượng là vô tận trong chân không lượng tử, Bohm quan niệm vũ trụ là một biển năng lượng đa chiều đang vận động trong dạng của thứ bậc nội tại. Vũ trụ vật chất mà ta đang thấy chỉ là một dạng hình của năng lượng bao la đó khi bị kích thích sinh ra. Dạng hình đó có tính chất ổn định tạm thời và chiếu hiện lên không gian ba chiều theo cách của thứ bậc dàn trải. Còn không gian trống rỗng mà ta đang thấy là được chứa đầy bởi một thứ “tinh chất” (plenum). Tinh chất này không có chất liệu vật chất như quan niệm ê-te của thế kỷ thứ 19. Quan niệm về vũ trụ hiện nay là quan niệm “big bang”, cho rằng khởi thủy là một vụ nổ từ một điểm nhỏ trong không gian và thời gian cách đây hơn 10 tỉ năm. Trong quan niệm của Bohm thì vụ nổ đó chỉ là một gợn sóng nhỏ (just a little ripples) của biển năng lượng mênh mông kia. Hiện tượng “lỗ đen” cho phép ta dự cảm có nhiều vũ trụ khác tồn tại song hành, cũng trong dạng thứ bậc dàn trải như vũ trụ vật chất của chúng ta.

– Bohm cho rằng không có sự khác biệt giữa thế giới vô sinh và sự sống. Cả hai đều lấy thứ bậc nội tại làm gốc, lấy nơi đó những “thông tin” (information) cho sự vận hành của quá trình của bản thân mình. Cũng như hạt giống của một cây con là nơi chứa đựng và phát xuất thông tin để “lèo lái” các thành phần xung quanh (đất, nước, ánh sáng mặt trời) cấu tạo nên cây thì các đơn vị vật chất cũng tiếp nhận “thông tin” từ thứ bậc nội tại để xuất hiện từng chập nhanh chóng, do đó mà ta thấy chúng dường như tồn tại liên tục. Vì vậy đối với Bohm, sự sống (life) là được chứa ẩn tàng trong thứ bậc nội tại. Trong một số dạng của hiện tượng thì sự sống không xuất hiện rõ nét, trong một số khác thì rõ ràng hơn.

– Cuối cùng, Bohm đi một bước dài và cho rằng ý thức con người cũng lưu xuất từ thứ bậc nội tại đó. Vật chất và ý thức có tác dụng hỗ tương lẫn nhau, ý thức sinh ra những dấu vết trên vật chất và ngược lại. Do đó hai mặt này bắt nguồn từ một thứ bậc chung, có kích chiều cao hơn. Cả hai vật chất lẫn ý thức đều là dạng xuất hiện của thực tại nhiều kích chiều đó. Bohm đề nghị một đơn vị cơ bản vận động trong thứ bậc nội tại đó, ông gọi là “chập” (moment). Một chập chứa tất cả những chập khác, một chập có thể rất nhỏ hoặc rất lớn, có khả năng “bung” ra trên thứ bậc dàn trải để thành không gian và thời gian. Mỗi chập trong sự vận động sẽ hiện ra trong thứ bậc dàn trải, lại trải nghiệm nó, trở nên phong phú rồi tác động ngược lại vào trong để sinh ra một lực mà Bohm gọi là “lực thiết yếu” (force of necessity) để sinh ra chập sau. Ý thức và thân vật chất đều là phản ánh của thực tại đó, chúng không có mối liên hệ nhân quả với nhau và xảy ra đồng thời. Khi nói ý thức là ý thức cá thể nhưng nó nằm chung trong một biển mênh mông của một thực tại duy nhất. Mỗi ý thức cá thể đều chứa toàn bộ thực tại đó.

Dạng vật chất của mọi hiện tượng là phản ánh của sự vận động toàn thể, nên nếu chỉ xét dạng vật chất thôi ta cũng có thể đến gần với sự thực nhưng sẽ không đầy đủ. Do đó những quan niệm khoa học đứng trên cơ sở của thứ bậc dàn trải là không sai nhưng không trọn vẹn. Thí dụ khi xét lịch sử của sinh vật ta có thể sử dụng thuyết chuyển hóa (evolution) nhưng thuyết này sẽ có tính cách rất cơ giới. Nếu lấy sự vận động toàn thể làm cơ sở, ta sẽ xem đây là một loạt những dạng của sự sống đã triển khai một cách đầy sáng tạo.

3. Mối liên hệ với Kinh Lăng Nghiêm

Thuyết “sự vận động toàn thể” với quan niệm then chốt “thứ bậc nội tại” là một bước nhảy vọt của khoa học vật lý trong vũ trụ quan. Xưa nay người ta thấy thế giới hiện tượng là một thực thể khách quan, nằm ngoài con người và xem nó là đối tượng đích thực của ngành vật lý. Cả thuyết tương đối lẫn cơ học lượng tử, dù có xem người quan sát (và thiết bị quan sát) cần phải được thống nhất vào chung một thể với vật bị quan sát, nhưng nói chung nền vậy lý vẫn giả định có một thực thể ở “bên ngoài”. Thực tế là, quan niệm “vật ở ngoài nhau” là đặc trưng của ý thức hệ phương Tây, bắt nguồn từ thời Hy Lạp cổ đại.

Nay, khi thuyết của Bohm xem thế giới hiện tượng chỉ là thứ bậc dàn trải, là sự trình hiện của một thứ bậc sâu xa hơn – thứ bậc nội tại – khi đó, Bohm đã làm một bước nhảy vọt về nhận thức. Đã đành hiện nay cũng có nhiều lý thuyết vật lý khác cũng xem thực tại như một thực thể có nhiều chiều (thí dụ lý thuyết dây) mà thực tại của chúng ta chỉ là dạng xuất hiện ba chiều của nó, nhưng thuyết của Bohm đi xa hơn hẳn, cho rằng thứ bậc nội tại bao gồm vật chất, lẫn ý thức, bao gồm cả toàn bộ sự sống của mọi sinh vật, kể cả loài người. Do đó thuyết của Bohm được mệnh danh là phép diễn giải thuộc về bản thể luận (ontology), trong lúc các lý thuyết kia là những phép diễn giải thuộc về nhận thức luận (epistemology).

Nhớ lại hai thuyết tương đối và lượng tử, ở đây ta thấy có một sự tương đồng thú vị về sự phát sinh của ba lý thuyết. Nếu thuyết tương đối được phát sinh bởi sự bất biến của vận tốc ánh sáng, thuyết lượng tử bởi tính phi liên tục trong sự vận động của các hạt hạ nguyên tử, thì thuyết “vận động toàn thể” được phát sinh bằng tính chất liên thông của các hạt đó. Cả ba điểm xuất phát đều là những kết quả của thực nghiệm cả. Một điều tương đồng nữa là thuyết của Bohm dẫn đến những giả định về bản thể luận vô cùng xa lạ với nhà vật lý, cũng như những hệ quả của thuyết tương đối và cơ học lượng tử cũng rất khó hiểu, kể cả đối với những ai làm việc với hai lý thuyết này.

Mặc dù xuất phát từ kết quả thực nghiệm, nhưng lý thuyết của Bohm chưa được cộng đồng vật lý thừa nhận vì những giả định thuộc về bản thể luận của ông chưa được chứng minh là tất yếu. Ngoài ra những giả định đó vượt khỏi phạm vi “thông thường” của ngành vật lý, vì nó bao gồm cả vật chất lẫn tâm thức, cả lĩnh vực vô sinh và sự sống. Dù thế, thuyết của Bohm được nhiều nhà vật lý quan tâm vì nó trả lời nhất quán được nghịch lý EPR về các hạt liên thông và nhất là nó mở ra nhiều khả năng khác của vật lý hiện đại.

Từ một hướng nhìn khác, thuyết “sự vận động toàn thể” của Bohm không thể không làm ta liên tưởng đến triết học Phật giáo. Quan niệm “tất cả trong một, một trong tất cả” chính là tư tưởng Hoa Nghiêm. Chủ trương “thực tại xuất hiện như một cảnh tượng khi bị quan sát” đã được Kinh Lăng Nghiêm nói đến. “Sự sống, ý thức lẫn vật chất đều lưu xuất từ một thể” chính là quan niệm Duy thức trong Phật giáo Đại thừa.

Tinh túy của triết học Phật giáo chính là vấn đề bản thể luận của thế giới và con người. Vì lý thuyết của Bohm cũng là một thế giới quan có tính bản thể luận nên nơi đây ta thử tìm hiểu, liệu triết lý Phật giáo có thể soi sáng gì hơn cho lý thuyết của Bohm hay không. Cũng chỉ trên mảnh đất bản thể học mà hai ngành khoa học và Phật giáo mới có chỗ tiếp cận với nhau.

Sau đây ta sẽ dẫn vài nét lớn của Kinh Lăng Nghiêm [8] về bản thể của thế giới hiện tượng. Sau đó ta sẽ vận dụng quan niệm Lăng Nghiêm [và nói chung của Phật giáo Đại thừa] để lý giải vài vấn đề bản thể học được vật lý hiện đại nêu lên.

3.1. Thế giới quan trong Kinh Lăng Nghiêm

Kinh Lăng Nghiêm nói về một thể uyên nguyên, được tạm mệnh danh là “Chân Tâm”. “Tính chất” của Chân Tâm là phi hình tướng, phi tính chất, không thể nghĩ bàn. Nhiều người cố nghĩ về Chân Tâm và tạm hình dung Chân Tâm như một “biển tinh lực uyên nguyên” hay “vầng trăng tròn đầy” hay “không gian vô tận”. Dù hình dung thế nào đi nữa, Chân Tâm có hai “công năng” như sau: lặng lẽ chiếu soi và có khả năng tự chiếu soi mình. “Chiếu soi” có thể được hiểu như “nhận thức” trong ngôn ngữ hiện đại. Từ “chiếu soi” làm ta cảm nhận là biển tinh lực đó gồm vô số cực quang hay quang minh (radiation) rực rỡ.

Xuất phát từ một Chân Tâm thuần túy “lặng lẽ chiếu soi” đó, bỗng một “vọng tâm” nổi lên, đó là lúc Chân Tâm quay qua tự nhận thức chính mình và thấy có một thể bị nhận thức (tướng phần) và một thể nhận thức (kiến phần). Theo ngôn ngữ hiện đại thì với vọng tâm, xuất hiện một lúc hai thể tính: người quan sát và vật bị quan sát. “Vọng tâm” được Kinh Lăng Nghiêm sánh với cơn buồn ngủ. Khi ngủ mê thì hiện ra giấc mộng, trong đó có người có ta, có cảnh vật, có diễn biến thông không gian và thời gian. Nếu tỉnh dậy thì tất cả cảnh vật trong mơ cũng không còn. “Nếu vọng tâm sinh khởi thì các pháp đều sinh khởi, vọng tâm diệt đi thì các pháp đều diệt” [9] .

Đối với Phật giáo, thế giới hiện tượng là một sự trình hiện, là một huyễn cảnh (maya) như “hoa hiện trong hư không”. Thế giới đó trình hiện cho một quan sát viên nhất định, mỗi quan sát viên có một thế giới. Thế nhưng như ta đã nói ở trên, quan sát viên lẫn thế giới hiện tượng đều là phần tử của Chân Tâm (kiến phần và tướng phần) nên đều chính là Chân Tâm cả. Cả hai đều lưu xuất từ Chân Tâm, bị “vọng hóa” mà thấy có chủ thể (người quan sát) và khách thể (vật bị quan sát).

Thêm một bước vọng hóa, chủ thể quan sát lại làm thêm hai “lầm lạc” nữa, đó là:

a) cá thể đó sinh khởi thương ghét, yêu thích hay từ chối đối với vật được quan sát vì tưởng rằng những sự vật tồn tại độc lập ở “bên ngoài” (chấp pháp)

b) người đó tưởng mình là một chủ thể có thực, có một cái Tôi tồn tại riêng biệt ở “bên trong” (chấp ngã). Cũng như trong giấc mộng, người nằm mơ thấy ta, người và cảnh vật đều thực có.

Xuất phát từ hai thành kiến chấp pháp và chấp ngã, với mọi tâm trạng diễn biến liên tục và nhất là với tâm lý yêu ghét, người quan sát sinh ra vô số quá trình vọng hóa với nhiều mức độ tâm lý với nhiều tính chất khác nhau, chồng chất bao phủ lên nhau. Đạo Phật chia các quá trình tâm lý đó thành bốn giai đoạn, bốn mức độ khác nhau mà thuật ngữ gọi là thọ, tưởng, hành, thức. Ngoài bốn quá trình tâm lý đó, đạo Phật còn xem “sắc” là toàn bộ hiện tượng mà ta gọi là vật chất, kể cả thân vật chất của người quan sát. Do đó sắc, thọ, tưởng, hành, thức được gọi chung là “ngũ uẩn”, là toàn bộ tiến trình của vọng tâm được sinh ra và phát triển, khi Chân Tâm “dại dột” tự chiếu soi chính mình và sa vào chấp ngã, chấp pháp. Ngũ uẩn bao phủ quanh cá thể với các dạng tâm lý và vật lý. Thế giới đang bao trùm xung quanh chúng ta chỉ là một thế giới đang hiện lên cho mỗi cá thể chúng ta, thế giới đó gồm vật chất (sắc), tức là các dạng vật chất quanh ta cùng với thân thể, cộng với các hoạt động tâm lý (thọ tưởng hành thức) đang được duy trì và phát triển liên tục.

Sự hình thành thế giới đó có thể được tưởng tượng như một vận động xoáy vòng vô hình và thần tốc, còn cá thể đứng ở giữa mà nhận thức. Những vọng tâm “kiên cố” nhất bị “tạt” xa ra bên ngoài, biến thành thể vật chất. Khi biến thành vật chất các vọng tâm đó bị dàn trải để hiện thành không gian và thời gian. Chính sự vận động của các vọng tâm kiên cố nói trên làm người quan sát thấy có vật chất và vọng tưởng thấy có không gian và thời gian [10] .

Mỗi thế giới đó tuy là có giá trị cho mỗi cá thể nhưng chúng hòa vào nhau, tưởng chừng như thể nhiều cá thể, toàn xã hội, toàn loài người…có chung một thế giới. Đó là vì “cộng nghiệp” chung của nhiều cá thể làm cho những cá thể đó thấy chung một thế giới, như thể chỉ có một thế giới duy nhất. Vì sự vật chỉ là sự trình hiện nên không thể nói “có” hay “không có” một cách tuyệt đối được. Khi nói “có” là “có” cho những cá thể nhất định, đối với một người là “có” nhưng đối với người khác là không cũng như người nằm mơ thấy “có sự vật” nhưng sự vật đó không có cho người tỉnh. Do đó khái niệm cộng nghiệp là hết sức quan trọng để giải thích thế giới hiện tượng “chung” của chúng ta.

Điều nói trên còn dẫn đến một triết lý sâu xa hơn nữa, đó là “pháp vô ngã”, “nhân vô ngã”. Pháp vô ngã cho rằng không có sự vật nào tồn tại với tự tính riêng của nó cả, tất cả đều chỉ là sự biến hiện làm ta thấy “có” khi đủ điều kiện (nhân duyên sinh) để cho sự vật trình hiện trước mắt ta. Nhân vô ngã cho rằng con người mà ta tưởng là có một cái Tôi đứng đằng sau chỉ là sự vận hành vô chủ của ngũ uẩn. Các tình trạng của ngũ uẩn diễn ra, cái này tiếp nối cái kia, nhưng không ai làm chủ chúng cả. Triết lý nhân vô ngã và pháp vô ngã cho thấy mặc dù thế giới hiện tượng và thế giới tâm lý vận hành liên tục nhưng đó là sự vận động nội tại của nó, không ai làm chủ cho chúng cả. Sự vận động đó chủ yếu xuất phát từ “hành” (Samskara), đó là động cơ tâm lý tạo tác hành động và qua đó tạo tác thế giới. Toàn bộ những động cơ tâm lý đó được gọi là “nghiệp” hay “nghiệp lực”. Nghiệp lực (của cá thể và của toàn thể) là tác nhân làm thế giới vật chất được duy trì, nó làm cho vũ trụ được sinh ra và phát triển [11] .

Như đã nói, sắc thọ tưởng hành thức đều lưu xuất từ Chân Tâm. Chân Tâm có đặc tính “chiếu soi” và “tự chiếu soi” nên cả năm yếu tố của ngũ uẩn đều có khả năng nhận thức và tự nhận thức. Yếu tố vật chất (sắc) cũng có khả năng nhận thức và tự nhận thức. Đọc nhiều kinh Đại thừa, ta có thể cảm nhận Chân Tâm là một nguồn tinh lực vô tận và dạng xuất hiện của nó trong thế giới vật chất là “quang minh”. Quang minh trong thế giới vật chất (sắc) chính là ánh sáng, là các dạng sóng điện từ khác như nhiệt, quang tuyến…Quang minh trong thế giới tâm lý (thọ tưởng hành thức) là những loại sóng mà ngày nay ta chưa xác định được chính xác.

Ngũ uẩn không phải là năm yếu tố riêng lẻ lẫn nhau mà vì chúng có chung nguồn gốc Chân Tâm nên chúng dung thông và chứa đựng lẫn nhau trong tinh thần “một trong tất cả, tất cả trong một”. Một hệ quả của quan niệm này là mọi hoạt động trong tâm lý (thọ tưởng hành thức) đều có dấu vết trong vật lý (sắc) và ngược lại mọi điều chỉnh trong vật lý đều có tác dụng trong tâm lý. Sắc chính là Không, Không chính là sắc (Tâm Kinh). Do đó “trên đầu một cọng cỏ chứa tam thiên thế giới” (tư tưởng Hoa nghiêm).

Như vậy, đối với Phật giáo, với “ngũ uẩn”, khái niệm “vật chất” – tức là thế giới hiện tượng lẫn thân vật chất của con người – chỉ nằm trong trong từ “sắc”. Một cách phân loại khác cho thấy thế giới vật chất được xem do “tứ đại” (đất nước gió lửa) hình thành, tương tự như quan niệm của các triết gia cổ đại của Hy Lạp. Dù thuộc về cách phân loại nào, vật chất được hình thành và duy trì là dựa trên vọng tưởng của tâm. Một đặc tính quan trọng khác là: Vật chất không có tự tính riêng biệt (pháp vô ngã), chỉ tồn tại trên cơ sở tương quan đối với người quan sát. Mỗi người quan sát sống trong một thế giới riêng của họ, thế giới tưởng là chung cho tất cả chẳng qua là do cộng nghiệp xây dựng thành.

Trên những cơ sở này, ta thử xem Phật giáo có thể nói gì về những luận đề bản thể học của thế giới vật chất.

3.2. Vài kiến giải của đạo Phật về vật chất

– Thế giới vật chất là dạng xuất hiện của tâm, là sự trình hiện của tâm trước mắt người quan sát mà người quan sát cũng là tâm nốt. Điều này lý giải một câu hỏi quan trọng của vật lý là, nếu thực tại bên ngoài là độc lập với ý thức thì tại sao con người có thể nắm bắt được thực tại và tại sao thực tại lại tuân thủ những công thức toán học của con người.

Trả lời câu hỏi này, Kepler từng cho rằng khả năng “thiêng liêng” đó là nhờ Thượng đế. Đối với Phật giáo, cả ý thức lẫn vật chất đều lưu xuất từ tâm, chúng dung thông và chứa đựng lẫn nhau, chúng dựa lên nhau mà có. Vì có người quan sát nên có vật được quan sát. Vật được quan sát không thể tồn tại được nếu không có người quan sát.

– Cả vật chất lẫn ý thức là những dạng xuất hiện của tâm, chúng chỉ là những dạng hình thứ cấp lưu xuất từ tâm. Do đó quan niệm về “thứ bậc nội tại”, về một thực tại ẩn tàng chứa cả vật chất, ý thức, đời sống và có nhiều chiều như Bohm quan niệm là rất gần với tư tưởng triết học Phật giáo. Trong lý thuyết của Bohm, vật chất là những cấu trúc xuất hiện có tính chất tạm thời, tương đối, chúng là hình ảnh được “trích” ra từ một vận động toàn thể cũng rất phù hợp với quan niệm của Phật giáo. Sự vận động toàn thể của Bohm có thể được xem gần giống như sự lưu chuyển của A-lại-da thức, trong đó vật chất chỉ được xem là những vọng tưởng được “lóng lại thành cõi xứ”.

– Phật giáo quan niệm “Sắc chính là Không”, thế giới vật chất chính là Chân Tâm. Do đó mỗi nơi mỗi chỗ trong thế giới vật chất đều chứa năng lượng vô tận của Không. Quan niệm về “chân không lượng tử” hiện nay cho rằng, mỗi đơn vị tí hon trong chân không lượng tử chứa năng lượng vô tận, cũng đi gần với quan niệm về Sắc-Không của Phật giáo. Hơn thế nữa Phật giáo cho rằng mỗi nơi mỗi chỗ trong Sắc cũng chứa toàn bộ thế giới vật chất trong quan niệm “một trong tất cả, tất cả trong một”. Do đó quan niệm của Bohm về hình ảnh toàn ký (hologram) cũng rất tương tự với hình ảnh “tam thiên thế giới” được minh hoạ trong Kinh Hoa Nghiêm. Trong ẩn dụ này thế giới xuất hiện như một ảo ảnh ba chiều khi mắt tiếp xúc với ánh sáng cho ta thấy Bohm cũng quan niệm thế giới vật lý xuất hiện như một ảo giác, đó là điều mà đạo Phật đã nhấn mạnh với từ maya.

– Vì vật chất chỉ là dạng xuất hiện của tâm, không có tự tính riêng, chỉ tùy nhân duyên mà trình hiện nên Phật giáo không thấy có mâu thuẫn giữa hai dạng sóng-hạt của vật chất. Cả sóng lẫn hạt đều xuất hiện khi đầy đủ nhân duyên hội tụ cho chúng xuất hiện. Trong vật lý hạ nguyên tử, “nhân duyên” chính là cách dò tìm của người quan sát và cách xếp đặt thiết bị đo lường. Điều này thì cơ học lượng tử đã thừa nhận, đó là “tính chất của thiên nhiên là câu trả lời của thiên nhiên đối với cách hỏi của ta đặt ra” (Heisenberg). Sự nghịch lý sóng-hạt chỉ có khi ta cho rằng vật chất phải có một tự tính riêng, điều mà đạo Phật bác bỏ.

– Nghịch lý EPR của những hạt liên thông cũng không tồn tại với thế giới quan của Phật giáo vì rằng mọi hạt vật chất đều lưu xuất từ tâm. Giữa các dạng vật chất đó cũng như giữa vật chất và ý thức đều có sự dung thông vì tất cả đều là tâm. Do đó những hạt liên thông có mối quan hệ trên một cấp bực khác, sâu hơn cấp bực của vật chất. Vì vậy mà chúng có trao đổi với nhau, “biết đến” lẫn nhau vì mỗi mức độ của sắc cũng đều chứa ý thức cả. Trong lĩnh vực của vật chất, vì có thời gian và không gian xuất hiện nên mọi vận hành của tâm bị giới hạn trong những mức độ đo được. Do đó vận tốc ánh sáng, hằng số Planck etc…là những số rất lớn/rất nhỏ nhưng có giới hạn. Còn trong lĩnh vực tâm lý của thọ tưởng hành thức, mọi tín hiệu đều có vận tốc vô tận, tức là có tính chất liên thông. Nói chung thì mọi yếu tố trong ngũ uẩn đều “liên thông” (non-local) với nhau mà thuật ngữ Phật giáo gọi là “dung thông”.

– Quan niệm phải đưa quan sát viên vào quá trình chung với vật được quan sát của thuyết tương đối và cơ học lượng tử là hoàn toàn tương thích với thái độ của Phật giáo mặc dù Phật giáo xuất phát từ một cái nhìn khác. Theo Phật giáo không có quan sát viên thì cũng không có vật được quan sát, vật đó chỉ có khi có ai quan sát nó. Nếu không có ai quan sát nó thì cũng không có nó. Đối với Phật giáo, không có vật nào tồn tại độc lập cả mà chúng đều chỉ tồn tại trên cơ sở tương quan với vật khác. Trung Quán Tông là trường phái nhấn mạnh nhiều nhất quan niệm này.

– Sự duy trì một thế giới vật chất là nhờ nghiệp (biệt và công nghiệp). Nghiệp do tâm với tính chất quang minh tạo thành. Do đó vật chất có dạng sóng, điều mà ngày nay người ta thừa nhận. Quang minh của tâm có sức vận động vô tận, ta không thể quan niệm về một độ dài sóng. Nhưng khi quang minh lấy dạng vật chất thì có không gian thời gian sinh ra, lúc đó ta nói về một độ dài sóng, về tần số. Tần số vi tế nhất của quang minh vật chất đã dẫn đến những đơn vị nhỏ nhiệm nhất mà vật lý thể hiện bằng hằng số Planck. Tương tự thế, ánh sáng trắng trong thế giới vật chất của ta tuy là một dạng của tâm nhưng trong thế giới ba chiều thì có vận tốc giới hạn.

– Vì nghiệp lực là tác nhân duy trì thế giới nên nó luôn luôn đẩy thêm năng lực vào thế giới vật chất, do đó có sự vận động trong tuần hoàn mà Kinh Lăng Nghiêm gọi là “sáng-tối lần lượt tỏ bày”. Đây là điều mà Bohm gọi là ẩn-hiện (enfolding-unfolding). Trong dạng vật chất mọi thứ thuộc tâm đều phải xuất hiện một cách hữu hạn (finite) nên từ đó phát sinh khái niệm lượng tử và mối liên hệ bất định của Heisenberg.

– Theo Phật giáo, vật chất được hình thành và duy trì bởi lực tạo tác của cộng nghiệp và biệt nghiệp của nhiều cá thể. Các nghiệp lực đó xuất phát từ sự vận hành của ngũ uẩn mà ngũ uẩn là vô ngã, là vận hành vô chủ. Do đó mọi dạng vật chất đều thành hình một cách ngẫu nhiên [12] , không do chủ ý của ai.

Trên cơ sở đó ta có thể lý giải tính chất “thống kê” trong cơ học lượng tử một cách dễ dàng.

Nhìn chung, nếu đứng trên quan niệm của Phật giáo, cho mọi “pháp hữu vi” (trong đó có vật chất) là “mộng, huyễn, bào, ảnh, như sương sa, điển chớp” (Kinh Kim Cương), cho mọi dạng vật chất chỉ tạm thời, không có tự tính, không tồn tại thực sự mà chỉ tồn tại trên cơ sở tương quan với người quan sát, ta có thể lý giải dễ dàng mọi điểm cơ bản của thuyết tương đối và cơ học lượng tử.

Tuy nhiên vì lý thuyết Phật giáo nêu lên những đề tài thuộc về bản thể luận, ta chỉ tìm thấy trong đó những ý niệm có tính chất định tính hơn định lượng. Sự xác định những khái niệm định lượng như các hằng số, các đẳng thức và bất đẳng thức trong thế giới vật chất phải là nhiệm vụ của các nhà vật lý.

Trong các phép diễn giải về cơ học lượng tử và các lý thuyết với tham vọng giải thích một cách nhất quán được thế giới hiện tượng thì thuyết “thứ bậc nội tại” của Bohm là tiến gần nhất với triết học Phật giáo. Thế nhưng Bohm và các cộng sự của ông chưa đến với chìa khóa quan trọng nhất của đạo Phật là “pháp vô ngã, nhân vô ngã”.

Khái niệm “chập” (moment) của Bohm có thể xem là “pháp” của Phật giáo nhưng “chập” của Bohm chỉ mới được định nghĩa như “biến cố” trong thứ bậc nội tại. Nếu người ta đưa quan niệm vô ngã vào trong thuyết thứ bậc nội tại, nhà vật lý sẽ thấy sự triển khai lý thuyết này dễ dàng và phong phú hơn nữa.

Thế nhưng, khi chấp nhận thuyết của Bohm và xa hơn nữa, chủ trương “pháp vô ngã”, tức là xem thế giới hiện tượng chỉ là một sự trình hiện tạm thời, nhà vật lý sẽ công khai từ bỏ quan niệm của một thực tại độc lập nằm ở “bên ngoài” mà đó là một điều hầu như bất khả xâm phạm của vật lý.

Do đó, trở lại với phần đầu của bài này, ta có thể nói, nếu phải lựa chọn, có lẽ nhà vật lý sẽ chịu từ bỏ thuyết tương đối cho rằng không có tín hiệu nào đi nhanh hơn ánh sáng, nhưng không thể từ bỏ một thực tại vật lý độc lập. Tuy nhiên, sự phát triển của khoa học vật lý hiển nhiên sẽ còn kéo dài vô tận, bao lâu loài người còn hiện diện trên hành tinh này. Do đó ta chưa thể nói được, cuối cùng nền vật lý sẽ đi về đâu, phải chăng tất cả sẽ đồng qui về một mối, trong đó mọi ngành sinh vật, vật lý, tâm lý, thiên văn…đều có chung một cơ sở như Bohm tiên đoán.

Cuối cùng, hẳn có độc giả tò mò muốn biết một con người như David Bohm như thế nào, khi ông tin rằng có một thứ bậc nội tại, nó là nguồn lưu xuất của mọi dạng đời sống, vật chất và ý thức.

Theo Basil J.Hiley, cộng tác viên thân cận với ông trong nhiều công trình khoa học, David Bohm tiến khá gần với Thiền trong đời sống hàng ngày. Khi một phóng viên khi hỏi liệu “Bohm đã cảm nhận những “trải nghiệm huyền bí” hay không, Hiley trả lời như sau: “…Bohm xem nó (trải nghiệm huyền bí) là sự tĩnh lặng của tâm để thứ bậc nội tại của tâm cho phép lưu xuất ra ngoài những thứ bậc dàn trải mới mẻ hay cung cấp những gì có tính chất sáng tạo… Ông hay làm những điều đó trong tâm ông… Ông cảm nhận rằng tư tưởng có khả năng nhận thức trực tiếp được thứ bậc nội tại” [13] .

Phải chăng “sự tĩnh lặng của tâm” đó đã giúp cho David Bohm có những phát minh độc đáo mà ta vừa trình bày?

Nguyễn Tường Bách
23.06.2005

[1] – A.Einstein, N.Rosen and B.Podolsky, Phys. Rev., vol 47, 1935, p.777

[2] – Realism, chủ trương tin rằng có một thực tại độc lập ở bên ngoài. Hầu như tất cả các nhà vật lý đều duy thực.

[3] – John Bell, “On the Einstein Podolsky Rosen Paradox”, Physics 1 (1964)

[4] – A. Aspect, P.Grangier and R.Roger “Experimental Test of Realistic Local Theories via Bell’s Theorem”, Physical Review Letters 47 (1981)

[5] – Nick Herbert, Quantum Reality

[6] – David Bohm (1917-1992), nhà vật lý lý thuyết nổi tiếng, giáo sư tại Đại học London

[7] – Xem David Bohm, Wholeness and the implicate Order, Routledge & Kegan Paul, 1980

[8] – Đại cương Kinh Lăng Nghiêm, Thích Thiện Hoa biên soạn

[9] – Trích Mã Minh, Đại thừa khởi tín luận, Bản dịch Thích Thiện Hoa

[10] – Trích lời Văn-thù trả lời Phật trong Kinh Lăng Nghiêm:
“Mê vọng hữu hư không
Y không lập thế giới
Tưởng trừng thành quốc độ
Trí giác nãi chúng sinh.
Dịch:
Từ mê muội vọng động mà có hư không
Dựa trên hư không mà thành thế giới
Vọng tưởng lóng lại thành cõi xứ
Cái hiểu biết phân biệt làm chúng sinh”.

[11] – “A-nan, như người đau mắt, vì nghiệp riêng của họ, nên “vọng thấy” cái đèn có vầng đỏ hiện ra.Như dân chúng trong một nước, do ác nghiệp chung tạo của họ nên đồng thấy có những điềm không lành hiện ra. Lên một từng nữa là toàn cả chúng sinh trong mười phương thế giới ngày nay đây, đều do “vô minh vọng động từ vô thỉ” nên đồng vọng thấy có thế giới chúng sinh hiện ra vậy”.
Lời Phật trong Kinh Lăng Nghiêm.

[12] – Xem Kinh Duy Ma Cật, đoạn Ưu-bà-li trả lời Phật, kể về Duy Ma Cật: “…Tất cả các pháp đều xuất hiện một cách ngẫu nhiên (nirapeksa), như một áng mây, như một tia chớp, chúng chẳng dừng chân dù trong một khoảnh khắc…”, bản dịch Chân Nguyên.

[13] – Xem “On Quantum mechanics and the implicate Order”, an Interview with Dr.Basil J.Hiley, University ofLondon http://www.goertzel.org/dynapsyc/1997/interview.html

http://www.vietfreefun.com/forum/showthread.php?192692-T%E1%BB%AB-David-Bohm-%C4%91%E1%BA%BFn-Kinh-L%C4%83ng-Nghi%C3%AAm

Về vấn đề Tái Sinh

Câu hỏi thứ nhất:

— Nếu linh hồn người chết đi tái sinh thành kiếp sống mới, thì tại sao mấy trăm năm trước, loài người chỉ có mấy trăm triệu, mà nay theo thời gian đã tăng lên tới 5 tỷ, vậy linh hồn của những người mới này ở đâu mà ra?

Đáp:

Trong những kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã có trình bày về quan điểm của nhà Phật trước vấn đề “linh hồn”, nay chúng tôi xin nhắc sơ lại.

Nhà Phật quan niệm rằng tất cả mọi hiện hữu đều là do sự biến hiện của Thức. Theo kinh Lăng Nghiêm, dòng sinh mệnh khởi đi do một niệm Vô Minh bất giác, nổi lên từ biển Tâm mênh mông, bỗng thấy có “cái Ta” và “cái không phải Ta”, cũng như người đang thức, chớp mắt đã lạc vào giấc ngủ, mộng thấy đủ thứ hiện ra, bị đánh cũng thấy đau, khóc cũng có nước mắt, sợ hãi cũng chạy trốn, vân vân …

Nhưng thời gian của giấc ngủ bình thường chỉ lâu có một đêm, sáng dậy bèn biết ngay rằng chuyện xảy ra trong đêm là nằm mộng, không thật. Đó là những giấc mộng nhỏ, nằm trong giấc mộng lớn là kiếp người.

Trong dòng sinh tử kéo dài triền miên, từ kiếp này qua kiếp khác, người ta không thể tự tỉnh dậy như đối với giấc ngủ một đêm, mà từ cái niệm Vô Minh bất giác đó khởi đi, trải qua mỗi đời sống, lại do những hành động mà tạo thành nghiệp thiện, hoặc ác. Theo tâm lý học của nhà Phật, thì những hành động thiện hoặc ác này đều chứa trong Tàng Thức (là cái kho lưu giữ lại mọi hoạt động của Thức), làm nhân cho những kiếp sau, tiếp tục trôi lăn trong mê vọng của sinh tử luân hồi, mãi đến khi nào thức tỉnh, trở về trạng thái Tâm Thanh Tịnh, thì mới hội nhập lại với Bản Thể Chân Tâm, mới chấm dứt được dòng sinh tử, đó là Kiến Tánh thành Phật. Phật có nghĩa là người giác ngộ, không phải thần linh.

Vì Vô Minh khởi đi từ vô thủy, hiện hành Thức Tâm sinh diệt, còn gọi là Vọng Tâm sinh diệt, không phải là Thật, là Chân, nên nhà Phật không quan niệm rằng có một cái được coi là Thật, là linh hồn trường tồn bất biến, kéo dài từ kiếp này qua kiếp khác đến vô tận, mà chỉ coi dòng đời hiện ra là do sự chi phối của nghiệp nhân thiện, hoặc ác, trong Tàng Thức, khi Tâm trở lại trạng thái thanh tịnh, không còn nghiệp nhân làm chủng tử gây nên đời sau, thì dòng đời sẽ chấm dứt, hóa giải Vọng Tâm, hội nhập Bản Thể Chân Tâm.

Sự kiện dòng đời xuất hiện là do một niệm Vô Minh bất giác nổi lên từ biển Tâm, cũng có thể tạm ví như một đợt sóng nổi lên từ biển cả. Trong biển cả mênh mông, nhiều hay ít đợt sóng nổi lên, tùy theo gíó thổi mạnh hay yếu. Từ biển Tâm, nhiều hay ít dòng đời xuất hiện, tùy theo nhiều hay ít niệm Vô Minh bất giác. Chúng ta có thể tạm dùng thí dụ cụ thể, cũng như máy thu thanh và làn sóng trong không gian. Vào thời kỳ đầu của kỹ thuật truyền thanh, người ta mới chế tạo được máy phát và thu thanh trên một làn sóng, gọi là radio một đài. Sau này, khoa học kỹ thuật tiến bộ, máy thu thanh có thể thu cả trăm làn sóng khác nhau, nên gọi là radio nhiều đài. Như vậy, dù lúc trước chưa sử dụng được nhiều làn sóng để phóng âm thanh vào, không có nghĩa là không có làn sóng. Và khi khoa học tiến bộ hơn nữa, máy móc tinh vi hơn nữa có thể phát, thu hàng ngàn tỷ làn sóng khác nhau, thì cũng không có nghĩa là những làn sóng đó mới được sinh ra, mà nó vốn có sẵn trong không gian mênh mông, cũng như Biển Tâm vốn đã có sẵn những yếu tố để một niệm Vô Minh có thể khởi lên, bắt đầu một dòng sinh mệnh, hoặc hàng ngàn tỷ niệm Vô Minh khởi đầu hàng ngàn tỷ dòng sinh mệnh.

Ngoài ra, nhà Phật không quan niệm chỉ có một thế giới mà chúng ta đang ở, mà cho rằng trong khoảng không gian bao la, có hằng hà sa số thế giới (hằng hà sa số nghĩa là nhiều như số cát nơi sông Hằng bên Ấn Độ, là một biểu tượng số lượng lớn đến nỗi không thể tính đếm được). Có những thế giới mà nhà Phật thường nhắc đến, gọi là Tam Giới, gồm;

– Dục Giới, là nơi ở của những cuộc sống nhiều tham muốn, cụ thể là thế giới của chúng ta;

– Sắc Giới, là nơi lưu trú của những chúng sinh không còn tham muốn, nhưng vẫn còn có hình thể, tướng mạo.

– Vô Sắc Giới, là cảnh giới mà chúng sinh đã hết tham muốn, không còn hình thể, tạm gọi là thế giới vô hình, chỉ còn tâm thức.

Như thế thì sự sinh hay diệt của một kiếp sống có thể giao thoa trong nhiều thế giới, hữu hình và vô hình, nhưng chúng ta chỉ biết đến có mỗi thế giới loài ngưòi này, nên chỉ suy tính quanh quẩn trong thế giới này mà thôi.

Để có thể thấu triệt vấn đề “linh hồn” theo quan điểm của nhà Phật, xin kính gửi tới quý thính giả một bài pháp, lược trích trong cuốn Ðức Phật và Phật Pháp, do hòa thượng Narada Maha Thera biên soạn theo kinh sách nhà Phật, và do cư sĩ Phạm Kim Khánh dịch.

Hòa thượng Narada, sinh năm 1898 tại Tích Lan, xuất gia năm 18 tuổi và nhập học tại đại học đường Tích Lan. Sau này, hòa thượng được cử làm giảng sư về môn Đạo Đức Học và Triết Học tại đại học này. Hòa thượng nổi tiếng về kiến thức sâu rộng, nhất là về đạo hạnh và lòng từ bi. Ngài là tác giả của nhiều sách Phật giáo rất có giá trị, thí dụ cuốn “The Manual of Abhidhamma” là bản chuyển dịch ra Anh văn phần uyên thâm nhất của giáo lý nhà Phật. Kinh Pháp Cú cũng được ngài phiên dịch ra Anh văn và chú giải. Còn cuốn “The Buddha and His Teachings” (Đức Phật và Phật Pháp) là một tác phẩm xuất sắc của tác giả. Cuốn này có thể được xem là sách căn bản cho những ai muốn tìm hiểu Phật giáo.

Trong công cuộc hoằng pháp, hòa thượng được cử đi truyền giáo tại Trung Quốc và các nước Đông Nam Á như Cam Bốt, Lào, Việt Nam, Nam Dương, Mã Lai, vân vân … Tại những nơi này, ngài thường được tiếp đón rất nồng hậu. Quốc vương Cam Bốt tôn vinh ngài là Đức Đại Tôn Giả (Sri Maha Sadhu). Ngoài ra hòa thượng cũng đi hoằng pháp tại các nước Tây phương. Năm 1955, ngài sang Úc, và giúp tổ chức các hội Phật Giáo địa phương tại các bang New South Wales, Victoria, Tasmania và Queensland. Năm 1956, hòa thượng sang Anh quốc, tổ chức lễ Tưởng Niệm 2.500 năm ngày Đại Bát Niết Bàn của đức Phật. Sau đó ngài giúp củng cố Phật sự, và xây dựng ngôi chùa danh tiếng mang tên Chùa Phật Giáo Luân Đôn (London Buddhist Vihara). Ngài cũng đã sang Hoa Kỳ thuyết giảng về đề tài “Đức Phật và Triết lý đạo Phật” tại đài kỷ niệm Washington, trước một cử tọa rất đông đảo.

Ngài là một sứ giả Như Lai rất hăng hái và nhiệt tình, thu hút được nhiều người nghe, và lúc nào cũng khuyến khích thành lập các hội Phật Giáo địa phương, để bồi đắp công trình hoằng dương đạo pháp. Hòa thượng Narada có nhiều gắn bó với đất nước và Phật tử Việt Nam. Ngài đã từng đến Việt Nam vào đầu thập niên 1930, mang theo nhiều nhánh cây bồ đề, đã trồng xuống tại nhiều địa danh trong nước, như Phú Lâm (Chợ Lớn), Cần Thơ, Châu Đốc, Vĩnh Long ở miền Tây Nam bộ, Biên Hòa, Phước Tuy, Vũng Tàu ở miền Đông Nam bộ, ra đến Đà Lạt, Huế ở miền Trung và Vinh, Hà Nội ở miền Bắc.

Trong thập niên 1950, khi Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam được thành lập, ngài đến Việt Nam nhiều lần, để thuyết pháp hằng tuần tại chùa Kỳ Viên, Sài Gòn, thu hút đông đảo Phật tử đến nghe, và có rất nhiều người đến xin quy y với ngài. Đặc biệt là vào năm 1963, ngài đã khuyến khích ủng hộ công tác xây cất bảo tháp Thích Ca Phật Đài tại Vũng Tàu, ngày nay được xem như là một di tích lịch sử. Ngoài ra, ngài còn giúp xây dựng một bảo tháp khác ở Vĩnh Long.

Sau đây là lời dạy của hòa thượng Narada, một bậc thầy người ngoại quốc mà Phật tử Việt Nam đã được kết duyên lành, một sứ giả Như Lai đã lặn lội đến những xứ sở xa xôi để chiếu rọi tuệ đăng tới chúng sinh. Hòa thượng Narada dạy rằng:

…”…. Thuyết tái sanh của Phật Giáo không phải là thuyết chuyển sinh linh hồn, hiểu như có sự di chuyển của một linh hồn từ thân xác nầy đến cơ thể vật chất khác. Trong sách vua “Milinda Vấn Đạo”, Đại Đức Nagasena đã dùng nhiều truyện ngụ ngôn để giúp ta lãnh hội dễ dàng quy luật tái sanh của Phật Giáo. Câu truyện mồi lửa rất là rõ ràng. Đời sống xem như một ngọn lửa, và hiện tượng tái sanh như sự mồi lửa từ cây đèn này sang cây đèn khác. Ngọn lửa của đời sống liên tục tiếp diễn, mặc dầu có sự gián đoạn bộc lộ ra bên ngoài mà ta gọi là cái chết.

Vua Milinda hỏi Đại Đức Nagasena:

– Bạch Đại Đức, phải chăng có sự tái sanh, mà không có cái gì được chuyển sinh từ xác thân này đến xác thân khác?

Đại Đức Nagasena trả lời:

– Tâu đại vương, đúng như vậy, sự tái sanh diễn tiến không cần có cái gì được chuyển sinh từ thân này đến thể xác khác?”

Vua đề nghị:

– Xin Đại Đức cho một thí dụ.

Đại Đức Nagasena hỏi:

– Tâu Đại Vương, thí dụ có người dùng lửa của cây đèn này để mồi cây đèn kia. Có phải ngọn lửa của cây đèn này được dời qua cây đèn kia không ?

Vua đáp:

– Bạch Đại Đức, không phải vậy.

Đại Đức Nagasena nói:

– Đúng thế, tâu Đại Vương, tái sanh diễn tiến không cần có sự di chuyển của cái gì từ nơi này đến nơi khác.

Vua lại đề nghị:

– Xin Đại Đức cho thêm một thí dụ khác.

Đại Đức Nagasena nói:

– Tâu Đại Vương, Ngài còn nhớ không, thuở nhỏ đi học, ông thầy dạy làm thơ đã đọc cho Ngài nghe vài vần thơ, để Ngài đọc theo đến thuộc lòng.

Vua trả lời:

– Bạch Đại Đức, quả có như vậy.

Đại Đức Nagasena hỏi:

– Vậy thì, tâu Đại Vương, có phải lời thơ được chuyển từ ông thầy sang trí nhớ của Đại Vương không?

Vua đáp:

– Bạch Đại Đức, không.

Đại Đức Nagasena nói:

– Thì cũng như thế, tâu Đại Vương, hiện tượng tái sanh diễn tiến mà không cần có cái gì chuyển từ chổ này sang qua nơi khác.

Vua Milinda hỏi tiếp:

– Bạch Đại Đức, vậy thì cái gì tiếp nối từ kiếp này sang kiếp khác?

Đại Đức Nagasena trả lời:

– Tâu Đại Vương, chính phần tâm linh và phần vật chất, được sanh ra trong kiếp sống kế.

Vua hỏi:

– Có phải cũng chính tâm linh và thể xác trong kiếp trước được di chuyển và sanh trở lại trong kiếp sống sau không?

Đại Đức Nagasena trả lời:

– Tâu Đại Vương, không phải chính tâm linh và thể xác trong kiếp trước được được sanh trở lại trong kiếp sống sau này. Tuy nhiên, tâm linh và thể xác ở kiếp trước đã hành động, gây nhân, tạo nghiệp thiện hoặc nghiệp ác, thì tùy thuộc nơi nghiệp ấy, tâm linh và thể xác được sanh ra trong kiếp nầy.

Vua hỏi:

– Bạch Đại Đức, nếu không phải chính tâm và thân của kiếp trước được sanh trở lại trong kiếp kế, thì ta có thể tránh khỏi quả báo của những hành động bất thiện do tâm và thân của kiếp trước gây ra trong kiếp trước không?

Đại Đức Nagasena trả lời:

– Tâu Đại Vương, nếu ta còn tái sanh trong một kiếp sống khác, thì tất nhiên còn phải chịu hậu quả của những hành động trong những kiếp quá khứ. Chỉ khi nào ta chấm dứt được sức mạnh của nghiệp lực, thì ta mới chấm dứt được sự lãnh chịu quả báo, của những hành động thiện, hoặc ác, trong quá khứ mà thôi.

Dr. Ananda Coomasvami, trong cuốn “Buddha and the Gospel of Budhism”, cũng giải thích tiến trình “ tử – sinh “, bằng thí dụ về một loạt những quả bi da “Thí dụ như, nếu một quả bi da lăn đến, đụng một quả khác đang ở yên một chổ, thì quả lăn tới ngưng lại và quả bị đụng bắt đầu lăn. Không phải là quả banh lăn trước được dời sang quả banh bị đụng. Nó vẫn còn nằm lại phía sau, nó chết. Nhưng chính vì sự di chuyển của nó, sức xung kích của nó, cái kết quả dĩ nhiên, hay cái nghiệp lực của quả banh trước, xuất hiện trong quả banh kế, chớ không phải một chuyển động khác mới được tạo ra.”

Cũng như thế, xác thân đã chết, nhưng nghiệp lực tái sanh trong một cơ thể khác, mà không cần có cái gì di chuyển từ kiếp sống nầy sang kiếp khác. Chúng sinh mới được sanh ra, không hoàn toàn là một, nhưng cũng không tuyệt đối khác hẳn với chúng sinh vừa mới chết, bởi vì cả hai cùng nằm trong một luồng nghiệp. Chỉ có sự liên tục của dòng đời, triền miên thay đổi, tiếp diễn trong thể xác mới, là hiện hành trong thân khác, mà thôi. …”…

Trên đây là bài giảng của hòa thượng Narada Maha Thera. Ước mong thày đã gửi được tới quý độc giả đôi chút khái niệm về linh hồn qua nhãn quan của nhà Phật.

Câu hỏi thứ hai:

– Nếu đã có những người chết rồi, khi tái sinh lại nhớ được chuyện kiếp trước, thì tất cả mọi người đều phải nhớ chuyện kiếp trước, sao lại người thì nhớ, người thì chẳng hề nhớ tí nào chuyện kiếp trước cả?

Đáp:

– Cõi đời này là thế giới tương đối, là hư vọng, là tương sinh tương duyên, cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt, không phải là tuyệt đối chân thật, cho nên nếu có người khi tái sinh không nhớ được kiếp sống cũ, trong khi có người khác lại nhớ được, thì cũng là chuyện nằm trong quy luật tương đối, không có chuyện mọi người phải tuyệt đối giống nhau.

Nhà Phật không thuyết phục mọi người bằng những lối giải thích mê tín, áp đặt người nghe phải tin. Vì thế, trước những hiện tượng xảy ra có bằng chứng rõ ràng, người Phật tử ghi nhận một cách công bình, phóng khoáng. Tuy nhiên, nếu chúng ta dùng những chuyện đã xảy ra để chiêm nghiệm, so sánh, thì cũng có thể tự tìm được câu trả lời, tạm coi như hữu lý.

Nhà Phật cho rằng kể từ lúc một niệm Vô Minh bất giác nổi lên, bỗng thấy có “cái Ta” và “cái không phải Ta”, khởi đầu dòng sinh mệnh, trôi lăn trong môi trường tương đối, thì cũng là khởi đầu giấc mộng dài. Trong giấc mộng dài đó, có những khúc ngắn hơn, tạm gọi là giấc mộng trung bình, là thời gian của một đời sống. Trong khoảng thời gian của giấc mộng trung bình là đời sống đó, lại có những giấc mộng ngắn hơn nữa, là khoảng thời gian của những giấc mộng mà chúng ta có hằng đêm.

Không phải tất cả các giấc ngủ hằng đêm của chúng ta đều có mộng. Hoặc giả tỉ tất cả các đêm đều có mộng, thì cũng không phải là mỗi sáng thức dậy, chúng ta đều nhớ lại tất cả những giấc mộng đã qua. Thực tế là có người đang ngủ bỗng la lên ú ớ, rồi choàng dậy, mắt nhìn ngơ ngác, tim đập mạnh, hoảng hốt, sợ hãi, vì những hình ảnh trong cơn ác mộng vừa qua. Có người lại rất ít khi mộng thấy có chuyện gì xảy ra, dù mọi người đều có những giấc ngủ đại khái giống nhau. Có người lại thường thấy mộng đẹp, trong mộng còn cười lên nữa. Nhưng khi tỉnh dậy, hỏi họ mộng thấy gì mà vui cười, thì họ ngơ ngác vì không nhớ gì cả.

Giấc mộng dài trung bình là cuộc đời thì cũng vậy thôi. Có một số ít người “thấy” được những chuyện xảy ra trong kiếp quá khứ của dòng sinh mạng, hiện vẫn còn trong Tàng Thức ở không gian. Nhưng có nhiều người không “thấy” được gì cả. Cũng như có những người có khả năng phi thường về lòng thương yêu, hy sinh vì người khác, trong khi lại có những người ích kỷ vô cùng tột, không hề biết giúp đỡ tha nhân là cái gì.

Câu chuyện Người đàn bà đi tìm các con của kiếp trước” (The True story of a Woman Who has Lived Before.) được đài truyền hình BBC và đài ABC, chương trình 20/20 thực hiện, đã nói lên sự “thấy” được quá khứ của người mẹ đi tìm con. Nếu chúng ta không “thấy” được quá khứ của chúng ta, thì cũng có thể hiểu được, rằng chúng ta sống trong thế giới tương đối, không thể có sự tuyệt đối giống nhau, của tất cả mọi người và mọi việc.

Trích Thư Viện Hoa Sen

Cloning và Phật Giáo

Hỏi:

– Nếu Phật đã dạy rằng, vạn vật từ Không mà có, vậy thì tại sao linh hồn sau khi chết lại không trở về Không, mà phải đi lang thang từ kiếp này sang kiếp khác?

Đáp:

Nếu nói rằng “vạn vật từ Không mà có” thì cũng không đúng với quan điểm của đạo Phật. Nhà Phật nói rằng: “Vạn pháp trong thế giới hiện tượng tương đối này đều do nhân duyên hòa hợp mà sanh khởi, cái này sanh thì cái kia sanh. Vì duyên với nhau mà sanh, cho nên khi “cái này diệt thì cái kia diệt”, không có tự thể độc lập của riêng nó, mà sanh diệt tùy thuộc lẫn nhau, chỉ huyễn hiện liên tục, nên còn được phát biểu là : “Vạn pháp đương thể tức không, duyên hợp giả có”. “Có ”nhưng không phải là “thật có”, mà chỉ là “huyễn hiện”, nên gọi là “giả có”.

Nhà Phật quan niệm rằng mỗi dòng sinh mệnh vốn cũng đều từ Tâm, vì một niệm vô minh bất giác khởi vọng mà lưu xuất, vốn từ Tâm chuyển thành Vọng Thức, — nói gọn là Tâm và Thức – bắt đầu dòng sinh tử, rồi từ đó hành động tạo tác, gây nhân thọ quả thiện ác, hình thành nghiệp lực, bị nghiệp lực chi phối, cuốn trôi trong vòng luân hồi sinh tử.

Tâm mênh mông bằng hư không thì Thức cũng mênh mông bằng hư không. Có thể tạm dùng thí dụ cụ thể, dù không đúng hẳn nhưng sẽ giúp dễ hiểu, là ví Tâm với biển cả, Thức với bụi bậm rác rưởi lẫn trong nước biển. Biển rộng mênh mông tới đâu thì rác rưởi cũng trôi nổi tới đó.

Tâm là Bản Thể, thuộc bình diện tạm gọi là tuyệt đối. Thức chỉ là bình diện ô nhiễm của Tâm, còn gọi là thức tâm sinh diệt, thuộc về thế giới hiện tượng tương đối, huyễn hiện theo quy luật “duyên hợp giả có”, tính chất nó là vô thường.

Nhà Phật quan niệm rằng mỗi sinh vật đều do hai thành phần tạo nên, đó là phần tâm thức và phần vật chất, tức là cơ thể chúng sinh. Tâm và Vật duyên sanh trong đời sống. Tâm có thể ví như làn sóng điện và vật chất, thí dụ cơ thể con người, có thể ví như chiếc máy thu thanh. Làn sóng dàn trải trên không gian, máy thu thanh vặn đúng tần số thì bắt được tín hiệu. Khi máy cũ, hư hỏng, không còn sử dụng được nữa, thì mua máy mới, lại tiếp tục vặn lên, bắt làn sóng điện, cũng giống như một sinh vật chấm dứt sự sống thì Thần Thức sẽ lại nhập vào một phôi thai khác để tiếp tục một đời sống mới, do nghiệp lực chi phối, tới tận khi nào tu hành cho tới cảnh mà đức Phật mô tả khi Ngài giác ngộ là:

“Xuyên qua nhiều kiếp sống trong vòng luân hồi, Như Lai thênh thang đi, đi mãi.
Như Lai mãi đi tìm mà không gặp, Như Lai đi tìm người thợ cất cái nhà này.
Lặp đi lặp lại đời sống quả thật là phiền muộn.
Này hỡi người thợ làm nhà,
Như Lai đã tìm được ngươi.
Từ đây ngươi không còn cất nhà cho Như Lai nữa.
Tất cả sườn nhà đều gẫy,
Cây đòn dong của ngươi dựng lên cũng bị phá tan.
Như Lai đã chứng nghiệm quả Vô Sanh Bất Diệt và Như Lai đã tận diệt mọi Ái Dục”. 

Cái sườn của căn nhà tự tạo ấy là những ô nhiễm như tham, sân, si, ngã mạn, tà kiến, những hành động bất thiện, vân vân.

Cây đòn dong chịu đựng cái sườn nhà là vô minh, căn nguyên xuất phát mọi dục vọng.

Giác ngộ là phá vỡ được cây đòn dong vô minh bằng trí tuệ, là đã làm sập được căn nhà.

Nếu chưa giác ngộ mà vì một lý do nào đó, căn nhà đổ nát, có nghĩa là phần vật chất, tức cơ thể của sinh vật chết đi, Thần Thức sẽ bị cuốn hút bởi cận tử nghiệp, là chập tư tưởng cuối cùng, hội nhập nhân duyên quan hệ với cha mẹ tương lai mà đầu thai, bắt đầu một đời sống mới. Như thế, vì chịu sự chi phối của nghiệp báo, cho nên Thần Thức không thể tự do “trở về Không” được.

Muốn “sinh tử tự tại” để có thể “tùy Nguyện mà thọ sanh” như các vị bồ tát đầu thai vào cõi nhân gian để hoàn thành nguyện ước cứu độ chúng sanh, thì bản thân con người phải tu hành cho tới “Tâm tịnh tội tiêu”. Tội đây chính là những điều mình đã tạo tác trong quá khứ, chính là nghiệp báo vậy.

Đạo Phật không cho rằng “có một linh hồn trường tồn bất biến đi trong cõi u minh hoặc đầu thai từ kiếp này sang kiếp khác”, mà chỉ có cái “Thần Thức”, bị dòng nghiệp lực cuốn đi đầu thai vào cái lúc chấm dứt mỗi kiếp sống, hoặc sau khi chết một thời gian ngắn, khi nghiệp và duyên hội đủ điều kiện để đầu thai mà thôi.

Câu hỏi tiếp như sau:

– Nếu con người có linh hồn, thì Phật pháp làm sao để giải thích vấn đề cloning, lấy cell của một người để tạo nên một người mới, con người mới này có xài chung một linh hồn với người donor hay không?

Đáp:

Phật giáo không chấp nhận sự kiện “có một linh hồn trường tồn bất biến” mà mỗi sinh vật đều đươc hình thành bởi hai nguyên tố là phần tâm thức và phần thể xác. Giáo lý của nhà Phật dạy rằng các loài sinh vật có tới 4 cách sanh sản, đó là:

– Thai sanh, là sanh sản bằng bào thai, như người và một số loài vật

– Noãn sanh, là sanh sản bằng trứng, như gà, vịt, chim, … vân vân.

– Thấp sanh, là sanh sản bằng sự ẩm ướt, như các loại côn trùng, mốc … vân vân…

– Hóa sanh, như một số loài sâu, thí dụ con tằm hóa ra con nhộng, rồi hóa ra con ngài mà bay đi, vân vân…

Tất cả những loài này đều không có ai đem linh hồn phân phát cho mầm sống, mà chính là Thần Thức đã hội nhập ngay vào sinh vật để sử dụng cái cơ thể vật chất mới được hình thành. Cơ thể vật chất đó sẽ là công cụ để phần Thức sử dụng trong suốt cuộc đời, cho đến khi cái chết xảy đến, thì Thức sẽ từ bỏ cái công cụ để — nay được gọi là Thần Thức — gá vào một phôi thai nào đó vừa mới thành hình, tùy theo nghiệp lực của dòng sinh tử và nhân duyên từ quá khứ đối với cặp cha mẹ đưa đẩy.

Giáo lý nhà Phật không nói đến chuyện cloning, vì vào thời đức Phật còn tại thế thì chuyện này chưa xảy ra. Nhưng chiếu theo pháp Tứ Y mà đức Phật đã dạy, có câu “Y nghĩa, bất y ngữ”, chúng ta có thể nương theo sự hiểu biết về Phật pháp mà suy luận. Như vậy, để trả lời câu hỏi này, chúng tôi có thể thưa như sau:

– Theo quan điểm của nhà Phật thì cloning thuộc về nhóm “thấp sanh”, vì phôi thai không được hình thành qua sự gần gũi của cha mẹ như là người bình thường thuộc dạng thai sanh. Sự sống của phôi thai là nhờ ở khoa học kỹ thuật, kết hợp hài hòa những điều kiện về ấm áp và ẩm ướt, cùng với sự kích thích khiến cho phôi thai phát triển, tương tự cách sinh trưởng của các nhóm côn trùng, mốc meo, vân…vân.

Cũng như ba loại sinh khác, phôi thai do cloning này cũng có Thần Thức của một dòng sinh mạng, thí dụ từ một sinh vật mới chết, nhập vào. Kể từ giây phút đó, Thần Thức là phần tâm linh của sinh vật mới được cloning này. Tất cả mọi hành vi tạo tác sau này của sinh vật đó, về mặt tâm thức, đều không liên quan gì tới người “gốc” (donor). Không có chuyện “xài chung một linh hồn với người donor”.

Tóm lại, trên đây là vấn đề thành tố của một sinh vật, đứng trên lập trường thuần lý, chiếu theo quan điểm của nhà Phật, gồm có hai phần : “phần vật chất là thể xác và phần phi vật chất là tâm linh”. Như vậy một sinh vật do cloning cũng sẽ sinh hoạt như một người bình thường, có phần vật chất và phần tâm linh riêng biệt, như bất cứ một người bình thường nào, cũng có tâm hồn, có sự suy tư riêng biệt.

Tuy nhiên, mục tiêu của đạo Phật là diệt khổ, nên trước mỗi vấn đề, người Phật tử đều cân nhắc kỹ càng, để tránh tạo nên nỗi đau khổ cho chúng sinh. Trước mắt, chúng ta thấy một người được sanh ra từ cloning dường như không có gì khác với người thường. Nhưng vì bản thân sự kiện cloning nó đã có những sự khác thường đối với đồng loại sinh trưởng bình thường, cho nên chúng ta cần tìm hiểu thêm về vấn đề tâm sinh lý và môi trường xã hội đối với sinh vật ra đời một cách khác thường là cloning, liệu sau này có vì thế mà sinh ra điều gì đáng tiếc cho kiếp người do cloning chăng.

Trong quá trình cloning, người ta lấy một nhân tố di truyền từ một tế bào của donor đem đặt vào một trứng đã được rút nhân tố di truyền ra. Nếu là sinh sản theo thường lệ thì sự kết hợp của hai nhân tố này trong cái trứng của người đàn bà sẽ quyết định sự giống hay khác nhau về hình thể của đứa bé đối với cả cha và mẹ hoặc dòng họ của bên nội và bên ngoại, theo di truyền. Nhưng khi cloning, nhân tố di truyền của người mẹ trong cái trứng đã được lấy ra, chỉ có độc nhất một nhân tố của donor được đặt vào trong trứng, nên phôi thai chỉ tăng trưởng từ một nhân tố di truyền gốc, vì thế sau này cơ thể vật chất của nó sẽ giống y hệt người donor.

Cơ thể trông thì giống hệt, nhưng sự hình thành đã không bình thường, chúng ta cũng chưa có đủ thời gian và dữ kiện để chứng minh rằng cơ thể đó sẽ phát triển bình thường. Trong khoảng thời gian gần một trăm năm của đời người, chưa thể biết sẽ có những biến chuyển nào xẩy tới cho kẻ ra đời do cloning. Đấy là nói riêng về vấn đề cơ thể vật chất.

Về mặt tinh thần, tuy con người đó có một Thần Thức mang theo nghiệp lực gá vào cơ thể để hoạt động, thì nghiệp quá khứ là của dòng nghiệp đó. Nhưng do sự ra đời bất thường, những va chạm trong đời sống do mặc cảm về sự bất thường này có thể xảy ra, sẽ gây nên đau khổ cho người đó và nếu như vì mặc cảm quá sâu sắc, hắn có thể gây nên những nhân ác mới, như những người vốn mang mặc cảm đã gây nên nhiều tội ác trong lịch sử của nhân loại, thí dụ Hitler, …vân vân…. Từ những điều ác mới gây ra do mặc cảm vì sự ra đời bất thường, dòng nghiệp lực của hắn sẽ trở thành xấu đi. Nếu chuyện đó xảy ra thì cũng là một điều đáng tiếc.

Ngoài ra, theo nhận xét của những nhà xã hội học, trẻ em mồ côi, hoặc xuất thân từ những gia đình đổ vỡ, thường dễ nảy sinh mặc cảm cô đơn. Từ mặc cảm, các em có thể phát sinh những phản ứng tiêu cực, dù trên thực tế, mọi người chung quanh đối xử với các em rất bình thường.

Qua suy nghĩ đó, chúng ta có thể dự đoán về đời sống tinh thần của một em bé cloning trong lòng xã hội. Thí dụ có một chuyện xảy ra trong lớp học, một em bé bình thường có thể phát biểu một câu bất thường, cả lớp không thấy có gì lạ, chỉ cho là em bé đó đang có chuyện gì không vui nên phản ứng thế chăng. Nhưng nếu là một em bé cloning, thì mọi người có thể phát sinh ngay một dấu hỏi trong đầu: “Liệu có phải vì nó là đứa bé cloning nên mới sinh ra chuyện này chăng?”.

Hoặc dù cho không ai tỏ thái độ gì, nhưng chỉ tình cờ thôi, một tia nhìn lơ đãng của bạn trong lớp cũng có thể khiến cho em bé cloning vốn đã có mặc cảm, phát sinh ra những tư tưởng tiêu cực. Chuyện kỳ thị chủng tộc, mầu da, vân vân, đã xảy ra và vì thế đã bùng nổ những cuộc đấu tranh dữ dội, đó là vì nạn nhân là một đám đông. Nhưng các em bé từ cloning mà bị kỳ thị, hoặc có cảm giác bị kỳ thị, thì nỗi đau khổ và phản ứng chống đối trong cô đơn sẽ có thể là rất tệ hại và đáng thương biết mấy. Những điều này khi xảy ra sẽ thành nghiệp nhân mới tạo trong kiếp này của dòng sinh mệnh, chứ không phải là nghiệp nhân mà Thần Thức khi gá vào sinh vật cloning đã mang theo từ kiếp trước. Như thế là chúng ta đã góp phần tạo nên nỗi thống khổ cho chúng sinh.

Cloning con người là một vấn đề quá mới mẻ nên chúng ta cũng chưa biết rằng khi các em bé đó lớn lên, những vấn đề khác về cơ thể có diễn tiến bình thường như một người do thai sanh không. Nếu thí dụ qua một vài thế hệ cloning, cơ thể con người vì đã được cấu tạo một cách bất thường, có thể thiếu hoặc dư chất gì đó, mà biến đổi như những trái cây được tháp giống, tuy trông vẫn giống trái nguyên thủy, nhưng hình thể to lớn bội phần.

Côn trùng là loài thấp sinh vẫn bình thường sinh trưởng từ thời cổ đại là vì chúng “thấp sanh” một cách thiên nhiên. Cloning là thấp sanh nhân tạo, sự kiện khác nhau này có nảy sinh vấn đề gì gây nên tai hại là điều các nhà khoa học chưa thể bảo đảm một cách chắc chắn.Vấn đề hiện nay đang làm nhức nhối lương tâm của loài người là nạn nghèo khổ, thất học, thiếu ăn, thiếu nước, chiến tranh, vân vân, … và nhất là nạn nhân mãn, phá thai, tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là tại Phi Châu. Nếu thay vì nghiên cứu để sinh sản ra người do cloning, hãy dùng khả năng khoa học để nghiên cứu phương cách giải quyết những vấn nạn kể trên, khiến cho toàn thể nhân loại đều được sống một cuộc đời đáng sống, có lẽ còn là việc cấp thiết hơn nhiều.

Có một mẩu tin của đài BBC trong tháng 9 năm 2005, như sau:

“Ngồi trong trung tâm nhận đồ ăn của Mauritania, Phi Châu, em bé Mohamed Nour’s – một tuổi – có cái bụng chướng to nhưng không phải là vì chứa thức ăn và xương khớp cổ tay của em thì nhô ra coi còn lớn hơn cả cánh tay em nữa. Ấy vậy mà mẹ em vẫn quả quyết một cách hãnh diện: “Tôi vẫn cho cháu ăn uống đầy đủ, tôi ăn gì thì nó ăn nấy, mỗi ngày một lần. Mới hôm qua chúng tôi đã ăn cháo yến mạch, còn ngày hôm trước và kể cả 3 ngày hôm trước nữa thì chúng tôi ăn cháo bột mì”.

Em bé Mohamed Nour’s này cũng chưa phải là những người dân khốn khổ ở khu vực Đông Nam của Mauritania, phần đất đã lãnh nhận trận mất mùa thê thảm, giết chết hàng ngàn người ở Niger.

Suy dinh dưỡng triền miên là vấn đề lớn nhất ở những vùng như địa phương này. Nó không thuộc loại đói đến chết lăn ngay ra, nhưng nó ẩn tàng trong những bữa ăn thiếu thốn. Các cháu thiếu hầu như tất cả các loại sinh tố và khoáng chất cần thiết để một đứa trẻ có thể tăng trưởng cơ thể và tinh thần một cách bình thường. Tỷ lệ tử vong của nạn suy dinh dưỡng triền miên là cứ 1000 em thì có 109 em bị chết trong tuổi ấu niên, trong khi ở Tây Ban Nha, trong số 1000 em, chỉ có 3 em chết non. Các bà mẹ không nhìn thấy sự nguy hiểm đang rình rập các cháu bé suy dinh dưỡng, vì sự nguy hiểm cứ lùi lũi tiến đến một cách yên lặng. Dù có thấy con mình gầy rạc, nhưng nó không ốm lăn ra, thế là họ yên chí rằng chúng khỏe mạnh rồi. Nhưng thật ra thì đứa bé đang mất dần sức sống và từ từ lăn xuống huyệt mộ.

Trong một thế giới mà sự ngu dốt, nghèo khổ, đói khát còn tràn ngập, có lẽ Phật tử chúng ta cũng thấy cần dành thì giờ, tiền bạc và những bộ óc thông minh để tìm cách cải tiến về nhiều mặt khác, ngõ hầu làm giảm bớt nghèo khổ, tăng trưởng mức sống thì như thế có lẽ lại phục vụ hữu hiệu cho loài người hơn là chuyện cloning.

Nguồn: Thư Viện Hoa Sen

Mời click vào link xem video trình bày bài Cloning và Phật Giáo:

http://www.vietfreefun.com/forum/showthread.php?194553-Cloning-v%C3%A0-Ph%E1%BA%ADt-Gi%C3%A1o

.

Lưới Trời Ai Dệt ? Tiểu Luận Về Khoa Học Và Triết Học

.

Lưới Trời Ai Dệt ?

Tiểu Luận Về Khoa Học Và Triết Học

Nguyễn Tường Bách 

 


Kính thưa,

Tòan bộ cuốn sách gồm trên một trăm ngàn chữ, đã được sửa kỹ những lỗi đánh máy, mời quý vị đọc tại link dưới đây, hoặc quý vị có thể in ra bằng bản PDF :

http://khaiphong.org/showthread.php?286-L%C6%B0%E1%BB%9Bi-Tr%E1%BB%9Di-Ai-D%E1%BB%87t-Nguy%E1%BB%85n-T%C6%B0%E1%BB%9Dng-B%E1ch

Nhân đây, cũng xin tác giả Nguyễn Tường Bách hiểu và lượng thứ cho tấm lòng nhiệt thành của chúng tôi, đã mạo muội mời gọi độc giả, tuy chưa có dịp trực tiếp xin phép tác giả, cũng do chúng tôi cảm nhận được tấm lòng của tác giả khi tận tụy viết cuốn này và vì thế, chúng tôi muốn tiếp một tay phổ biến rộng ra khắp nơi.

Nguyện cầu hết thảy chúng sinh đều được giải thoát khỏi mọi nỗi thống khổ.

Kính,

Tuệ Đăng

 

Thiền Đốn Ngộ – Công Án

Quan điểm của Daisetz Suzuki về Công Án
Hà Minh Triết 

Ý kiến phản hồi bài viết của Lý Việt Dũng
http://www.giacngo.vn/tuvan/2008/03/26/56D619/

Cuốn “Essays in Zen Buddhism”của soạn giả Daisetz Teitaro Suzuki, mà dịch giả Trúc Thiên và thượng tọa Tuệ Sỹ dịch là Thiền Luận, thượng tọa Thích Nguyên Tạng dịch là “Khái luận Phật giáo Thiền”, — (hoặc nếu muốn, cũng có thể dịch là “Những bài tiểu luận về Thiền Phật giáo”) –, là bộ sách có nội dung gồm nhiều bài tiểu luận, không chỉ riêng viết về những đề tài trực tiếp liên hệ đến Thiền như thiền Công Án, thiền Chỉ Quán, mà còn đề cập đến cả những tài liệu gián tiếp liên hệ đến Thiền và Chứng Ngộ, thí dụ các kinh liễu nghĩa như kinh Lăng Già, kinh Đại Bát Nhã, kinh Hoa Nghiêm, Quán Kinh, và các tông phái như tông Hoa Nghiêm, tông Thiên Thai, tông Tịnh Độ, … vân vân….và cũng có lược qua các đề tài về các môn phái Thiền khác tại Nhật như Thiền trong Kiếm thuật, trong Võ đạo, trong Trà đạo, … vân vân….

Trong số rất nhiều đề tài khác nhau đó, nơi Thiền Luận bộ Trung, Tiểu Luận 1, Phần 1 với tên “Kinh nghiệm siêu việt tri kiến”, soạn giả Suzuki và dịch giả Tuệ Sỹ đã dùng tới trên 200 trang sách để trình bày về một phương tiện Chứng Ngộ là tu tập Công Án, trong đó soạn giả Suzuki nói rất rõ về tầm quan trọng của Nghi Tình và chủ trương không thể dùng tâm ý thức, suy tư tìm hiểu, kiến giải, để tu trong pháp môn khán Công Án, Thọai Đầu.

Đọc đến đây, có thể ai đó đã lắc đầu nhăn mặt rằng: “Thiền sao mà “luận” được, sai rồi, sai rồi”. Nếu quả có người nghĩ như thế thì tôi mong rằng chúng ta nên nhìn vào thực tế, đừng để những vướng mắc của thành kiến che mất cánh cửa Văn, Tư, Tu, vì chẳng riêng gì “Thiền” có thể “luận”, mà Đại sư Tăng Triệu còn “luận” luôn cả đến “Bát Nhã Vô Tri”, Niết Bàn Vô Danh” (Bát Nhã Vô Tri LuậnNiết Bàn Vô Danh Luận, trong bộ Triệu Luận, Đại Chánh tân tu Đại Tạng Kinh, mục số 1858, thiền sư Hám Sơn lược giải, thiền sư Thích Duy Lực dịch, Từ Ân Thiền Đường ấn hành).

Ngoài ra, bồ tát Long Thọ (Nāgārjuna) còn “luận” luôn cả đến Đại Bát Nhã (Mahā Prajñā Pāramitā), tức là “Trí Tuệ Bát-nhã Ba-la-mật”, bằng bộ “Đại Trí Độ Luận”. Đến Bát Nhã Vô Tri, Niết bàn Vô Danh, Trí Tuệ Bát Nhã, Tri Kiến Phật còn “luận” được thì chẳng nên phê phán việc soạn giả Suzuki viết “Essays in Zen Buddhism” và các dịch giả Trúc Thiên và Tuệ Sỹ đã dịch là Thiền Luận.

Tóm lại, nếu muốn giải thích cho người khác thấu triệt được vấn đề gì thì phải “luận giải”, do đó, trong Tam Tạng Kinh Điển của nhà Phật gồm “Kinh, Luật, Luận” mới có tạng thứ ba tên là Tạng Luận.

Nay xin trở về đề tài chính. Mở đầu chương “Tu Tập Công Án: Phương Tiện Chứng Ngộ”, soạn giả Suzuki nói về “Thánh Trí Tự Chứng” (Ngộ), và để giải thích thế nào là “Tự Chứng”, ông đã trích dẫn kinh Hoa Nghiêm:

“Thiện Tài Đồng Tử hỏi: Môn giải thoát này làm sao để hiện tiền? Làm sao để chứng đắc?

“Diệu Nguyệt trưởng giả đáp: Một người thân chứng hiện tiền môn giải thoát này khi nào người ấy phát khởi tâm Bát nhã Ba La mật (Prajna-paramita) và cực kỳ tương thuận; rồi thì người ấy được chứng nhập trong tất cả những gì mà mình thấy và thấu hiểu.

“Thiện Tài Đồng Tử lại thưa: Có phải do nghe những ngôn thuyết và chương cú về Bát-nhã Ba-la-mật mà được hiện chứng?”

“Diệu Nguyệt đáp: Không phải. Tại sao thế? Bởi vì Bát-nhã Ba-la-mật thấy suốt thể tánh chân thật của các pháp mà hiện chứng vậy.

“Thiện Tài thưa: Há không phải do nghe mà có tư duy và do tư duy và biện luận mà được thấy Chân Như là gì? và há đây không phải là tự chứng ngộ?

“Diệu Nguyệt đáp: Không phải vậy. Không hề do nghe và tư duy mà được tự chứng ngộ. Này Thiện nam tử, đối với nghĩa này ta phải lấy một thí dụ, ngươi hãy lắng nghe!

“Thí dụ như trong một sa mạc mênh mông không có suối và giếng, vào mùa xuân hay mùa hạ khi trời nóng, có một người khách từ Tây hướng về Đông mà đi, gặp một gã đàn ông từ phương Đông đến, liền hỏi gã rằng: “Tôi nay nóng và khát nước ghê gớm lắm; xin chỉ cho tôi nơi nào có suối trong và bóng cây mát mẻ để tôi có thể uống nước, tắm mát, nghỉ ngơi và hoàn toàn tươi tỉnh lại?”

“Gã đàn ông ấy theo lời yêu cầu, liền chỉ dẫn cặn kẽ cho người khách rằng: “Cứ tiếp tục đi về hướng Đông, rồi sẽ có con đường chia làm hai nẻo, nẻo phải và nẻo trái. Bạn nên hãy theo nẻo bên phải và gắng sức mà đi tới chắc chắc bạn sẽ đến một nơi có suối trong và bóng mát.

“Này thiện nam tử, bây giờ ngươi có nghĩ rằng người khách nóng khát, từ Tây đến, khi nghe nói đến suối mát và những bóng cây, liền tư duy về việc đi tới đó càng nhanh càng tốt, người ấy có thể trừ được cơn khát và được mát mẻ chăng?”

“Thiện Tài đáp: “Dạ không; người ấy không thể làm thế được; bởi vì người ấy chỉ trừ được cơn nóng khát và được mát mẻ khi nào theo lời chỉ dẫn của kẻ kia mà đi ngay đến dòng suối rồi uống và tắm ở đó.

“Diệu Nguyệt: “Này thiện nam tử, đối với Bồ tát cũng vậy không phải chỉ do nghe, tư duy và huệ giải mà có thể chứng nhập hết thảy pháp môn. Này thiện nam tử, sa mạc là chỉ cho sinh tử; người khách đi từ Tây chỉ cho các loài hữu tình; nóng bức là tất cả những sự tướng mê hoặc; khát tức là tham và ái; gã đàn ông từ Đông đến và biết rõ đường lối là Phật hay Bồ tát đã an trụ trong nhất thiết trí, các ngài đã thâm nhập Chân Tánh của các pháp và Thật Nghĩa bình đẳng; “giải trừ khát cháy và thoát khỏi nóng bức nhờ uống dòng suối mát” là chỉ cho sự Chứng Ngộ Chân Lý bởi chính mình vậy.”

(Thiền Luận bộ Trung, trang 22)

Để nhấn mạnh và làm sáng tỏ sự Chứng Ngộ vốn không liên quan đến ngôn ngữ, văn tự, ông Suzuki tiếp:

…”…Từ trích dẫn này chúng ta có thể nhận thấy rõ ràng môn giải thoát Bát- nhã ba-la-mật phải được chứng ngộ bằng kinh nghiệm cá biệt của mình; còn như chỉ có nghe và học hỏi thôi thì chúng ta không cách gì thâm nhập vào giữa lòng chân tánh của thực tại. Người ta có thể hỏi, tại sao không thể vươn tới chân lý tự chứng bằng tri kiến? Câu hỏi này được trả lời ở một đoạn khác trong kinh Hoa nghiêm.

“Chân lý tự chứng (bản thân của Thực Tại) thì không phải một, không phải hai (bất nhị). Do năng lực tự chứng này mà (Thực Tại) là khả năng làm ích lợi bình đẳng cho tất cả kẻ khác cũng như cho chính mình; hoàn toàn không thiên lệch với ý tưởng đây kia, giống như mọi vật đều sinh trưởng từ lòng đất. Chính Thực Tại hay Pháp Tánh, không phải hữu tướng, cũng không phải vô tướng; thể của nó như hư không, vượt ngoài tri kiến và liễu giải; pháp ấy vi diệu, khó lấy văn tự mà diễn nói.

“Tại sao thế? Bởi vì nó siêu việt hết thảy cảnh giới của văn tự; siêu việt hết thảy cảnh giới của ngôn thuyết; siêu việt hết thảy các cảnh giới ngữ nghiệp vận hành; siêu việt hết thảy các cảnh giới của hí luận, phân biệt tư lương; siêu việt hết thảy các cảnh giới của tầm tư và tính toán, siêu việt cảnh giới sở tư của tất cả chúng sinh ngu muội; siêu việt cảnh giới của hết thảy phiền não tương ưng ma sự; siêu việt hết thảy cảnh giới của tâm thức…”…

(Trang 24, sđd)

Với quan niệm phải bác bỏ tri kiến trong sách vở khi tham thiền, soạn giả Suzuki viết:

“Bài thuyết pháp sau đây của Hoàng Long Tử Tâm Ngộ Tân Thiền sư (1044-1145) cho thấy không gì diễn ra trong lòng của một kẻ học Thiền chân thật :

“Này chư Thượng tọa, thân người khó được, Phật pháp khó nghe. Thân này không nhắm đời nay độ, còn đợi đời nào độ thân này? Nay còn sống đó, các ngài hãy tham thiền đi, tham thiền là để buông bỏ. Buông bỏ cái gì? Buông bỏ tứ đại, ngũ uẩn, buông bỏ bao nhiêu nghiệp thức từ vô lượng kiếp đến nay; hãy nhìn xuống dưới gót chân của mình mà suy xét cho thấu đáo để thấy đạo lý ấy là gì? Suy tới suy lui hốt nhiên tâm hoa bừng nở, chiếu khắp mười phương. Sự chứng ngộ thì không thể trao truyền, dù chính các ngài biết rõ nó là cái gì ?

“Đây là lúc các ngài có thể biến đất lớn thành vàng ròng, quậy sông dài thành biển sữa. Há không sướng khoái bình sinh sao! Vậy thì đừng phí thì giờ niệm ngôn niệm ngữ mà hỏi đạo hỏi thiền nơi sách vở; bởi vì đạo thiền không ở nơi sách vở. Dù cho thuộc lòng một bộ Đại tạng cũng như Bách gia chư tử, chẳng qua là những lời rỗi rãi, khi chết chẳng dùng được gì”.

(Trang 28, sđd)

Để sáng tỏ quan điểm về bác bỏ mọi sự tìm tòi trên bình diện tri kiến, ngưng lại thói quen ”tâm viên ý mã”, ông Suzuki nhấn mạnh:

“Kẻ thù tai hại nhất của kinh nghiệm Thiền là trí năng với bản chất và tác dụng là phân biệt chủ khách. Do đó người ta phải cắt bỏ bớt trí năng phân biệt nếu muốn khai triển ý thức Thiền, và công án được nêu cao để thực hiện mục đích này.

Khi khảo sát chúng ta nhận thấy ngay rằng giải thích của trí năng không có tác dụng gì hết trong công án. Lưỡi dao trí năng không đủ sắc bén để chẻ đôi công án hầu nhìn thấy nội dung của nó, bởi vì một công án không phải là một mệnh đề luận lý mà là sự diễn đạt của một tâm trạng nào đó kết quả từ pháp môn Thiền. Chẳng hạn, có quan hệ luận lý nào giữa “Phật” và “ba cân gai”? hay giữa “Phật tính” và “vô” hay giữa “mật chỉ của Bồ-đề-đạt-ma” và “cây bách”?

Trong một tác phẩm Thiền mang danh là Bích Nham Lục, Viên Ngộ đưa ra nhưng ghi nhận sau đây về “ba cân gai” đồng thời cho thấy công án được giải thích ra sao bởi các môn đệ « tà Thiền » không đủ sức nắm vững Thiền.

“Có một số người thời bấy giờ không lãnh hội chân chính công án này; đấy là vì không có kẽ hở nào cho trí năng của họ cắn răng. Bởi vậy ta nói nó rất ư nhạt nhẽo vô vị. Cổ nhân đã có nhiều câu trả lời cho câu hỏi: “Phật là gì?”. Vị thì nói: “Ngài ngồi trong Phật điện”. Vị thì bảo: “Một người có 32 tướng tốt”. Vị khác: “Cây roi bằng rễ tre”. Nhưng, không ai hay hơn Động Sơn: “Ba cân gai”; bất chấp cái phi lý của nó; cắt đứt mọi đường lối biện bác.

(Trang 136 sđd)

Câu trích sau đây càng cho thấy Suzuki quyết liệt bác bỏ sự vận hành của trí năng trong Công Án:

“Đứng về mặt thủ pháp, công án được nêu ra cho kẻ sơ cơ là để “hủy hoại gốc rễ của sự sống”, “giết chết đầu óc so đo đốn ngã tâm trí hiện hành tử vô thủy”, v.v… Sự diễn tả như vậy có thể dồn người ta vào tử lộ, nhưng đích ý là vượt lên những giới hạn của trí năng, và chỉ có thể vượt qua những giới hạn này khi nào người ta dốc hết toàn lực, tận dụng những năng lực tâm thần vốn có…”…

(Trang 137 sđd)

Trong tiểu mục “Những chỉ thị thực tiễn đối với tu tập công án”, soạn giả Suzuki viết:

”Một Thiền sư trên núi Hoàng Bá, khoảng đầu nhà Tống, chỉ thị về lối học Thiền như sau:

“Này chư huynh đệ! Có thể chư vị thích nói về Thiền, về Đạo chửi Phật, chửi Tổ nhưng đến khi tính lại, các thứ Thiền đầu môi chót lưỡi của chư vị nào có ích chi. Như thế chỉ làm mờ mắt kẻ khác, nhưng nay chư vị sẽ thấy rằng mình tự làm mờ mắt mình. Này chư huynh đệ! Lúc thân thể còn khang kiện hãy cố mà hiểu biết chân chính Thiền là gì. Quả tình, cái ổ khóa đó chẳng phải khó mở xoay vào cho lắm, mà chỉ vì chư vị không quyết lòng sống chết với công phu; rồi khi không biết làm sao để chứng, chư vị lại bảo “Khó lắm, khó lắm, sức ta không làm nổi”. Thật là vô lý! Nếu chư vị quả thật là những kẻ trượng phu, chư vị sẽ thấy ra ý nghĩa công án của mình. Một thầy Tăng hỏi Triệu Châu: con chó có Phật tính không?” Châu đáp “Vô”. Rồi, bây giờ chư vị hãy chuyên tâm vào chữ VÔ này cả ngày lẫn đêm; dù đi, đứng hay nằm, ngồi suốt trong mười hai thời; dù cả khi mặc áo, ăn cơm, đại tiện, tiểu tiện, hãy chú tâm nhất định nơi công án. Hãy tận lực ghi nhớ nó mãi trong lòng. Ngày qua tháng lại, cho tới khi tâm của chư vị được nhồi lại thành một khối, thì hoa lòng bỗng nhiên bừng nở – tỏ ngộ cái tâm cơ của Phật và Tổ. Bấy giờ, kể từ nay, khắp trong thiên hạ chẳng còn một lão Thiền sư nào mà mắt chư vị được nữa”

Nhấn mạnh điều sai lầm khi dùng tâm Ý thức nghiên cứu suy tư, một hình thức ”giải công án”, soạn giả Suzuki viết:

”Trong trích dẫn sau đây rút ra từ cuốn Đại Huệ Phổ Thuyết gồm các bài pháp của thiền sư Đại Huệ, ngài còn nêu lên một công án khác cho vị tăng thị giả của mình là Tịnh Quang:

“Pháp không do kiến văn giác tri mà thấu rõ (ngộ). Nếu pháp kiến văn giác tri mà thấu rõ, đấy chỉ là kiến văn giác tri mà thôi; hoàn toàn không phải là pháp. Bởi vì pháp không ở nơi những cái mà người ta nghe từ kẻ khác hay học tập bằng thế trí. Bây giờ, người hãy bỏ đi những gì thấy, nghe và suy nghĩ, mà thấy nhưng gì trong chính ngươi. Chỉ có chân không, vô vật, không thể bắt nắm được, không thể nghĩ tưởng đến được. Tại sao? Bởi vì đó là nơi siêu việt giác quan. Nếu giác quan mà với tới nơi này được, thì đó là cái có thể nghĩ tưởng, có thể bám víu; và như vậy, nó nằm trong vòng sống chết.

“Điều cốt yếu là khép chặt các giác quan, và biến tâm thức thành như một khúc cây. Khi khúc cây này đột nhiên trỗi dậy và khua vang, ấy là ngươi như sư tử cất tiếng rống tự do, tự tại, không ai quấy phá, hay như một con voi vượt qua sông chẳng e dè dòng nước chảy xiết. Đấy là lúc không còn dao động, không còn tạo tác…..”….

(Trang 142 sđd)

Soạn giả Suzuki ca ngợi:

”Đại Huệ không mệt mỏi nhắc nhở môn đệ của mình sự quan trọng của chứng ngộ siêu việt ngôn ngữ biện biệt, vượt ngoài giới hạn của tâm hành…” …

”Nơi khác, Đại Huệ nói: “Hãy kiên trì công án trong suốt cả bình sinh. Nếu một niệm khởi lên, đừng cố ý dẹp xuống, mà cứ cố giữ công án hiện tiền với tâm. Dù khi đi khi đứng hay nằm ngồi, chú tâm không gián đoạn. Đến khi bắt đầu thấy nó không còn hương vị gì hết, ấy là lúc thời cơ quyết định đang đến; đừng để nó vuột mất. Đến khi một vật đột nhiên chớp lên trong tâm ngươi, ánh sáng của nó sẽ sáng rực cả vũ trụ, và ngươi sẽ thấy rằng quốc độ của chư Phật hoàn toàn hiện lên trên đầu một sợi tóc, và bánh xe Chánh pháp vĩ đại đang quay trong một hạt bụi…”…

(Trang 146 sđd)

Ông Suzuki cũng dẫn chứng lời thiền sư Không Cốc Long khuyên các sư tăng:

“Cái vô của Triệu Châu, trước khi các thầy thấu triệt nó, thì nó như một hòn núi bạc hay như một bức tường sắt (đứng chắn lối của các thầy). Nhưng khi các thầy tiến tới với cái vô ngày qua ngày, cố bước vào trong lòng của nó, đừng để một khoảnh khắc dừng nghỉ, thời cơ tối thượng nhất định sẽ đến, như một cơn lụt tràn ngập; và rồi các thầy sẽ thấy rằng bức tường sắt hay hòn núi bạc chẳng chút gì đáng sợ. Điều quan trọng là đừng tin gì ở cái học, cái hiểu, mà hãy để hết tâm trí vào việc giải quyết vấn đề sanh tử.

Đừng phí thì giờ ngồi suy nghĩ về cái “vô”, hãy như một tên si ngốc không khác, đừng cố giải quyết sai lầm bằng tư duy biện biệt. Hãy kiên quyết để hết tâm chí mà thấu cái vô. Rồi đột nhiên, khi các người buông tay xuống, toàn thể tâm thức hoàn toàn đảo ngược và kể từ đây các người nhận thấy vô cùng minh bạch nơi chốn tận cùng của nó …”…

(Trang 147 sđd)

Ông kết thúc bằng bài pháp của thiền sư Bạch Ẩn với lời lẽ như sau:

“Tôi kết luận vắn tắt chương này với một đoạn trích từ tác phẩm của Bạch Ẩn Huệ Hạc, cha đẻ của phái Thiền Lâm Tế Nhật Bản ngày nay. Trong trích dẫn này chúng ta sẽ thấy tâm lý của Thiền tiến hành ra sao vốn chẳng có thay đổi nhiều qua hơn một nghìn năm, từ thời Huệ Năng và các môn đệ Trung Hoa của ngài:

“Nếu các ngươi muốn đạt được đạo lý thanh tịnh của vô ngã, thì hãy cứ một lần buông tay rơi trên vực thẳm, rồi các ngươi sẽ bừng tỉnh trỗi dậy trở lại và thành tựu bốn đức thường, lạc, ngã, tịnh. Thế nào là buông tay xuống vực thẳm? Giả sử có người dạo bước giữa những hòn núi xa xôi, nơi chưa từng có ai lưu lạc đến. Người ấy đến bên bờ một vực thẳm không đáy, đá lởm chởm, rong rêu phủ kín, vô cùng trơn tuột, không biết đặt chân đâu cho vững; y không thể đi tới, không thể bước lui, cái chết đối diện. Nguồn hy vọng độc nhất là giữ lấy sợi dây sẵn trong tay; sinh mệnh của y gởi vào sợi dây này. Nếu y bất cẩn buông tay, thân thể y sẽ lao thẳng xuống vực, xương thịt sẽ tan ra từng mảnh.

“Người học Thiền cũng vậy. Khi y bám chặt công án trong tay, rồi y sẽ thấy rằng mình đã bước tới cực độ khẩn trương của tinh thần và đang ở trong bước đường cùng. Như một người bị treo lơ lửng trên vực thẳm, chẳng còn biết phải làm gì. Trừ những cảm giác bồn chồn bất an, từng lúc và từng lúc, y giống như một người đã chết. Đột nhiên y thấy thân và tâm của mình bị quét ra khỏi cuộc sống cùng lúc với công án. Đấy gọi là “buông tay”; khi các ngươi tỉnh khỏi cơn si ngốc và lấy lại hơi thở, giống khi uống nước chỉ mình biết là lạnh. Đó là một niềm vui khôn tả”.

(Trang 152 sđd)

Về tầm quan trọng của Nghi Tình trong phương pháp tu khán Công Án, Thoại Đầu, soạn giả Suzuki viết:

– Hãy nhận xét những câu nói của thiền sư Đại Huệ trong Đại Huệ Phổ Thuyết như:

…“… Nhặt ra cái điểm suốt đời nghi ngờ và đặt nó ngay trước mặt”. Đó là Thánh hay phàm? Hữu hay vô? Hãy đẩy câu hỏi đó đến cùng. Đừng sợ rơi vào cái không: hãy tìm xem cái gì nuôi dưỡng nỗi sợ hãi này. Đó là cái không, hay không phải?” …

“Đại Huệ không bao giờ khuyên chúng ta chỉ việc đề khởi công án hiện tiền; trái lại, ngài bảo chúng ta hãy đặt nó vào ngay trong tâm bằng tất cả sức mạnh của nghi tình. Một khi công án được chỉ trì bởi một tinh thần như thế, ngài nói, nó “giống như một ngọn lửa cháy lớn đốt cháy tất cả những con sâu hí luận đang xăm tới.” Nếu không có sự phấn khích nghi tình mang màu sắc triết lý này, chẳng công án nào có thể đứng vững trước tâm thức. Vì vậy, lời nói thông thường của các Thiền sư là cho rằng: “Trong sự tham thiền, điều trọng yếu nhất là giữ vững nghi tình; nghi tình càng mạnh, ngộ càng lớn, quả thực, chẳng bao giờ có ngộ mà không có nghi, vậy, hãy bắt đầu bằng cách dọ hỏi vào ý nghĩa của công án”.

(Trang 182 sđd)

Về từ ngữ “nghi tình”, nơi Thiền Luận bộ Thượng, trang 413, dịch giả Trúc Thiên đã định nghĩa như sau:

“Đại nghi, hoặc nghi tình, nghi niệm, nghi đoàn đây không liên hệ gì đến cái doute philosophique của Descartes. Thiền tông đặt nghi tình làm một trong ba điều kiện thiết yếu để tham công án, đó là đại ý chí, đại tin tâm, đại nghi tình. Nghi tình là nguồn kích động lực thúc đẩy hành giả từng giây từng phút nhảy sấn vào hư vô, dầu đó là địa ngục cũng mặc. Nên thiền sư Huệ Khai, trong Vô môn quan, nói: “Hãy đem hết ba ngàn sáu trăm khớp xương, tám vạn bốn ngàn lỗ chân lông đúc thành khối nghi tình công phá vào chữ “Vô” ấy của Triệu Châu. Ngươi hãy như người nuốt phải viên sắt nóng, trạo trực ói tới ói lui vẫn không mửa ra được, có thế mới gội sạch hết kiến thức chồng chất bấy lâu. để rồi nổ bùng lên như trời long đất lở. Chừng như ngươi vừa đoạt được cây đao thanh long của Quan Công cầm tay qua ải gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ, được tự tại ngay tại đầu bờ sanh tử, dạo nỗi vui du hí qua sáu nẻo luân hồi, bốn đường sanh hóa”.

Để nhấn mạnh thêm tầm tối quan trọng của “Nghi Tình” trong Công Án, ông Suzuki dẫn chứng một loạt những lời khai thị của các thiền sư danh tiếng:

“Theo Cao Phong Nguyên Diệu (1238-1295) chúng ta được biết như vầy :

“Công án tôi thường đặt cho các môn nhân là: “Vạn pháp quy Nhất, Nhất quy hà xứ?” Tôi khuyên họ hãy tham cứu câu này.

Tham cứu câu ấy tức là đánh thức một mối nghi tình lớn đối với ý nghĩa cứu cánh của công án. Vạn pháp thiên sai vạn biệt được quy về Một, nhưng rồi Một trở về đâu? Tôi bảo họ, hãy đem hết sức mạnh bình sinh mà đeo mối nghi tình này, đừng lúc nào xao lãng. Dầu đi, đứng, nằm, ngồi hay làm các công việc, đừng để thời giờ luống trôi qua. Rồi ra cái Một trở về đâu?

Hãy cố mà tìm một câu trả lời chính xác cho câu hỏi này. Đừng buông trôi mình trong cái vô sự; đừng luyện tập tưởng tượng phiêu du, mà hãy cố thực hiện cho được cái trạng thái toàn nhất viên mãn bằng cách đẩy nghi tình lướt tới, bền bỉ và không hở. Rồi các ngươi sẽ thấy mình như một kẻ bịnh ngặt, chẳng còn muốn ăn uống gì nữa. Lại như một thằng khờ, không hiểu cái gì ra cái gì hết. Khi công phu đến đây, giờ là lúc tâm hoa của các người bừng nở.

Cổ Âm Tịnh Cầm thiền sư, khoảng cuối thế kỷ XV, nói về sự tu tập công án như vầy:

“Công phu có thể được thực hành tốt đẹp nhất là ở nơi không có tiếng động và tạp loạn: hãy dứt bỏ tất cả nhưng điều kiện quấy nhiễu, hãy dừng lại suy tư và nghĩ tưởng, để hết tâm trí vào việc tiến hành công án, đừng bao giờ buông thả nó ra khỏi trung tâm của thức, dù khi đi đứng hay nằm ngồi vẫn vậy. Đừng bao giờ quan tâm đến việc mình đang ở trong cảnh ngộ nào, dù khi xứng lòng hay trái ý, mà luôn luôn hãy cố giữ lấy công án trong lòng, phản quan tự chiếu, và tự hỏi ai là kẻ đang theo đuổi công án chẳng biết mệt thế, và tự hỏi như vậy không ngớt.

“Cứ tiến hành như thế, hết sức là hăng hái, nghi chính kẻ đang nghi, chắc chắn sẽ đến lúc không còn nghi vào đâu được nữa, tuồng như các ngươi đã đi đến chính tận nguồn của dòng suối và thấy mình đang bị những ngọn núi vây hãm chung quanh. Đây là lúc gốc cây cùng với sắn bìm chằng chịt gãy đổ, tức là khi sự phân biệt chủ khách hoàn toàn bị xáo trộn, khi kẻ bị nghi và cái bị nghi hòa hợp thành một khối duy nhất. Một khi thức tỉnh tự sự hợp nhất này, cái ngộ lớn hiện đến, mang sự thanh bình cho nghi tình và tham cứu của các ngươi”.

Thiên kỳ Thụy hòa thượng thị chúng:

“Hãy gột sạch khỏi tâm tất cả khôn ngoan lừa lọc, dứt mình ra khỏi tham sân do chấp ngã, và đừng để những mối nghĩ phân hai quấy phá, để cho tâm thức được lau chùi sạch sẽ. Khi đã thanh lọc được như vậy rồi, hãy đề khởi công án trước tâm: “Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ?”

“Hãy nghiền ngẫm vấn đề này từ thủy chí chung hoặc bằng nhiều nghi vấn, hoặc đơn độc một suy nghĩ, hoặc chỉ nghiền ngẫm cái Một ở nơi đâu. Bất cứ bằng cách nào cứ để cho hết thảy đầu mối của các câu hỏi ghi đậm trên ý thức của các ngươi khiến cho nó trở thành cái độc nhất, là cái đích chú tâm. Nếu các ngươi để phân biệt lý luật xen vào chuỗi dây liên tục bền bỉ của những nghi tình, kết quả sẽ làm sụp đổ hết cả công trình tu tập.

“Một khi các người chẳng được công án trước tâm, chẳng có cơ duyên nào để chứng ngộ hết. Muốn chứng ngộ mà không có công án, chẳng khác nào nấu cát mà mong thành cơm.

“Cái cốt yếu bậc nhất là khơi dậy cái đại nghi và gắng thấy rằng rồi cái Một quy về đâu. Lúc nghi tình được giữ linh hoạt liên tục khiến cho những giải đãi, hôn trầm, tán loạn không còn cơ hội móng khởi; không cần tìm kiếm ráo riết, rồi thời cơ cũng sẽ đến, đây là lúc tâm hoàn toàn nhập định. Thế là dù đi hay đứng, nằm hay ngồi mà không phải để ý hẳn vào những việc đang làm ấy, cũng không hay biết mình đang ở đâu, Đông hay Tây, Nam hay Bắc; quên luôn cả lục tình; ngày đêm như nhau cả. Nhưng đây chỉ mới nửa đường của ngộ, nhất định chưa phải ngộ hoàn toàn. Các người cần phải nỗ lực kỳ cùng và quyết liệt để xuyên qua đây, một trạng thái siêu thoát nơi đó hư không sẽ bị đập vỡ thành từng mảnh và vạn hữu đều được quy về cái bình đẳng toàn diện. Đấy lại như mặt trời ló dạng khỏi mây mù, thì các pháp thế gian hay xuất thế gian đều hiện ra rõ rệt”.

Sở Sơn Thiệu Kỳ Thiền Sư:

“Người sơ cơ cần nhất là phải có một vật để mà nắm vào Thiền; và vì thế họ được dạy cho pháp môn niệm Phật. Phật tức Tâm. Tâm tức Phật. Tâm và Phật từ đâu mà có? Có từ tâm. Tâm ấy không phải là tâm, không phải Phật, không phải vật. Vậy, là cái gì?

“Muốn thấy ra, hãy vứt bỏ đi tất cả những chữ đã tích chứa do học tập, tri thức, kiến giải; hãy chỉ hoàn toàn chuyên chú vào một câu hỏi: “Ai đang niệm Phật?” Hãy để cho nghi tình này nghi đến cực độ; đừng say sưa theo những nghĩ tưởng mê lầm; đừng để cho những ý tưởng phân biệt cùng khởi lên. Một khi công phu bền bỉ, liên tục không gián đoạn, thì Thiền định của các người tất nhiên sẽ được thuần thục, và nghi tình của các ngươi nhất định bùng vỡ dữ dội. Rồi các ngươi sẽ thấy rằng Niết bàn (Nirvana) và sinh tử, cõi tịnh độ và cõi uế trược, chỉ là hí luận, và ngay từ đầu chẳng cần gì giải thích hay bình chú, và thêm nữa, Tâm không thuộc cảnh giới tâm ý thức, do đó là BẤT KHẢ ĐẮC.”

(Trang 186, sđd)

Soạn giả Suzuki giải thích thêm:

“Sự phát khởi của lối thực tập công án hoàn toàn là một sự tăng trưởng tự nhiên trong lịch sử của Thiền. Muốn thế, nhiệm vụ của một công án đầu phải là cốt tạo ra, gần như giả trang, cùng một trạng thái ý thức như đã được kinh nghiệm bởi các Thiền sư xưa một cách ngẫu nhiên. Đấy là phương tiện đẩy nghi tình vào một điểm tập trung hay “đại nghi”. Nơi công án, không có đầu mối hợp lý để tựa vào bằng trí năng và biện luận…

(Trang 194, sđd)

Một trong những bức thơ, đề cập đến các phước báo của phép Niệm Phật và công án, Bạch Ẩn viết:

“Trong việc học (Thiền), cái hệ trọng nhất là cường độ mãnh liệt của nghi tâm. Vì vậy, người ta nói Nghi mạnh thì Ngộ lớn, và có một nghi tâm khá mạnh thì chắc chắn được ngộ lớn. Lại nữa theo Phật Quốc thiền sư, lỗi lầm lớn nhất (với thiền giả) là thiếu một nghi tâm đặt trên công án. Khi nghi tâm của họ lên đến điểm ngưng chú cao chót thì có cơ bùng vỡ. Giả sử có một trăm, và cả đến một nghìn thiền giả như thế, ta đoan chắc mỗi người sẽ đi tới chỗ cứu cánh. Khi thời cơ của đại nghi xuất hiện, họ cảm thấy mình như đang ở giữa hư không, mở rộng cả bốn phương và trải rộng đến vô cùng; họ không biết mình sống hay chết; họ cảm thấy trong suốt lạ thường và dứt khỏi mọi uế trước, tựa hồ đang ở trong một cái bồn pha lê, hay hãm mình trong một khối băng cứng mênh mông; lại y như một người mất hết cảm giác; ngồi thì quên đứng, mà đi thì quên ngồi.

“Không một tư tưởng, không một xúc cảm nào móng khởi trong tâm, cái tâm giờ đây hoàn toàn độc nhất chuyên vào công án mà thôi. Lúc bấy giờ, đừng sợ hãi, đừng phân biệt cứ thẳng đường mà tiến tới công án, rồi đột nhiên họ nghiệm thấy như có một sự bùng nổ, tựa hồ cái chậu băng giá vỡ tan từng mảnh, tựa hồ một cái lầu ngọc bị lung lay, và hiện tượng này được kèm theo một cảm giác hoan lạc bao la chưa từng kinh nghiệm trong suốt bình sinh…

Vì vậy, các ngươi nên đặt nghi vấn vào công án VÔ và nhìn xem có ý gì trong đó. Nếu nghi tâm của các ngươi không hề bị xao lãng, luôn luôn chăm chú trên chữ VÔ, dứt hết mọi ý niệm, xúc cảm và tưởng tượng, chắc chắn các ngươi sẽ đạt đến chỗ hoàn toàn ngưng chú… Đấy tất cả là do sự hiện diện của nghi tâm trong các ngươi; vì nếu không có nghi tâm thì không đi tới chỗ cao tột này và ta đoan chắc với các ngươi, nghi tâm là đôi cánh mang các ngươi đi đến cùng đích.”

(Trang 198, sđd)

Kết thúc phần nói về tầm tối quan trọng của “Nghi Tình” trong khán Công Án, Thoại Đầu, tác giả Suzuki viết:

“Trong một tác phẩm tựa đề “Bác Sơn tham thiền cánh ngữ”, những lời cảnh tỉnh về tham Thiền của Bác Sơn; tác phẩm thuộc triều Minh, vấn đề nghi tình được thảo luận rất kỹ, lược nêu như sau: “Trong công phu chứng Thiền, điều cần thiết là nuôi dưỡng một khát vọng mãnh liệt muốn hủy diệt cái tâm còn trong vòng sống chết. Khi khát vọng này được khơi dậy, hành giả nghe ra tuồng như mình đang bị một ngọn lửa hừng hực vây phủ. Y muốn trốn chạy nó nhưng không thể được, đứng im ra đấy không thể được, suy nghĩ vớ vẩn không thể được, mong chờ tha lực cũng không thể được. Để khỏi mất thì giờ, y phải vận hết sức bình sinh mà nhảy xổ ra, không e dè gì đến hậu quả.

Một khi khát vọng ấy được nuôi dưỡng, phải khơi dậy nghi tình và giữ vững nó trong lòng, cho đến phút chót khi đi tới một giải đáp. Mối nghi này nhắm từ chỗ “sinh từ đâu đến, chết đi về đâu” và luôn luôn được nuôi dương bởi khát vọng muốn vượt lên trên sống chết. Cái đó khó lắm, trừ phi nghi tình được thuần thục và tự bùng vỡ thành một trạng thái chứng ngộ.

Phương pháp làm thuần thục cốt ở chỗ : 

1 Không bận lòng đến những pháp thế tục.
2. Không đắm mình trong trạng thái tịch mặc.
3. Không dao động bởi vạn vật.
4. Luôn luôn tự cảnh tỉnh, như mèo rình chuột.
5. Tập trung tâm lực vào công án.
6. Không cố gắng giải quyết công án bằng trí năng trong khi chẳng có trình tự luận lý nào trong đó.
7. Không có mổ xẻ nó.
8. Không coi nó là một trạng thái vô hành.
9. Không coi trạng thái sáng tỏ tạm thời là cứu cánh.
10. Không đọc công án y như tuồng niệm Phật hay tụng chú (dharani).
Khi những chỉ dẫn này được thi hành nghiêm chỉnh, hành giả chắc chắn đưa nghi tâm đến chỗ thuần thục. Nếu không, không những không khơi dậy nổi nghi tình, hành giả còn dấn bước vào những chốn lầm lạc và sẽ không bao giờ có thể vượt khỏi sự ràng buộc của sống chết, nghĩa là không chứng được đạo Thiền”…

(Trang 200, sđd)

Sau khi lược sơ 200 trang của chương “Tu Tập Công Án: Phương Tiện Chứng Ngộ”, qua những trích dẫn kể trên, có lẽ chúng ta đã thấy rõ rằng:

1 – Tác giả Suzuki chủ trương “không thể dùng tâm ‎ý‎ thức, suy tư tìm hiểu, kiến giải, để khán Công Án, Thọai Đầu”.

2 – Đề lên rất cao tầm quan trọng của “nghi tình” trong khán Công Án.

3 – Ông không dạy “giải công án”. Suốt 200 trang trình bày về “Tu Tập Công Án: Phương Tiện Chứng Ngộ”, tác giả Suzuki không hề chủ trương “giải công án”. Không những thế, ông còn chống lại sự giải thích công án qua những dòng như: “…kẻ thù tai hại nhất của kinh nghiệm Thiền là trí năng, và … giải thích của trí năng không có tác dụng gì hết trong công án…”…

Như thế, nếu có ai “cho là” một cách sai lầm rằng soạn giả Suzuki dạy “giải công án”, có lẽ là do người đó chưa hề “đọc” Thiền Luận của ông Suzuki, mà chỉ đoán mò rằng vì ông Suzuki là người Nhật, nên dạy “giải công án”!

Ở Nhật có trường thiền dạy giải công án, cho là giải được càng nhiều, càng tốt. Nhưng soạn giả Suzuki không hề “dạy” ai “giải công án” trong Thiền Luận, không những thế trong những dẫn chứng, chúng ta đã thấy tác giả bác bỏ việc giải công án một cách kịch liệt.

Tóm lại, có một số thiền sư dạy giải công án tại Nhật, nhưng không có nghĩa là tất cả các thiền sư Nhật đều dạy giải công án. Chúng ta có thể kiểm chứng điều này tại tu viện Shasta, là một chi nhánh của Soto Zen bên Nhật. Thiền viện tọa lạc trên núi Shasta, tiểu bang California. Đạo hữu Danny Việt (có một số bài đăng trong Thư viện Hoa Sen) đã từng tới đó tu học, viết rằng “không hề có chuyện “giải công án”. Ở đó thiền sinh theo phương pháp của thiền sư Đạo Nguyên truyền lại là “Chỉ Quán Đả Tọa” (Shikantaza meditation). Phương pháp này không “khán” hoặc “giải công án” gì cả”.

Thành kiến cũng tức là biên kiến, là ác kiến, là tai họa trong tu thiền vì nó “chấp chặt” vào một quan điểm nào đó, không cần biết là đúng hay sai, — trong khi tu Thiền thì lại chủ trương “phá chấp” triệt để. Thành kiến về một điều gì đó, không tự mình tìm hiểu đúng sai, tức là tự mình đã bịt mất một con mắt tìm chân lý, uổng phí lời đức Phật dạy trong bài kinh Kalama, không thấy được ánh sáng của Sự Thật.

Hà Minh Triết

(Tuệ Đăng)

Bài 34 – Hủ tục Đốt Vàng Mã

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý khán, thính giả.

Thưa qu‎ý‎ thính giả,

Chúng tôi nhận được thư của một thính giả hỏi về vấn đề đốt vàng mã, xin trích ra như sau:

…”… Vào mùa lễ Vu Lan của đạo Phật, người Trung Hoa và Việt Nam thường đốt rất nhiều tiền vàng và đồ dùng làm bằng giấy, gọi là hàng mã, để gửi xuống âm phủ cho người chết. Xin hỏi rằng phải chăng tục lệ này từ đạo Phật sinh ra, hoặc do đức Khổng tử dạy, hay là do tôn giáo nào mang vào Việt Nam? 

Thưa qu‎ý‎ thính giả,

Tìm hiểu l‎ý lịch vấn đề đồ vàng mã, có lẽ chúng ta phải nhìn ngược lại từ thời mông muội xa xưa, thời mà sự suy nghĩ của con người còn đơn sơ, mới chỉ biết sống túm tụm trong những bộ lạc, đồ dùng thì chỉ có dăm ba món tối cần thiết thí dụ lọ chứa nước, nồi niêu bằng đất, khí giới bằng đá, áo quần bằng da thú, vân vân …. Tóm lại, toàn bộ của cải vật chất chỉ là mấy món đồ đơn giản đủ làm vật dụng sinh nhai hằng ngày và bảo vệ mạng sống trước thú dữ và kẻ thù mà thôi. Ngành khảo cổ đã phát giác ra những ngôi mộ từ thời rất xa xưa, tại đó, lẫn với xương cốt là những món đồ dùng hằng ngày như nồi niêu vò nước vân vân, chứng tỏ chúng đã được chôn theo người chết.

Sau này, theo với đà tiến hóa, lịch sử chôn của cải theo người chết cũng trải qua những bước thăng trầm, có những hồi cực thịnh lên tới mức tối dã man như khi chôn hoặc thiêu cả đến những người còn sống mà sinh thời được người quá cố thương yêu hoặc có những thời nhờ lương tâm thức tỉnh một phần, người ta dùng người giả thay cho người thật, gọi là “mộc nhân thế mạng” (hình người bằng gỗ) hoặc “hình nhân thế mạng” (hình người đan bằng tre dán giấy bên ngoài),và đồ giả gọi là hàng mã thay cho đồ thật để đốt theo người chết. Tuy vậy, cái tư‎ tưởng “thế mạng” vẫn gợi lên hình ảnh dã man về sự giết người, nên Khổng Tử và Mạnh Tử đã nặng lời thống trách rằng: “Kẻ nào sinh ra tục chôn người gỗ theo với người chết là bất nhân” và “Kẻ nào dùng người bù nhìn là tuyệt tự”.

Như thế, vấn đề đốt đồ giả là vàng mã này đã có chiều dài lịch sử gần dài bằng lịch sử loài người, duy không phải trước sau đồng nhất mà biến thiên theo từng thời gian, thoát thai từ chôn đồ dùng thật, chôn sống người thật hoặc hỏa thiêu cho chết theo, hoặc dùng mộc nhân thế mạng, hình nhân thế mạng, dùng đồ bằng giấy thay đồ thật đốt cho người chết, tựu trung cũng từ niềm tin mê muội cộng với lòng xót thương người thân yêu qua đời một cách mù quáng, muốn cho họ có những tiện nghi như khi còn sống mà thôi.

Hành động dã man hỏa thiêu người còn sống trong tang lễ này, lịch sử Việt Nam còn ghi lại câu chuyện đáng buồn xảy ra ở thế kỷ 13, là chuyện Huyền Trân Công Chúa nhà Trần, được gả cho vua Chiêm Thành để đổi lấy 2 châu Ô L‎ý. Chẳng bao lâu vua chết, theo phong tục thì bà phải lên giàn hỏa thiêu chết theo chồng. Nhưng tướng Trần Khắc Chung đã cứu thoát đem về quê hương Việt Nam.

Theo cuốn Champaka số 1 – 1999, người Champa (tức là Chiêm Thành) coi sự việc này là quốc nhục và các vua Champa kế tiếp đã từng dùng vũ lực, vào các năm 1311 – 1312 -1317 – 1318 – 1326 và 1353, để yêu cầu Đại Việt trao trả cho vương quốc này hai châu Ô Lý nhưng không thành.

Sử gia Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt Sử ký Toàn Thư phê phán rằng:

Ngày xưa Hán Cao Hoàng vì nước Hung Nô nhiều lần làm khổ biên cương, mới lấy con gái nhà dân làm công chúa gả cho thiền vu. Kết hôn với người không cùng giống nòi, các tiên nho đã từng chê trách, song dụng ý là muốn binh yên, dân nghỉ, thì còn có thể nói được. Hán Nguyên Đế thì vì chúa Hung Nô là Hô Hàn Tà sang chầu, xin làm rể nhà Hán, nên lấy Vương Tường mà ban cho, cũng là có cớ. Còn như Nhân Tông đem con gái gả cho chúa Chiêm Thành là nghĩa làm sao? Nói rằng nhân khi đi chơi đã trót hứa gả, sợ thất tín thì sao không đổi lại lệnh đó có được không? Vua giữ ngôi trời mà Thượng hoàng đã xuất gia rồi, vua đổi lại lệnh đó thì có khó gì, mà lại đem gả cho người xa không phải giống nòi để thực hiện lời hứa trước, rồi sau lại dùng mưu gian trá cướp về, thế thì Tín ở đâu?

Trong trong Việt Sử Toàn Thư, nhà sử học Phạm Văn Sơn viết:

Việc tướng Trần Khắc Chung lập mưu đưa Huyền Trân trở về nước sau khi Chiêm Vương qua đời, dù sao ta cũng phải nhận là một việc bất tín đối với Chiêm Thành. Vậy thì phản ứng của nước Chiêm là lẽ dĩ nhiên và chính đáng.

Thưa qu‎ý‎ thính giả,

Như thế, niềm tin chôn hoặc thiêu người còn sống, — mà sau này dần dần thay thế bằng đồ giả, gọi là hàng mã, — để tiếp tục làm bầu bạn hoặc hầu hạ người đã chết ở thế giới bên kia không phải là từ đạo Phật hoặc đạo Khổng, mà vốn có từ thời đại cổ xưa, khi sự suy nghĩ của con người còn quá đơn giản.

Để qu‎ý‎ thính giả thấu triệt vấn đề này, chúng tôi xin trích đăng bài giảng của hòa thượng Thích Tố Liên, một vị danh tăng của Phật giáo Việt Nam. Ngài là một trong những cột trụ của Phong Trào Chấn Hưng Phật Giáo ở miền Bắc, trong việc thành lập Tổng Hội Phật giáo Việt nam trên Toàn Quốc và trong công cuộc thành lập Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới vào những năm giữa thế kỷ 20. Ngài vốn dòng dõi Nho gia, đi tu từ trẻ, Phật học và Khổng học đều uyên thâm. Hòa thượng dạy rằng:

…”… Ở đời, cái gì cũng phải có nguyên nhân mới có kết quả, tục đốt vàng mã cũng vậy.

Đọc kinh Dịch nhà Nho, chúng ta thấy rằng tục chôn người chết của người Trung Hoa về đời thượng cổ, một khi có người chết cứ để thế đem chôn, không quan không ván, lại cũng không khoanh phần mộ gì cả.

Đến đời vua Hoàng đế (2679 trước Tây Lịch) mới cho rằng: “Con cháu đối với ông bà, cha mẹ trong việc mai táng cẩu thả như thế là thiếu bổn phận”, bèn mới sai ông Xích Xương sáng chế ra quan, quách để chôn cất. Trải qua đời Hoàng đế, đến đời Đường Ngu, tục lệ chôn cất người chết vẫn chỉ có thế.

Nối nhà Ngu là nhà Hạ (2205 trước Tây Lịch), người Trung Hoa mới bắt đầu dùng đất sét nặn làm mâm bát, dùng tre gỗ làm nhạc khí, như chuông khánh, đàn sáo v.v… để chôn theo người chết. Các đồ vật đó được gọi là minh khí, hoặc gọi là quý khí, tức là những đồ vật đem chôn theo cho thần hồn người chết dùng ở âm phủ, lễ nhạc đối với người chết bắt đầu có từ đấy.

Đã chế ra đồ dùng cho người chết, tất nhiên phải có kẻ hầu hạ người chết, thế là người ta lại chế ra người bù nhìn bằng gỗ đem chôn theo người chết. Đến đời nhà Ân (1765 tr.TL), lại không dùng mâm, bát, đồ đất và nhạc khí bằng tre, gỗ để chôn theo người chết nữa, họ dùng toàn đồ thật chôn theo.

Đến đời nhà Chu (1122 trước Tây Lịch), người Trung Hoa đã bắt đầu văn minh hơn; cố nhiên lễ nhạc đối với người chết cũng được ăn nhịp mà tiến bộ, đối với người chết, đã được người sống phân ra giai cấp sang, hèn trong việc thực hiện lễ nghi chôn cất. Từ vua cho đến các quan lớn khi chết đi, sẽ được dùng cả đồ vật giả theo lệ nhà Hạ và đồ vật thật theo lệ nhà Ân để chôn theo các vua chúa đã chết; còn từ hạng sĩ phu tới bình dân, khi chết chỉ được chôn theo độc nhất một thứ đồ giả thôi. Nếu người hèn hạ nào mà dùng lễ nghi ngang với người sang, tức khắc phải tội “tiếm lễ”.

Không những thế, dã man nhất, độc ác nhất là người ta còn bịa đặt ra những “tuẫn táng”; nghĩa là khi các vua và các quan lớn chết đi, từ vợ con đến bộ hạ của các vua, các quan lớn, đồ yêu quý của người chết khi còn sống, sẽ phải đem chôn sống để làm đồ dùng khi đã chết.

Sách Tả Truyện chép: “Đời vua Văn Công thứ sáu, vua Trần Mục Công tên là Hiếu Nhân chết, ba anh em họ Tứ Xa là Yểm Tục, Trọng Hành và Chàm Hổ đều bị chôn sống theo Mục Công. Người trong nước tỏ lòng thương tiếc ba anh em họ Tứ Xa là người hiền đức, mới làm ra thơ Hoàng Diệu để tỏ ý than vãn, mỉa mai. Trong thơ đại ý nói: “Ba anh em họ Tứ Xa đều là những người hiền đức gấp trăm nghìn người khác, trời đất ơi! Sao nỡ đem chôn sống để đi theo người đã tận số là Mục Công. Nếu ba trăm người như chúng tôi này được chết theo Mục Công để thế mạng cho ba người hiền đức ấy, chúng tôi rất vui lòng mà chết thay”.

Về sau người ta cũng nhận thấy đem người sống chôn theo với người chết là vô nhân đạo, mới chế ra người cỏ Sô Linh. Rồi vì người cỏ không được mỹ thuật, người ta lại dùng đồ gỗ “mộc ngẫu” như trước. Sách Trang Tử chép: “Đời vua Mục vương nhà Chu (1001 trước Tây Lịch) có người tên là Yến Sư chế ra người cỏ để chôn theo người chết. Đức Khổng Tử đọc đến chuyện này liền than rằng: “Kẻ nào sinh ra tục chôn người gỗ theo với người chết là bất nhân”. Thầy Mạnh Tử cũng đau buồn với tục hình nhân thế mạng mà nguyền một câu rằng: “Kẻ nào dùng người bù nhìn là tuyệt tự”.

Đến thời nhà Hán, giới trí thức Nho học cảm động trước lời cự tuyệt thống thiết của Khổng Tử và Mạnh Tử trong tục lệ dùng người sống chôn theo với người chết, mới bỏ tục lệ “tuẫn táng”, không dùng người sống chôn theo với người chết nữa mà làm nhà mồ để cho vợ, con, tôi, tớ người đã chết ra để săn sóc mộ. Còn các đồ ăn mặc của người chết kia, khi còn sống dùng những thứ gì, khi chết cũng đem chôn theo hết. Ngôi nhà mồ kia muốn cho thêm oai vệ, người ta lại đục phỗng đá, voi, ngựa đá để bài trí chung quanh phần mộ.

Từ đời Hán Hoa đến năm Nguyên Hưng nguyên niên (105), ông Thái Lĩnh bắt đầu lấy cỏ cây dó và vải rách, lưới rách đem chế ra giấy. Đã có giấy, ông Vương Dũ liền chế ra vàng bạc, quần áo v.v… đều bằng đồ giấy để cúng rồi đốt đi để thay thế cho vàng bạc và đồ dùng thật trong tang ma, tế lễ. Sách Thông Giám cương mục chép: “Vì vua Huyền Tôn mê thuật quỷ thần mới dùng ông Vương Dũ làm quan thái thường bác sỹ để coi việc chế vàng mã dùng trong khi nhà vua có tế lễ. Chúng ta có thể liệt Vương Dũ vào hàng thủy tổ nghề vàng mã được”.

Trong Phật giáo, đức Phật Thích Ca không hề dạy đốt vàng mã để cúng gia tiên. Thế thì tại sao ngày Rằm tháng Bảy là ngày lễ trọng thể của Phật giáo, mà một số tín đồ nhà Phật đốt rất nhiều vàng mã để kính biếu gia tiên?

Nguyên nhân đốt vàng mã vào ngày rằm tháng Bảy là thế này, vào thời vua Đạt Tôn nhà Đường (762 Tây Lịch) bên Trung Hoa, nhằm lúc Phật giáo cực thịnh, một vị sư tên là Đạo Tăng muốn cho dân chúng theo Phật giáo, bèn lợi dụng tục đốt vàng mã của người dân, vào tâu với nhà vua rằng: “Rằm tháng Bảy là ngày của Diêm Vương ở âm phủ xét tội phúc thăng trầm, nhà vua nên thông sức cho thiên hạ, trong việc lễ cúng gia tiên vào ngày Rằm tháng Bảy nên đốt nhiều vàng mã để cúng biếu các vong nhân dùng.

Vua Đạt Tôn đương muốn được lòng dân nên rất hợp ý với lời tâu của Đạo Tăng, liền hạ chiếu cho thiên hạ. Thế là nhân dân Trung Hoa lại được dịp thi nhau đốt vàng mã vào ngày Rằm tháng Bảy để kính biếu gia tiên. Nhưng chẳng bao lâu lại bị giới Tăng sĩ Phật giáo công kích bài trừ, vì cho rằng việc đốt vàng mã vào ngày lễ trọng của Phật giáo đã làm cho cái lệ ngày Rằm tháng Bảy không còn có chính nghĩa nữa.

Phần lớn dân chúng Trung Hoa hồi đó đã tỉnh ngộ, cùng nhau bỏ tục đốt vàng mã, làm cho các nhà chuyên sinh sống về nghề sản xuất vàng mã gần như bị thất nghiệp, nhất là người tên Vương Luân, dòng dõi của Vương Dũ, đã bịa đặt chế ra đồ vàng mã.

Thất nghiệp, Vương Luân mới bàn cùng với các bạn đồng nghiệp âm mưu phục hưng lại nghề nghiệp hàng mã. Một người giả cách ốm mấy hôm, rồi tin chết được loan ra, còn cái xác giả chết kia lập tức được khâm liệm vào quan tài, đã có lỗ hổng và sẵn sàng thức ăn, nước uống. Đương khi xóm làng đến thăm viếng đông đúc, Vương Luân với gia nhân và họ hàng của ông, đem hàng ngàn thứ đồ mã trong đó có cả hình nhân thế mạng ra cúng người chết. Họ bày đàn cúng các quan thiên phủ, địa phủ và nhân phủ.

Trong khi mọi người đang suýt xoa khấn khứa, bỗng trăm nghìn mắt như một, trông thấy hai năm rõ mười, cỗ quan tài rung động lên. Bấy giờ, Vương Luân đã đứng sẵn bên quan tài. Chàng giả chết kia cũng lò dò ngồi dậy, trông trước, trông sau, mới bước từ quan tài ra, với điệu bộ như người chết đi sống lại, rồi thuật chuyện với công chúng rằng:

– “Các thần thánh trong tam, tứ phủ vừa nhận được hình nhân thế mạng cho tôi, với tiền bạc và đồ mã, nên mới tha cho ba hồn bảy vía của tôi được phục sinh về nhân thế”.

Công chúng lúc đó ai cũng tưởng thật, cho rằng hình nhân có thể thế mạng được và thánh thần trong tam, tứ phủ cùng ăn lễ đồ mã, tăng phúc, giảm tội và cho tăng thêm tuổi thọ.

Từ đấy các nghề hàng mã lại được phục hưng một cách nhanh chóng vì không những linh hồn các gia tiên dùng vàng mã, mà đến cả thiên, địa, quỷ, thần trong tam, tứ phủ cũng dùng đồ giả, thì dĩ nhiên là vàng mã phải đắt hàng. Chuyện này còn chép rõ ràng ở sách Trực Ngôn Cảnh Giáo.

Như thế, chúng ta nên thẳng thắn nhìn nhận rằng: “Bịa đặt ra tục mê tín, dị đoan, làm hình nhân thế mạng vào lễ tam, tứ phủ để đầu độc mê tín đến ngày nay là bắt đầu từ Vương Luân”. Người Trung Hoa đã bị cái bả mê tín vàng mã do Vương Luân đầu độc đến nay đã được gần hai ngàn năm. Dân tộc Việt Nam chúng ta mê tín cũng chẳng kém, vì trước đây chúng ta bị họ đô hộ hơn 1.000 năm. Phong tục của người họ như thế nào, người mình cũng dập theo đúng khuôn khổ như vậy, bất luận hay, dở, phải, trái, tà, chính. Đó là do cái tính cẩu thả, phụ họa của người mình.

Nếu chúng ta đã thừa nhận tinh thần của dân tộc Việt Nam đều nhờ Phật giáo và Nho giáo đào tạo nên, vậy thì xin hỏi giới trí thức Việt Nam: “Hiện tại có ai tìm thấy Phật giáo và Nho giáo dạy về thuyết đốt vàng mã ở kinh sách nào? Nếu không tìm thấy tục đốt vàng mã do Phật giáo hay Nho giáo truyền dạy, tôi xin thiết tha yêu cầu người Việt Nam ta bỏ tục đốt vàng mã đi, và khuyên mọi người cùng bỏ tục ấy.”

Thưa qu‎ý thính giả,

Trên đây là lời giảng dạy tha thiết của hòa thượng Thích Tố Liên. Ngài là bậc uyên thâm Phật học và Nho học. Ngài đã nghiên cứu kỹ lưỡng và quả quyết rằng tục đốt vàng mã không do đạo Phật hoặc Khổng Tử bày ra, mà từ rất nhiều nguồn gốc, tựu trung đều do thói tật mê tín.

Theo sách Trung Dung của nhà Nho, đức Khổng Tử dạy: “Kính kỳ sở tồn, ái kỳ sở thân, sự tử như sự sanh, sự vong như sự tồn”, có nghĩa là “dù cha mẹ đã qua đời, người con có hiếu vẫn nhớ lời dạy bảo của cha mẹ như khi các người còn sống, thương kính những người mà khi còn sinh tiền cha mẹ đã thương kính”. Được hỏi về vấn đề con người sau khi chết, Khổng Tử dạy: “Bất tri sinh yên tri tử” có nghĩa là “chưa biết rõ về đời sống làm sao biết về việc sau khi chết”. Được hỏi về cách ứng xử với quỷ thần, Ngài dạy: “Kính quỷ thần nhi viễn chi” , có nghĩa là “kính trọng quỷ thần, nên tránh xa”. Điều đó nói lên quan điểm nhân bản và thực tế của Không Tử, muốn đời sống trở nên tốt đẹp, tạo dựng hạnh phúc cho kiếp người, không lan man về những điều huyền hoặc xa vời.

Thưa qu‎ý‎ thính giả,

Chúng tôi xin cảm ơn qu‎‎ý vị đã gửi câu hỏi cho chúng tôi và mong ước được quý vị tin cậy mà gửi các câu hỏi tiếp theo. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.

Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 33 – “Hoa” trong cuộc đời

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi nhận được thư của bà Hoàng Ngọc Mỹ hỏi về một vấn đề thiết thực trong đời sống, xin trình bày với qu‎ý‎ thính giả để chúng ta cùng nhau thảo luận.

Kính thưa qu‎ý‎ vị,

Trong thư, bà Hoàng Ngọc Mỹ hỏi như sau:

“Mẹ tôi hiện đang bệnh nặng nằm trong nhà thương, có thể sẽ ra đi bất cứ lúc nào. Chúng tôi có người bạn là một Phật tử thuần thành cho biết rằng nếu trong tang lễ mà chúng tôi nhận đồ phúng viếng thì mẹ tôi sẽ mang nghiệp nợ nần, có nhận của người ta thì phải trả người ta, chết rồi không trả được thì những kiếp sau tái sinh sẽ phải trả tất cả những món nợ đồ phúng viếng đó, từ tiền bạc nhang đèn cho tới vòng hoa viếng mẹ tôi. Vì thế gần đây có những đám tang người ta ghi là “Xin miễn phúng điếu kể cả vòng hoa” là để người chết khỏi vướng vào nghiệp nợ nần.

Xin giúp ý kiến sớm để chúng tôi biết nên ứng xử thế nào, nhất là gia đình tôi đông anh chị em, bạn bè, thông gia nhiều, phần lớn theo lối xưa, rất tôn trọng nghi lễ, chắc chắn sẽ phúng điếu ít nhất là vòng hoa. Ngoài ra, chúng tôi có nên đặt sẵn trên bàn thờ cái hộp để đựng tiền và tấm giấy ghi rõ “Tiền phúng điếu sẽ tặng các hội từ thiện” để khỏi mắc nợ chăng?

Kính thưa qu‎ý thính giả và bà Hoàng Ngọc Mỹ,

Kinh Tăng Nhất A Hàm dạy “Tác Ý là Nghiệp”. Như vậy, chúng ta có thể tóm tắt rằng theo giáo l‎‎ý nhà Phật về Nghiệp thì “khởi Tâm, tác Ý là tạo Nghiệp”, ngược lại, nếu “không khởi Tâm, tác Ý thì không tạo Nghiệp.

Trường hợp người đã qua đời không Tác ‎‎Ý trong việc những người khác đến phúng viếng thì không hề tạo ra nghiệp, không gieo nhân trả quả gì cả.

Để qu‎ý‎ thính giả thấu triệt vấn đề Nghiệp, chúng tôi xin lược trích lời giảng của ngài Narada Maha Thera viết trong cuốn The Buddha and His Teachings, do cư sĩ Phạm Kim Khánh dịch như sau:

“Karma, Nghiệp, theo đúng nghĩa của danh từ, là hành động, hay việc làm. Định nghĩa cùng tột của Nghiệp là Tác Ý. Tư tưởng, lời nói, việc làm, thường khởi xuất do “ý muốn làm” tạo động cơ. Phật Giáo gọi ý muốn làm ấy là Tác Ý. Tất cả những hành động có tác ý, dầu biểu hiện bằng thân, khẩu, hay ý , đều tạo Nghiệp. Tất cả những hành động có tác ý, thiện hay bất thiện, đều tạo Nghiệp.

Đức Phật dạy:

“Nầy hỡi các Tỳ Khưu, Như Lai xác nhận rằng chính Tác Ý là Nghiệp. Do có ý muốn mới có hành động, bằng thân, khẩu hay ý “.

Một vài hệ thống tín ngưỡng cũng nhìn nhận rằng mọi chênh lệch trong xã hội đều do Nghiệp, nhưng khi đề cập đến Nghiệp, lại chủ trương rằng mọi hành động, dù có tác ý hay không, đều tạo Nghiệp.

Theo chủ trương ấy, một người giết cha, giết mẹ dầu cố tâm hay vô ý, đều phạm trọng tội như nhau. Cũng như đối với lửa, dầu vô tình hay cố ý thọc tay vào lửa thì phải bị phỏng như nhau, không hơn không kém.

Lập luận như vậy dĩ nhiên sẽ đưa đến một định thức phi lý. Đứa bé trong bào thai vô tình làm cho mẹ đau đớn, hay bà mẹ do vô ý làm đau đứa con trong lòng mình, chẳng lẽ cũng tạo Nghiệp bất thiện chăng?

Trong sự báo ứng của Nghiệp, Tâm là yếu tố tối quan trọng. Tất cả những việc làm, lời nói và tư tưởng đều do Tâm ảnh hưởng. “Khi không điều phục được Tâm tức nhiên không thể kềm chế được việc làm, lời nói, và tư tưởng. Điều phục Tâm tức kềm chế thân, khẩu, ý.”

“Chính Tâm dẫn dắt thế gian, chính Tâm lôi kéo thế gian; và tất cả mọi người đều làm chủ cái Tâm.”

Kinh Pháp Cú có câu:

“Tâm dẫn đầu mọi hành động. Tâm là chủ. Tâm tạo tác tất cả. Nếu nói hay làm với tâm ác thì do đó, đau khổ sẽ theo liền với ta như bánh xe lăn theo dấu chân con bò kéo xe.”

Trên đây là lời giảng của ngài Narada Maha Thera.

Thưa qu‎ý‎ thính giả,

Như thế, qu‎‎ý vị hẳn đã thấy rõ là theo giáo l‎ý‎ nhà Phật, người chết không Tác ‎Ý‎ vào việc mua vòng hoa phúng viếng, cho nên không vay nợ ai, sẽ không phải trả nợ ai.

Nếu nói rằng mỗi khi tặng quà cho ai là gieo nợ cho người ta hoặc nhận quà của ai là mắc nợ người ta, chưa kịp trả mà chết bất tử thì sẽ phải trả trong những kiếp lai sinh, thì có lẽ cả cái xã hội loài người sẽ phải xét lại rất nhiều vấn đề.

Thí dụ về vấn đề lễ nghi trong đời sống, người Việt Nam chúng ta vẫn còn duy trì một số tập tục theo truyền thống văn hóa, thí dụ tặng quà lẫn nhau nhân dịp Tết, tặng thân bằng quyến thuộc trà bánh trong lễ hỏi, tiền mừng trong đám cưới, quà mừng mới sanh em bé, tặng hoa mừng khai trương, hoặc theo các phong tục của người Tây Phương như tặng cha mẹ anh chị em áo quần đồ dùng đặc biệt trong dịp mở quà lễ Giáng Sinh, tặng quà tặng hoa mừng sinh nhật, mừng kỷ niệm nhân dịp gì đó, tặng hoa chào đón khách từ xa mới tới, chàng rể tặng hoa cho cô dâu, mở tiệc rượu mừng thăng chức, mừng họp mặt, rất nhiều cơ hội để tiêu tiền, với những món tiền lớn, những chai rượu đắt giá, những áo quần giầy dép theo thời trang lên đến năm bảy trăm hoặc hàng ngàn dollars.

Tất cả những chi tiêu kể trên đều là những chuyện hằng ngày trong đời sống xã hội, nhất là tại những nơi có nền kinh tế tương đối ổn định. Cùng với những chi tiêu đó, người ta cũng thiết lập những hội từ thiện, những nhóm thiện nguyện để làm những việc giúp đỡ người nghèo khổ, tật nguyền, những trường hợp cần thiết, thiên tai, động đất, bão lụt.

Việc giúp đỡ lẫn nhau trong xã hội là bổn phận của mọi người, động lòng trắc ẩn trước những hoàn cảnh thương tâm, gửi tặng phẩm giúp đỡ là việc bình thường, chính những việc đó cùng với mọi sinh hoạt phải chi tiêu tạo thành đời sống xã hội. Cho nên chúng ta không thấy những lời kêu gọi ngưng chi tiêu vào các việc kể trên để dùng tiền làm việc thiện. Bởi vì mọi việc đều có những l‎ý‎ do để tồn tại.

Tuy nhiên, trong khi không có ai thắc mắc đề nghị gì về tất cả các loại chi tiêu, dù đôi khi có thể coi là hoang phí, nhưng lại nổi lên những lời kêu ca than vãn, nhân danh làm việc thiện để đòi ngưng phúng điếu người qua đời.

Vậy phúng điếu có ‎ý nghĩa như thế nào trong văn hóa Đông Phương?

Thưa qu‎ý‎ thính giả,

Phần lớn phong tục tập quán về nghi lễ của dân tộc chúng ta bắt nguồn từ Nho học. Sách Trung Dung của Khổng Tử dạy rằng: “Thờ kính cha mẹ lúc chết rồi cũng như lúc còn sống, kính trọng những người cha mẹ đã kính trọng, qu‎ý mến những người cha mẹ đã quý mến”. Cho nên tang lễ cha mẹ thường được con cái lo liệu rất tươm tất, gọi là báo hiếu công lao dưỡng dục lần cuối, thậm chí suốt 3 ngày sau khi hạ huyệt, con cháu còn dựng lều ở lại ngoài mộ cho vong hồn cha mẹ khỏi bơ vơ sợ hãi.

Mới chỉ khoảng năm, sáu chục năm trước thôi, tang lễ cha mẹ còn được con cái cử hành rất long trọng. Chúng tôi nhớ lại dịp tham dự một tang lễ mà hình ảnh vẫn còn bàng bạc trong tâm.

Đó là tang lễ mẹ thầy hiệu trường trường Tiểu Học mà chúng tôi đang theo học lớp Nhì. Đám học trò chúng tôi chia thành từng nhóm nhỏ bước vào chiếu lạy 2 lạy và 1 vái, theo lời thày giáo dặn. Trong khi chúng tôi xụp lạy thì thày hiệu trưởng và các con đứng ngay bên cạnh bàn thờ cụ thân mẫu cũng xụp xuống lạy chúng tôi 1 lạy. Sau này ra ngoài, chúng tôi được thày giáo giảng cho biết rằng:

– Chúng ta lễ cụ 2 lễ không phải là lễ cái xác mà là vinh danh công đức cụ nuôi dạy con nên người đóng góp công ích cho xã hội là thày hiệu trưởng.  Thày hiệu trưởng đáp lễ không phải là lạy chúng ta mà là để trả hiếu đối với mẹ, cảm tạ sự cung kính của chúng ta khi vinh danh mẹ thày.

Không chỉ thân nhân người quá cố mang khăn tang mà hàng xóm và bạn bè thân tại các làng quê còn theo truyền thống văn hóa cổ cũng để tang nhau 3 ngày, cho tới khi hạ huyệt xong xuôi rồi mới cởi bỏ.

Như thế, sự phúng điếu đối với nền văn hóa Đông Phương mang những ‎ ‎ý nghĩa rất sâu sắc, là biểu tượng của tấm chân tình gắn bó từ trong gia đình ra tới ngoài xã hội, chòm xóm.

Truyền thống phúng viếng tiền là những cách tương trợ lẫn nhau trong trường hợp tang chủ thanh bạch, hoặc phúng điếu đối, trướng là dịp để viết lên những lời ca ngợi vinh danh người qua đời.

Ngoài ra còn có những hình thức phúng tiền, nhưng thực tế không phải là phúng điếu, mà là góp tiền để làm việc ân nghĩa, thí dụ trong tang lễ thày học thời xưa, thày đối với trò như cha đối với con, khi thầy qua đời thì bổn phận tất cả các học trò, dù nay đã làm quan lớn, hay chỉ là một người nghèo, cũng phải tùy tâm đóng góp để tang lễ thày được chu đáo. Hoặc trong các nhóm bạn bè, nếu có ai gặp chuyện tang chế, cần tiền gấp, thì xúm nhau lại góp thành một món, đưa cho tang chủ, đó là tiền tương trợ lẫn nhau.

Dần dần, cùng với sự tiến bộ trong tổ chức xã hội, người ta thành lập các hội tương tế như hội Quảng Thiện Tương Tế, hội Hợp Thiện Tương Tế, hội Việt Nam Tương Tế vân vân. Từ đó, sự đóng góp để tương trợ có quy củ và tiện lợi, mọi người gia nhập hội và khi cần sẽ có hội góp trả lại khoản tiền trang trải cần thiết.

Còn một loại phúng điếu trong trường hợp người qua đời là thân nhân của quan lớn, thì các thuộc hạ cũng đóng góp những món tiền, gọi là phúng điếu, nhưng đích thực là một hình thức hối mại quyền thế, những quan chức tham nhũng nhìn vào phong bao tiền gọi là phúng điếu đó để nâng đỡ cất nhắc cho thuộc hạ. Chuyện này không xảy ra nơi các quan thanh liêm vì họ từ chối không nhận phúng điếu bằng tiền.

Sau này, chuyện phúng điếu bằng tiền ít dần, vì trường hợp cần hỗ trợ tiền đã giảm bớt. Phúng đối, trướng cũng hiếm vì chỉ còn lại rất ít người biết đọc và viết chữ Nho. Thay vào đó người ta dùng vòng hoa phúng điếu. Trên mỗi vòng hoa có quàng một băng vải viết tên người hoặc nhóm người chia buồn với tang gia và lời chúc lành cho hương linh người quá cố.

Có thể tạm coi như vòng hoa phúng điếu làm nhiệm vụ của những bức trướng, đối, nói lên sự liên hệ cuối cùng giữa người còn sống với người đã chấm dứt sự sống, đã vĩnh viễn ra đi  không bao giờ còn gặp lại.

Thưa qu‎ý‎ thính giả,

Những nhận định đúng, sai, hay, dở, trong thế gian đều không phải là chân l‎ý‎ tuyệt đối, đều chỉ là quy ước trong từng xã hội, từng thời đại. Điều xã hội này, dân tộc kia cho là đúng, là phải, chưa chắc đã được các dân tộc khác hoan nghênh. Có những bộ lạc thời xưa khi gả con gái, họ được nhà trai bồi thường con bò, con trâu, rất thực tế, hợp l‎ý. Mất một lao động thì có lao động khác bù vào. Tục lệ đó còn kéo dài cho mãi tới hằng ngàn năm, chuyển dần từ con vật sống thành con vật làm món ăn, thành con heo quay dẫn cưới sau này.

Dần dần, trải qua một thời gian dài, nền văn minh của nhân lọai đã chuyển nếp suy nghĩ của loài người từ thuần vật chất, miễn có miếng ăn để mà sống, có hang động chui vào tránh mưa nắng, che thân để khỏi chết rét, trốn hùm beo thú dữ, nay đã tiến lên thành ra những nền văn hóa ẩm thực, những nền văn minh kiến trúc, nền nghệ thuật thời trang, lấy ngon, lấy đẹp, lấy ấn tượng làm tiêu chuẩn.

Từ suy nghĩ đó, chúng ta nhìn vào vấn đề “có nên nhận sự phúng điếu tiền và vòng hoa chăng?”

Trước nhất, chúng ta bàn về cái hộp đựng tiền phúng điếu đặt trên bàn thờ hoặc bên cạnh bàn thờ với lời cáo bạch “Tiền phúng điếu sẽ tặng các hội từ thiện”

Về điều này, chúng tôi xin thưa rằng nếu tang gia muốn dùng tiền phúng điếu để tặng hội từ thiện thì khi khách đến viếng tang đưa ra bao thư, cứ thản nhiên nhận rồi sau khi tang lễ xong xuôi, sẽ dùng số tiền đó làm việc thiện.  Tiền người ta đã phúng tang lễ thì thuộc quyền sở hữu của tang gia, muốn tiêu vào đâu hoàn toàn tùy ‎ý, không cần phải thông báo cho mọi người biết rằng “chúng tôi không dùng tiền của qu‎ý‎ vị mà sẽ đem tiền này làm chuyện từ thiện”. Đó là cách nói lịch sự, nhưng thực tế có nghĩa là “chúng tôi không cần tiền của qu‎ý‎ vị mà sẽ đem tiền này cho kẻ khó”.

Như thế thì quả thật đã phụ lòng người tới phúng viếng, muốn tỏ chút tâm thành với người đã khuất biết là bao!

Có người lại cho rằng để sẵn cái hộp như thế sẽ khuyến khích người khác làm việc thiện. Nếu với ‎ý‎ nghĩ đó mà để cái hộp trên bàn thờ người quá vãng thì quả là thiếu tế nhị, là mặc nhiên coi như khách chưa biết làm việc thiện, cần được một bài học. Thực tế, ngày nay có rất nhiều người đang âm thầm làm nhiều việc thiện mà không khoe khoang nên mọi người không biết, đó là cách bố thí ba-la-mật, bố thí Tam Luân Thể Không của nhà Phật.

Trong xã hội tân tiến ngày nay, chúng ta có rất nhiều cuộc gây qũy để làm việc thiện, đều rất đáng được hoan nghênh. Tuy nhiên, tang lễ là một nghi lễ vô cùng quan trọng, thiêng liêng, là giây phút đau đớn tử biệt sinh ly, những người thân yêu sẽ xa cách nhau muôn đời, chúng ta nên giữ bầu không khí trang nghiêm, thanh tịnh, không nên coi như một cơ hội để gây quỹ, để kiếm tiền.

Cũng nên tránh cảnh ngỡ ngàng cho khách đi viếng tang không định đưa tiền, nay nhìn thấy cái hộp đâm ra sượng sùng với cảm giác như mọi con mắt chung quanh bàn thờ đang nhìn mình coi có bỏ tiền vào hộp chăng, mà bản thân lại có thói quen dùng thẻ tín dụng khi chi tiêu, nên không đem theo tiền mặt để có thể bỏ đại vào hộp tờ giấy bạc cho khỏi ngượng.

Thưa qu‎ý‎ thính giả và bà Hoàng Ngọc Mỹ,

Tóm lại, chúng tôi xin góp ‎‎ý rằng:

Về tiền, bà có thể thông báo dứt khoát là “Xin miễn phúng điếu tiền mặt”. Trường hợp lỡ có ai cứ đưa tiền mà gia đình không cần dùng tới thì cũng cảm ơn người ta và để riêng ra, sau tang lễ sẽ lặng lẽ đem số tiền đó đi tặng các cơ quan từ thiện, như thế là bố thí ba-la-mật, không phải là bố thí vì muốn khoe khoang sự cao cả của mình, nói gọn là khoe khoang cái Tôi, cái Bản Ngã.

Cũng xin thưa rằng sẽ không có ai, kể cả người qua đời, phải trả nợ Nghiệp vì qu‎ý‎ vị không Tác Ý đòi ai đưa tiền. Tuy nhiên, trong xã hội con người với nhau, có qua có lại, người ta đưa lễ khi nhà mình có tang thì khi nhà người ta có tang mình cũng đưa lễ theo phép xã giao, không phải là trả nợ.

Về hoa, chúng tôi thiết nghĩ trong bất cứ lễ nghi nào cũng đều trang hoàng bằng hoa và nghi thức cúng bái bằng hương, gọi là hương hoa. Có người nói rằng vì đám tang chỉ có vài ngày là liệng bỏ hoa nên phí. Nếu nói như thế thì trong thực tế, có nhiều trường hợp hoa chỉ được dùng một thời gian ngắn hơn, thí dụ bó hoa chú rể tặng cô dâu, chỉ vài giờ là liệng bỏ, những xe hoa đi diễn hành ngoài đường phố mà giá thành mỗi cái lên đến hàng trăm ngàn dollars, có khi tới vài trăm ngàn, cũng chỉ dùng trong một ngày, hoặc những buổi lễ lớn tổ chức nơi công cộng dùng hoa để trang trí cũng chỉ tồn tại một ngày là tối đa, qua hôm sau hoa sẽ bị vứt bỏ khi quét dọn.

Trường hợp hoa trong nhà quàn, hoa đã làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng của kiếp hoa, là tỏa hương thơm ngát để thay thế người đã nằm xuống tiếp đón những người thân tới thăm nhau lần cuối cùng, rồi từ nay xa cách muôn trùng. Còn đâu nữa chén trà thân ái đưa vào tận tay nhau, còn đâu nữa nụ cười cảm thông trìu mến, tất cả đã qua đi, đã trôi vào dĩ vãng, chỉ còn quanh quất đâu đây hình bóng nụ cười của người quá cố bàng bạc trong không gian mênh mông bát ngát hương thơm.

Chúng ta nỡ nào tước bỏ những bông hoa tiễn biệt cuối cùng đưa người về nơi vĩnh cửu, có chăng thần thức còn phảng phất trong làn khói hương quyện với mùi hoa thoang thoảng, trong tiếng cầu nguyện êm đềm nhè nhẹ bên những người thương yêu đã xa cách ngàn đời.

Thưa qu‎ý‎ thính giả,

Chúng tôi xin cảm ơn qu‎‎ý vị đã gửi câu hỏi cho chúng tôi và mong ước được quý vị tin cậy mà gửi các câu hỏi tiếp theo. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.

Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 32 – Tác hại của Tây Du Ký

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

 Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi nhận được thư của ông Phạm Ngọc Tuấn, trong thư có câu hỏi xin nêu ra sau đây để chúng ta cùng nhau thảo luận::

“Trong lễ Hồng Danh Sám Hối, chúng tôi niệm danh hiệu “Nam mô Đấu Chiến Thắng Phật”. Theo truyện Tây Du, sau khi cùng với Sư Phụ là thày Huyền Trang sang Tây Trúc thỉnh kinh, ngài Tôn Ngộ Không được phong là Đấu Chiên Thắng Phật. Vậy Đấu Chiến Thắng Phật Tôn Ngộ Không này có phải chính là vị Phật trong kinh Hồng Danh Sám Hối không?”

Kính thưa qu‎‎ý vị,

Lời đầu tiên, chúng tôi xin cảm ơn ông Tuấn, vị thính giả đã nêu ra một câu hỏi rất đặc biệt. Nhân câu hỏi này, chúng ta sẽ có dịp thảo luận về một đề tài gây nhiều hiểu lầm trải dài nhiều thế kỷ và lan rộng tại nhiều vùng địa danh trên thế giới.

Thật vậy, tác phẩm Tây Du Ký đã được dịch ra nhiều thứ tiếng như Việt ngữ, Nhật ngữ, Thái ngữ, Anh ngữ, Pháp ngữ vân vân … và đã được nhiều đạo diễn dựng thành kịch bản, thành phim điện ảnh, do đó, nội dung Tây Du K‎‎ý đã tạo dấu ấn vào tâm tư của nhiều thế hệ và nhiều tầng lớp người thưởng ngoạn. Vì thế, chúng ta rất nên tìm hiểu coi dấu ấn và ảnh hưởng của cuốn sách này tác động vào tâm tư độc giả là tốt hay xấu và có lợi hay có hại cho người đọc.

Vậy Tây Du Ký là gì?

Đó là tên cuốn truyện do tác giả Ngô Thừa Ân sáng tác, chỉ dựa vào một chi tiết có thật độc nhất là «Tam Tạng pháp sư Huyền Trang được vua nhà Đường nước Trung Hoa cử sang Tây Trúc (tức là Ấn Độ) thỉnh kinh ». Từ chi tiết có thật đó, tác giả đã viết ra một câu chuyện hoàn toàn bịa đặt, hoang đường, xúc phạm sự tôn nghiêm của đức Phật, hạ thấp phẩm cách chư đại đệ tử Phật và nhất là bôi nhọ pháp sư Huyền Trang, khiến cho độc giả mất thiện cảm với giới tu hành nhà Phật, cản trở con đường tìm hiểu và tu tập theo Phật pháp một cách nghiêm túc.

Nếu tác giả dùng thể tiểu thuyết để hư cấu một câu chuyện thì không có gì đáng nói vì độc giả sẽ coi như đó chỉ là cuốn tiểu thuyết giả tưởng để giải trí. Nhưng vì ông dùng thể ký sự và lạm dụng tên nhân vật chính cùng với câu chuyện có thật là “Đường Tam Tạng thỉnh kinh tại Tây Trúc” trong sáng tác của ông, nên đã tạo ấn tượng vào tâm trí độc giả rằng đây là chuyện đã thật sự xảy ra, khiến cho có những người đã dùng cuốn Tây Du K‎‎ý như tài liệu để học tập, thảo luận, thậm chí có người đã viết thành những cuốn sách bình luận, ca ngợi vai trò của những con khỉ Tôn, con heo Trư trong truyện Tây Du, cố tình gán ghép triết l‎‎ý kiểu «gọt chân cho vừa giầy», gán cho cuốn sách những tư tưởng cao siêu một cách hoang đường đề cao hành động của mấy con vật hư cấu trong khi xóa tan công đức cao cả vĩ đại của ngài Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang.

Cũng vì sự xuyên tạc này của cuốn Tây Du Ký và sự suy tôn cuốn sách một cách vô trách nhiệm của một số người khiến đã nảy sinh những hiểu lầm, đưa tới giảm thiểu sự tôn kính Phật tổ Như Lai và chư Đại Đệ Tử, đồng thời cũng hiểu lầm luôn cả giáo lý nhà Phật cùng với lịch sử Phật giáo.

Cũng xin thưa với quí khán, thính giả rằng từ ngữ “pháp sư” trong nhà Phật có nghĩa là thày dạy Phật pháp, Tam Tạng Pháp Sư là vị thày thông suốt ba kho sách nhà Phật là Kinh Tạng, Luật Tạng và Luận Tạng, không phải là ông thầy có pháp thuật, bày đàn bát quái cúng kiếng quỷ thần, hô gió gọi mưa.

Trước hết, chúng tôi xin tóm tắt nội dung cuộc thỉnh kinh trong thực tế, đã được Tam Tạng pháp sư Huyền Trang ghi lại thành bộ sách “Đại Đường Tây Vực Ký”. Bộ sách này được hòa thượng Thích Như Điển dịch ra Việt ngữ, với lời đề tựa như sau:

“Bộ Đại Đường Tây Vực Ký này sở dĩ chúng tôi dịch trước vì nghĩ rằng chính đây là tấm bản đồ đầy đủ nhất, chi ly nhất mà đương thời từ năm 628 đến năm 645 tại Ấn Độ và Trung Hoa chưa có một người nào viết được một bộ Sử Phật Giáo như thế. Đây là kết quả của 17 năm trường mà Ngài Huyền Trang đã ở tại Ấn Độ. Đi đến đâu Ngài cũng ghi lại từ khí hậu, phong thổ cho đến tập quán và nhất là những câu chuyện liên quan đến cuộc đời đức Phật cũng như chư vị Bồ Tát, A La Hán.

Số nước mà Ngài đã đi qua là 110, ngày nay chúng ta có thể gọi là những tiểu bang, vì ngày xưa mỗi một vùng có một ông Vua nhỏ, hoặc tù trưởng đứng đầu. Còn ngày nay, Ấn Độ chỉ còn một nước mà thôi. Chung quanh đó có một số nước, ngoài Ấn Độ như Ba Tư, Kasmir, Tân Cương v.v… là những nước lớn ta có thể kể riêng. Nhưng tựu chung chỉ đi bộ và dùng voi ngựa mà vượt qua được những chặng đường dài gần 50 ngàn dặm ấy thì quả thật thế gian nầy chỉ có một không hai.

Nhờ bản đồ hành hương của Ngài qua truyện Đại Đường Tây Vực Ký này mà những học giả, những nhà Khảo Cổ người Âu Châu mới tìm đến Ấn Độ để xác nhận, tìm kiếm những di tích ấy vào cuối thế kỷ thứ 18 và cho đến nay thì bốn Thánh Địa căn bản của đức Phật từ khi Đản Sinh cho đến khi Thành Đạo, Thuyết Pháp lần đầu tiên và thị tịch Đại Bát Niết Bàn đã rõ ràng. Bây giờ các nhà Khảo Cổ  người Nhật Bản vẫn còn đang tiếp tục tìm kiếm các di tích cũ ngày xưa cách đây trên 2500 năm về trước. Tất cả đều nhờ vào công đức của Ngài Huyền Trang đã vẽ cho chúng ta một tấm bản đồ cách đây 1375 năm. Đây là tấm bản đồ cũ nhất trong tất cả những tấm bản đồ của thế giới hiện nay”.

Trên đây là lời xác nhận của hòa thượng Thích Như Điển về công trình thỉnh kinh của ngài Đường Tam Tạng. Ngoài ra, trong cuốn “Con Ngựa Già của Đường Tam Tạng“, nhà khảo cổ Vương Hồng Sển cũng viết như sau:

“Thực sự, Tây Du diễn nghĩa là một bộ truyện thần thoại, hầu hết sự kiện, tình tiết đều là bịa đặt.  Nhưng chuyện thầy Trần Huyền Trang (Tam Tạng) đi từ Ðông Ðộ qua thỉnh kinh tại Tây Phương lại là chuyện lịch sử có thật. Trần Huyền Trang là một nhân vật có thật trong lịch sử nhà Ðường. Ông tên thật là Trần Vỹ, sanh vào năm thứ 16 đời Tùy Văn Ðế Dương Kiên (596 sau TL) tại huyện Câu Thi (hiện là Huyện Yêm Sư) Tỉnh Hà Nam. Và chuyện thỉnh kinh Tây Phương cũng là chuyện có thật, đã được chính Huyền Trang thuật lại rất cặn kẽ trong bộ “Ðại Ðường Tây Vực Ký”. Thầy chính là một nhân vật sống đã vào lịch sử một cách vinh quang. Thầy từng làm bề tôi cho vua Ðương Thái Tôn (Lý Thế Dân) là bậc minh quân đem lại hiển vinh cho lịch sử Trung Quốc.

Sự thực thầy Huyền Trang chỉ đi một mình, cỡi một con ngựa già làm chân. Ông đi và ở suốt 17 năm bên Tây phương, gồm 2 năm đi, 2 năm về và 13 năm ở lại du học tại Ấn Ðộ. Ði từ năm 629 mãi đến năm 645 (thế kỷ thứ 7 sau Tây Lịch) mới về đến thành Trường An (Trung Quốc). Tính ra Huyền Trang đã rời Ðại Ðường đến 17 năm, đi trên năm vạn dặm đường, qua 128 quốc gia lớn nhỏ. Khi về, ông đã mang về:

– 150 viên xá lợi (tinh cốt của Như Lai).
– 2 tượng Phật gỗ đàn tô ngân cao 4 thước (một thước ngày xưa dài 40 centimetres)
– 3 tượng Phật bằng đàn hương : cao 3 thước rưỡi, 2thước 9 và 2 thước 3.
– 657 bộ kinh
– cùng một số bảo vật khác nữa, phải dùng voi, lạc đà và 24 ngựa mới chở hết.

Trong thời gian mười ba năm lưu trú tại Ấn độ, thầy đi viếng hầu hết các di tích của đạo Phật, đặc biệt nhất là thầy ở lại chùa Na Lan Ðà, học đạo trong sáu năm. Tất cả những kinh điển của phái Ðại Thừa, Tiểu Thừa, Kinh Phệ đà (Veda), các sách thuốc, sách thiên văn, địa lý, kỹ thuật v v… đều tập trung tại chùa này. Chùa do pháp sư Giới Hiền chủ trì và pháp sư có đến trên mười ngàn tín đồ theo học đạo.

Sau sáu năm học tập, thày Huyền Trang trở nên một trong ba người học trò giỏi nhất của vị cao tăng Giới Hiền.

Chẳng những là một nhà sư đạo đức, thày Huyền Trang còn là một học giả uyên thâm, một nhà du thám kỳ tài, một nhà sử học uyên bác, một nhà địa lý học chơn tài, một nhà ngôn ngữ học xuất chúng, nhất là một nhà phiên dịch giỏi không ai bằng. Lúc còn ở Tây Trúc, đi đến đâu, thầy cũng nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình từng địa phương. Khi về Trường An, thầy viết lại thành bộ Ðại Ðường Tây Vực Ký, gồm 12 quyển, trong ấy ghi lại đầy đủ lịch sử, địa lý, phong tục, tập quán v.v. của những nước đã trải qua hoặc từng trú ngụ. Ngày nay, những tài liệu của thầy để lại vẫn còn giúp ích rất nhiều cho các chuyên gia khảo cổ Ấn Ðộ và bất kỳ ai ngày nay cũng công nhận những điều nghe thấy và ghi chép của thầy Huyền Trang rất là đích xác.

Từ ngày về Trường An, thầy Huyền Trang bắt tay vào công việc phiên dịch. Suốt mười chín năm ròng rã, từ năm 645 đến năm 664, thầy dịch được tất cả 75 bộ kinh, khoảng 1335 quyển từ tiếng Phạn dịch qua Hán tự, bộ Ðạo Đức Kinh và một bản dịch “Ðại Thừa Khởi Tín Luận” từ chữ Hán ra chữ Phạn, cùng để lại cho đời một bộ “Ðại Ðường Tây Vực ký” .

Trưa ngày mồng 5 tháng 2 năm 664, thầy Huyền Trang gác bút nghìn thu tại chùa Ngọc Hoa, thọ 69 tuổi. Ngày 14 tháng 4 thi hài thầy Huyền Trang được an táng tại Bạch Lộc Nguyên. Ngày cử hành tang lễ có đến một triệu người ở Trường An và các vùng lân cận đến để tiễn đưa thầy. Ðám táng xong, có đến ba vạn người cất lều cư tang gần mộ phần. Từ xưa đến nay chưa có vị đế vương nào được ngưỡng mộ sùng bái bằng vị Thánh Tăng có một không hai này”.

Trên đây là lời xác nhận của học giả Vương Hồng Sển, nhà khảo cổ danh tiếng của miền Nam Việt Nam.

Thưa qu‎ý khán, thính giả,

Như thế, câu chuyện ngài Tam Tạng pháp sư Huyền Trang sang Tây Trúc thỉnh kinh đã thật sự xảy ra vào thời đại nhà Đường. Duy chi tiết về công cuộc thỉnh kinh gian khổ thì hoàn toàn khác hẳn với những sự mô tả trong cuốn Tây Du K‎‎ý do Ngô Thừa Ân viết.

Vì vậy, để mọi sự được minh bạch, chúng tôi lần giở lại trang sử Phật giáo để kính gửi tới qu‎ý khán, thính giả nội dung chính xác về người thật việc thật, về nhân vật lịch sử Đường Tam Tạng, vị cao tăng đã một mình một ngựa từ kinh đô Tràng An nước Trung Hoa lặn lội vượt qua 50 ngàn dặm đường tới Ấn Độ thỉnh kinh. Sự việc được ghi lại rõ ràng trong cuốn Đại Đường Tây Vực K‎‎ý. Khi đó là vào thế kỷ thứ 7.

Gần một ngàn năm sau, vào khoảng cuối thế kỷ thứ 16, tác giả Ngô Thừa Ân sáng tác cuốn Tây Du K‎ý dựa vào một sự thật độc nhất là pháp sư Huyền Trang sang Ấn Độ thỉnh kinh, ngoài ra, tất cả các chi tiết thí dụ 3 đệ tử là Tôn hành giả, Bát Giới và Sa Tăng cùng các hành vi huyền bí bất thường của họ đều là do tác giả hư cấu.

Chúng tôi xin lược trích ‎‎ý kiến của thày Thích Nhật Từ, chủ biên thư viện điện tử Đạo Phật Ngày Nay như sau:

“… Theo Tây Du K‎ý‎‎ thì chính Phật Tổ Như Lai và Bồ-tát Quán Thế Âm đã bắt giam Tôn dưới chân núi Ngũ Hành ngót 500 năm dài và cũng chính Phật Tổ Như Lai và Bồ-tát Quán Thế Âm một lần nữa tạo ra 81 nạn cho 4 thầy trò Ðường Tăng, để rồi dẫn đến kết thúc của tác phẩm chẳng có nghĩa lý gì: “Như Lai là người chủ mưu cuộc hối lộ cái “bát vàng” trước khi giao chân kinh có chữ về Ðông Thổ”.

Trong truyện Tây Du K‎‎ý, Phật Tổ Như Lai chủ mưu cuộc hối lộ bằng cách “ném đá dấu tay,” ra lệnh cho hai tôn giả Ca-diếp và A-nan-đà, những vị thánh tăng hàng đầu trong hàng đệ tử Phật, đòi “quà thông cảm” với bốn thầy trò Ðường Tăng. Ðiều đó đã làm cho ba vị đồ đệ cương trực của Ðường Tăng bất bình. Nhưng vì thấy tôn giả Ca-diếp và A-nan-đà “xuống nước nhỏ” (nhưng thật chất là đánh lừa), cả ba vị đã hỷ xả mà không làm lớn chuyện! Bốn thầy trò tưởng mọi việc êm xuôi, hớn hở đem kinh về. Gần về đến Ðại Ðường thì bổng đâu chim Ðại Bàng của Phật Di-lặc cướp bay lên không, rồi sau đó bỏ xuống đất. Lúc đó, thầy trò Ðường Tăng mới vỡ lẽ ra là kinh mà họ khổ công mang về là “kinh vô tự.”

Cái gút “kinh vô tự và kinh hữu tự” mà tác giả dựng lên không mang dụng ý thiền học như nhiều người đã cố tình lý giải. Thật ra, nó nhằm tạo ra thái độ căm phẫn của độc giả đối với đức Phật và Bồ-tát, thông qua đó, bôi bác, xuyên tạc Phật giáo. Tôi cho rằng Ngô Thừa Ân đã xúc phạm một cách trịch thượng đến đức Phật, các vị Bồ-tát và các vị thánh tăng. Những điều gì mà đức Phật khuyên người ta nên từ bỏ, xa lìa thì Ngô Thừa Ân lại đem những cái đó gán lên đức Phật”.

Trên đây là ‎ ‎ý kiến của thày Thích Nhật Từ, chủ biên thư viện điện tử Đạo Phật Ngày Nay.                 

Kính thưa qu‎ý‎ vị,

Như chúng tôi đã từng thưa rằng đạo Phật xuất hiện trên đời khởi nguồn từ sự giác ngộ thực tại của đức Phật. Ngay sau khi bừng tỉnh, Ngài trực nhận ra rằng : “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và đều có khả năng giác ngộ như Ngài“. Từ đó cho tới suốt gần 50 năm, đến tận ngày cuối cùng trước khi nhập Niết Bàn, Ngài đã tận tụy đi khắp nơi để truyền dạy giáo pháp, với nguyện vọng là “Mọi chúng sinh đều được giác ngộ giải thoát, đều thành Phật như Ngài.”.

Tuy nhiên, kinh nghiệm chứng đắc của Ngài là do thực tập, không phải là l‎ý‎ thuyết suông mà đạt được, cho nên nếu ai chưa từng hành trì các pháp môn tu thì sẽ thấy rất khó hiểu.

Vì thế, nhà Phật tạm thời phân sự tu tập thành 2 giai đoạn, giai đoạn thứ nhất là “Không làm điều xấu ác” và ” Siêng làm đều tốt lành”. Giai đoạn tu này để chuyển hóa nghiệp xấu thành nghiệp tốt, cùng với các tôn giáo và các nền giáo dục tạo dựng một xã hội lành mạnh, bớt khổ đau, tạo cơ duyên lành cho sự tu giải thoát sau này.

Sau đó, qua giai đoạn thứ nhì là “Tự thanh tịnh tâm ‎‎ý”. Đây là lúc hành giả buông xả hết tất cả mọi bám víu vào thế gian để tiến tới giác ngộ giải thoát như đức Phật.

Hai giai đoạn tu này thuộc về hai chân l‎‎ý, là đối với chân l‎ý‎ quy ước, có phải trái, hay dở, tốt xấu tương đối với nhau thì chuyển hóa từ xấu thành tốt. Nhưng qua giai đoạn “Tự thanh tịnh tâm ‎ý‎” là giai đoạn vượt lên trên cả sự phân biệt tốt xấu, thánh phàm, hay dở, tiêu dung Tham Sân Si, gọi là cảnh giới Bất Nhị, tạm gọi là Chân L‎‎ý Tuyệt Đối, là giai đoạn tu xuất thế gian, mới chính là bản hoài của đức Phật mong mỏi cho chúng sinh đạt tới.

Như thế, hai giai đoạn tu hành rất rõ ràng. Tuy nhiên, nếu không đi sâu vào giáo l‎‎ý và hành trì của nhà Phật thì người ta có thể hiểu lầm, thí dụ cho rằng đạo Phật là “thế lưỡng phân”, hoặc cho là “đạo Phật thì phải phá chấp”. Truyền bá sự hiểu lầm như vậy sẽ gây hoang mang cho quần chúng độc giả, khiến cho có những người luôn luôn chép miệng phê phán “chấp quá, chấp quá”, cho là phải vứt bỏ những quy luật sống của xã hội thì mới là “sống thiền”. Đó là một sự lầm lẫn rất đáng tiếc.

Thực tế, hai giai đoạn tu này có những mục tiêu khác nhau và đường lối tu cũng khác nhau, tạm ví như người họa sĩ khi mới tập vẽ cũng phải dùng thước đo để tạo ra những hình ảnh đầu tiên. Nhưng khi đã qua giai đoạn sơ đẳng, họ phải buông thước, hoàn toàn phóng bút theo cảm quan, hai giai đoạn đó không thể lẫn lộn. Hoặc em bé chưa biết đi thì phải theo quy luật, dùng xe tập đi giúp em đứng vững, khi biết đi rồi thì bỏ xe. Chưa biết đi mà bỏ xe thì em bé sẽ té ngã.

Người tu hành trong giai đoạn chuyển xấu thành tốt thì phải nghiêm chỉnh tuân theo giới luật. Khi đã qua giai đoạn buông xả được mọi chấp trước Tham Sân Si thì mới có thể phá chấp, tự tại trong cảnh giới Bất Nhị. Đó là lúc vượt lên trên mọi quan điểm về Thánh Phàm, là lúc “Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt” (chấm dứt nói năng, nơi tâm suy nghĩ ngưng bặt).

Ở trên, chúng tôi đã nêu ra những lời minh xác của các bậc tôn túc về con người và hành trạng của vị cao tăng là Đường Tam Tạng, qu‎‎ý vị hẳn đã thấy rõ con người ấy hoàn toàn không giống chút nào với Đường Tam Tạng trong Tây Du K‎ý. Và trên thực tế, không hề có 3 đệ tử là Tôn hành giả, Bát Giới và Sa Tăng đi cùng, mà là ngài đi thỉnh kinh một mình.

Thế nhưng trong Tây Du K‎‎ý, Ngô Thừa Ân đã bôi nhọ hình ảnh vị cao tăng, thí dụ để cho tên đồ đệ hư cấu là con khỉ mắng vị Tam Tạng pháp sư (người thông suốt 3 kho Kinh, Luật và Luận)  rằng “ngay đến bài kinh Bát Nhã có 270 chữ nói rằng “vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ýmà thầy cũng không nhớ“, hoặc đưa ra hình ảnh Đường Tam Tạng rất tàn ác, đã dối trá để đánh lừa Tôn hành giả đội chiếc mũ có vòng kim cô rồi sau đó thường nghe lời gièm pha của Trư Bát Giới mà đọc “khẩn cô nhi chú” siết vòng kim cô vào đầu tên đệ tử tận tụy là Tôn hành giả khiến cho hắn đau đớn rên siết lăn lộn kinh hoàng… vân.. vân…

Thưa quý khán, thính giả và ông Phạm Ngọc Tuấn,

Đến đây, qu‎‎ý vị đã thấy tất cả câu chuyện Tây Du K‎ý và các nhân vật như Tôn hành giả, Bát Giới, Sa Tăng là hoàn toàn bịa đặt, hoang đường, không có trong thực tế.

Chúng tôi cũng xin thưa rằng câu “Nam Mô Đấu Chiến Thắng Phật” trong Hồng Danh Sám Hối là trích từ kinh Đại Bảo Tích, tôn xưng đức tu hành chân chính, chiến thắng được Tham Sân Si của bản thân, phá trừ được Ngã Chấp, thoát được mọi khổ não trong biển sinh tử, không liên hệ gì tới con khỉ trong câu chuyện bịa đặt Tây Du K‎ý do Ngô Thừa Ân sáng tác.

Nhà Phật không kêu gọi hành giả tu Phật chiến đấu với mọi người hoặc mọi thế lực bên ngoài mà phải luôn luôn thức tỉnh, tự thanh lọc tam độc Tham Sân Si, tự chiến đấu với bản thân để tiêu dung Bản Ngã, hóa giải lòng vị kỷ, sự thù hận và si mê. Hoàn tất quá trình tu chứng đó là trở thành Đấu Chiến Thắng Phật.

                                                                                                        Thưa qu‎ý‎ khán, thính giả,

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.

Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Tuệ Đăng (ĐPK)

Bài 31 – Ba lọai Bố Thí: Tài Thí, Pháp Thí và Vô Úy Thí

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Trong một kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình với quý vị rằng do thấu triệt Tứ Diệu Đế, đức Phật cũng phát hiện ra rằng Tham Lam và Ái Nhiễm là nguyên nhân của Khổ, là lý do chính đã nhận chìm con người trong vòng sanh tử luân hồi.

Tham lam và ái nhiễm đưa tới thói gom góp, tích lũy từ vật chất tới tình cảm, chỉ muốn mọi thứ là của riêng mình, của thân nhân mình, của bè đảng mình, của đất nước mình, vân vân. Thói tật này phát sinh từ niệm vô minh đầu tiên, mà thuốc chữa là xả bỏ, hoặc còn gọi là bố thí.

Vì thế, người nào muốn đi trên con đường sáng dưới Ánh Đạo Vàng thì phải thực hiện hạnh tu xả bỏ, từ xả bỏ những điều tương đối dễ xả bỏ như của cải vật chất, danh vọng, rồi tới điều khó xả bỏ hơn như tình cảm tinh thần.

Chỉ có xả bỏ thì tâm mới không bị ràng buộc loanh quanh trong thói quen thu thập, cất giữ.

Chỉ có xả bỏ thì tâm hồn mới được giải thoát khỏi sự kìm kẹp của sở hữu, Tham Sân Si, thảnh thơi bước trên con đường tự do, khai phóng tâm linh.

Trong Lục Độ ba-la-mật, nghĩa là sáu nhánh thực hành để đưa chúng sinh sang bờ bên kia, tức là thoát khỏi bờ sinh tử, sang được bờ Niết Bàn, thì Bố Thí là pháp môn tu đầu tiên. Bố Thí là cách tu tập để thực hiện hạnh xả bỏ.

Bố thí có 3 loại là:

– Tài Thí tức là bố thí tài vật,

– Pháp Thí tức là bố thí Phật pháp, nghĩa đen là dạy giáo lý nhà Phật cho người ta biết đường tu hành để giác ngộ giải thoát,

– Vô Úy Thí tức là giúp cho người ta qua khỏi sự sợ hãi.
Thưa quý thính giả,

Để thông suốt nội dung của ba loại bố thí này, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị bài pháp của hòa thượng Thích Thiện Hoa, trích trong bộ Phật Học Phổ Thông, khóa thứ Tư. Thày dạy rằng:

“Bố là cùng khắp: thí là cho, là trao tặng. Bố thí là cho cùng khắp, cho tất cả mọi người, mọi vật, mọi nơi.
Ba la mật nguyên âm tiếng Phạn là Paramita. Người Trung hoa dịch nghĩa là “Bỉ ngạn đáo”, nói theo tiếng Việt là “đến bờ bên kia”.

Bố thí Ba la mật, tức là một môn tu hành bằng phương pháp bố thí, co công năng như một chiếc thuyền, đưa mình và người từ bờ mê lầm của chúng sinh sang bờ giác ngộ của chư Phật.

Bố thí Ba la mật gồm các loại sau đây: Tài thí, Pháp thí và Vô úy thí. Dưới đây chúng ta lần lượt tìm hiểu ý nghĩa của các loại bố thí ấy:

Thứ nhất là tài thí. Tài thí tức là đem tiền bạc, của cải, vật thực của mình ra cho. Tài thí có hai loại là nội tài và ngoại tài.

Nội tài là những vật chí thân quí báu nhất của mình như thân mạng, đời sống của mình. Bố thí nội tài ở đây tức là hy sinh thân mạng để cứu vớt kẻ khác ra khỏi nguy nan. Trong các chuyện tiền thân của đức Phật Thích Ca, chúng ta đã thấy nhiều gương thí nội tài, như cấu chuyện Ngài lái buôn kia, trong khi đi biển bị thuyền chìm đã tự hy sinh thân mạng bằng cách buông tay khỏi cột buồm mà mình đang bám vào, để nhường chỗ cho những hành khách xấu số khác khỏi chết đuối.

Thí nội tài là một cử chỉ hy sinh cao đẹp nhất mà chỉ những người giàu lòng từ bi, bác ái mới làm được. Nếu còn xem thân mạng mình là quý, là trọng hơn thân mạng kẻ khác thì chắc chắn không bao giờ thực hiện được loại bố thí này.

Ngoại tài là những vật thường dùng của mình như thức ăn đồ mặc, tiền bạc, xe cộ, ruộng vườn, nhà cửa v.v…Ðem những vật ấy ra cho những người túng thiếu, nghèo khổ thì gọi là bố thí ngoại tài.

Thứ hai là pháp thí. Ðem lời hay, lẽ phải, những chân lý đúng đắn, những lời dạy quí báu của đức Phật để chỉ bày, khuyên bảo người khác. Hoặc y theo giới luật của Phật tu hành chân thật để làm khuôn mẫu cho người bắt chước, bỏ dữ theo lành, cải tà quy chánh đều là pháp thí.

Pháp thí có một giá trị rất lớn lao hơn cả tài thí, vì tài thí chỉ giúp người khác bớt túng thiếu về phương diện vật chất trong một thời gian, hay nhiều nhất là cứu giúp một đời người. Nhưng pháp thí giúp đỡ người rất nhiều về phương diện tinh thần, không riêng gì đối với người nghèo khó, mà cả người giàu sang, chức tước; không phải chỉ có ảnh hưởng tốt trong một giai đoạn, mà gieo nhân lành cho nhiều đời kiếp về sau.

Vì những lẽ đó, nên người Phật tử chân chính không bao giờ bỏ mất một dịp nào mà không làm pháp thí, cả về phương diện khẩu giáo nghĩa là dùng lời lẽ đúng Phật pháp để chỉ dạy lẫn phương diện thân giáo nghĩa là dùng đời sống chân chính hợp đạo để làm gương.

Thứ ba là vô úy thí. Vô úy nghĩa là không sợ. Vô úy thí là làm cho người khác không sợ, hết sợ. Phép thí này mới nghe thì tưởng như là không quan trọng gì cả. Nhưng nếu suy nghĩ một cách chín chắn, chúng ta sẽ thấy đức Phật thật vô cùng thâm thúy khi chế ra pháp thí này.

Chúng ta hãy nghĩ lại mà xem, có phải trong một đời người, cái sợ đã chiếm nửa cuộc đời rồi không?
Khi nhỏ chúng ta sợ la rầy, sợ đánh đập, sợ ma quỉ. Khi tráng niên sợ thiếu ăn, thiếu mặc, sợ thiếu công danh, sự nghiệp. Khi già sợ đau, sợ ốm, sợ chết…Chỉ toàn sợ và sợ.

Ðó là chưa nói đến gặp thời buổi loạn lạc, còn phải sợ sưu cao, thuế nặng, sợ quan lại tham nhũng, sợ trộm cướp, lưu manh, sợ tù tội, sợ chém giết…Bao nhiêu thứ sợ chồng chất lên đầu người, làm cho họ không dám ngửng lên, lưng họ còm xuống, đầu gối họ sắp quỵ.

Ðời sống đã khổ, lại càng khổ thêm vì sợ. Cho nên làm cho người hết sợ, chính là đã cứu cho họ bớt đi quá nửa khổ đau trong kiếp sống. Lòng từ bi của đức Phật không nỡ thấy chúng sinh khổ sở vì sợ, nên đã chế ra phép thí vô úy.

Muốn thực hành pháp môn này, hành giả trước tiên phải luyện cho mình một đức tính đừng sợ gì cả. Mà kẻ tu hành chân chính, hiểu rõ giáo lý của Phật, thì còn sợ nỗi gì? Tiền của, họ không tham lam cho nên không sợ mất; danh lợi, họ không màng, nên không sợ thiếu, sanh mạng, họ xem như giả tạm, nên không sợ chết.

Do cái tâm lý đó mà cõi lòng họ không xao động, nét mặt họ luôn luôn bình tĩnh trước mọi sự đổi thay, gian nan nguy hiểm. Người tu hạnh thí vô úy sẵn sàng nhảy xuống nước vớt người sắp chết chìm, nhảy vào lửa để cứu người sắp chết thiêu, xông vào đám cướp để cứu người lương thiện, đến gõ cửa công, để minh oan cho người vô tội…

Tóm lại, người tu hạnh thí vô úy thì đi đến đâu là đem đến đó một niềm an lạc, bình tĩnh vui vẻ cho mọi người và mọi vật.”

Trên đây là lời dạy của hòa thượng Thích Thiện Hoa.

Kính thưa quý vị,

Nếu chúng ta nghiên cứu kỹ ba loại bố thí này thì dường như Vô Úy Thí là loại chúng ta có nhiều cơ duyên để bố thí, dễ dàng thực hiện và nhiều hoàn cảnh để có thể bố thí nhất .

Về Tài Thí, trong những xã hội có hệ thống phúc lợi hoàn hảo, cũng không có nhiều dịp chúng ta phải mở túi tiền ra giúp, hoặc chia sẻ miếng cơm manh áo cho người khác. Cũng có những trường hợp thí dụ thiên tai, hỏa hoạn, chúng ta được kêu gọi giúp đỡ các nạn nhân đấy, nhưng không phải mỗi ngày chúng ta đều gặp. Hoặc ngay như trên thế giới hằng ngày đều có những nạn nhân cần trợ giúp, nhưng chính chúng ta cũng không thể luôn luôn móc túi lấy tiền làm chuyện cứu trợ được, dù trong lòng chúng ta rất muốn. Đó là lực bất tòng tâm.

Về Pháp Thí, ngày nay ngành truyền thông phát triển rất rộng rãi, sách báo truyền thanh truyền hình, các hệ thống điện tử toàn cầu với những thư viện điện tử, diễn đàn điện tử, lan rộng từ thành thị tới thôn quê, nên rất nhiều người đã tham dự được vào các loại tiện nghi này để đọc kinh sách, thảo luận, nghe giảng pháp. Nhờ thế, có một số người, nhất là giới trẻ, do tham cứu từ internet mà trình độ Phật học của họ khá thâm sâu, cho nên cơ hội để chúng ta thực hiện Pháp Thí cũng hiếm.

Trái lại, Vô Úy Thí là một hạnh bố thí rất cần thiết mà lại rất dễ thực hiện, không cần phải có nhiều tiền, thậm chí không tốn một xu, thì chúng ta lại ít lưu tâm tới.

Thưa qu‎í thính giả,

Ở trên, thày Thiện Hoa đã phân tích rõ ràng cho chúng ta thấy thế nào là Vô Úy Thí và sự cần thiết thực thi hạnh bố thí này. Qua lời thày giảng, quí vị đã thấy là đạo Phật rất quan tâm và coi trọng hạnh Bố Thí Vô Úy.

Không riêng đạo Phật, mà nhiều nhà tư tưởng lớn trên thế giới cũng rất quan tâm đến nỗi thống khổ của sự sợ hãi trong kiếp người và tìm cách giúp người ta tháo gỡ nỗi khổ này, điển hình là nhà tư tưởng J. Krishnamurti. Chúng tôi xin gửi tới quí thính giả một đoạn trích trong cuốn On Fear của ông, do Danny Việt dịch ra Việt ngữ, như sau:

“Để hiểu sợ hãi, ta phải nói về sự so sánh trước. Tại sao ta so sánh? Về mặt kỹ thuật, so sánh phát hiện sự tiến triển, tương quan với nhau. Năm chục năm trước chưa có bom nguyên tử, chưa có máy bay siêu âm, bây giờ chúng ta có những cái đó, và trong tương lai năm chục năm nữa, chúng ta sẽ có những cái mà hiện nay chúng ta không có. Cái đó được gọi là sự tiến bộ, luôn luôn so sánh, tương quan, và tâm trí chúng ta bị vướng mắc vào cái lối suy nghĩ kiểu đó.

Không phải chỉ từ ngoại cảnh, mà ngay từ trong nội tâm, trong cái cấu trúc về tâm lý của chúng ta, chúng ta suy nghĩ theo kiểu so sánh. Chúng ta nói :” Tôi thế này, trước kia tôi thế này, và tôi sẽ khá hơn trong tương lai”. Cái lối suy nghĩ kiểu so sánh như vậy, chúng ta gọi là sự tiến bộ, sự phát triển, và cuộc đời chúng ta, từ phẩm hạnh, đạo đức, tôn giáo cho đến làm ăn buôn bán, giao dịch trong xã hội, chúng ta đều dựa trên nền tảng đó. Chúng ta quan sát bản thân chúng ta một cách so sánh với cái xã hội vốn dĩ cũng thoát thai từ một sự phấn đấu trong so sánh như chính chúng ta.

So sánh sản sinh ra sợ hãi, bạn hãy tự quan sát sẽ thấy. Tôi muốn trở thành nhà văn viết hay hơn, hoặc trở thành người đẹp và thông minh hơn. Tôi muốn có nhiều kiến thức hơn mọi người. Tôi muốn thành công, muốn trở thành nhân vật quan trọng, muốn có danh tiếng trên thế giới. Thành công và danh tiếng là những điều so sánh rất căn bản về mặt tâm lý, mà do đó, chúng liên tục sản sinh ra sự lo sợ . Và sự so sánh cũng làm tăng thêm những mâu thuẫn, phấn đấu vốn được coi như những điều quan trọng.

Bạn nói rằng bạn phải cạnh tranh để sinh tồn trong cái thế giới này, do đó bạn so sánh và thi đua trong công việc làm ăn, trong gia đình và “cái-gọi-là” nội dung có tính cách tôn giáo . Bạn phải vào được thiên đường và ngồi ngay bên cạnh một đấng cứu độ đặc biệt nào đó của bạn. Sự so sánh về tâm linh phản ảnh trong việc một tu sĩ muốn được suy tôn lên cấp cao hơn và cuối cùng tiến lên tới giáo chủ.

Suốt đời, chúng ta mài miệt trau giồi cái loại tâm linh đó một cách siêng năng, cần mẫn, phấn đấu để khá hơn, hoặc đạt được vị trí cao hơn người khác. Cấu trúc của đời sống xã hội và đạo đức của chúng ta đặt nền tảng trên những cái đó.

Trong cuộc đời chúng ta, cái tình trạng so sánh, cạnh tranh và sự phấn đấu không ngừng nghỉ để trở thành một nhân vật, tôi cảm thấy rằng chính cái đó là cội rễ của toàn bộ sự sợ hãi, bởi vì chính nó đã sản sinh ra lòng thèm muốn, tật đố kị, thói ghen tị, căm thù.

Ở đâu có sự căm thù thì ở đó chắc chắn là không có tình thương yêu và sẽ càng ngày càng tăng thêm sự sợ hãi”.
Kính thưa quí‎ thính giả,

Trên đây là nhận định của nhà tư tưởng Jiddu Krishnamurti về tai hại của sự sợ hãi.

Có câu chuyện Thiền lưu truyền tại Nhật như sau:

“Trong một trận chiến đấu sinh tử mà quân lính của phe nhà đông hơn phe địch gấp bội. Tuy nhiên, tinh thần binh sĩ lại rất nao núng, chưa đánh mà chỉ muốn rút lui, vì họ nghe nói bên địch là đạo quân bách chiến bách thắng, rất tinh nhuệ trong kinh nghiệm chiến trường.

Tướng chỉ huy bèn tập họp ba quân trước một ngôi đền thờ Thần có tiếng là linh thiêng, rút trong túi ra đồng tiền giơ lên, dõng dạc tuyên bố:

– Chúng ta cầu nguyện rồi tôi sẽ tung đồng tiền này lên xin Thần cho biết số phận chúng ta trong trận quyết tử này. Nếu khi rớt xuống mà mặt ngửa lên có hình đầu người tức là chúng ta sẽ thắng. Nếu mặt không có đầu người ngửa lên thì chúng ta sẽ vâng theo số mệnh mà rút lui.

Quân sĩ nhắm mắt cầu nguyện, rồi vị tướng tung lên đồng tiền, khi rớt xuống, mặt ngửa lên có hình đầu người. Toàn quân reo hò, khí thế bốc lên ngùn ngụt, sự sợ hãi tan biến.

Khi đoàn quấn chiến thắng ca khúc khải hoàn trở về, viên phó tướng tâm tình với đại tướng:

– Thế mới biết không gì có thể thay đổi được số mệnh.

Đại tướng cười, móc túi lấy ra đồng tiền, thì ra cả hai mặt của đồng tiền đều là hình đầu người”.

Thưa quí thính giả,

Câu chuyện cho thấy rằng chúng ta có thể chế ngự được sự sợ hãi. Thí dụ sự sợ ma. Nếu hỏi những người rất sợ ma rằng họ gặp ma chưa thì phần đông đều trả lời rằng bản thân họ chưa gặp ma nhưng họ “nghe nói”. Mà những ngưởi kể chuyện ma cho người khác nghe thì cũng chưa chắc đã gặp ma, hay là cũng lại chỉ “nghe người ta kể lại”. Chuyện ma thì hấp dẫn, vì làm cho tâm tư‎ người nghe bị kích động.

Hồi trước tại Saigon, trong mục truyện dài của một tờ nhật báo có viết về chuyện con ma vú dài tại nhà tù Chí Hòa. Câu chuyện hoang đường nhưng rất hấp dẫn người đương thời, sau này dính liền tên vị chủ nhiệm báo, họ gọi ông là “chủ nhiệm vú dài”. Những tù nhân có đầu óc bình thường đã từng tạm trú tại nhà tù Chí Hòa, không ai gặp con ma vú dài nào cả.

Đã thấy rõ sự sợ hãi đem lại thống khổ cho con người, vậy chúng ta nên tận dụng mọi cơ hội để có thể Bố Thí Vô Úy. An ủi khi người có những mối lo hoặc tránh kể chuyện ma cho các cụ già sống cô đơn cũng là những cách Vô Úy Thí rất thực tế vậy.

Thưa quí‎ thính giả,

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới. Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 30 – Pháp môn Tịnh Độ

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả. 

Thưa quý khán, thính giả, 

Trong những kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình bày với quý vị bài kệ tóm tắt con đường tu hành của người Phật tử, như sau: 

“Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành”

 … trong đó, “Tự thanh tịnh tâm ý” thì mới chính là mục tiêu cốt tủy của đạo Phật.

 Kinh Phật dạy rằng: “Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu”, câu đó có nghĩa là khi tâm đã tịnh là đã bạch hóa được nghiệp chướng tích lũy từ vô lượng kiếp. Tội là những nghiệp ác. Tâm đã tịnh rồi thì cũng có nghĩa là tất cả nghiệp thiện và ác đều đã tiêu dung, không còn nghiệp nhân để tái sinh, là chấm dứt được dòng sinh tử, ra khỏi vòng luân hồi. Tóm lại, là hoàn tất được bước thứ tư trong bốn Chân Lý Thâm Diệu, là Diệt Khổ.

 — Vậy thì, làm thế nào để có  thể  “tự thanh tịnh tâm ý? 

Về phương diện này, nhà Phật có những pháp môn phương tiện để hành giả, là những người thực hành các pháp tu, đạt được kết quả cụ thể, thí dụ các môn phái Thiền, Tịnh hoặc Mật tông. Kỳ này, chúng tôi xin trình bày pháp môn Tịnh Độ.

 Thưa quý khán, thính giả, 

Đạo Phật là con đường chuyển hóa Tâm, không nhờ vào thần quyền, cho nên người Phật tử bước trên đường tu tập phải thông suốt hai phần là lý thuyết và thực hành, nhà Phật gọi là Lý và Sự, xong việc là “sự lý viên dung”. Toàn bộ giai đoạn tu tập này được gói trọn trong công thức Văn, Tư và Tu. Văn là nghe lời dạy từ kinh sách của Phật và chư Tổ là bước thứ nhất, Tư là suy nghĩ để hiểu cho rõ là bước thứ 2, rồi tới bước thứ 3 là thực hành các phương pháp Tu.

 Lại có câu “Tín Giải Hành Chứng”. “Tín” là tin rằng đạo Phật là con đường giải thoát, “Giải” là hiểu rõ phần lý thuyết của đạo Phật, “Hành” là hành trì các bước tu tập thì sẽ tới giai đoạn thứ tư là “Chứng Đạo”

  Cổ đức dạy rằng ”Tu mà không học là tu mù. Học mà không tu là túi đựng sách”. Tuy thế, hiểu được phần Lý thì chóng, gọi là giải ngộ. Nhưng tu tới Chứng Đạo thì phải tốn nhiều công phu hành trì, nên có câu “Lý tuy đốn ngộ nhưng Sự thì phải tiệm tu”, có nghĩa là phần lý thuyết thì hiểu nhanh, nhưng phần thanh lọc tâm ý thì phải mất nhiều công phu.

 Nếu chỉ qua đọc kinh sách mà hiểu được phần lý thuyết, nhưng không thực Tu thực Chứng thì tâm thức không chuyển hóa, đôi khi lại tăng trưởng lòng kiêu ngạo, chư Tổ gọi là “chưa tới tưởng đã tới”, trở thành tăng thượng mạn, uổng phí một đời được sinh ra trong nhà Phật.

 Như vậy, chúng ta sẽ tìm hiểu pháp môn Tịnh Độ về cả hai mặt lý thuyết và thực hành, trước nhất là phần lý thuyết.  

Kính thưa quý vị,

 A Di Đà Phật hoặc Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật còn gọi là Vô Lượng Quang Thọ Phật, có nghĩa là vị Phật chiếu sáng khắp không gian vô biên và thọ mạng dài vô tận. Phật là Giác. Cho nên A Di Đà Phật cũng chính là Phật Tánh, hoặc Giác Tánh của chúng sinh, vốn mênh mông cùng khắp không gian và thường hằng từ vô thủy tới vô chung, không có ngằn mé. Tánh Giác đó vốn sáng suốt mênh mông, nhưng vì một niệm bất giác vọng động, tâm ý thức trùng trùng duyên khởi chuyển thành chúng sinh, tạo nghiệp trả quả báo, trôi lăn trong vòng sinh tử luân hồi.

 Pháp môn Tịnh Độ là một trong những con đường mà đức Phật đã dạy cho chúng sinh biết cách thanh lọc ô nhiễm để Ngộ lại Giác Tánh.

 Thưa quý khán, thính giả,

 Để có thêm tài liệu về pháp môn Tịnh Độ và về Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị bài pháp của thiền sư Thiên Như Duy Tắc, trích từ Ngữ Lục của ngài: 

“Ngày nay, có một số người, tăng cũng như tục, mong nhờ Niệm Phật để được thác sinh cõi Tịnh độ và tự hỏi Niệm Phật có khác Thiền chăng. Theo ý tôi, họ không hề nhận ra Thiền và Niệm Phật không phải đồng mà là đồng; vì đích của Thiền là thấu hiểu ý nghĩa của sự sống, đích của Niệm Phật thì cũng vậy. Thiền chỉ thẳng lòng người, thấy tánh thành Phật; trong khi đó, Niệm Phật nhắm đi tới cõi Tịnh Độ vốn dĩ không chi khác hơn chính là tự tâm, và nhắm thấy rõ tự tính vốn dĩ chính là đức A-Di-Đà (Amitabha).

“Nếu thế, làm sao phân biệt Niệm Phật và Thiền?

Kinh nói, như đi vào một thành lớn mà khắp bốn phía đều có cửa; từ những nẻo khác nhau, người ta tìm thấy lối vào riêng biệt của mình vì cửa không chỉ có một. Nhưng, một khi vào rồi, họ cùng ở trong một thành như nhau. Thiền và Niệm Phật mỗi bên có một căn khí riêng; đấy là tất cả.

“Ở Niệm Phật, các người có thể phân biệt đằng nào linh nghiệm đằng nào không. Tại sao? Nếu việc tụng niệm của tín giả chỉ ở ngoài môi miệng còn tâm thì chẳng nghĩ tưởng chút gì đến Phật, thứ tụng niệm ấy không linh nghiệm. Trái lại, nếu miệng và tâm cùng chung hướng về Phật trong khi tụng đọc danh hiệu Ngài, khiến cho tâm với Phật không rời nhau từng bước một, Niệm Phật chắc chắn sẽ có kết quả. Giả dụ đây là một người tay cầm tràng hạt, miệng niệm danh hiệu Phật; nhưng nếu cứ vọng tưởng cuồng tâm, chạy xuôi chạy ngược, thì là một người chỉ tụng ở miệng chứ không ở tâm, luống công vô ích, nhọc mà chẳng được gì. Tốt hơn là nghĩ tưởng đến Phật trong tâm hồn dù môi không mấp máy, vì như thế mới là đồ đệ chân chính của Niệm Phật.

“Há không thấy Kinh nói rằng mười phương Như Lai thương nhớ chúng sinh như mẹ thương con; chúng sinh chìm đắm trong biển sinh tử như con trẻ lưu lạc nơi xứ lạ quê người. Phật như một bà mẹ từ ái thương nhớ chúng, và dù ngài không nói đến từ tâm của mình, tấm lòng của ngài vẫn luôn luôn nhớ tưởng những đứa con lạc mất không thôi. Nếu con cũng nhớ tưởng mẹ như thế, tại sao mẹ con không có ngày hội diện?

“Bởi vậy kinh nói nếu tấm lòng của chúng sinh nhớ tưởng đức Phật, chắc chắn sẽ thấy ngài trong hiện tại hay tương lai. Hiện tại là đời sống này, tương lai là đời sống sẽ đến. Nếu thế, kẻ nào hết sức mong mỏi Phật và nhớ tưởng ngài kẻ ấy nhất định sẽ đến trước mặt ngài. Vậy thì “thấy Phật” và “tham Thiền kiến tánh” khác nhau ở chỗ nào đâu? “

Kính thưa quý vị,

Kinh căn bản của pháp môn Tịnh Độ đã được dịch ra Việt ngữ là các kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ, kinh Niệm Phật Ba La Mật. Tuy nhiên, nơi kinh Lăng Nghiêm cũng có một chương nói về pháp Niệm Phật Tam Muội như sau:

“Đại Thế Chí Pháp Vương Tử cùng với 52 vị Bồ Tát đồng tu, liền đứng dậy, đảnh lễ bạch Phật rằng:

– Con nhớ hằng sa kiếp trước, có Phật Vô Lượng Quang ra đời, thuở đó, mười hai vị Như Lai kế nhau thành Phật trong một kiếp. Vị Phật sau cùng hiệu là Siêu Nhựt Nguyệt Quang, dạy con tu “Niệm Phật Tam Muội”, ví như có người thì chuyên nhớ, người thì chuyên quên, nếu hai người ấy nhớ nhau, không kể gặp hay chẳng gặp, thấy mặt hay chẳng thấy; cứ nhớ mãi sâu vào tâm niệm, cho đến đời này, đời khác, thì như hình với bóng, chẳng cách xa nhau.

 Mười phương Như Lai tưởng nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con, nếu con trốn tránh thì dù nhớ cũng chẳng làm gì được; nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con, thì đời đời mẹ con chẳng xa cách. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật, thì hiện nay hay về sau nhất định thấy Phật, cách Phật không xa, chẳng nhờ phương tiện, tâm tự khai ngộ, như người ướp hương thì thân có mùi thơm, ấy gọi là Hương Quang Trang Nghiêm.

Bản nhân của con là dùng tâm niệm Phật, đắc vô sanh nhẫn, nay ở cõi này tiếp dẫn người niệm Phật về cõi Tịnh Độ. Phật hỏi con về viên thông, con do “nhiếp cả lục căn, tịnh niệm tương tục” vào tam-ma-địa là hơn cả.”

Thưa quý khán, thính giả,

“Nhiếp cả lục căn tịnh niệm tương tục” có nghĩa là chuyên tâm niệm Phật liên tục, trong lúc niệm không quan tâm đến bất cứ chuyện gì khác.

Pháp môn Niệm Phật bị một số người nông cạn coi thường, cho là pháp môn của mấy bà già trầu hoặc người không đủ trình độ tu Thiền mới theo pháp dễ là Niệm Phật. Đó là một sai lầm rất đáng tiếc. Thực tế, con đường giải thoát của đức Phật chỉ dạy cho chúng sinh gồm nhiều lối đi, miễn là tới được mục tiêu phá trừ mê vọng là cứu cánh giải thoát.

Tham Thiền tới Kiến Tánh là mê vọng tan rã. Niệm Phật tới Ngộ được Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật mà đức Phật dùng phương tiện thiện xảo gọi là cõi Tây Phương Tịnh Độ thì cũng như Kiến Tánh vậy.  

Để quý thính giả thấu triệt quan điểm này, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị bài pháp của thiền sư Hám Sơn, một vị thiền sư Kiến Tánh ở thế kỷ thứ 16. Ngài được tôn xưng là một vị thánh tăng. Ngài để lại rất nhiều bài pháp cho nhiều tầng lớp Phật tử. Sau khi qua đời, nhục thân ngài không bị hư hoại, hiện còn thờ trong tháp bằng kính tại tổ đình Tào Khê chùa Nam Hoa tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, cùng với 2 nhục thân bất hoại của Lục Tổ Huệ Năng và thiền sư Đan Điền.

Sau đây là bài giảng của thiền sư Hám Sơn, lược trích trong cuốn Mộng Du Tập do sư cô Hạnh Huệ dịch:

“Cội gốc sanh tử tức là các thứ vọng tưởng hàng ngày của chúng ta, các thứ nghiệp phiền não thương ghét, tham lam, giận hờn của chúng ta, nếu còn một mảy may không dứt thì tức là còn gốc rễ sanh tử. Nay muốn tham thiền đốn ngộ liễu thoát sanh tử, hãy tự suy nghĩ xem có thể một niệm dứt ngay phiền não của nhiều kiếp như chặt đứt một cuộn chỉ hay chăng ? Nếu chẳng thể dứt sạch phiền não thì dẫu cho đốn ngộ, cũng thành nghiệp ma, đâu nên xem thường ? Các vị tổ xưa kia đốn ngộ, cũng nhiều đời tích lũy công phu tu tập dần dần (tiệm tu) mà được, cho nên “đốn ngộ” này nói thì dễ mà thật ra rất khó. Nếu không có hai, ba mươi năm hạ thủ công phu, thì làm sao có thể ở trong chốn phiền não lẫy lừng mà được một niệm đốn ngộ.

Điều thiết yếu là phải tự biết căn khí mình như thế nào ? Đến như một môn niệm Phật, người đời không biết sự nhiệm mầu của nó, xem là thiển cận, kỳ thật mỗi bước thực hành cho đúng thì như thế nào ? Chúng ta từ khi có sanh tử đến nay, niệm niệm vọng tưởng phan duyên tạo nghiệp sanh tử, đâu từng có một niệm quay trở về soi lại tự tâm, đâu từng một niệm chịu đoạn dứt phiền não. Nay nếu có thể đem tâm vọng tưởng chuyển làm niệm Phật thì niệm niệm dứt phiền não. Nếu niệm niệm dứt được phiền não thì niệm niệm ra khỏi sanh tử.

Nếu một niệm niệm vững chắc không đổi dời nhất tâm bất loạn, so với tham thiền còn có kết quả hơn. Tóm lại, chỉ do một niệm thiết tha chân thực mà thôi. Nhưng tham thiền nhất định cần phải chết đi hết tâm thế tục không còn một niệm vọng tưởng, còn niệm Phật là lấy tưởng tịnh chuyển tưởng nhiễm, dùng tưởng trừ tưởng, là Pháp Hoán Chuyển, cho nên đối với căn khí của chúng ta ngày nay dễ thực hành hơn.

Phật là Giác, nếu niệm Phật không quên Phật, tức là niệm niệm minh giác. Tâm nếu quên Phật liền là Bất Giác. Nếu niệm đến trong mộng cũng niệm được tức là thường giác không mê muội ! Hiện tại nếu tâm này không mê muội thì lúc lâm chung tâm này không mê muội, ngay chỗ tâm này không mê muội tức là kết quả. Nay công việc bận rộn không thể tham thiền, duy có niệm Phật là tốt nhất, bất kể rỗi rảnh, bận rộn, chỗ nào cũng niệm được, chỉ cần một lòng không quên, không còn có pháp nào hay hơn !.

Niệm Phật tức là tham thiền, không phải hai pháp. Ngay lúc niệm Phật, trước tiên phải buông bỏ hết thảy các thứ vọng niệm, tạp loạn phiền não, tham, sân, si, buông bỏ đến chỗ không còn gì để buông bỏ, chỉ đề khởi một câu “A DI ĐÀ PHẬT”, rõ rành phân minh trong tâm không gián đoạn như sợi chỉ xỏ xâu chuỗi.

Nếu tâm tha thiết vì việc sanh tử niệm niệm như cứu lửa cháy đầu, chỉ e một phen mất thân người muôn kiếp khó được lại, cần phải cắn chặt lấy một câu danh hiệu Phật này, nhất định phải chiến thắng vọng tưởng, bất cứ chỗ nào cũng niệm niệm hiện tiền, chẳng vì vọng tưởng ngăn che. Hạ thủ công phu thiết tha như thế lâu ngày thuần thục tự nhiên tương ưng, chẳng cầu thành khối mà tự thành khối.

 Nếu gặp lúc tâm bất an do các cảnh giới nghịch thuận phiền não buồn vui quấy nhiễu, chỉ cần đề khởi một câu niệm Phật này lập tức thấy phiền não tiêu diệt. Vì niệm niệm phiền não là gốc khổ sanh tử, nay dùng niệm Phật tiêu diệt phiền não, ấy là Phật độ chỗ khổ sanh tử. Nếu niệm Phật tan được phiền não thì có thể thoát sanh tử. Nếu niệm Phật đến trình độ làm chủ được trên phiền não thì ở trong mộng làm được chủ. Nếu ở trong mộng làm được chủ thì ở trong lúc bệnh khổ làm được chủ, thì lúc lâm chung rõ ràng biết được chỗ đi. Việc này không khó làm, chỉ cần một niệm tâm tha thiết vì sanh tử, nắm chặt một câu Phật hiệu, không còn nghĩ ngợi gì khác, lâu ngày thuần thục, tự nhiên được đại an lạc, cái vui ngũ dục thế gian không thể sánh được. Ngoài pháp môn Tịnh Độ nầy, không còn có pháp môn nào thẳng tắt giản dị hơn.”

Thưa quý khán, thính giả, 

Trên đây là lời căn dặn của thiền sư Hám Sơn. Ngài là một thiền sư Kiến Tánh, từ Trí Tuệ Bát Nhã nói lên những lời tha thiết khuyên tu pháp Niệm Phật, chúng ta rất nên tôn trọng lời dạy vàng ngọc này.

 Có một câu hỏi rằng nên niệm sáu chữ Nam mô A Di Đà Phật hay 4 chữ A Di Đà Phật?

 Xin thưa rằng, niệm Phật cần nhuần nhuyễn, sao cho tiếng niệm Phật luôn luôn âm thầm hiện lên trong tâm thức. Phật hiệu hiện lên thì phiền não vọng tưởng không quấy nhiễu được, gọi là “niệm Phật thì không niệm chúng sinh”. Tổ Tịnh Độ thứ 13 là đại sư Ấn Quang chỉ dùng 4 chữ là A Di Đà Phật để âm thầm niệm, gọi là “mặc trì”, tức là niệm không thành tiếng. Ngài kinh nghiệm rằng niệm như vậy mau thành khối. Chúng tôi cũng được một số đạo hữu cho biết rằng do âm thầm niệm 4 tiếng mà Phật hiệu luôn trôi chảy hiện lên trong tâm thức, thay thế cho những suy nghĩ vọng động.

 Tuy nhiên, nếu quý vị muốn, hoặc đã quen với cách niệm 6 chữ là Nam mô A Di Đà Phật, thì cứ tiếp tục niệm như thế, cả hai cách niệm đều có kết quả. Điều cần thiết là phải chí thành khi niệm, không để tâm rong ruổi theo vọng tưởng phiền não thế gian.

 Kính thưa quý khán, thính giả,

 Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

 phatphaptuedang@yahoo.com

 Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý khán, thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

 Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 29 – Bài thuyết pháp về Tâm – Thiền sư Bassui

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Một trong những tuyên ngôn đầu tiên của đức Phật, ngay sau khi giác ngộ dưới gốc cây Bồ Đề, là:

“Tất cả chúng sinh đều có đủ đức tính trí tuệ Như Lai, chỉ vì vô minh che mờ Chân Tánh, khiến phải trôi lăn trong sinh tử”.

Trí tuệ Như Lai, Chân Tánh chính là Phật Tánh, Giác Tánh, là Tâm Bản Nhiên mà trong một kỳ phát thanh trước chúng ta đã đề cập tới.

Để quý thính giả có thêm tài liệu về Tâm Bản Nhiên, về vấn đề phá tan vô minh che mờ Chân Tánh, Giác Ngộ giải thoát trong đạo Phật, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị bài pháp của thiền sư Bassui “Dharma Talk On One Mind” do thiền sư Eido Shimano dịch từ Nhật ngữ qua Anh ngữ, Vy Khanh dịch ra Việt ngữ.

Trong bài pháp này, thiền sư Bassui, người đã thân chứng, đã phá tan vô minh, truyền lại cho chúng ta những kinh nghiệm và những giai đoạn tâm thức mà ngài đã kinh qua.

Thiền sư Bassui sinh năm 1327 tại thị trấn Kanagawa, Japan. Có tài liệu cho rằng do một thị kiến trong khi mang thai, bà mẹ tin rằng đứa bé sau này lớn lên sẽ trở thành quỷ mà giết cả cha mẹ, nên ngay sau khi sanh, đứa bé bị mẹ vứt bỏ. May nhờ có một gia nhân bí mật đem về nuôi nấng. Nhưng cũng có tài liệu cho rằng bà mẹ chỉ giả bộ vứt con đi thôi, vì ngay sau khi bà mẹ bỏ con, thì đã có gia nhân đến cứu, do bà mẹ sắp xếp trước, tin rằng làm như thế là đủ để thần linh ma quỷ cho là đứa bé không phải con mình, sau này quỷ sẽ không bắt làm những điều ác nữa.

Vào thời xa xưa mông muội, người ta sợ đủ loại thần thánh ma quỷ, từ thần núi, thần sông, thần cây đa, cây đề, thần ông bình vôi, ma thần trùng, ma xó, vân vân. Sự mê tín đã khiến nhiều loại ma quỷ xuất hiện trong đầu óc họ, cho nên để bảo vệ những em bé sơ sinh yếu đuối, họ dùng những mưu kế để lừa ma quỷ, cứu đứa bé.

Trường hợp như trong câu chuyện thiền sư Bassui, hoặc em bé bị bệnh tật liên miên, họ đem em bé ra bỏ ngoài chợ, hoặc ngã tư đường. Nhưng ngay sau đó bèn có một người đã được sắp xếp trước, bước tới làm bộ ngạc nhiên la lên: “Ô này, có đứa bé bị vứt bỏ, tôi nhặt đem về nuôi”. Và bế đứa bé về nhà mình. Sau đó, khi đem đứa bé trả cha mẹ, thì cha mẹ ruột bèn coi nó là người xa lạ, xưng hô với nó là “chú, thím”, hoặc “anh, chị”, mà không xưng là cha mẹ nữa, vì đứa bé nay đã là một người khác rồi. Đó là một trong những cách để cứu đứa nhỏ, theo niềm tin của họ mà thôi.

Niềm tin này là một trong những thói tật của nhiều người thời xưa, thời mà các loại mê tín ngự trị trong đầu óc của rất nhiều dân tộc, trong số đó có cả dân tộc Việt Nam. Không những thời xưa, mà ngay tới thế kỷ 20, một số bà mẹ Việt Nam vẫn còn nghĩ rằng đó là cách để cứu đứa bé, nếu nó cứ bệnh hoạn, hoặc cho là hai mẹ con kỵ tuổi nhau nên đứa bé khó sống sót nếu không giả bộ vứt bỏ nó đi.

Thưa quý thính giả,

Về thiền sư Bassui, ngay khi còn thơ ấu, mới bảy tuổi, trong đáng tang cha, cậu bé đã chỉ vào mâm thực phẩm lễ vật mà hỏi ông thày cúng:

– Những bánh trái xôi chè này để cho ai ăn đây?

Ông thày trả lời:

– Dĩ nhiên là để cho cha cậu ăn.

Cậu bé hỏi lại:

– Nhưng cha tôi không còn thân thể, chỉ có hộp tro kia, làm sao mà ăn?

Thày cúng trả lời:

– Dù không còn thân thể nhưng linh hồn cha cậu sẽ ăn.

Cậu bé thắc mắc:

– Nếu đã có cái gọi là linh hồn thì trong thân thể tôi cũng phải có một cái. Vậy hình dáng nó ra sao?

Chắc chắn những câu hỏi như thế không thường xảy ra đối với một đứa bé, dù là một đứa bé mẫn cảm. Nhưng tuổi thơ của thiền sư Bassui thì lại luôn luôn có những câu hỏi nổi lên trong tâm, thí dụ: ”Linh hồn là gì?”, “Ai là kẻ đang nghe, nhìn, hiểu biết đây?”. Chàng tuổi trẻ ấy cứ phải vật lộn với những câu hỏi như thế trong suốt phần đời niên thiếu. Một ngày kia, trong khi đang miên man với câu hỏi không có giải đáp, chàng trai trực nhận được rằng không thể nắm bắt được linh hồn vì bản chất của toàn thể vạn vật vốn là Tánh Không.

Sau này, suốt chiều dài cuộc đời, thiền sư Bassui tích cực hoằng truyền pháp thiền “Trực chỉ nhân tâm, Kiến Tánh thành Phật”, pháp thiền mà Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã từ Tây Trúc không quản khó nhọc, lặn lội sang phương Đông truyền dạy.

Cuối đời, vào tuổi 60, một hôm ngài ngồi kiết già giữa đám đông đệ tử, lên tiếng:

– Đừng bị lầm lạc! Nhìn thẳng! Cái gì đây?

Thiền sư Bassui lớn tiếng nhắc lại câu hỏi một lần nữa rồi lặng lẽ qua đời.

Sau đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả bản dịch bài “Dharma Talk on One Mind”.

“Nếu muốn tự giải thoát khỏi những nỗi thống khổ trong Lục Đạo Luân Hồi thì quý vị phải biết con đường trực ngộ thành Phật. Con đường này chẳng có gì khác hơn là nhận ra được Tâm của quý vị.

Vậy thì, Tâm này là gì?

Tâm này chính là bản chất chân thật tự nhiên vô hình của tất cả các loài sinh vật có tình cảm, nó vốn sẵn sàng, vốn hiện hữu ngay cả trước khi cha mẹ của quý vị được sinh ra, do đó, dĩ nhiên là nó đã có sẵn trước khi bản thân quý vị được sinh ra, nó vốn đã sẵn có đó, không thay đổi và không sinh diệt. Cho nên người ta còn gọi nó là “Bộ mặt trước khi cha mẹ được sinh ra”.

Bản chất của Tâm này hoàn toàn thanh tịnh. Không phải vì chúng ta ra đời mà Tâm này mới được sinh ra và khi chúng ta chết đi thì Tâm này cũng không bị hoại diệt. Tâm này không có sự khác biệt giữa đàn ông và đàn bà, không có mầu sắc của tốt hoặc xấu. Không thể so sánh Tâm này với bất cứ cái gì, cho nên được gọi là Tâm Bản Nhiên, Giác Tánh, Phật Tánh. Vô số lượng ý niệm đã khởi lên từ Tâm Bản Nhiên này như sóng nổi trên biển cả hoặc như hình ảnh phản chiếu trong gương vậy.

Nếu muốn nhận ra được Tâm này thì trước nhất quý vị phải nhìn vào ngọn nguồn mà từ đó các ý niệm khởi lên và trôi chảy. Dù khi ngủ hoặc làm việc, đi đứng hoặc nằm ngồi, phải tự tra vấn tận đáy lòng sâu thẳm: “Tâm của tôi là cái gì?” và thiết tha muốn có lời giải đáp. Đó gọi là “thực tập”, “hành trì”, “khát khao chân lý” hoặc “mong cầu giác ngộ”.

Cái gọi là tọa thiền thì cũng không có gì hơn là nhìn vào Tâm mình. Quán chiếu chính Tâm mình một cách tận lực còn tốt hơn là hằng ngày đọc nhiều vô số lượng kinh chú trong vô số lượng năm. Những loại cố gắng hình thức đó cũng tạo ra được một số phước báu, nhưng khi hưởng hết phước thì lại vẫn phải chịu sự đau khổ của Tam Ác Đạo. Bởi vì việc tìm tòi Tâm mình cuối cùng sẽ đưa tới giác ngộ cho nên cách hành trì này là điều kiện tiên quyết để trở thành Phật.

Dù đã từng phạm các tội Thập Ác hoặc Ngũ Nghịch, quý vị vẫn có thể chuyển hóa tâm thức và giác ngộ thành Phật ngay tức khắc. Nhưng đừng có phạm tội rồi mong đợi được cứu thoát nhờ sự giác ngộ bởi vì không có sự giác ngộ, hoặc Phật hay Tổ nào, có thể cứu kẻ tự lừa dối bản thân để lao mình xuống Ác Đạo.

Hãy tưởng tượng cảnh một đứa trẻ nằm ngủ cạnh cha mẹ, trong giấc mơ thấy bị đánh đập, hoặc bị bệnh nặng đau đớn. Cha mẹ nó không thể giúp dù nó đau khổ tới đâu, vì không ai có thể xen vào giấc mơ của người khác được. Nhưng nếu đứa trẻ thức dậy thì nó sẽ hết đau khổ ngay lập tức một cách tự động. Thì cũng như vậy, người nào nhận ra được Tâm mình chính là Phật thì ngay lập tức sẽ tự giải thoát khỏi mọi nỗi thống khổ của cảnh bị trôi lăn không ngừng trong dòng sông sinh tử. Nếu đức Phật có thể ngăn chặn được thì quý vị có nghĩ rằng Ngài lại để cho ngay cả đến một chúng sinh phải rơi vào địa ngục chăng? Nếu không Giác Ngộ, không ai có thể thấu triệt được những điều ấy.

Ngay lúc này, cái gì là chủ thể ngắm nhìn mầu sắc bằng mắt, nghe tiếng động bằng tai, giơ tay, nhấc chân. Chúng ta biết đó là những chức năng tâm ý thức của chính mình, nhưng không ai biết đích xác chúng đã được thực hiện như thế nào. Có thể khẳng định rằng không có thực thể nào đằng sau những hoạt động này, thế nhưng rõ ràng là chúng được thực hiện một cách tự phát đột khởi. Hoặc có thể khẳng định rằng quả thật đã có những hoạt dụng của thực thể nào đó, nhưng là thực thể vô hình.

Nếu coi như đây là một vấn đề khó hiểu, mọi suy luận để tìm câu trả lời đều ngưng bặt, ta sẽ hoang mang, không còn biết phải làm gì. Trong tình trạng thuận lợi này, nỗi niềm thống thiết mong lời giải đáp của ta càng lúc càng sâu sắc hơn một cách không mệt mỏi, lên đến cực độ.

Khi nỗi thắc mắc thâm nhập tới tận đáy lòng, sẽ xảy ra đột biến nơi tâm thức, hiển lộ chính Tâm này là Phật, là pháp giới Tánh Không.

Trong mộng, quý vị có thể quên đường về nhà. Quý vị nhờ ai đó chỉ lối hoặc cầu xin Trời Phật, nhưng cũng vẫn không về nhà được. Nhưng ngay khi tỉnh ngủ, ra khỏi giấc mơ, quý vị sẽ thấy mình đang nằm trên giường của chính mình và nhận chân được rằng chỉ có một con đường độc nhất để trở về là tự mình thức dậy, ra khỏi giấc mơ. Điều này gọi là “Trở về bản thể” hoặc “Tái sinh nơi an tịnh”. Đây là loại tỉnh thức nội tâm chỉ cần thực tập là người ta có thể đạt được. Hầu như tất cả những người hâm mộ tọa thiền và gắng sức trong hành trì thì dù là cư sĩ hay tu sĩ cũng đều có thể đạt được tới trình độ này. Nhưng dù chỉ tới trình độ này thôi, cũng không đạt được nếu không tọa thiền.

Dầu vậy, bạn sẽ mắc một sai lầm quan trọng nếu như mới tới đây mà bạn đã tưởng rằng mình Triệt Ngộ, không còn điều hoài nghi về bản chất của thực thể. Như thế thì bạn cũng giống như một kẻ tìm được mỏ đồng đã vội bỏ ước vọng tìm ra mỏ vàng.

Đến giai đoạn tỉnh giác này, hãy tự tra vấn sôi nổi hơn nữa với câu:

“Thân tôi như bóng ma, như bọt nổi trên dòng nước. Tâm tôi tự nhìn vào chính nó thì rõ ràng là vô hình, chỉ như khoảng không gian trống rỗng, vậy thì từ nơi đâu trong đây nhận ra được âm thanh? Ai đang nghe?”

Cứ tự hỏi như thế bằng tất cả sự tha thiết, không hề buông lơi lòng nhiệt thành thì cái đầu óc lý sự sẽ kiệt quệ, dần dần chỉ còn lại nỗi thắc mắc mênh mông về câu hỏi không có giải đáp. Cuối cùng, ý thức về thân của bạn sẽ mất luôn. Những khái niệm và tư tưởng từ bao lâu nay chất chứa trong tâm bạn sẽ biến mất sau khi sự tra vấn tiến đến mức cùng cực, như là tất cả những giọt nước biến mất khỏi cái bình vỡ đáy, ngay đó hiển lộ tình trạng Triệt Ngộ như hoa bất thình lình nở bung trên cành cây héo tàn.

Tới đây là quý vị đã đạt được sự giải thoát chân thật. Tuy nhiên, đến giai đoạn này là lúc mà quý vị phải liên tục xả bỏ những gì đã nhận thức, dẹp luôn khái niệm về nhận thức, dẹp luôn chủ thể nhận thức, nghĩa là quyết tâm thấu suốt tận đáy, Tự Tánh sẽ hiển lộ ngày càng bừng sáng hơn và trong suốt, trong khi những vọng niệm u mê tan biến như viên ngọc được chà bóng sáng choang, cuối cùng sẽ chiếu rực rỡ khắp cả vũ trụ.

Quý vị đừng nghi ngờ! Nếu trong đời hiện tại mà niềm khao khát giác ngộ của quý vị chưa đủ mạnh để đưa đến được trạng thái này, thì chắc chắn quý vị sẽ dễ dàng Tự Ngộ trong kiếp tới, với điều kiện là quý vị giữ được sự tra vấn miên mật cho tới khi lâm chung, y như là một việc đang làm dở dang hôm nay thì ngày mai sẽ dễ dàng hoàn tất.

Khi tọa thiền, nếu có niệm tưởng khởi lên, đừng coi thường cũng đừng trân trọng, chỉ tìm tâm mình, đó là ngọn nguồn của tất cả những tư tưởng và ý niệm. Phải hiểu rằng tất cả những gì xuất hiện trong ý thức hoặc trước mắt đều là ảo giác, không phải là thực thể bền vững. Vì thế không nên sợ hãi hoặc say mê những loại hiện tượng này. Nếu quý vị giữ được tâm mình trống rỗng như khoảng không gian, không bị ô nhiễm vì ngoại cảnh thì không ma quỷ nào có thể làm phiền, ngay cả trong giờ phút lâm chung.

Trong lúc tọa thiền, quý vị đừng giữ lại gì trong tâm, kể cả những lời khuyên này. Quý vị phải quyết liệt chỉ làm một việc là hỏi “Tâm này là gì?” hoặc “Cái gì đang nghe những âm thanh này?”

Khi Ngộ được Tâm này, quý vị sẽ biết chính nó là cội nguồn của chư Phật và của tất cả hữu tình chúng sinh. Bồ tát Quán Thế Âm có tên gọi như thế vì ngài đã chứng đắc Nhĩ Căn Viên Thông, thông suốt nguồn gốc âm thanh của tất cả thế gian.

Làm việc hoặc nghỉ ngơi, luôn cố gắng nhận ra ai đang nghe. Dù câu hỏi đã gần như chìm vào vô thức, quý vị cũng không thể tìm ra ai đang nghe và tất cả mọi cố gắng của quý vị sẽ chỉ là hư ảo. Ấy thế mà vẫn nghe thấy âm thanh, cho nên lại càng tự hỏi thâm sâu thêm nữa. Cuối cùng thì tất cả mọi dấu vết của tự thức đều tan biến và quý vị sẽ cảm thấy như bầu trời trong vắt không một sợi mây. Quý vị sẽ không còn thấy có cái “Tôi” đồng thời cũng không tìm ra được người đang nghe. Tâm này như khoảng không gian nhưng cũng không có một vết tích nào để có thể được gọi là trống rỗng.

Trạng thái này thường bị nhận lầm là Giác Ngộ. Nhưng hãy tiếp tục tự hỏi một cách kịch liệt hơn nữa “Bây giờ ai đang nghe?” Cứ tiếp tục như thế, thắc mắc càng lúc càng thống thiết hơn, chẳng còn để ý tới gì khác, thì ngay cả đến cái cảm giác trống rỗng cũng sẽ biến mất và quý vị sẽ không còn nhận thức về bất cứ điều gì, chỉ còn lại khoảng không gian đen tối mênh mông. Đừng ngưng tại đây, cứ tiếp tục tự hỏi bằng tất cả sức bình sinh “Ai đang nghe đây?”. Chỉ khi quý vị đã đẩy thắc mắc đến chỗ hoàn toàn kiệt quệ thì câu hỏi sẽ bùng vỡ, bạn sẽ cảm thấy như một người trở về từ cõi chết. Đó là Chân Ngộ. Bạn sẽ nhìn thấy tận mặt tất cả chư Phật trong pháp giới và tất cả chư Tổ từ thời quá khứ tới nay.

Đến đây, hãy tự trắc nghiệm bằng công án:

Một vị tăng hỏi Triệu Châu:

“Thế nào là ý của tổ sư Bồ Đề Đạt Ma từ Tây Trúc sang Trung Hoa?”

Triệu Châu trả lời:

“Cây bách trước sân”.

Nếu với công án này mà quý vị còn có một chút xíu thắc mắc, dù là nhỏ nhiệm, thì quý vị vẫn còn cần phải tiếp tục câu hỏi

“Ai đang nghe đây?”

Không giác ngộ ngay trong đời này thì quý vị còn chờ đến bao giờ? Chết mất rồi sẽ khó tránh phải chịu khổ lâu dài trong Tam Ác Đạo. Cái gì ngăn trở quý vị giác ngộ giải thoát. Không có gì ngăn trở ngoại trừ khát vọng nửa chừng của chính quý vị đối với chân lý.

Hãy suy tư và dành tất cả sức bình sinh vào điều này”.

Thưa quý thính giả,

Trên đây là bài thuyết pháp của thiền sư Bassui, nói với những người tu hành nghiêm túc, những người muốn đi tới tận mục tiêu cuối cùng mà đức Bổn Sư Thế Tôn đã mong mỏi chúng sinh đạt được. Chúng tôi nguyện ước quý vị thính giả đã có cơ duyên với nhà Phật, đã nghe được bài này, phát tâm bước lên con đường chân chính, đi thẳng tới đích Triệt Ngộ, giải thoát tất cả những nỗi thống khổ do nghiệp chướng từ vô lượng kiếp.

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới. Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 28 – Bản Tâm bất sinh bất diệt

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Trong những kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình bày với quý vị bài kệ tóm tắt con đường tu hành của người Phật tử, như sau:

“Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành”

“Không làm những điều ác” và “Siêng làm những việc lành” là phần đạo đức thế gian, không riêng đạo Phật, mà hầu hết các tôn giáo và các nền giáo dục trên khắp thế giới đều dạy. Duy câu “Tự thanh tịnh tâm ý” thì mới chính là đặc điểm riêng biệt của đạo Phật. Bởi vì, nội dung của “tự thanh tịnh tâm ý” có nghĩa là chấm dứt tất cả những lôi cuốn của Tham, Sân và Si, vốn là nguyên nhân của tất cả mọi nỗi thống khổ trên đời.

Kinh Phật nói: “Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu”, câu đó có nghĩa là khi tâm đã tịnh là đã bạch hóa được nghiệp chướng tích lũy từ vô lượng kiếp. Tội là những nghiệp ác. Tâm đã tịnh rồi thì cũng có nghĩa là tất cả nghiệp thiện và ác đều đã tiêu dung, không còn nghiệp nhân để tái sinh, là chấm dứt được dòng sinh tử, ra khỏi vòng luân hồi. Tóm lại, là hoàn tất được bước thứ tư trong bốn Chân Lý Thâm Diệu, là Diệt Khổ, là giác ngộ giải thoát, thành Phật.

Vậy thì, Tâm là gì?

Thưa quý thính giả,

Nơi kinh Surangama, phiên âm là kinh Thủ Lăng Nghiêm, qua lời giảng giải của đức Phật cho vua Prasenajit, Ngài đã khai mở tâm thức của ông ta, khiến cho ông nhận ra được Bản Tâm bất sanh bất diệt. Chúng tôi xin trích dịch đoạn kinh quan trọng này từ bản Anh ngữ của cư sĩ Charles Luk, như sau:

“Lúc đó, vua Prasenajit đứng dậy bạch Phật:

– Bạch đức Thế Tôn, trước khi được ngài chỉ dạy, đệ tử đã gặp hai người là Katyâyana và Vairatiputra, cả hai đều nói rằng thân này sau khi chết thì hoại diệt. Sự hoại diệt đó được gọi là Niết Bàn. Dù nay đệ tử đã được gặp đức Thế Tôn, nhưng vẫn chưa hiểu rõ điều này. Tất cả chúng đệ tử đây vẫn còn đang trong vòng luân hồi sinh tử, cầu mong làm thế nào để có thể nhận ra được cái Tâm vượt khỏi vòng sinh tử.

Đức Phật nói với vua Prasenajit rằng:

– Đại vương, nay ta hỏi về cái cơ thể máu thịt của nhà vua, nó vĩnh viễn hiện hữu, không thể phá hủy được như là kim cương, hay là nó thay đổi và hư hoại.

Nhà vua bạch rằng:

– Bạch đức Thế Tôn, cơ thể của đệ tử liên tục thay đổi và cuối cùng sẽ hoại diệt.

Đức Phật hỏi:

– Đại vương, ông chưa chết sao biết cơ thể sẽ hoại diệt?

Nhà vua bạch Phật:

– Bạch đức Thế Tôn, dù rằng cái cơ thể không vĩnh cửu mà luôn luôn đổi thay hư hoại này của đệ tử chưa chết, nhưng đệ tử quan sát thấy nó thay đổi và hoại diệt liên tục, không lúc nào ngưng, dù là một thoáng thời gian, âm thầm hoại diệt như lửa cháy tàn dần trở về hư vô.

Đức Phật hỏi:

– Đại vương, nay ông đã già, so sánh hình dáng hiện nay với hình dáng khi ông còn là cậu bé khác nhau ra sao?

Nhà vua trả lời:

– Bạch đức Thế Tôn, khi đệ tử còn nhỏ, da dẻ sáng mịn, đến khi thành niên khí lực sung mãn tràn đầy sức sống. Đến nay tuổi già sức yếu, thân hình còm cõi, thần khí chậm lụt, đầu tóc bạc trắng, da mặt nhăn nheo. Cho nên đệ tử biết rằng thời gian sống trên đời chẳng còn lâu dài gì nữa. Không thể đem cái cơ thể hao gầy của đệ tử ngày nay để so sánh với cơ thể sung mãn đầy sức sống, khi đệ tử còn trẻ được.

Đức Phật hỏi:

– Đại vương, hình dáng ông không phải là bỗng nhiên bị suy tàn, đúng không?

Vua Prasenajit bạch Phật:

– Bạch đức Thế Tôn, tuy nó âm thầm thay đổi liên tục một cách lặng lẽ khiến cho đệ tử không thể nhận ra một cách rõ ràng, nhưng cùng với bốn mùa đổi thay, dần dà hình dáng đệ tử thay đổi tàn tạ đi như ngày hôm nay.

Tại sao vậy?

Bạch đức Thế Tôn, khi đệ tử được 20 tuổi, tuy là còn trẻ trung, nhưng lúc đó đệ tử đã già hơn năm lên 10. Rồi khi 30 tuổi, lại già hơn năm 20. Cho đến ngày hôm nay, đệ tử được 62 tuổi, thì đã già yếu hơn khi mới năm chục tuổi. Bạch đức Thế Tôn, đấy là đệ tử nói về sự âm thầm thay đổi tính theo từng thập niên. Nhưng nếu quan sát kỹ, thì sự thay đổi xảy ra không phải là hằng năm, hằng tháng hoặc hằng ngày, mà nó xảy ra trong từng thoáng thời gian ngắn ngủi, từng sát na tâm thức sinh diệt. Do đó, đệ tử có thể thấy rõ một ngày kia thân này sẽ tàn tạ, sẽ chết.

Đức Phật dạy:

– Đại vương, ông quan sát sự thay đổi liên tục nơi thân ông và biết rằng ông sẽ chết. Nhưng ông có biết tại nơi ông, có cái gì không chết chăng?

Nhà vua chắp hai tay, bạch Phật:

– Bạch đức Thế Tôn, đệ tử thật là không biết.

Đức Phật dạy tiếp:

– Để ta sẽ chỉ ra cho ông thấy Tâm Bản Nhiên bất sanh bất diệt, ở ngoài vòng sinh tử. Đại vương, lần thứ nhất trong đời, ông thấy sông Hằng lúc được mấy tuổi?

Nhà vua bạch:

– Khi đệ tử 3 tuổi, được mẹ dẫn đi lễ thần Jiva. Khi qua sông, đệ tử biết đó là sông Hằng.

Đức Phật hỏi:

– Đại vương, ông mới nói rằng khi ông 20 tuổi, thì già hơn lên 10, cho đến khi 60, ngày qua tháng lại, năm tháng chồng chất, cơ thể ông âm thầm từng ý niệm đã đổi thay. Vậy năm ông lên 3, “tánh chất của sự thấy” có giống “tánh chất của sự thấy” năm ông 13 tuổi chăng?

Nhà vua bạch Phật:

– “Sự thấy” 3 tuổi cũng giống năm 13 tuổi, ngay cho tới nay đệ tử đã 62 tuổi, “sự thấy” cũng vẫn giống hồi đó.

Đức Phật dạy:

– Đại vương, ngày nay ông 62 tuổi, tóc bạc mặt nhăn, hiển nhiên là nhiều nếp nhăn hơn năm ông còn bé. Vậy ngày hôm nay ông thấy sông Hằng, ông có nhận ra rằng “tánh chất của sự thấy” hôm nay già hơn và “tánh chất của sự thấy” năm ông lên 3 trẻ hơn chăng?

Nhà vua bạch:

– Bạch đức Thế Tôn, “tánh chất của sự thấy” luôn luôn vẫn như nhau.

Đức Phật dạy:

– Đại vương, dù da mặt ông nhăn nheo, già đi, Tánh Thấy của ông vẫn trước sau như nhau, không già. Vậy thì, cái gì có già đi thì có thay đổi, cái gì không già đi thì không thay đổi. Sự thay đổi đi tới hoại diệt, sự không thay đổi thì bản chất vốn ngoài vòng sinh tử. Tại sao ông lại nói theo lời của bọn tà đạo Maskari cho là đời này sau khi chết trở thành hư vô.

Sau khi nghe lời dạy của đức Phật, vua Prasenajit nhận ra được rằng sau khi chết không phải là cõi hư vô, mà sẽ tái sinh vào đời sống mới. Nhà vua và toàn thể chư đệ tử đều rất vui mừng được nghe một bài pháp vô cùng quý giá về Tâm Bản Nhiên bất sanh bất diệt mà họ chưa từng được nghe.

Thưa quý thính giả,

Tâm Bản Nhiên ở đây chính là Bản Thể Tuyệt Đối, Phật Tâm, Phật Tánh, Giác Tánh, Giác Tri Kiến, Tri Kiến Phật, Chân Tâm, Tâm Chân Như, Trí Tuệ Bát Nhã (Prajna Paramita), Niết Bàn, Tánh Không, Buddha Nature, Buddha Mind, True Mind, True Nature, … vân vân …

Theo Luận Đại Thừa Khởi Tín của Luận Sư Mã Minh thì Tâm chúng sanh có hai phương diện là Tâm Chân Như và Tâm Sanh Diệt, còn gọi là Chân Tâm và Vọng Tâm. Nền tảng của “Tâm Sinh Diệt” là Tàng Thức, nghĩa là cái kho, còn gọi là Thức Thứ Tám trong Tâm Lý Học, mà thuật ngữ nhà Phật gọi là Duy Thức Học. Nhà Phật quan niệm rằng tất cả các hiện tượng trên thế gian đều do Tâm Thức biến hiện mà thành, cho nên gọi là Duy Thức.

Theo kinh Viên Giác của nhà Phật, thì “Tất cả chúng sinh vốn là Phật” cũng như vàng vốn sẵn là vàng, nhưng là vàng quặng, lẫn tạp chất, nên phải gạn lọc, xả bỏ tạp chất cho sạch để trở về bản chất vàng, chứ không phải dùng chất khác mà làm thành vàng được. Tu hành cũng vậy, chỉ là xả bỏ chất độc hại là Tham Sân Si, chấm dứt vọng tâm điên đảo, thanh tịnh hóa Tâm, là trở về Bản Thể Phật Tánh, mà Sơ Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma dùng chữ của thế gian cho dễ hiểu, gọi là “Kiến Tánh thành Phật”.

Theo quan điểm của nhà Phật thì dòng sinh mệnh khởi đi do một niệm vô minh bất giác bỗng nổi lên từ Biển Tâm mênh mông, cũng như người đang thức, chớp mắt đã lạc vào giấc ngủ. Trong mơ, thấy đủ thứ hiện ra, bị đánh cũng thấy đau, khóc cũng có nước mắt, sợ hãi cũng chạy trốn, vân vân … Nhưng thời gian của giấc ngủ bình thường chỉ lâu có một đêm, sáng dậy bèn biết ngay rằng chuyện xảy ra trong đêm là ngủ mơ, không thật.

Dòng sinh tử của con người kéo dài triền miên, từ cái niệm vô minh bất giác đó khởi đi, hết đời này tới kiếp khác, tạo nghiệp thiện, hoặc ác, tất cả đều chứa trong Tàng Thức (là cái kho), làm nhân cho những kiếp sau, tiếp tục trôi lăn trong mê vọng của sinh tử luân hồi, mãi đến khi nào thức tỉnh, trở lại được trạng thái Tâm Thanh Tịnh, thì mới hội nhập lại với Bản Thể Chân Tâm được, đó là Kiến Tánh thành Phật. Phật có nghĩa là người giác ngộ, không phải là thần linh.

Thưa quý thính giả,

Tất cả các con đường tu học của Phật giáo đều nhấn mạnh vào sự thanh tịnh hóa và luyện cho Tâm được an định. Tâm có an định thì mới có thể nhìn rõ sự việc trên thế gian, cũng như thùng nước có đứng lặng thì mới nhìn thấy cây kim dưới đáy. Do Tâm an định, đời sống tinh thần được an lạc, ứng xử sáng suốt, chuyển hóa nghiệp xấu trở thành tốt, tạo nền tảng cho sự tu hành rốt ráo đến kiến Tánh thành Phật, giải thoát khỏi tất cả nỗi thống khổ.

Để đạt được điều này, nhà Phật có những pháp môn tu, thí dụ Ngũ Đình Tâm Quán, Thiền Chỉ Quán, Thiền Tứ Niệm Xứ, Thiền Tông, Thiền Minh Sát, Tịnh Độ Tông, Mật Tông, vân vân… Hành trì theo đường lối của các pháp môn tu này sẽ giúp hành giả gỡ bỏ những vướng mắc Tham Sân Si vốn đã xuất hiện từ vô thủy.

Như thế, đạo Phật không bi quan, không lạc quan, chỉ phân tích rõ ràng thực tế vận chuyển của cuộc đời và dạy những pháp môn tu tập để mọi người được tỉnh thức thật sự, tiếp cận với đời sống ngay trong hiện tại một cách vững vàng, sáng suốt.

Thưa quý thính giả, 

Nhân đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện Thiền, trích dịch từ cuốn “Only Don’t Know, The Teaching Letters of  Zen Master  Seung Sahn”, câu chuyện như sau:

“Hồi đó, trên dẫy núi mênh mông có một con gấu đen to lớn, khỏe và đẹp, ngênh ngang tung hoành. Nó sống cuộc đời  đầy tự do và hạnh phúc. Ngoài những lúc lăn ra ngủ, nó dùng hầu hết thời giờ để đi kiếm thức ăn. Cũng có khi nó kiếm được ê hề, nhưng cũng có khi nó đi không rồi lại về không. Cuộc đời nó cứ thế mà trôi, tự do tự tại.

Thế rồi một ngày kia, có một đám người tới bắt nó đem về nhốt vào chiếc chuồng nhỏ của một gánh xiếc lớn. Chẳng mấy chốc nó đã được một nhà luyện thú dậy cho biết cách đóng trò trong gánh xiếc này. Mỗi lần con gấu biểu diễn đúng theo lời dậy thì nó được cho ăn no nê.

Ngoài giờ đóng trò, nó chỉ đi tới đi lui trong chuồng. Cái chuồng thì nhỏ, nên nó biết rõ đến nỗi thuộc làu từng chi tiết. Đồ ăn thì luôn luôn ê hề cho nên chẳng bao lâu nó đã quên biến mất quãng đời liệt oanh, khi mà nó một mình một giang sơn nơi rừng sâu núi thẳm.

Nhiều năm trôi qua, một đêm kia có mấy kẻ phá hoại lẻn vào gánh xiếc phá bung tất cả các chuồng để thả thú ra. Con gấu bỗng nhiên được tháo cũi xổ lồng, vội vã bỏ gánh xiếc chạy thục mạng một mạch về vùng núi xưa, nơi đã một thời là giang sơn của nó.

Nhưng dẫy núi xưa đó sao nay có vẻ xa lạ quá khiến cho nó không còn dễ dàng kiếm được đồ ăn như trước nữa. Thế là nó bèn quay ra biểu diễn vài màn nhào tới lộn lui, rồi lại nhào lui lộn tới.

Có mấy con gấu đi ngang qua dừng lại coi, rồi hỏi rằng nó đang làm gì, thì nó trả lời:

– Ồ, tao đang làm trò xiếc để sẽ được cho ăn  đấy mà.

Cả đám gấu khán giả lăn ra cười:

– Rõ thật là cái thằng ngốc! Mày đang ở trên núi. Ai sẽ đem thức ăn đến để thưởng công biểu diễn xiếc cho mày. Hãy tự đi mà kiếm ăn, thằng ngu kia!

Nhưng bây giờ thì con gấu đã trở nên quá gắn bó với cái chuồng của nó, khiến cho nó quên tuốt luốt tất cả mọi sinh hoạt của đời sống tự do tự tại.

Loài người thì cũng thế. Mỗi người đều có một cái lồng mà họ bị dính mắc vào — cái lồng của bác sĩ, cái lồng của luật sư, cái lồng của giáo sư, cái lồng của công việc, cái lồng của tình bằng hữu, cái lồng của tình gia đình.

Vì con người sống trong những cái lồng này cho nên họ không còn thật sự thấu hiểu thế nào là tự do nữa. Điều đó có nghĩa là họ không hiểu biết phần còn lại của vũ trụ. Họ chỉ thấu suốt được cái đời sống loanh quanh hẹp hòi, đóng khung trong cái lồng của họ.”

Thưa quý thính giả,

Cái lồng mà thiền sư Seong Sahn nói đó, áp dụng vào thực tế trong đời sống, chính là cái khung, cái khuôn khổ, nếp sống vật chất và tinh thần cứng ngắc mà mỗi người tự nhốt mình vào, tự mình làm mất tự do của chính mình.

Kính thưa qu‎‎ý vị,

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 27 – Tâm được tịnh rồi, tội liền tiêu

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Vào một buổi bình minh khi sao Mai xuất hiện trên bầu trời, thái tử Tất Đạt Đa bừng tỉnh cơn mê vọng từ vô lượng kiếp, Giác Ngộ triệt để, trở thành một vị Phật. Ngay khi đó, Ngài thấu suốt mọi sự việc, bèn than rằng: “Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có trí huệ đức tướng Như Lai, chỉ vì vọng tưởng chấp trước mà chẳng thể chứng đắc”!

Do thấu triệt sự thực đó, đức Phật khởi tâm từ bi, dùng tất cả thời giờ còn lại trên thế gian gấn năm chục năm, để dạy chúng sinh tu hành tới giác ngộ giải thoát, thành Phật như Ngài.

Tuy thời gian giáo hóa chúng sinh dài gần nửa thế kỷ, tựu trung, cốt tủy tất cả những lời dạy đó được đức Phật tóm tắt bằng tuyên ngôn:

– “Này chư Tỳ kheo, bây giờ cũng như trước đây, Như Lai chỉ dạy về “Khổ” và về “Con Đường Diệt Khổ”.

Có người cho rằng đức Phật nói đời là bể khổ, nghĩa là không có niềm vui nào ở thế gian, nên phải tu hành để sau khi chết sẽ được vào Niết Bàn mới hết khổ.

Nói như thế là đã hiểu lầm rất lớn lời dạy của Đức Phật.

Đức Phật cũng nói đến hạnh phúc, nhưng ngài dạy rằng vì tất cả mọi sự trên thế gian đều không vĩnh viễn, đều vô thường, vì thế, hạnh phúc trên thế gian dĩ nhiên là có, nhưng vì không vĩnh viễn, nên khi nó chấm dứt thì khổ.

Nơi kinh Hạnh Phúc, trong khi các vị Trời và người suy tư và mong mỏi được hạnh phúc, mới bạch lên đức Phật, xin giải nghĩa thế nào là chân hạnh phúc?

Đức Phật dạy đại ý như sau:

– “ Muốn có hạnh phúc chân thật thì phải:

* Biết kính trọng và gần gũi các bậc hiền đức, đáng kính và tránh những kẻ si mê.

* Nên ở khu dân cư hiền hòa, giữ gìn sự ngay thẳng và các giới luật.

*Trong giao tiếp với tha nhân cần phải hòa ái.

* Phải phụng dưỡng cha mẹ và thương yêu gia đình vợ chồng con cái, không gây nên những chuyện vương vấn phiền hà.

* Đối với thân nhân chòm xóm cần phải khiêm cung, cảm thông và giúp đỡ lẫn nhau, mang ơn ai thì nên nhớ.

* Tránh xa rượu chè và các tệ nạn, nên sống theo đạo đức.

* Thường viếng thăm các bậc tu hành đạo cao đức trọng để thảo luận.

* Gìn giữ sự trong sạch thân và tâm, siêng năng tu tỉnh để thông suốt chân lý mới có được niềm vui thanh tao an tịnh.

* Trong giao tiếp với thế gian, gìn giữ để không bị sa ngã, buồn phiền.

Nếu giữ được thân tâm an bình thanh thản như vậy thì đó chính là chân hạnh phúc”.

Thưa quý thính giả,

Trong bộ luận Trung Quán, Luận Sư Long Thọ (Nagarjuna) đã viết rằng chư Phật nói pháp nương theo hai chân lý, là chân lý quy ước và chân lý tuyệt đối. Nếu người học Phật mà không phân biệt được hai chân lý này thì không thể tiến được tới đích là Niết Bàn.

Thật vậy, trong đời sống hằng ngày, chúng ta phải tuân theo chân lý quy ước, do đó, cũng có những hạnh phúc trong vòng quy ước.

Nhưng nếu tu hành thanh tịnh hóa tâm, Thực Chứng được Bản Thể Chân Tâm, thì chúng ta đạt được hạnh phúc Niết Bàn, hạnh phúc đó vượt lên trên những hạnh phúc nhỏ bé trong đời thường.

Để có thêm tài liệu về sự cần thiết tập giữ cho tâm tĩnh lặng, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị bài pháp của đức Đạt Lai Lạt Ma, trích dịch từ cuốn The Art of Happiness, a Handbook of Living, nội dung gồm những cuộc đối thoại giữa đức Đạt Lai Lạt Ma và bác sĩ Howard Cutler về các vấn đề liên quan đến hạnh phúc của kiếp người.

Đề cập đến vấn đề làm thế nào để có hạnh phúc trong đời sống, ngài Đạt Lai Lạt Ma giải thích rằng:

– …”… Dù có thể đạt được đấy, nhưng hạnh phúc không phải là  chuyện giản dị. Có nhiều mức độ của hạnh phúc. Lấy thí dụ như trong đạo Phật, người ta thường đề cập đến 4 yếu tố đem lại sự thỏa mãn, tạm gọi là hạnh phúc, gồm có giầu có, danh vang thế giới, sự thông tuệ và minh triết. Tổng hợp những điều này lại, là tiêu chuẩn của hạnh phúc mà một người có thể đạt được.

Hãy tạm gác qua một bên những điều cao xa về tâm linh như sự thanh tịnh toàn hảo, sự giác ngộ triệt để. Chúng ta hãy bàn về những niềm vui và hạnh phúc đời thường.

Trong đời sống hằng ngày, cũng có những yếu tố then chốt mà chúng ta thừa nhận là đã mang lại niềm vui và hạnh phúc. Thí dụ như khỏe mạnh, không bệnh tật, cũng là một trong những điều cần thiết phải có của một cuộc sống hạnh phúc. Hoặc sự phong phú về của cải vật chất, tiền bạc tích lũy, cũng được coi là những yếu tố tạo dựng hạnh phúc. Rồi thì tình bạn hoặc tình tri kỷ, tri âm. Chúng ta đều công nhận rằng muốn có một cuộc sống phong phú, mãn nguyện, chúng ta cần có một số bạn bè cảm thông với chúng ta và chúng ta có thể tin cậy được.

Bây giờ chúng ta thấy rằng tất cả những yếu tố kể trên là nguồn mang hạnh phúc lại cho chúng ta. Thế nhưng, để mỗi người có thể ứng dụng triệt để vào mục tiêu tận hưởng hạnh phúc của cuộc đời thì trạng thái tinh thần mới chính là yếu tố quyết định.

Nếu chúng ta đem những lợi điểm của chúng ta , thí dụ sức khỏe hoặc tiền bạc phong phú dùng vào những lãnh vực tích cực như giúp đỡ tha nhân thì đúng là chúng sẽ mang lại cho chúng ta cuộc sống hạnh phúc.  Và chắc chắn là chúng ta cũng sẽ tận hưởng được hương vị của cuộc sống vật chất đầy đủ và thành công này.

Nhưng nếu không có cuộc sống tích cực, lành mạnh, không quan tâm đến yếu tố tinh thần, thì những lợi điểm mà chúng ta có như tiền bạc, sức khỏe, cũng sẽ chỉ ảnh hưởng rất ít vào niềm hạnh phúc trường cửu của chúng ta.

Thí dụ, nếu bạn giữ lại những ý tưởng ghét bỏ, căm hờn trong đáy lòng, thì những tâm niệm đó sẽ tàn phá sức khỏe của bạn, thế là chúng đã làm mất đi một trong những yếu tố mang lại hạnh phúc.

Cũng thế, nếu trong lòng bạn đầy phiền não, bất mãn, thì dù thể chất bạn có mạnh đến đâu cũng không thể gỡ rối cho tâm hồn.

Mặt khác, nếu bạn giữ được sự an tịnh trong nội tâm thì bạn có thể là một người rất hạnh phúc, dù bạn có thể chất yếu đuối đi nữa. Hoặc ngay như bạn có những vật sở hữu quý giá, trong lúc nổi giận, bạn cũng thấy như là muốn liệng bỏ, đập phá tất cả. Trong cơn giận dữ, những vật sở hữu, của cải, chẳng còn có ý nghĩa gì.

Ngày nay, có những xã hội phát triển mà đời sống tiện nghi vật chất lên rất cao, nhưng cũng chính ở những xã hội đó, lại có rất nhiều người không cảm thấy hạnh phúc. Ngay dưới lớp mặt tiền đẹp đẽ của sự sung túc, là những mỏi mệt của tâm hồn, đưa đến thất vọng, đến những sự tranh cãi vớ vẩn, những lệ thuộc vào chất kích thích, hoặc say sưa rượu chè. Đôi khi còn xảy ra những trường hợp thê thảm hơn, là tự sát.

Cho nên không thể bảo đảm rằng chỉ cần lắm bạc nhiều tiền là đã có thể đem lại niềm vui hoặc sự mãn nguyện, điều mà người ta đang đi tìm.

Trong tình bạn cũng thế, khi bạn đang nổi trận lôi đình, thì dù ngay đến người bạn chí thân của bạn, cũng hiện lên trong tâm trí bạn với cảm giác băng giá, lạnh nhạt, xa cách và khó chịu.

Tất cả những điều trên đây nói lên tầm ảnh hưởng sâu rộng của yếu tố tinh thần mà chúng ta đã có kinh nghiệm trong đời sống hằng ngày, cho nên, chúng ta cần phải rất quan tâm.

Vậy thì hãy tạm để vấn đề tu tập về tâm linh qua một bên, ngay như chỉ với những việc thông thường, chỉ là vấn đề vui thú trong đời sống hằng ngày mà thôi, nếu chúng ta càng giữ được sự tĩnh lặng trong tâm hồn bao nhiêu thì chúng ta càng đạt được niềm hoan hỉ, hạnh phúc bấy nhiêu.”

Ngừng một lát như muốn cho lời giải thích đủ thời gian thấm vào lòng người nghe, ngài Đạt Lai Lạt Ma tiếp:

– Tôi cần phải xác định rõ là khi chúng ta nói về trạng thái tâm hồn an tịnh, hoặc tâm hồn bình ổn, chúng ta đừng lầm lẫn với tình trạng lãnh đạm, vô cảm. Một tâm hồn tĩnh lặng không phải là một đầu óc rỗng tuếch hoặc hoàn toàn trống vắng. Tâm hồn an tịnh hoặc trạng thái bình tĩnh bắt nguồn từ tình thương yêu và lòng trắc ẩn rất sâu đậm, là mức độ cao của sự mẫn cảm.”

Để kết thúc, ngài Đạt Lai Lạt Ma nói:

-“Thiếu sự rèn luyện để có một trạng thái tĩnh lặng trong tâm hồn thì bất kể bạn có bao nhiêu của cải hoặc có những điều kiện sống tốt như thế nào, chúng cũng không thể mang lại cho bạn cảm giác an lạc và hạnh phúc, là những điều bạn đang tìm kiếm.

Mặt khác, nếu bạn có được sự an bình nội tâm, thì dù có thể là bạn đang thiếu những của cải vật chất mà bạn thường tưởng rằng chúng là những điều cần thiết để mang lại hạnh phúc, bạn vẫn có thể sống một cuộc đời rất vui vẻ và hạnh phúc.”

Trên đây là bài pháp của đức Đạt Lai Lạt Ma nói về hạnh phúc trong đời sống hằng ngày.

Thưa quý thính giả,

Về vấn đề tội lỗi, nhà Phật quan niệm rằng nguyên nhân vì vô minh, khởi những tâm niệm xấu ác, di chuyển trong vòng nhân quả, tạo nghiệp nhân, thọ quả báo, tánh của tội lỗi vốn không cố định, cũng ví như căn nhà không có đèn thì tối, nếu bật đèn lên thì bóng tối biến mất, căn nhà sáng trưng, căn nhà không cố định phải tối mãi mãi.

Tâm con người cũng chuyển hóa như thế, lúc nhiều vọng tưởng, tâm viên ý mã thì dễ tạo nghiệp, khi tâm đã thanh tịnh thì nghiệp cũng chuyển hóa thành không.

Có bài kệ như sau:

Tội từ tâm khởi đem tâm sám
Tâm được tịnh rồi, tội liền tiêu
Tội tiêu, tâm tịnh, thảy đều không
Thế mới thật là tâm sám hối.

Yếu tố quyết định của công cuộc xây dựng hạnh phúc trong đời sống, hoặc tu tập tới đạt đạo trong nhà Phật vẫn là chuyển hóa tâm thức.

Thưa quý thính giả,

Nhân đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện Thiền, trích dịch từ cuốnCollection of Stone and Sand”, do thiền sư Muju viết bằng Nhật ngữ, Paul Reps dịch sang Anh Ngữ. Câu chuyện nói về sự chuyển hóa tâm thức của một người say sưa hư hỏng trở thành một vị đạo sư cao quý, như sau:

“Thiền sư Gudo là thày của hoàng đế  đương triều. Dầu vậy, ông thường đi lang thang một mình như tên ăn mày không nơi trú ngụ.

Một lần trên đường đến thủ phủ Edo, trung tâm văn hóa và chính trị của thời đại Tướng Quân, ông tiến về phía làng Takenaka. Lúc đó trời đã về chiều và mưa rơi nặng hạt, cả người thiền sư Gudo ướt sũng, đôi dép rơm bở ra thành từng mảnh. Ông bỗng nhìn thấy 4, 5 đôi dép trên thành cửa sổ của một nông trại ngay gần làng, liền tiến lại định mua một đôi khô ráo.

Nhưng bà chủ nhà không bán mà biếu ông một đôi, đồng thời mời ông ở lại qua đêm tại nông trại vì cả người ông đã ướt sũng nước. Thiền sư Gudo nhận lời ở lại và cảm ơn bà ta. Ông tiến đến trước bàn thờ và tụng một bài kinh. Sau thời kinh, bà chủ giới thiệu mẹ và bầy con của bà ta với vị khách quý.

Thấy mọi người trong gia đình đều có vẻ buồn bã, không vui, thiền sư bèn hỏi lý do. Bà chủ nhà tiết lộ:

– Chồng tôi là một người ham mê cờ bạc, rượu chè. Nếu ông ta đánh thắng, thì ông ta đem tiền đi nhậu say sưa, rồi về đánh đập vợ con. Khi thua thì ông ta mượn tiền mọi người. Hôm nào say quá, ông ta vắng nhà qua đêm luôn, không về. Tôi còn có thể làm gì bây giờ?

Thiền sư trả lời:

– Vậy tôi sẽ giúp ông ta. Bà cầm chút tiền này đi mua một vò rượu và đồ nhắm ngon để sẵn đây rồi cứ việc đi nghỉ. Tôi sẽ tọa thiền trước bàn thờ là được rồi.

Khoảng nửa đêm, ông chủ nhà ngất ngưởng trở về, giọng lè nhè gầm gừ:

– Này con mụ vợ, ta đã về đây, có gì cho ta bỏ vào bụng không?

Thiền sư Gudo lên tiếng:

– Có đây, tôi có đồ ăn cho ông đây. Tôi mắc mưa bất thình lình nên bị ướt hết. Vợ ông đã có lòng tốt cho tôi tá túc đêm nay. Cảm tạ sự tử tế của bà ấy, tôi đã mua vò rượu và cá, ông có thể nhắm nháp.

Ông chủ nhà vui vẻ xách vò rượu lên tu một hơi, rồi đổ kềnh xuống sàn nhà, thiếp đi. Thiền sư Gudo tọa thiền ngay bên cạnh ông ta.

Sáng hôm sau khi thức giấc, ông chủ nhà đã quên mất tiêu mọi chuyện xảy ra đêm qua. Nhìn thấy thiền sư Gudo đang tọa thiền ngay bên cạnh, ông cất tiếng hỏi:

– Ông là ai, từ đâu tới?

Thiền sư trả lời:

– Tôi là Gudo ở Kyoto đang trên đường đến Edo.

Ông chủ nhà cảm thấy quá sượng sùng, thiết tha xin lỗi vị thiền sư đồng thời cũng là thày của hoàng đế.

Thiền sư cười, an ủi:

– Ông à, tất cả mọi sự trên đời này đều vô thường, không vĩnh viễn tồn tại. Cuộc đời rất ngắn ngủi. Nếu ông cứ cờ bạc rượu chè thì sẽ không còn thời giờ để hoàn tất việc gì, ngoài ra, ông còn làm cho cả gia đình đều khổ.

Người chồng bỗng như chợt tỉnh mộng thốt lên:

– Ngài nói đúng. Làm sao tôi có thể trả cái ơn ngài đã dạy tôi bài học tuyệt vời này. Để tôi mang đồ của ngài và tiễn ngài một đoạn đường.

Thiền sư chấp nhận lời thỉnh cầu:

– Nếu ông muốn thì tốt thôi.

Hai người lên đường. Đi được khoảng ba dặm, thiền sư bảo người đàn ông trở về. Nhưng ông ta năn nỉ:

– Để tôi đi 5 dặm nữa thôi.

Rồi họ tiếp tục đi. Một lát sau, thiền sư dục người đàn ông:

– Bây giờ thì trở về nhé.

Ông ta trả lời:

– Để tôi đi thêm 10 dặm.

Một thời gian phỏng chừng đã đi được quá mười dặm, thiền sư lên tiếng:

– Thôi về đi ông.

Nhưng người đàn ông dõng dạc trả lời:

– Thưa ngài, tôi sẽ đi theo ngài suốt cuộc đời này.

Ngày nay, có một dòng thiền rất phát triển tại Nhật, truyền thừa từ một bậc thày danh tiếng vốn là truyền nhân của đại sư Gudo. Tên của bậc thày đó là Mu-nan, có nghĩa là “người không bao giờ quay lại”.

Thưa quý thính giả,

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 

Bài 26 – Sống đạo trong gia đình

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Như quý vị đã biết, nội dung tu tập của đạo Phật có thể tóm gọn lại trong bốn câu kệ:

Không làm điều xấu, ác

Siêng làm điều tốt, lành

Thanh tịnh hóa tâm ý

Lời chư Phật dạy rành

Trong đó, hai câu đầu “Không làm điều xấu ác” và “Siêng làm điều tốt lành” là phần tu hành để chuyển hóa tâm niệm và hành động từ xấu trở thành tốt, ta thường gọi là Tu Phước, là giữ gìn 5 Giới và làm 10 điều Thiện.

Câu thứ 3, “Thanh tịnh hóa tâm ý”, là mục tiêu cốt tủy của đạo Phật, là Tu Huệ. Giai đoạn tu Huệ này mà hành trì tích cực thì có thể Ngộ Đạo, giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, kiến Tánh thành Phật, như đức Phật.

Như thế, những Phật tử dù đang sống trong gia đình, thậm chí trong đại gia đình có đông người, nếu muốn áp dụng đạo Phật vào đời sống hằng ngày, vẫn có những hướng dẫn chi tiết, tỉ mỉ, do đức Phật và các vị đạo sư thiết lập, để Phật tử cư sĩ có thể thực hiện ngay trong tầm tay, mà không cần phải vào chùa hoặc lên núi tu hành mới có thể áp dụng được lời Phật dạy.

Thưa quý thính giả,

Ðạo Phật đã bị hiểu lầm rất nhiều, người thì cho rằng Tăng Ni nhà Phật chỉ lo cúng đám làm chay cho người chết, kẻ lại nghĩ rằng đạo Phật chỉ thích hợp với các bậc tu sĩ ở ẩn.

Với mục đích trình bày minh bạch sự trong sáng của đạo Phật, đồng thời cũng để quý vị có một bài pháp rất chi tiết để áp dụng hằng ngày, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một bài giảng, trích từ cuốn What the Buddha Taught, tác giả là hòa thượng Walpola Rahula, do đạo hữu Vy Khanh dịch ra Việt ngữ.

Hòa thượng dạy rằng:

…”… Có một số người cho là đạo Phật quá cao siêu, một đường lối tu quá nghiêm túc, khắc khổ, khiến cho những người dân bình thường sống trong thế giới ngày nay không thể kham nổi. Như thế, nếu muốn thực hành giáo pháp, muốn làm một Phật tử chân chính, người ta phải rút lui vào các tu viện, hoặc những nơi vắng vẻ.

Rõ ràng đây là một sự hiểu lầm rất đáng tiếc, do thiếu hiểu biết về giáo lý nhà Phật. Người ta thường vội vã có những kết luận sai lầm như thế, sau khi nghe một vài mẩu chuyện, hoặc tình cờ đọc một cuốn sách, mà vì thiếu sự tìm hiểu rộng rãi, tác giả đã viết về đạo Phật một cách phiến diện.

Giáo lý của nhà Phật không phải chỉ dành riêng cho giới tu sĩ trong tu viện, mà là của tất cả mọi người, kể cả những nam nữ cư sĩ sống trong gia đình. Tuân theo Bát Chánh Ðạo là sống trong tinh thần Phật giáo. Dù là tu sĩ hay cư sĩ, mọi người đều có thể áp dụng nguyên tác này vào cuộc đời, không phân biệt.

Ðại đa số dân chúng trên thế giới không thể trở thành tu sĩ, hay rút lui vào các hang động hoặc rừng sâu núi thẳm để ẩn tu. Vậy nếu những người này mà không ứng dụng được lời dạy của đức Phật vào đời sống hằng ngày của họ thì dù những lời dạy ấy có cao siêu, tinh khiết đến đâu đi nữa, đối với họ cũng là vô dụng. Tuy nhiên, nếu bạn hiểu đúng tinh thần của giáo pháp, — không phải chỉ hiểu theo từ ngữ  —  thì chắc chắn bạn có thể thực hành Phật pháp trong khi vẫn sống cuộc đời bình thường.

Có thể có một số người cảm thấy nếu ở ẩn tại một nơi xa xôi vắng vẻ, chấm dứt các hoạt động xã hội, thì sự hành trì Phật pháp sẽ dễ dàng và thoải mái hơn. Nhưng lại cũng có thể có người thấy rằng đời sống ẩn dật đó thật là tẻ nhạt, khiến cho cả tâm hồn và thể xác của họ đều uể oải, không thể giúp cho cuộc sống tinh thần và nội tâm của họ được thăng hoa.

Sự ẩn dật chân chính không có nghĩa là phải xa lánh hẳn thế gian. Tôn giả Sariputta, một đại đệ tử của Phật nói rằng, một người có thể tu khổ hạnh trong rừng nhưng tâm vẫn đầy những tư tưởng ô nhiễm, bất tịnh, trong khi một người khác có thể sống trong làng mạc hay thành thị, không thực hành khổ hạnh, mà tâm lại thanh tịnh, trong sáng. Ngài nói, so sánh giữa hai người ấy, thì người sống cuộc đời thanh tịnh nơi làng mạc, thành thị, lại cao cả và giá trị hơn người kia rất nhiều.

Dường như đối với một số người thì sự lui về ẩn tu trong một nơi vắng vẻ, không bị quấy nhiễu phiền phức, sẽ cảm thấy thoải mái. Nhưng nếu có thể thực hành Phật pháp tại nơi ồn náo, sống giữa đồng loại để giúp đỡ và phục vụ họ, thì lại càng can đảm và đáng khuyến khích hơn. Trong vài trường hợp, người ta có thể sống ẩn dật để tịnh tu một thời gian cho đời sống nội tâm thêm sâu sắc, đạo lực thêm bền chắc, ngõ hầu trau giồi cho nhân cách tăng trưởng, thêm khả năng để sau này giúp đỡ mọi người.

Mặc dầu vậy, nếu có người nào mà lại đem cả cuộc đời dành cho sự sống trong cô độc, chỉ nghĩ đến hạnh phúc và “cứu rỗi” cho riêng mình, không quan tâm đến đồng loại, thì điều này chắc chắn không phù hợp với lời dạy của đức Phật, vốn đặt nền tảng trên tình thương, lòng trắc ẩn và sự phục vụ tha nhân.

Kinh Sigala-Sutta đã nói lên sự quan tâm sâu sắc của đức Phật đối với cách hành xử của người cư sĩ tu tại gia, trong những mối dây liên hệ với gia đình và thân bằng quyến thuộc, như sau:

Có một chàng thanh niên tên Sigala, vâng theo lời dặn dò của người cha trước khi qua đời, hằng ngày thường quay mặt về sáu Phương là Ðông, Nam, Tây, Bắc, Trên, Dưới, để sì sụp lễ lạy.

Ðức Phật bảo anh ta rằng theo Phật pháp, sáu Phương có nghĩa khác. Phật pháp dạy rằng Phương Ðông là cha mẹ, Phương Nam là thầy dạy, Phương Tây là vợ con, Phương Bắc là bạn bè, quyến thuộc, láng giềng, Phương Dưới là người làm công và thợ thuyền, Phương Trên là tu sĩ và đạo sư. Ngài dạy Sigala phải tôn kính sáu Phương này. Ở đây chữ  tôn kính có ý nghĩa rất đặc biệt, vì người ta chỉ tôn kính cái gì thiêng liêng, cao quý, đáng kính. Ðạo Phật coi sáu nhóm người này như là những điều thiêng liêng, xứng đáng được tôn kính.

Nhưng làm thế nào để tỏ lòng tôn kính?

Ðức Phật dạy rằng chỉ có thể tỏ lòng tôn kính chân thành bằng cách làm tròn bổn phận đối với họ. Những bổn phận này được đức Phật giảng giải rõ ràng cho Sigala như sau:

– Thứ nhất: cha mẹ là thiêng liêng đối với con cái. Cha mẹ là Trời. Từ ngữ “Trời” để biểu tượng sự cao quý và thiêng liêng nhất, theo tư tưởng Ấn Ðộ. Cho nên ngay tại thời đại này, trong những gia đình theo đạo Phật thuần thành, sáng chiều hằng ngày, con cái vẫn có những hành động để tỏ lòng tôn kính cha mẹ. Họ phải làm một số bổn phận đối với cha mẹ theo giáo lý nhà Phật: Săn sóc khi cha mẹ già yếu, làm những điều cần thiết để giúp đỡ cha mẹ, giữ gìn danh dự và truyền thống gia đình, bảo vệ tài sản cha mẹ để lại, và khi cha mẹ qua đời thì cử hành các nghi thức trong tang lễ của cha mẹ.

Về phần cha mẹ, họ cũng có những bổn phận đối với con cái, phải giữ gìn, dạy bảo cho con cái tránh xa những đường tà, khuyến khích con cái làm những việc tốt lành và ích lợi, cho con cái được hưởng một nền giáo dục chu đáo, tìm những gia đình lương thiện cho con cái kết hôn và khi con cái đã trưởng thành thì chia gia tài cho họ.

– Thứ hai: liên hệ giữa thầy và trò. Người học trò phải kính trọng và vâng lời thầy, phải chú ý đến những sự cần thiết của thầy, nếu thầy cần, phải chăm lo học hành. Về phía thầy, phải tận tâm dạy bảo học trò một cách chu đáo, giới thiệu bạn tốt cho trò và khi trò tốt nghiệp thì cố gắng tìm việc làm để bảo đảm kế sinh nhai cho trò.

– Thứ ba: liên hệ giữa chồng và vợ. Tình yêu giữa vợ chồng được coi gần như một nếp sống đạo, có tính cách thiêng liêng. Giữa vợ và chồng phải có sự tin cậy, kính trọng, hy sinh, và có những bổn phận đối với nhau. Chồng phải luôn luôn tôn trọng vợ, không được thiếu sự kính nể đối với vợ, phải thương yêu và chung thủy đối với vợ, phải bảo đảm vị trí và tiện nghi của vợ, và nên làm vui lòng vợ bằng cách tặng nàng y phục và nữ trang. (Sự kiện đức Phật không quên đề cập đến việc tặng quà cho vợ khiến chúng ta thấy được sự mẫn cảm và tế nhị đầy nhân bản của Ngài đối với niềm cảm xúc của những con người bình thường). Về phía người vợ, phải tề gia nội trợ chu đáo, làm vui lòng khách khứa, bạn bè, thân nhân và người làm công. Vợ phải yêu thương và chung thủy với chồng, phải biết giữ gìn gia sản, phải khôn khéo và hoạt bát trong công việc.

– Thứ tư: liên hệ giữa bạn bè, bà con, hàng xóm láng giềng: Mọi người phải niềm nở và tử tế đối với nhau, nói năng vui vẻ, hòa nhã, phải làm việc có lợi ích cho nhau và đối xử bình đẳng với nhau, không cãi cọ mà giúp đỡ lẫn nhau khi cần và đừng bỏ rơi khi người ta gặp hoàn cảnh khó khăn.

– Thứ năm: liên hệ giữa chủ và người làm công: người chủ có nhiều bổn phận đối với người giúp việc hoặc người làm công, phải lượng sức của người ta để mà giao việc phù hợp, tiền lương phải tương xứng, phải cung cấp thuốc men và thỉnh thoảng tặng thưởng cho người ta. Về phía người làm công thì phải chăm chỉ làm lụng, không lười biếng, phải lương thiện và vâng lời chủ, không ăn gian nói dối và phải tận tụy trong công việc

– Thứ sáu: liên hệ giữa tu sĩ và cư sĩ: với niềm kính quý, người cư sĩ phải quan tâm đến những nhu cầu vật chất của tu sĩ,người tu sĩ phải truyền bá sự hiểu biết cho cư sĩ với tấm lòng từ bi, lân mẫn và hướng dẫn họ đi trên chánh đạo, không lọt vào tà đạo.

Như vậy, chúng ta đã thấy rõ rằng dù là một người dân bình thường sống trong gia đình, tham dự những sinh hoạt ngoài xã hội, họ vẫn được thụ hưởng sự giáo hóa của đức Thế Tôn, vẫn có thể tu tập, tạo sự an lạc trong nếp sống của một người Phật tử …”…

Trên đây là lời dạy của hòa thượng Walpola Rahula.

Thưa quý thính giả,

Đệ tử Phật không phải là chỉ có Tăng Ni, mà là có tứ chúng, nghĩa là 4 nhóm, gồm Tăng, Ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ. Như thế, quý vị hẳn đã thấy rõ, rằng sự học hỏi và hành trì Phật pháp không phải là việc riêng của Tăng Ni, mà tất cả Phật tử trong 4 nhóm kể trên đều có nhiệm vụ phải tìm hiểu để học hỏi và thực hành giáo pháp, áp dụng vào cuộc sống với thân nhân, bè bạn của mình.

Có một câu chuyện Thiền kể rằng, gia đình kia có hai mẹ con. Người con hâm mộ chuyện tu hành quá, một hôm bỏ nhà lên đường tầm đạo.

Sau rất nhiều ngày dầm mưa giãi nắng trong rừng, anh ta gặp một ông già, ông hỏi:

– Anh đi tìm gì mà vào tận đây?

Anh chàng trả lời:

– Con đi tìm Phật.

Ông cụ bảo:

– Vậy anh hãy đi ngược lại con đường cũ, khi nào thấy có người đi đôi dép ngược, khoác chiếc mền rách, thì đó chính là Phật.

Anh ta quay trở về, lại mất một thời gian. Cho đến lúc đã quá mệt mỏi, anh ghé vào một căn nhà bên đường, bỗng nhận ra chính là nhà mình, bèn lên tiếng gọi:

– Mẹ ơi, mở cửa cho con.

Bà mẹ sau bao nhiêu ngày mong nhớ con đến phát bệnh, đang nằm trên giường, nghe tiếng con gọi, mừng quá quơ vội cái mền khoác lên người, hai chân xỏ vội vào đôi dép, không kịp thấy là đã đi dép ngược, lẹp xẹp chạy ra mở cửa cho con.

Cửa mở, người con nhìn thấy hình ảnh vị Phật mà ông già mô tả, khoác chiếc mền rách, đi đôi dép ngược, chính là mẹ mình đang đứng trước mặt.

Nhà Phật rất tôn trọng sự tu tập từ trong gia đình, thờ cha kính mẹ. Câu chuyện tôn giả Mục Kiền Liên tìm mẹ mà mỗi năm cứ đến ngày lễ Vu Lan, trong dân gian lại làm lễ kỷ niệm, đã nói lên sự tôn trọng đức hiếu của đạo Phật.

Sau đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện Thiền, nói về sự tập trung tinh thần, trích dịch từ loạt bài  “Zen Stories To Tell Your Neighbors” do soạn giả John Suler gửi lên Internet, như sau:

“Sau nhiều cuộc thi bắn cung đại thắng, kẻ thắng cuộc trẻ tuổi kiêu ngạo bèn thách đấu với vị thiền sư già, vốn là một cung thủ danh tiếng trong vùng.

Chàng trai trình diễn kỹ thuật nhuần nhuyễn của anh ta bằng cách đứng từ xa bắn mũi tên thứ nhất vào tâm điểm, rồi tiếp theo là mũi tên thứ hai chẻ dọc xuyên suốt từ đuôi cánh tên thứ nhất, rồi khinh khỉnh hỏi vị thiền sư:

– Đấy, ông già nhìn đi, liệu có dám so tài không?

Với vẻ thản nhiên, vị thiền sư  không rút mũi tên của mình ra khỏi bao, thay vào đó, ông ra hiệu cho chàng trai theo ông đi lên núi.

Chàng trai nổi lòng tò mò, muốn biết ý định của ông già, bèn bước theo ông leo tuốt lên núi cao, cho tới một khe vực sâu hun hút, được bắc cầu để qua bờ bên kia bằng một tấm ván mỏng.

Lặng lẽ bước vào giữa chiếc cầu ván mong manh và rung rinh, vị thiền sư nhắm một cành cây thật xa, rút mũi tên ra khỏi bao và bắn tới một cách thật gọn gàng, trúng đích.

Với vẻ phong nhã, vị thiền sư bước trở lui vào bờ vực và nói với cậu trai:

– Bây giờ đến phiên anh.

Vẻ mặt đầy nét kinh hãi, chàng trai nhìn trừng trừng xuống vực thẳm, trông như là không có đáy. Cậu ta không dám cả gan bước chân lên chiếc cầu gập ghềnh và cũng không còn nghĩ tới chuyện rút tên ra để tranh tài.

Cảm nhận tình cảnh nan giải của đối thủ,vị thiền sư ôn tồn:

– Anh rất giỏi về kỹ thuật bắn cung, nhưng anh chưa đủ khả năng tập trung tinh thần để có thể buông mũi tên ra”.

Thưa quý thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay.  Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 

Bài 25 – Ăn mặc khi đến chùa

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi nhận được thư của vị nữ thính giả, hỏi về vấn đề có lẽ cũng là thắc mắc chung của một số người, nên xin phép được nêu ra đây để chúng ta cùng nhau thảo luận. Thư có đoạn như sau:

…”…   gần sở tôi có một ngôi chùa của người Việt Nam. Có những hôm bỗng nhiên nhớ mẹ, nhớ quê hương, tôi muốn ghé qua chùa, vào thắp nén nhang, ngồi nhìn tượng Phật nhớ thời thơ ấu, có quê, có đại gia đình, ông bà cha mẹ.

Nhưng tôi rất ngại vì có một lần tôi đã tới vào buổi chiều, sau giờ tan sở. Hôm đó chùa cũng hơi đông, hầu hết đều mặc áo thụng mầu xám, dường như có buổi lễ gì đó. Họ nhìn tôi với ánh mắt hơi lạ. Rồi một cụ già đưa cho tôi một áo thụng và bảo tôi mặc rồi hãy vào lễ Phật kẻo mặc đồ hở hang, phải tội, lễ xong trả lại vì áo đó của chung để cho ai cần thì mượn.

Tôi rất ngạc nhiên và cảm thấy bị xúc phạm, vì tôi mặc quần jean với áo cộc tay. Tuy tay áo cộc nhưng tôi không nghĩ rằng như thế là hở hang.

Về nhà, tôi nói lại cho mấy người bà con nghe thì họ cười ầm lên, chế giễu:

–        Không phải sợ tội đâu. Các cụ sợ cô giống câu ca dao:

 “Ba cô đội gạo lên chùa

Một cô yếm thắm bỏ bùa cho Sư”,

đó mà.

Xin chỉ dẫn giúp phải mặc đồ như thế nào khi đi chùa thì mới hợp lệ.

Nguyễn Mai Quế

Thưa quý thính giả và cô Mai Quế,

Trong giới tu pháp môn Niệm Phật bên Nhật, có truyền tụng câu chuyện về anh chàng kia, mỗi khi tới chùa là anh nằm lăn ra chánh điện một cách rất thoải mái. Có người trách anh rằng nằm như thế mất trang nghiêm đi, thì anh bèn trợn mắt lên cự lại:

– Tôi về nhà cha mẹ tôi mà, vì anh không nhận ra được đây là nhà cha mẹ, nên anh mới cư xử như đến nhà người lạ.

Nơi kinh Lăng Nghiêm, bồ tát Đại Thế Chí bạch Phật rằng:

– “ Mười phương Như Lai tưởng nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con, nếu con trốn tránh thì dù nhớ cũng chẳng làm gì được; nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con, thì đời đời mẹ con chẳng xa cách. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật, thì hiện nay hay về sau nhất định thấy Phật, cách Phật không xa, chẳng nhờ phương tiện, tâm tự khai ngộ, như người ướp hương thì thân có mùi thơm, ấy gọi là Hương Quang Trang Nghiêm. Nhân địa căn bản của con là dùng tâm niệm Phật, đắc vô sanh nhẫn, nay ở cõi này tiếp dẫn người niệm Phật về cõi Tịnh Độ. Phật hỏi con về viên thông, con do Nhiếp Cả Lục Căn, Tịnh Niệm Tương Tục vào Tam Ma Địa là hơn cả.”.

Bồ tát Đại Thế Chí là biểu tượng của pháp môn tu Niệm Phật Tam Muội. Tam Muội hoặc Tam Ma Địa, Tam Ma Đề, là phiên âm từ chữ Phạn Samadhi, nghĩa là thiền định. Pháp môn tu này do nhớ Phật, niệm Phật tương tục mà Tâm khai ngộ, đắc vô sanh pháp nhẫn, nghĩa là trực nhận được Bản Thể Tự Tánh vốn thường hằng khắp không gian và miên viễn khắp thời gian, không sanh không diệt, cũng chính là Phật Tánh, cũng chính là Pháp Thân Phật, cho nên còn gọi là Như Lai.

Nếu quý thính giả từng đi chùa, tụng kinh, thì đã thấy ngay nơi phần đầu mỗi thời kinh, đều có tụng bài Tán Phật, trong đó có câu:

Thiên nhân chi đạo sư

Tứ sanh chi từ phụ…

nghĩa là:

…”…Thày dạy khắp Trời, người,

Cha lành chung bốn loài…”…

Vì đức Phật là Thày, là cha lành của tất cả các loài như thế, cho nên nếu có Phật tử nào coi đức Phật là Thày, là cha mẹ, khi tới chùa cảm thấy thân thiết như về nhà cha mẹ thì thật là điều đáng quý, quá quý, không nên để cho Phật tử cảm thấy xa cách với nhà Phật. Nếu Phật tử mà xa cách với nhà Phật thì các Trưởng Tử Như Lai, tức là các vị tu sĩ cũng không thể làm tròn được ý nguyện hoằng pháp lợi sanh, là lời nguyện khi mới bước vào đường tu. Thuật ngữ của đạo Phật có từ “gieo duyên”, nghĩa là tạo cơ hội cho người ta tiếp cận với các sinh hoạt của nhà Phật, thí dụ nghe một tiếng niệm Phật, nhìn thấy cuốn kinh, tượng ảnh Phật, nhìn hình ảnh người tu hành thanh tịnh, thăm viếng cảnh chùa, cũng là đã gieo vào tàng thức của người ta những chủng tử có liên quan đến đạo Phật, sẽ trổ thành quả tu hành theo Phật pháp trong tương lai.

Cho nên chúng ta cũng cần quan tâm về cách ứng xử, sao cho mọi người đều thấy thân thiết với sự về chùa, có cảm giác thoải mái như về nhà cha mẹ, lâu không về thì nhớ, mới đúng với bản hoài của “mười phương Như Lai”

Thưa quý thính giả và cô Mai Quế,

Như chúng ta đã biết, đức Phật là một vị đạo sư chứ không phải là Thần Linh. Lại càng không thể nghĩ rằng Phật là một vị Thần Linh sẽ thưởng cho người này được lên Trời và phạt người kia phải xuống Địa Ngục. Quan điểm này đã được hòa thượng Narada Maha Thera trình bày trong cuốn The Buddha and His Teachings. Chúng tôi xin gửi tới quý thính giả bài pháp trích trong cuốn này, do cư sĩ Phạm Kim Khánh dịch ra Việt ngữ.

Hòa thượng dạy:

“Để minh định rõ ràng mối tương quan của đức Phật đối với hàng môn đệ và để nhấn mạnh tầm quan trọng của sự kiện tự mình nhận lãnh trọn vẹn trách nhiệm và tự mình nỗ lực kiên trì, Đức Phật minh bạch dạy rằng:

“Các con phải tự mình nỗ lực. Các đấng Như Lai chỉ là đạo sư.” Đức Phật chỉ vạch cho ta con đường và phương pháp mà ta có thể nương theo đó để tự giải thoát ra khỏi mọi khổ đau của vòng sanh tử và thành tựu mục tiêu cứu cánh. Đi trên con đường và theo đúng phương pháp cùng không, là phần của người đệ tử chân thành muốn thoát khỏi những bất hạnh của đời sống.

“Ỷ lại nơi kẻ khác để giải thoát cho mình là tiêu cực. Nhưng đảm đang lãnh lấy trách nhiệm, chỉ tùy thuộc nơi mình để tự giải thoát, quả thật là tích cực.”

“Hãy tự xem con là hải đảo của con. Hãy tự xem con là nương tựa của con. Không nên tìm nương tựa nơi ai khác!”

Các lời lẽ có rất nhiều ý nghĩa kia mà đức Phật đã dạy trong những ngày sau cùng của Ngài quả thật mạnh mẽ, nổi bật và cảm kích. Điều này chứng tỏ rằng cố gắng cá nhân là yếu tố tối cần để thành tựu mục tiêu. Tìm sự cứu rỗi nơi những nhân vật hảo tâm có quyền năng cứu thế và khát khao ham muốn hạnh phúc ảo huyền xuyên qua những lời van vái nguyện cầu vô hiệu quả và nghi thức cúng tế vô nghĩa lý, quả thật là thiển bạc và vô ích.

Đức Phật là một người như chúng ta. Ngài sanh ra là một người, sống như một người, và từ giã cõi đời như một người. Mặc dầu là người, Ngài trở thành một người phi thường, một bậc siêu nhân, do những cá tính đặc biệt duy nhất của Ngài.

Trong thời Ngài còn tại thế, đức Phật chắc chắn được hàng tín đồ hết lòng tôn kính, nhưng không bao giờ Ngài tự xưng là Thần Linh.

Thưa quý thính giả,

Như quý vị đã thấy, chính đức Phật đã xác nhận rằng Ngài không phải là Thần Linh, không ban phúc giáng họa cho ai. Ngài là Đạo Sư, chỉ cho chúng sinh con đường Giải Thoát, mọi người phải tự mình thắp đuốc lên mà đi, tự mình làm thuyền bè, làm hải đảo cho chính mình. Nếu theo lời Ngài dạy mà tự tu tự độ thì sẽ thành đạo quả, thành người Giác Ngộ, thành Phật như Ngài. Muốn biết đường tu, tất nhiên là phải cần đến đạo sư. Chùa chiền chính là nơi những người muốn tu tập tìm về nương tựa.

Thế nhưng bây giờ tại một vài nơi, do vô tình mà người ta đang cản trở con đường của chúng sinh muốn về nhà Phật. Một nơi kia, bà nữ tu sĩ có trách nhiệm dạy mấy cô thiếu nữ rằng:

– Các cô phải cột chặt hai ông quần khi lên chánh điện, kẻo mà có gì ô uế rớt xuống thì cửa Địa Ngục mở sẵn.

Mấy cô sợ quá thì thầm với nhau “không đến chùa thì chẳng bị xuống địa ngục, đến chùa mà mặc skirt, làm sao mà cột được đây”. Thế là từ đó họ đâm ra ngần ngại. Họ bảo nhau:

– Tôi sợ đến chùa thất thố gì lại phải tội, chẳng thà không đến thì chẳng sao. Chỉ Tết nhất hay có đám cầu siêu cầu an mới đến chùa mà thôi.

Than ôi! Một trường học dạy người giác ngộ giải thoát, khai phóng tâm linh, lại đến nỗi trở thành địa điểm mà dân chúng chỉ tới khi có tang ma thì đáng buồn biết bao.

Truyền thống đạo Phật là mở rộng cửa chùa để cứu nhân độ thế. Kẻ lỡ độ đường, người đói khát đều được nhà chùa cưu mang. Những người đó khi đến chùa, hẳn là không thể ăn mặc chỉnh tề, quần manh áo rách cũng được nhà chùa mở lòng cứu giúp.

Có người nói rằng vì trong chùa có những tu sĩ trẻ, người khác phái tới ăn mặc hở hang có thể làm cho tâm người tu bị chao đảo.

Xin thưa rằng, nói như thế là coi thường các pháp môn tu trì của nhà Phật rồi. Thực tế, nếu tu sĩ có hành trì thiền quán, niệm Phật, trì chú, vân vân, thì sẽ tăng trưởng Định Lực, tâm hồn không đến nỗi bị chao đảo khi nhìn thấy người khác phái đâu. Còn nếu không hành trì, để tâm buông lung bay nhẩy, không có Định Lực, mà chỉ giữ Giới qua sự đè nén thì khi gặp cảnh duyên, sẽ nảy sinh những tình huống bất ngờ, do sức bật của sự đè nén tung lên.

Có câu chuyện huyền thoại trong nhà Thiền, rằng tại một tu viện trong rừng kia, có hai thày trò. Ông thày chủ trương cách ly người đệ tử với trần thế để khỏi bị ô nhiễm, nên từ nhỏ đến lớn, ông không cho cậu đệ tử tới nơi phố xá, chợ búa.

Năm đó người đệ tử được 18 tuổi, đến tuổi trưởng thành, ông mới dắt học trò ra nơi thị tứ.

Trên đường, cậu học trò nhìn cái gì cũng thấy lạ, từ con trâu đang cày ruộng, con bò kéo xe, con gà vừa chạy vừa kêu quác quác, đều hỏi thầy để biết tên, ông thầy đều dạy cẩn thận. Đến khi xuống chợ, cậu ta gặp một thiếu nữ, bèn hỏi:

– Bạch thày, đây là con gì?

Thày dạy:

– Đấy là con cọp chợ, nó dữ lắm, đừng tới gần.

Cậu học trò cứ lấm lét nhìn hoài. Trên đường về, cậu đệ tử lặng lẽ âm thầm đi. Nhưng từ đó, cậu ta cứ buồn buồn. Một hôm thày hỏi:

– Sao dạo này con rầu rĩ vậy, con muốn gì?

Cậu đệ tử rụt rè:

– Bạch thầy, con muốn gặp con cọp chợ.

Vậy câu chuyện nói lên cái gì? Xin thưa rằng chỉ là một câu chuyện huyền thoại thôi, nhưng nó nói lên rằng tu hành là phải chuyển hóa từ trong nội tâm. Nếu chỉ tìm cách tránh né tức là một hình thức lấy đá đè cỏ. Cỏ vẫn còn sống và sẽ vươn lên rất mạnh khi nhắc hòn đá ra. Người tu hành nào mà có tu tập theo lời dạy của chư Phật và chư Tổ thì sẽ không có “cô yếm thắm” nào có thể bỏ bùa.

Thưa quý thính giả,

Sau đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một câu chuyện Thiền, trích dịch từ cuốn Collection of Stone and Sand, tác giả là thiền sư  Muju ở thế kỷ 13, Paul Reps dịch sang tiếng Anh. Câu chuyện như sau:

“Vào những kỳ đả thiền thất do thiền sư Bankei chủ trì, có rất đông thiền sinh từ nhiều miền trên nước Nhật về tham dự.

Tại một trong những kỳ thiền thất như thế, có một đệ tử bị bắt về tội ăn cắp. Sự việc được trình lên thiền sư Bankei với lời đề nghị kẻ phạm pháp phải bị tống xuất. Nhưng thiền sư Bankei bỏ qua. Sau đó, người đệ tử lại tái phạm và bị bắt, và cũng như lần trước, thiền sư Bankei lại bỏ qua.

Sự việc này chọc giận đám đệ tử, khiến cho họ phải làm thỉnh nguyện thư, xin đuổi tên ăn cắp, nếu không cả nhóm sẽ bỏ đi.

Sau khi đọc xong thỉnh nguyện thư, thiền sư Bankei gọi tất cả học trò đến trước mặt mà bảo rằng:

– Quí vị là những sư huynh sáng suốt nên quí vị biết phân biệt đúng và sai. Nếu muốn, quí vị có thể đi nơi khác để tham thiền học đạo. Nhưng người sư đệ đáng thương này thì ngay đến thế nào là đúng, là sai, cũng còn không biết. Nếu tôi không dạy hắn thì ai sẽ dạy? Cho nên tôi sẽ cho hắn ở đây dù tất cả quí vị ra đi.

Trên gương mặt của người sư đệ tội lỗi, nước mắt tuôn ra như thác đổ. Lòng ham muốn trộm cắp trong khoảnh khắc tiêu tan hoàn toàn”.

Thưa quý thính giả,

Thiền sư Bankei là một bậc thầy chân chính, xứng đáng là đạo sư của nhà Phật. Là bậc thày cao quý, ngài đã hạ bàn tay nhân từ xuống để cứu vớt người lầm lạc, mở lối thoát cho người đệ tử tội lỗi có cơ hội chuyển tâm.

Kinh Hoa Nghiêm nói:

Nếu người muốn biết rõ

Tất cả Phật ba thời

Phải quán pháp giới tính

Tất cả do tâm tạo.

 Ba thời là quá khứ, hiện tại và tương lai. “Tất cả do tâm tạo”, mà tâm thì vô thường, không cố định. Cho nên đối với nhà Phật, dù người xấu tới đâu, hoặc ngay đến cả kẻ cướp, nếu chịu buông dao xuống mà nhất tâm tu hành, thì cũng thành Phật.

Chỉ có tấm lòng rộng mở mới chuyển hóa được con người. Nếu cửa chùa luôn rộng mở, không xét nét cách ăn mặc và những chuyện lặt vặt, miễn sao tác phong người đến chùa cũng tương đương với về nhà cha mẹ họ, thì họ nên được hoan nghênh để mọi người cảm thấy thoải mái khi về chùa.

Nếu không có sự hài hòa trong giao tế thì thế hệ sau, khi các cụ không còn nữa, con cháu không còn phải vì nể nang cha mẹ mà tới chùa, e rằng cửa chùa sẽ vắng vẻ. Lúc đó chúng ta nghĩ tới câu “bản hoài của mười phương Như Lai thương nhớ chúng sinh như mẹ nhớ con”, sẽ cảm thấy chua xót biết bao.

Thưa quý thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay.  Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Mời xem youtube bài này:

http://www.youtube.com/watch?v=AbFQErjDpnc&feature=youtu.be

Bài 24 – Phát Bồ Đề Tâm nghĩa là gì ?

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi nhận được một câu hỏi của quý thính giả gửi về như sau:

– Tôi đi lễ chùa thường thấy các Phật tử nói câu “phát Bồ Đề Tâm”, thí dụ “Bà phát Bồ Đề Tâm lấy cho tôi con dao” hoặc “”Ông phát tâm Bồ Đề khiêng giúp cái bàn này ra sân”, vân vân. Những chữ như tâm thiện, tâm ác, tâm từ bi, vân vân, thì tôi đã biết nhưng tâm Bồ Đề thì tôi không hiểu là gì, xin giải đáp giùm.

Nguyễn văn Dũng.

Thưa quý thính giả và ông Dũng,

Cụm từ Phát Bồ Đề Tâm là để chỉ một một tâm nguyện vô cùng thiêng liêng cao quý, là niệm khởi đầu tiên trên con đường tu hành của người Phật tử để chuyển hóa tâm thức từ trạng thái mê vọng trôi lăn trong vòng sinh diệt triền miên trở thành giác ngộ Trí Tuệ Bát Nhã.

Tâm Bồ Đề là Tâm Giác Ngộ, là Phật Tánh. Phát Bồ Đề Tâm là “Khởi lên tâm nguyện tu hành thành Phật để cứu độ chúng sinh”. Nếu chúng ta tưởng rằng Phát Bồ Đề Tâm là làm những việc thiện tạo phước trong vòng tương đối như “lấy giúp con dao”, “khiêng hộ cái bàn”, là vô tình chúng ta đã làm mất đi ý nghĩa của một tâm nguyện cao thượng về công đức tu hành, mục tiêu cốt tủy của đạo Phật.

Chúng tôi xin nhắc lại cuộc đối thoại của Sơ Tổ thiền tông Bồ Đề Đạt Ma và Lương Võ Đế về vấn đề công đức và phước đức mà chúng tôi đã trình với quý thính giả, như sau:

Lương Võ Đế hỏi:

–  Từ khi lên ngôi, trẫm đã xây chùa, chép kinh, độ tăng nhiều vô số kể, vậy có công đức gì không?

Ngài Ðạt Ma đáp:
– Ðều không có công đức.

Vua hỏi lại :
– Tại sao không có công đức?

Ngài đáp:
– Xây chùa, chép kinh, độ tăng là tạo nhân hữu lậu, chỉ được hưởng thiện quả nơi cõi Trời, cõi người, quả theo nhân như bóng theo hình, là phước đức, không phải công đức. Công đức là do tu hành, trí rỗng rang, tâm sáng suốt, từ nơi bản tánh, không do nơi công nghiệp thế gian.

Như thế, làm việc thiện là phước đức, là tạo nhân lành, sẽ trổ thành quả phước trong vòng sinh tử. Phát Bồ Đề Tâm là công đức do tu hành, có công năng giải thoát kiếp người ra khỏi dòng nghiệp lực triền miên sinh tử luân hồi.

Nơi kinh Hoa Nghiêm, đức Phật đã dạy: “Nầy thiện nam tử! Bậc Bồ Tát phát Bồ Đề Tâm là khởi Tâm Đại Bi cứu độ tất cả chúng sanh”.

Phát Bồ Đề Tâm như trên đã nói, có thể tóm tắt trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện:

“Chúng sanh vô biên, thệ nguyện độ,

Phiền não vô tận, thệ nguyện đoạn,

Pháp môn vô lượng, thệ nguyện học

Phật đạo vô thượng, thệ nguyện thành”.

Trong cuốn Niệm Phật Thập Yếu, hòa thượng Thích Thiền Tâm căn dặn rằng “Không phải chỉ nói suông “Tôi phát Bồ Đề Tâm” là đã phát tâm, hay mỗi ngày tuyên đọc Tứ Hoằng Thệ Nguyện, gọi là đã phát Bồ Đề Tâm. Muốn phát Bồ Đề Tâm hành giả cần phải phát tâm một cách thiết thực, và hành động đúng theo tâm nguyện ấy trong đời tu của mình”.

Đại sư Thật Hiền, một vị cao tăng đã thiết tha kêu gọi mọi người Phát Bồ Đề Tâm như sau:

– …Tôi từng nghe, cửa chính yếu để nhập đạo thì sự phát Tâm đứng đầu, việc khẩn cấp để tu hành thì sự lập nguyện đứng trước. Nguyện lập thì chúng sanh độ nổi, Tâm phát thì Phật đạo thành được. Cái tâm quảng đại không phát, cái nguyện kiên cố chẳng lập, thì dẫu trải qua đời kiếp nhiều như cát bụi, cũng y nhiên vẫn ở trong phạm vi luân hồi. Tu hành dẫu có, cũng toàn là lao nhọc, khổ sở một cách vô ích. Do đó mà kinh Hoa Nghiêm đã nói, quên mất Tâm Bồ Đề mà tu hành các thiện pháp thì gọi là hành động theo ma vương. Quên mất còn thế, huống chi chưa phát. Nên muốn học Như Lai thừa thì trước phải phát Bồ Đề nguyện, không thể chậm trễ”.

Trong những kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình bày với quý vị bài kệ tóm tắt con đường tu hành của người Phật tử, như sau:

“Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành”

“Không làm những điều ác” và “Siêng làm những việc lành” là phần đạo đức thế gian, không riêng đạo Phật, mà hầu hết các tôn giáo và các nền giáo dục trên khắp thế giới đều dạy. Phật giáo thực hiện lãnh vực này bằng Ngũ Giới, dạy hàng Phật tử phải tin sâu quy luật Nhân Quả, ở hiền gặp lành, vân vân.

Duy câu “Tự thanh tịnh tâm ý” thì mới chính là đặc điểm riêng biệt của đạo Phật. Bởi vì, nội dung của “tự thanh tịnh tâm ý” có nghĩa là chấm dứt tất cả những lôi cuốn của Tham, Sân và Si, vốn là nguyên nhân của tất cả mọi nỗi thống khổ trên đời.

Kinh Phật nói: “Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu”, câu đó có nghĩa là khi tâm đã tịnh là đã bạch hóa được nghiệp chướng tích lũy từ vô lượng kiếp. Tội là những nghiệp ác. Tâm đã tịnh rồi thì cũng có nghĩa là tất cả nghiệp thiện và ác đều đã tiêu dung, không còn nghiệp nhân để tái sinh, là chấm dứt được dòng sinh tử, ra khỏi vòng luân hồi. Tóm lại, là hoàn tất được bước cuối cùng trong bốn Chân Lý Thâm Diệu, là Con Đường Diệt Khổ.

Thực hiện đường tu “Tự thanh tịnh tâm ý” chính là thực hiện toàn bộ nội dung của “Phát Bồ Đề Tâm”

Để thấu triệt sự quan trọng của hạnh nguyện “Phát Bồ Đề Tâm”, chúng tôi xin trích dịch để kính gửi tới quý thính giả bài pháp của đạo sư Chagdud Tulku, một vị đạo sư Phật giáo thuộc truyền thống Tây Tạng.

Đạo sư Chagdud Tulku là một thiền sư danh tiếng đồng thời là một nhà nghệ sĩ và cũng là y sĩ của Tây Tạng, sinh năm 1930 tại miền Đông nước này. Theo truyền thống Tây Tạng, thày được xác nhận là tái sinh của vị sư trụ trì Chagdud Gonpa. Thày được sự rèn luyện của nhiều đại hành giả về phương diện triết học và hành thiền theo môn phái Phật giáo Kim Cang Thừa. Vào năm 1959, khi Trung Quốc xâm lăng Tây Tạng, theo lời khuyên của đại sư Dudjom, thày rời khỏi Tây Tạng để sang thiết lập một số trại tỵ nạn tại Ấn Độ và Nepal.

Vào năm 1979, do lòng nhiệt thành của nhiều sinh viên Mỹ, thày tới Hoa Kỳ. Từ đó, xuyên qua hội Chagdud Gonpa, thày thiết lập nhiều trung tâm tu thiền Kim Cang Thừa tại nhiều nơi trong nước Mỹ, Canada, Âu Châu và Brazil.

Bài giảng của đạo sư Chagdud Tulku về Phát Bồ Đề Tâm, trích dịch từ cuốn Gates to Buddhist Practice, như sau:

“Để đi vào con đường tâm linh, chúng ta cần phải có mục tiêu để hướng tới, cũng như mũi tên cần có đích nhắm. Với Bồ Đề Tâm, cánh cửa tiếp theo để thực hành trong truyền thống Đại Thừa và Kim Cang Thừa của Phật giáo, chúng ta tiến đến thành quả là sự giác ngộ vì lợi ích chúng sinh trong từng giây phút. Đó là mục tiêu cao quý nhất.

Bồ Đề Tâm là nền tảng của tất cả mọi công việc chúng ta làm, giống như rễ một cây thuốc có cành, lá và hoa, tất cả đều tạo ra những chất dinh dưỡng. Phẩm chất và sự thanh tịnh trong hành trì của chúng ta tùy thuộc vào Bồ Đề Tâm Nguyện thẩm thấu trong mỗi phương pháp tu tập. Có Tâm Bồ Đề thì mọi việc đều hoàn tất mỹ mãn. Không có tâm nguyện này thì mọi sự đều không đi tới đâu.

Đó chính là lý do ngay từ bài học đầu tiên, chúng ta đã được dạy rằng chúng ta phải đặt mục tiêu của sự tu hành là để giải thoát cho tất cả chúng sinh. Chúng ta phải chuyển hóa động lực rèn luyện tâm linh từ lợi ích cho bản thân sang vì lợi ích cho toàn thể chúng sinh.

Bồ Đề Tâm gồm ba yếu tố:

– Thứ nhất là niềm trắc ẩn trước sự đau khổ của chúng sinh

– Thứ hai là nguyện tu tập tới giác ngộ vì lợi ích của chúng sinh, đó là Bồ Đề Tâm Nguyện.

– Thứ ba là thực hiện Bồ Đề Tâm Nguyện, đó tức là Bồ Đề Tâm Hành. …”…

Thưa quý thính giả,

Trên đây là bài pháp của đạo sư Chagdud Tulku, nói về Phát Bồ Đề Tâm và tu Bồ Tát Hạnh. Trong thực tế, con đường tu hành của người Phật tử được các bậc đạo sư chỉ dạy rất cặn kẽ và chi tiết. Chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một bài pháp của hòa thượng Thích Tịnh Không dạy về cách ứng dụng pháp môn tu Bồ Tát Hạnh trong đời sống hằng ngày. Sau đây là lời dạy của thày:

Gương mẫu tu học của Ðại Thừa là năm mươi ba lần tham vấn trong kinh Hoa Nghiêm.  Năm mươi ba lần tham vấn này gồm có mọi người trong các ngành nghề, nam nữ già trẻ, thế gian và xuất thế gian, hết thảy đều tu Bồ Tát hạnh, vả lại còn là Bồ Tát cao cấp — Phổ Hiền hạnh.  Thế thì chúng ta rốt cuộc có học được hay chưa?  Trong sanh hoạt mỗi ngày từ sáng đến tối có phải chúng ta đang tu Bồ Tát hạnh hay không?  Có tu hạnh Phổ Hiền không?  Nếu có thì mới hy vọng thành Phật, nếu không thì vẫn phải chịu sanh tử luân hồi.

Phải tu học như thế nào?  Dùng những điểm chính yếu để nói thì là làm thế nào áp dụng Lục Ðộ vào trong đời sống hằng ngày.  Làm được Lục Ðộ trong sanh hoạt thì bạn sẽ là Bồ Tát, nếu làm được mười nguyện trong sanh hoạt thì bạn sẽ là Phổ Hiền Bồ Tát rồi đó.  Nên biết cội gốc của Ðại Thừa là phát Bồ Ðề Tâm, Bồ Ðề Tâm là gì?  Tức là độ hết thảy chúng sanh.  Dùng ngôn ngữ ngày nay thì độ hết thảy chúng sanh nghĩa là dốc toàn tâm, dốc hết sức để giúp đỡ hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ, Tâm ấy là Tâm Bồ Ðề.

Làm thế nào để thực hiện?  Lục Ðộ và thập nguyện là phương pháp.  Phải thực hiện Lục Ðộ và thập nguyện trong đời sống, sự nghiệp, đó tức là hành Bồ Tát đạo.  Lục Ðộ tức là Bồ Tát đạo, thập nguyện tức là Phổ Hiền Bồ Tát đạo.  Việc hành Phổ Hiền hạnh nói trong kinh Vô Lượng Thọ nghĩa là tu thập nguyện vương.

‘Bố thí’ nói theo ngôn ngữ hiện nay tức là ‘hy sinh, cống hiến’.  Tự mình chịu hy sinh, chịu cống hiến cho đại chúng, chịu cống hiến cho đoàn thể.

‘Trì giới’ tức là tuân giữ pháp luật, tuân giữ luật lệ, quy củ.

‘Nhẫn nhục’ tức là nhẫn nại.  Phải biết nhẫn nại trong công việc, đặc biệt là những sự việc liên quan đến người khác; chúng sanh có phiền não, ân oán, bất bình tích lũy từ vô lượng kiếp đến nay.  Chúng ta bất kỳ lúc nào cũng có thể gặp được nên phải nhẫn nhịn; đối với hoàn cảnh tự nhiên cũng phải biết nhẫn nhịn.

‘Tinh tấn’ tức là cầu tiến bộ.  Không thể nào ‘dậm chân tại chỗ’ hoài, lưu lại trong một phạm vi, một giới hạn hoài. Chúng ta phải suy nghĩ từ phương diện này – trong sanh hoạt thường ngày làm thế nào để cầu Giác, cầu Huệ, tu Lục Ðộ, Thập nguyện.

‘Thiền định’  tức là tự mình làm chủ được mình, có cách nhìn của mình, chẳng bị ngoại cảnh lay động, đó là thiền định.

‘Trí huệ’ tức là đối với hết thảy những điều thiệt – giả, tà – chánh, thị – phi, thiện – ác của người, sự, vật đều hiểu rõ ràng, minh bạch, chẳng mê hoặc, chẳng điên đảo.  Như vậy chính là trí huệ.

Thế nên nếu có thể thực hiện Lục Ðộ, Thập Nguyện trong đời sống của mình thì bạn sẽ vui vẻ. Bất luận làm công việc gì thì cũng là tu Bồ Tát hạnh, hành Bồ Tát đạo.  Người hành Bồ Tát đạo này sẽ tràn đầy pháp hỷ, đây tức là chuyển phiền não thành Bồ Ðề, chuyển mê hoặc thành giác ngộ.

Phàm phu thế gian nếu cảm thấy bị áp lực trong công việc làm của mình thì sẽ khổ chẳng thể nói nổi, luôn luôn than phiền, có tâm trạng ấy thì nhất định phải luân hồi trong lục đạo.  Pháp Bồ Tát Ðại Thừa cao minh, vừa chuyển biến tâm niệm thì đã thành Bồ Tát.  Họ biết làm việc cần cù là để kết pháp duyên với hết thảy chúng sanh, là để thành tựu Bố Thí Ba la mật cho mình.  Cho nên khi tâm niệm vừa chuyển thì khoái lạc vô cùng, hạnh phúc vui vẻ, liền được thoát khổ.

Giới luật trong Phật pháp được dùng để yêu cầu chính mình chứ chẳng phải yêu cầu kẻ khác, đây là một cách rất cao minh, chẳng giống với pháp luật thế gian dùng để kềm chế đại chúng.  Thế nên phải học Lục Tổ Huệ Năng đại sư, phải ‘thường nhìn thấy lỗi của mình, chẳng thấy lỗi của thế gian’, được vậy thì tâm sẽ chuyển biến thực sự, hướng vào trong và quán chiếu.

Căn bịnh lớn của chúng sanh là ‘chẳng thấy lỗi của mình, chuyên thấy lỗi của kẻ khác’.  Chuyên thấy lỗi của kẻ khác thì sẽ tăng trưởng phiền não, sẽ chẳng có cách chi để hướng vào trong mà quán chiếu.  Nếu chúng ta chỉ lo hướng vào trong mà quán chiếu, chẳng đếm xỉa đến sự dụ hoặc của ngoại cảnh, ‘chiếu’ như vậy là trí huệ, có thể hoá giải hết phiền não, tập khí. »

Thưa quý thính giả,

Trên đây là lời dạy của hòa thượng Thích Tịnh Không.

Như quý vị đã biết, đạo Phật là một con đường tu tập để chuyển hóa tâm, từ xấu trở thành tốt, rồi từ tốt trở thành thanh tịnh, giải thoát. Đức Phật không đề cao phép lạ, mà Ngài dạy Phật tử phải tự tu tự độ, tự mình thắp đuốc lên mà đi, tin sâu nhân quả, gieo nhân thiện thì lãnh quả thiện, giao nhân thanh tịnh thì đắc quả giác ngộ giải thoát, ai ăn thì người đó no, không ai có thể ăn giùm cho người khác no được.

Chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện Thiền nói lên ý đó, được trích dịch từ cuốn Zen Fables for Today, Stories Inspired by the Zen Masters, soạn giả là Richard McLean. Câu chuyện như sau:

“Có một vị sư sống trong một khu đầm lầy, nơi được coi là rất nguy hiểm khi mùa mưa tới, nước có thể tràn ngập. Mặc cho những lời cảnh cáo liên tục, đồng thời nước cũng đang dâng lên, vị sư vẫn từ chối, không chịu rời cái cốc nhỏ của ông ta. Ông giải thích với các đội cấp cứu rằng:

-Trong giấc mơ, tôi đã được một vị thần hứa rằng ông ấy sẽ bảo vệ tôi.

Thế rồi hàng xóm của ông lũ lượt kéo nhau bỏ đi.

Rồi tới nhân viên hành chính ra đi với cái xe.

Cuối cùng tới phiên đội cấp cứu ra đi với cái ghe.

Ông vẫn nói chắc nịch:

– Vị thần đã hứa với tôi.

Khi ông sư bị chết đuối, người đầu tiên ông gặp chính là vị thần trong mộng của ông.

Vị thần hỏi:

– Ông làm gì ở đây?

Ông sư trả lời:

– Ngài đã hứa với tôi …

Vị thần điềm nhiên:

– Ông già đần độn ơi, tôi vẫn giữ lời hứa đấy chứ. Tôi gửi đến cho ông nào là hàng xóm này, xe cấp cứu này, ghe cấp cứu này…”

Ông tu sĩ nghệt mặt ra:

– Trời ơi …

Một đời tu mà ông sư đã không hiểu giáo lý, nhà Phật dạy rằng phải tự tu tự độ. Tiếc rằng ông sư đã không dùng những phương tiện có sẵn để tự mình thoát khỏi nơi nguy hiểm.

Thưa quý thính giả,

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

 

 

Bài 23 – Sơ Tổ Thiền Tông Bồ Đề Đạt Ma

 Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Trong một kỳ phát thanh trước, chúng tôi có đề cập tới một tuyên ngôn của Sơ Tổ Thiền tông Bồ Đề Đạt Ma, được giới Phật học cho là “tuyên ngôn sấm sét”, đó là:

Bất lập văn tự

Giáo ngoại biệt truyền

Trực chỉ nhân tâm

Kiến Tánh thành Phật.

nghĩa là :

Không lập văn tự

Truyền ngoài giáo lý,

Chỉ thẳng tâm ngưòi

Thấy Tánh thành Phật.

Tại sao lại gọi là “Tuyên ngôn sấm sét”?

Bởi vì tuyên ngôn đó đưa ra một quan điểm hoàn toàn xa lạ đối với các nhà trí thức Phật giáo đương thời, vốn là những học giả không những học rộng hiểu nhiều về thế học, uyên bác về các nguồn tư tưởng Đông Phương, mà hiện đang say sưa thảo luận về kinh điển nhà Phật.

Vậy Bồ Đề Đạt Ma là ai mà lại có hành tung đặc biệt như thế?

Chúng tôi sẽ xin lần dở trang Phật giáo sử để trình với quý thính giả.

Kính thưa quý vị,

Vào thời vua Hán Minh Đế nước Trung Hoa, khoảng giữa thế kỷ thứ nhất Dương lịch, Phật giáo từ Ấn Độ đã lan truyền đến Trung Quốc. Tính từ đó tới ngày ngài Bồ Đề Đạt Ma đặt chân lên nước Lương năm 520 Dương lịch, là đã được khoảng 500 năm rồi.

Sau năm trăm năm thâu thập kinh sách và tài liệu rồi phiên dịch từ tiếng Phạn ra tiếng Hán, nay đã tới lúc các học giả Phật giáo say sưa nghiên cứu, chia môn lập phái, tìm tòi nghĩa lý ẩn tàng trong ngón tay mà không để ý tới phần thực hành để đạt được mặt trăng, theo như lời căn dặn của nhà Phật “kinh sách là ngón tay chỉ Chân Lý là mặt trăng, thấy mặt trăng rồi thì buông ngón tay xuống mà tu hành để đạt tới Chân Lý”.

Là những học giả của một dân tộc hâm mộ từ chương, giới trí thức Trung Hoa thời đó rất say sưa nghiên cứu phần lý thuyết có tính chất triết học của nhà Phật, đàm luận về những sự huyền diệu, thâm sâu, uyên áo, chẻ sợi tóc ra làm tư, coi Phật giáo như một triết thuyết, phí bỏ mất phần cốt tủy của đạo Phật, là phần tu chứng với mục tiêu giải thoát được kiếp người ra khỏi những phiền não ràng buộc, giác ngộ lại Bản Thể, chấm dứt mọi đau khổ triền miên trong dòng sinh tử.

Vào thời gian đó, tại vương quốc miền Nam Ấn kia, có một vĩ nhân ra đời. Đó là vương tử thứ ba của quốc vương, tên là Bồ Đề Đa La. Nhân một dịp quốc vương thỉnh Tổ Thiền tông thứ 27 là Bát Nhã Đa La vào cung để cúng dường trai tăng, vương tử Bồ Đề Đa La gặp được Tổ và sau khi đàm luận về Đạo Học, vương tử bái Tổ tôn ngài lên làm thày.

Sau khi vua cha tạ thế, vương tử Bồ Đề Đa La xuống tóc đi tu. Thấy học trò tinh tường Phật pháp, Tổ Bát Nhã Đa La đổi tên vương tử là Bồ Đề Đạt Ma. Trước khi qua đời, Tổ Bát Nhã Đa La căn dặn học trò sau này phải qua Trung Hoa để giúp cho những người học Phật tại đó đi đúng con đường đức Phật dạy để đạt được kết quả của sự tu hành, tiến tới giác ngộ giải thoát. Nhưng Tổ cũng dặn là hiện nay chưa thể đi ngay, phải chờ vài chục năm nữa mới lên đường.

Sau khi Tổ tịch rồi, ngài Bồ Đề Đạt Ma còn ở lại quê hương hoằng pháp một thời gian. Nhiều chục năm trôi qua, một hôm nhớ lời sư phụ dặn dò, ngài vào từ biệt quốc vương là cháu của ngài để lên đường sang Trung Hoa, đem ánh sáng giác ngộ chiếu vào miền đất vốn thấm nhuần tư tưởng Lão Trang, lại được giáo lý nhà Phật khai tâm, nhưng quá ham mê phần lý thuyết mà không thực hành, nay cần sự chỉ dẫn để có thể tự tu tự độ.

Quốc vương hạ lệnh sửa soạn thuyền và thủy thủ rồi tiễn ngài lên đường.

Sau ba năm lênh đênh trên sông nước, vùng đất Trung Hoa đầu tiên mà ngài đặt chân lên thuộc tỉnh Quảng Châu, đó là vào năm 520, đời nhà Lương. Quan tỉnh dâng sớ về triều tâu bày sự việc.

Vị vua đương thời là Lương Võ Ðế, một nhà Phật học uyên thâm, thường khoác áo cà sa ra ngoài ngự bào để giảng kinh thuyết pháp. Nhà vua cũng là một đại thí chủ đương thời.

Con trai lớn của Lương Võ Ðế là thái tử Chiêu Minh cũng là một học giả Phật giáo, thường cùng với pháp sư Lâu Ước, đại sĩ Ðạo Phó và Lương Võ Ðế bàn luận về “thánh đế đệ nhất” (là chân lý tuyệt đối) và “tục đế” (là chân lý quy ước).

Thái tử Chiêu Minh cũng nghiên cứu kinh Kim Cang rất sâu sắc, đã thiết lập một đài bằng đá để ghi dấu công cuộc phân chia kinh Kim Cang ra làm 32 chương của ông. Sau này có một người Việt Nam là nhà thơ Nguyễn Du nhân đi sứ sang Tầu có đến thăm đài và làm một bài “Vịnh đài đá phân kinh của Luơng Chiêu Minh thái tử”, có ý chê thái tử không hiểu phần cốt tủy thâm áo của kinh nên mới làm công việc huênh hoang hình tướng này.

Được tin có ngài Bồ Ðề Ðạt Ma tới nước mình, Lương Võ Đế sai sứ đi đón, rước vào kinh. Trong buổi tiếp kiến, nhà vua hỏi:

–  Từ khi lên ngôi, trẫm đã xây chùa, chép kinh, độ tăng nhiều vô số kể, vậy có công đức gì không?

Ngài Ðạt Ma đáp:
– Ðều không có công đức.

Vua hỏi lại :
– Tại sao không có công đức?

Ngài đáp:
– Xây chùa, chép kinh, độ tăng là tạo nhân hữu lậu, chỉ được hưởng thiện quả nơi cõi Trời, cõi người, quả theo nhân như bóng theo hình, là phước đức, không phải công đức. Công đức là do tu hành, trí rỗng rang, tâm sáng suốt, từ nơi bản tánh, không do nơi công nghiệp thế gian.

Vua hỏi lại:
– Thế nào là thánh đế đệ nhất nghĩa? (ý Võ Đế muốn hỏi về chân lý tuyệt đối)

Tổ đáp:
– Quách nhiên vô thánh (ý ngài Đạt Ma muốn trả lời là người giác ngộ thì tâm trí rỗng rang, sáng suốt, vượt lên trên khái niệm về thánh, phàm)

Vua gặng thêm:
– Ai đang đối diện với trẫm?

Tổ đáp:
– Không biết !

Lương Võ Ðế sai người tiễn khách. Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma băng qua sông Giang Bắc, thẳng đường qua nước Ngụy, lên núi Tung Sơn ngồi quay mặt vào vách đá chùa Thiếu Lâm chín năm, người đương thời gọi ngài là Bích quán  Bà La Môn, nghĩa là ông Bà La Môn nhìn vách.

Tương truyền, sau khi ngài Bồ Ðề Ðạt Ma ra đi, Lương Võ Ðế gặp hòa thượng Chí Công, bèn kể lại câu chuyện. Hòa thượng Chí Công hỏi:

– Bây giờ bệ hạ đã biết người ấy là ai chưa?

Võ Ðế đáp:
– Không biết.

Hòa thượng nói:
– Ðó là đại sĩ Quan Âm tới truyền tâm ấn Phật.

Võ Ðế hối tiếc, sai sứ đi thỉnh, nhưng ngài Bồ Ðề Ðạt Ma không quay trở lại. Sau này hồi tưởng chuyện cũ, Lương Võ Ðế tự soạn văn bia như sau:

Hỡi ôi!
Thấy như chẳng thấy
Gặp như chẳng gặp
Ðối mặt như chẳng đối mặt
Xưa đâu nay đâu
Oán bấy hận bấy . . .

Tại sao mà đến nỗi vua Lương Võ Ðế mang hận như vậy?

Ðó là vì nhà vua không phân biệt được giữa phước đức hữu lậu do làm việc thiện sẽ được hưởng phước báo trong vòng nhân quả tương đối và công đức vô lậu do tu hành có công năng vượt qua được dòng sông sinh tử. Vì sự hiểu lầm này mà nhà vua coi trọng vấn đề bố thí làm phước, tưởng như thế là đã đủ trên con đường tu hành, mà không quan tâm đến vấn đề tu chứng.

Về phần ngài Bồ Đề Đạt Ma, ngài là một thiền sư đắc đạo, ngài dạy cái cốt tủy, thuộc về Phật thừa. Ngài dạy người tu để giác ngộ thành Phật. Cho nên Lương Võ Đế không hiểu được ngài.

Thưa quý thính giả,

Bây giờ chúng ta cùng nhau thảo luận về câu kệ nổi tiếng là “sấm sét” của ngài:

“Không lập văn tự

Truyền ngoài giáo lý,

Chỉ thẳng tâm ngưòi

Thấy Tánh thành Phật.”

Muốn tìm lý do nảy sinh câu kệ này, chúng ta phải đi ngược lại từ thời đức Phật tại thế.

Một hôm, trên pháp hội Linh Sơn, đức Phật giơ cành hoa lên. Cả pháp hội đều ngơ ngác nhìn, duy có tôn giả Ma Ha Ca Diếp mỉm cười. Đức Phật nói: “Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn Diệu Tâm, Thực Tướng Vô Tướng, pháp môn vi diệu, nay trao lại cho Ma Ha Ca Diếp.”

Đó là mệnh lệnh truyền thừa từ đức Phật sang qua tôn giả Ca Diếp, tôn giả trở thành đệ nhất Tổ Thiền Tông. Sự truyền thừa này được gọi là “truyền Tâm ấn”.

Đức Phật giơ cành hoa, tôn giả Ca Diếp mỉm cười, vậy khi đức Phật nói là trao lại cho Ma Ha Ca Diếp “chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn Diệu Tâm, Thực Tướng Vô Tướng, pháp môn vi diệu”, câu đó có nghĩa gì?

Trong câu của ngài Bồ Đề Đạt Ma “Không lập văn tự, Truyền ngoài giáo lý, Chỉ thẳng tâm người, Thấy Tánh thành Phật”, và “trí rỗng rang, tâm sáng suốt, từ nơi bản tánh”, những câu đó có nghĩa gì?

Sau này, khi Lục Tổ Huệ Năng ở nơi Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, làm bài kệ:

Bồ-đề vốn không cây,

Gương sáng chẳng phải đài,

Xưa nay không một vật,

Chỗ nào dính bụi nhơ

Lục Tổ còn dạy trong phẩm Bát Nhã:

“Phải biết đối với kẻ ngu, người trí, Phật tánh không có sai khác, chỉ do mê ngộ bất đồng, vì thế có ngu , có trí. ……..

Phàm phu tức là Phật, phiền não tức là Bồ-đề.

Niệm trước mê tức là phàm phu, niệm sau ngộ tức là Phật.

Niệm trước chấp cảnh tức là phiền não, niệm sau lìa cảnh tức là bồ-đề. ……..”

Thưa quý thính giả,

Niết Bàn Diệu Tâm, Tâm Bồ Đề cũng chính là Phật Tánh, Giác Tánh.

Tổ Lâm Tế là một vị Tổ Sư của rất nhiều Tăng Ni Việt Nam. Có thể đôi khi quý thính giả tham dự tang lễ chư vị Tăng Ni, nghe thấy những câu “Lâm Tế chính tông…” trong tiểu sử người qua đời, câu đó có nghĩa là vị sư này xuất gia với bổn sư thuộc dòng thiền Lâm Tế.

Tổ Lâm Tế nói:

“Sơn tăng chẳng có một pháp cho người, chỉ là trị bệnh mở trói”.

“Nếu các ngươi thôi nghỉ cái tâm niệm niệm tìm cầu thì với chư Tổ chư Phật chẳng khác. Các ông muốn nhận biết chư Tổ, chư Phật chăng ? Chính là ngươi đang nghe pháp trước mắt đây.

“Chư đạo hữu ! Các ông phải biết, Tâm pháp vô hình thông suốt mười phương, ở mắt gọi là thấy, ở tai gọi là nghe, ở mũi gọi là ngửi, ở miệng gọi là nói bàn, ở tay gọi là nắm bắt, ở chân gọi là chạy nhảy, vốn là một cái tinh minh, phân thành sáu hòa hợp. Một tâm đã không thì mọi nơi đều giải thoát”.

“Tâm pháp vô hình thông suốt mười phương” cũng chính là Diệu Tâm, Giác Tánh…

Như quý vị đã thấy, điều chung trong các câu của đức Phật và ba vị Tổ Sư đều nói về Tâm. Đức Phật nói Diệu Tâm, chính là Giác Tánh, là Tánh. Ngài Bồ Đề Đạt Ma dùng chữ Tánh, Lục Tổ Huệ Năng dùng chữ Tâm Bồ Đề, cũng tức là Giác Tánh.

Đặc biệt Tổ Lâm Tế còn nói rõ hoạt dụng của Diệu Tâm như sau:

“Tâm pháp vô hình thông suốt mười phương, ở mắt gọi là thấy, ở tai gọi là nghe, ở mũi gọi là ngửi, ở miệng gọi là nói bàn, ở tay gọi là nắm bắt, ở chân gọi là chạy nhảy, vốn là một cái tinh minh, phân thành sáu hòa hợp”.

Trong Luận Đại Thừa Khởi Tín, luận sư Mã Minh dạy:

“Cái tâm này (tâm chúng sanh) có hai phần:

Một là Tâm Chân Như,

Hai là Tâm sanh diệt.

Hai tâm này không rời nhau và đều bao trùm tất cả pháp”.

HT Thích Thiện Hoa giảng rằng:

“Chân Như là “Thể”, còn Sanh diệt là “Tướng” và “Dụng”. Tướng và Dụng không rời Thể, Thể không rời Tướng và Dụng; cũng như nước không rời sóng, sóng không rời nước. Bởi Thể, Tướng và Dụng không rời nhau, nên mỗi một phần đều bao hàm được tất cả pháp.

Nếu người nào lìa các vọng niệm, thì người ấy nhập được Chân Như. Nghĩa là “Vọng” hết, thì “Chân” hiện. Đoạn này đồng một ý nghĩa với bốn chữ “bất tuỳ phân biệt” trong Kinh Lăng Nghiêm”.

Thưa quý thính giả,

Vọng niệm nổi lên trong tâm con người ta luôn luôn liên tục từ sát na này tiếp nối sát na khác như là dòng suối, nên còn gọi là dòng suối ý thức. Nếu có thể bất thình lình nguồn tư tưởng triền miên đó ngưng một sát na thì dòng suối đứt đoạn, gọi là “lìa vọng chứng chân”, đương sự bừng tỉnh cơn mê, trong một thoáng thấy lại được Bản Tánh, cũng là Giác Tánh, Diệu Tâm, vân vân. Sự kiện này là “kiến tánh”, thiền Nhật Bản gọi là Satori.

Đức Phật giơ cành hoa lên là phương tiện thiện xảo của Ngài, tâm tôn giả Ca Diếp lúc đó đã lắng đọng, cho nên chỉ một hành động của đức Phật, nhà Thiền gọi là cơ xảo, tâm tôn giả Ca Diếp chợt bừng tỉnh. Cơ xảo giơ cành hoa của đức Phật như thế, Thiền tông gọi là “tháo đinh nhổ chốt”, Tổ Lâm tế gọi là “trị bệnh mở trói”, đều là gỡ cái nút thắt trong tâm của hành giả tu Thiền, khiến cho Tâm hành giả bừng tỉnh mà thôi.

Tâm trò bừng tỉnh thì thông suốt với tâm rỗng rang của Thày, nên gọi là “Tâm ấn Tâm”, và sự truyền thừa đó gọi là “Truyền Tâm Ấn”.

Ở đây chỉ có Tâm rỗng rang của hai thày trò thông suốt nhau, không có gì được truyền từ thày sang trò, vì thế nhà Phật đã có câu “dĩ tâm ấn tâm, dĩ không môn vi pháp môn”, nghĩa là “tâm thông suốt với tâm, cửa không là cửa pháp”. Nếu trong tâm lại còn có bất cứ cái gì để mà có thể truyền từ tâm thày sang trò thì tâm còn ô nhiễm, sao gọi là Phật như câu “Năng lễ sở lễ tánh không tịch” được.

Pháp môn này gọi là “Trực chỉ nhân tâm kiến Tánh thành Phật”, và phương tiện thiện xảo đó là “chỉ thẳng tâm người”.

Như vậy, nhiệm vụ ngài Bồ Đề Đạt Ma tới Trung Hoa là để chỉ thẳng cho các học giả Phật giáo thấy mục tiêu cốt tủy của đạo Phật không phải là nghiên cứu ngón tay chỉ mặt trăng là phần lý thuyết, mà phải thực hành để đạt được mặt trăng là “kiến Tánh thành Phật”.

Kính thưa quý vị,

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 22 – Quy Y Tam Bảo – Pháp Danh

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi nhận được thư của ông Phạm thế Hiếu hỏi về vấn đề pháp danh trong đạo Phật. Nhận thấy câu hỏi này có thể cũng là thắc mắc của một số thính giả nên chúng tôi xin phép được trình với quý vị một đoạn trong thư, trước khi có lời giải đáp, như sau:

…”… Một người bạn Mỹ trong sở một hôm hỏi tôi theo tôn giáo nào, tôi nói tôi theo đạo Phật, anh ta bèn khoe anh ta cũng theo đạo Phật có dharma name và hỏi dharma name của tôi. Tôi không biết dharma name là gì nên phải nói đại là quên mất rồi.

Sự thực thì tuy gia đình tôi theo đạo Phật nhưng chúng tôi rất ít khi đến chùa, cũng không hề biết kinh sách gì cả, chỉ Tết mới đi lễ xin lộc Phật, hoặc những ngày giỗ hay có tang ma của người thân thuộc thì mới đến chùa tụng kinh cầu siêu, cho nên sự hiểu đạo của gia đình chúng tôi rất hạn hẹp.

Nay gặp câu hỏi khó nên viết thư này xin quý vị chỉ dẫn để tôi có thể trả lời người bạn trong sở tôi về vấn đề dharma name….”…

Thưa quý thính giả và ông Hiếu,

Theo chỗ chúng tôi được biết thì trường hợp hiểu đạo một cách hạn hẹp như ông Hiếu rất phổ biến trong cộng đồng Phật giáo chúng ta. Đối với một số tôn giáo, ngay khi còn là em bé, đứa nhỏ đã phải trải qua một số nghi lễ để xác nhận tôn giáo mà em sẽ mang theo sau này. Rồi sau đó, khi hiểu biết đôi chút, các em bắt đầu học giáo lý theo tôn giáo của các em

Nhưng đạo Phật thì khác, do chủ trương mọi việc làm đều phải được quyết định trong sự tỉnh thức, cho nên một em nhỏ trong gia đình theo đạo Phật cứ việc sống tự nhiên cho tới khi bắt đầu hiểu biết, khi đó có thể là do cha mẹ dạy hoặc cho các em gia nhập các gia đình Phật tử, hoặc tự các em tìm hiểu đạo Phật qua sách báo, trong thư viện, hoặc nghe những buổi thuyết pháp của đạo Phật, cảm thấy muốn đi sâu vào con đường tu tập của đạo Từ Bi, họ mới tới chùa xin Quy Y Tam Bảo để chính thức là một Phật tử.

Người tự nguyện quy y như thế có nghĩa là chấp nhận sự hướng dẫn của Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo. Phật Bảo là chư Phật, Pháp Bảo là giáo pháp, cụ thể là Tam Tạng Kinh Điển, Tăng Bảo là chư Tăng Ni tu hành thanh tịnh, hiện đang đại diện Chư Hiền Thánh Tăng để hướng dẫn Phật tử trên con đường giác ngộ giải thoát.

Và chỉ sau khi Quy Y Tam Bảo, có nghĩa là đương sự đã quyết tâm nương tựa tinh thần vào Tam Bảo để tu tập, thì người đó mới được vị Tăng đại diện đặt cho một pháp danh, thí dụ Diệu Tâm, Chân Tịnh, vân vân…. Pháp danh dịch sang Anh Ngữ là dharma name

Như thế, trên thực tế, nếu một người không Quy Y Tam Bảo, không đọc kinh sách nhà Phật để ứng dụng vào cuộc sống cho được thăng hoa, giảm bớt nỗi thống khổ, mà chỉ đi chùa cúng bái cầu siêu, một việc vốn không phải là Phật sự chính của đạo Phật, mà do  các Sư thực hiện như một phương tiện tùy thuận chúng sinh, thì có lẽ nên gọi là theo đạo thờ cúng Tổ Tiên, mà trong dân gian gọi là “đạo Ông Bà” mới đúng danh nghĩa.

Tất cả Phật tử đều thờ cúng Tổ Tiên, không có nghĩa rằng những người chỉ thờ cúng Tổ Tiên, không hề biết đến và nương theo giáo lý của đạo Từ Bi để chuyển hóa tâm đều là Phật tử. Chỉ sau khi đã Quy Y Tam Bảo, đã ứng dụng giáo lý nhà Phật trong cuộc sống, thì mới là một Phật tử thực sự.

Có người nói rằng :” Tôi chỉ quy y “Nhị Bảo” là Phật và Pháp thôi, còn Tăng thì cũng như tôi, không cần quy y”.

Nói như thế là sai lầm. Tăng hiện đang sống, đứng trước mặt chúng ta là phàm tăng. Nhưng các vị ấy đại diện tất cả Tăng Bảo của ba thời là quá khứ, hiện tại và vị lai. Chúng ta quy y như thế là quy y tất cả Chư Hiền Thánh Tăng của ba thời do các phàm tăng đại diện.

Tăng Bảo, dù là phàm tăng, cũng có công duy trì và hoằng dương Phật pháp ở đời. Nhờ có Tăng Bảo, đạo Phật mới có thể hiện diện trên thế gian một cách sống động và hữu ích thiết thực, qua những lời dạy của chư Tăng và do chính đời sống gương mẫu của chư vị ấy mà Phật tử noi theo, điều đó gọi là thân giáo.

Nếu có cá nhân Tăng Ni nào vi phạm Giới Cấm, hành xử sai lầm, chúng ta cũng hiểu rằng đó là trường hợp cá biệt, không vì thế mà có sự nhận định sai lầm tới danh dự của tất cả chư Tăng Ni.

Khi quy y Tam Bảo là chúng ta quy y chư Phật, chư Pháp và chư Tăng. Chư Tăng là “tất cả các Tăng”. Cho nên đã quy y Thầy A rồi, khi thấy Thầy B danh tiếng lừng lẫy hơn, bằng cấp cao hơn, ta lại quy y thêm Thầy B là dư thừa, vì khi quy y Thầy A, ta đã đồng thời quy y Thầy B.

Để quý thính giả có thêm tài liệu về Quy Y Tam Bảo, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một phần bài pháp của hòa thượng Thích Thanh Từ dạy về đề tài này.

Hòa thượng nói:

…”… Tam Quy nói đủ là Quy Y Tam Bảo. Tam Bảo là Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo. Phật là chỉ đức Phật Thích Ca Mâu Ni, do trước kia ngài tu hành giác ngộ thành Phật. Pháp Bảo là giáo pháp do Đức Phật nói ra chỉ dạy đường lối tu hành. Tăng Bảo là những vị tu hành theo giới luật và chánh pháp của đức Phật.

Tại sao gọi là Phật Bảo?

Từ một kẻ phàm phu như chúng ta tu hành thành Phật thực là chuyện ít có trên nhơn gian nầy. Thế nên trong kinh thường nói Phật ra đời khó gặp, như hoa Ưu Đàm một ngàn năm mới trổ một lần. Bởi ít có, khó gặp, nên nói là Báu. Hơn nữa, tự bản thân Ngài đã thoát khỏi sanh tử luân hồi và giác ngộ thành Phật, rồi đem chỗ giác ngộ ấy dạy lại cho mọi người cùng ra khỏi sanh tử, là điều cao cả nhất trần gian nên gọi là Báu, tức là Bảo.

Thế nào gọi là Pháp Bảo?

Chánh pháp xuất thế hy hữu do Đức Phật dạy lại, người nghe rất khó hiểu, khó thấu đáo được. Nhưng một khi đã hiểu, ứng dụng tu hành có thể chuyển đời phàm phu trở thành thánh nhân, pháp như vậy còn gì quý báu bằng. Pháp của Phật dạy là chân lý, dù trải qua bao thời gian chân lý ấy vẫn rạng ngời như hòn ngọc báu. Những kẻ đang lạc lầm trong đêm đen, bất thần gặp được ngọn đuốc, vui mừng quý tiếc thế nào, người học đạo gặp được chánh pháp cũng như thế. Người đang bị chìm đắm ngoài biển cả, trông thấy một con thuyền đến vớt, vui mừng sung sướng quý mến thế nào, người học đạo gặp được chánh pháp cũng như thế. Cho nên nói “Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm gặp.”

Thế nào gọi là Tăng Bảo?

Tăng là chỉ cho một nhóm tu sĩ học theo Phật, sống chung nhau đúng tinh thần Lục Hòa. Sống đúng tinh thần Lục Hòa là việc ít có trên nhân gian nầy. Bởi vì người thế gian sống trong đua đòi giành giật hơn thua với nhau, không bao giờ hòa thuận được. Lục hòa là:

Thân hòa cùng ở,
Miệng hòa không tranh cãi,
Ý hòa đồng vui,
Giới luật hòa đồng giữ,
Hiểu biết hòa cùng giải,
Lợi hòa chia đồng.

Sáu điều này là tinh thần của Tăng. Nếu có người đầu tròn áo vuông mà không sống theo tinh thần Lục Hòa cũng không gọi là tăng. Ở trong tập thể từ bốn người trở lên, ai cũng hòa thuận chung sống đúng tinh thần Lục Hòa là một việc rất khó làm. Vì thế, người tu sĩ sống theo tinh thần Lục Hòa, là một điều quí báu trên nhơn gian. Hơn nữa, trên sự tu hành, các vị ấy đã vơi đi phiền não và đạt được phần nào của an ổn thanh tịnh, rồi hướng dẫn mọi người cùng đến chổ an ổn thanh tịnh ấy. Vì thế cho nên gọi là Tăng Bảo.

Thế nào là Quy y?

Quy là trở về, Y là nương tựa. Trở về nương tựa với Phật, Pháp và Tăng gọi là Quy Y Tam Bảo. Từ lâu chúng ta mãi chạy theo dục lạc, tạo nghiệp đau khổ, nay hồi tâm thức tỉnh, nhất định trở về nương tựa với Tam Bảo. Lấy Tam Bảo làm chổ cứu cánh, để không còn tạo thêm nghiệp đau khổ, rồi từ đó đem lại cho chúng ta sự an lạc trong cuộc sống. Đây là sự hồi tâm tỉnh giác, phát nguyện trở về của chúng ta. Sự tỉnh giác nầy là nền tảng của lâu đài trí tuệ, nó là bước đầu trên con đường về quê hương giác ngộ. Đặt nền tảng nầy vững chắc thì lâu đài trí tuệ mới được lâu dài. Đó là sự hệ trọng của tinh thần Quy Y….”…

Phật Pháp Tăng là đối tượng để chúng ta Quy Y. Nguyện noi theo con đường Đức Phật đã đi là Quy Y Phật. Quyết thực hành những lời chỉ dạy của Ngài còn ghi trong kinh điển là Quy Y Pháp. Thuận theo sự hướng dẫn tu hành của chúng tăng là Quy Y Tăng. Tăng là tập đoàn Tăng lữ sống đúng tinh thần Lục Hòa, không phải tính cách cá nhân. Nếu một vị sư đứng ra làm lễ Quy Y cho Phật tử, chính vị ấy đại diện cho tập đoàn. Quy Y Tăng là quy y với những vị sư sống đúng tinh thần Lục Hòa, không phải chỉ quy y riêng vị sư truyền Tam Quy cho mình. Khi quy y một vị Tăng tức là đã quy y tất cả chư Tăng. Được vậy mới đúng tinh thần Quy y Tam Bảo bên ngoài.

Phật pháp bao giờ cũng phải đủ hai mặt, Tam Bảo bên ngoài là đối tượng, Tam Bảo tự tâm là bản chất. Nương Tam Bảo bên ngoài, chúng ta phát triển Tam Bảo của tự tâm. Trong ngoài hỗ tương để viên mãn công phu tu hành, là mục tiêu chính yếu của Đạo Phật.

Về Tam Bảo tự tâm thì Tánh Giác sẵn có nơi chúng ta là Phật Bảo. Lòng từ bi thương xót cứu giúp chúng sanh là Pháp Bảo. Tâm hòa hợp với mọi người là Tăng Bảo.

Tam Bảo bên ngoài là điều kiện tốt thiết yếu với người Phật tử, nhưng có được giác ngộ giải thoát chính là khả năng của Tam Bảo Tự Tâm.

Trên đây là bài pháp của hòa thượng Thích Thanh Từ.

Thưa quý thính giả,

Trong các thời tụng kinh, vào giai đoạn cuối, chúng ta thấy có ba đoạn tụng như sau:

Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng. 

Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh, thấu rõ Kinh Tạng, trí tuệ như biển. 

Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại.

Ba lời nguyện này chính là Quy Y Tam Bảo Tự Tâm, còn gọi là Tự Tánh. Sơ Tổ thiền tông Bồ Đề Đạt Ma ra một tuyên ngôn sấm sét khi bước chân lên đất Trung Hoa rằng:

Bất lập văn tự,

 Giáo ngoại biệt truyền,

 Trực chỉ nhân tâm,

 Kiến Tánh thành Phật.”

Chữ “Tánh” trong câu này chính là “Tự Tánh”, cũng chính là Giác Tánh của mỗi người.

Tự Tâm Quy Y có nghĩa là quay vào nội tâm để tự thanh lọc cho tới khi Giác Ngộ.

Về Quy Y Tam Bảo Tự Tâm, hòa thượng Thích Thiện Hoa dạy như sau:

…”…Quy Y Tam Bảo Tự Tâm nghĩa là quy y Tam Bảo trong tâm chúng ta. Nếu chúng ta chỉ quy y Tam Bảo bên ngoài, mà quên Tam Bảo bên trong tâm chúng ta, thì chúng ta chưa thực hành đúng nghĩa Tam Quy. Thật thế, bên trong tâm chúng ta cũng có đủ Tam Bảo. Chúng ta cần thực hành Tam Tự Quy Y: Tự Quy Y Phật, Tự Quy Y Pháp và Tự Quy Y Tăng.

 Tự quy y Phật nghĩa là mình tự trở về với Phật tánh sáng suốt của tâm mình. Mỗi người đều có Phật tánh, và đều có thể thành Phật. Đó là lời Phật Thích Ca đã dạy. Nhưng Phật tánh ấy bị mê lầm, vọng tưởng che lấp. Vọng tưởng như mây mờ, Phật tánh như trăng. Mây mờ có thể che khuất, chứ không thể tiêu diệt được trăng sáng.

Phật tánh của chúng ta dù bị vọng tưởng, vô minh che lấp sâu kín đến đâu cũng vẫn thường còn. Vậy thì sao chúng ta lại bỏ quên Phật tánh của chúng ta, mà chỉ chạy theo cầu khẩn Phật bên ngoài; như đứa con nghèo có viên ngọc quý, cha mẹ đã giấu sẵn trong chéo áo mà nó không biết, lại đi xin ăn cùng khắp mọi nơi.

Tự Quy Y Pháp là vâng theo Pháp tánh của mình. Trong tâm có đủ pháp Từ Bi, Trí Tuệ, Bình Đẳng, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn…Chúng ta cần phát huy những đức tánh ấy và hành động theo chúng, tuân theo chúng; như thế là Tự Quy Y Pháp.

Tự quy y Tăng là vâng theo thầy trong tâm mình. Thầy trong tâm mình là đức tánh thanh tịnh hòa hợp của mình, cũng như Tăng già là hiện thân của sự hòa hợp thanh tịnh bên ngoài. Bấy lâu vì mình bị mê muội, không nhận thấy được ông thầy trong tâm, nay nhờ Phật chỉ dạy, mình nhận thấy được ông thầy thanh tịnh ấy, thì mình phải quy y thầy của mình trước đã chứ!

Nói tóm lại, mình phải nương tựa, quay về với Phật trong tâm là tánh sáng suốt; với Pháp của mình là các đức tánh Từ Bi, Hỷ Xả v.v…; với Tăng của mình là sự hòa hợp, thanh tịnh của bản thân. Như thế là Tam Tự Quy Y….”…

Trên đây là lời dạy của hòa thượng Thích Thiện Hoa.

Thưa quý thính giả,

Các pháp môn tu hành của nhà Phật đều chủ yếu là luyện cho tâm được bình tĩnh, thanh tịnh, để nhìn thấu suốt được sự việc xảy ra đúng như thực tế.

Trong quá trình tu tập, các thiền giả đang đi trên đường, dù chưa đắc đạo, cũng có những thành tựu nhỏ như là giữ được sự bình thản trước những nỗi kinh hoàng của cuộc đời, không bị lôi cuốn vào cơn sợ hãi.

Chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện Thiền nói về sự bình tĩnh, trích dịch từ loạt bài  “Zen Stories To Tell Your Neighbors” do soạn giả John Suler gửi lên Internet, như sau:

…”… Trong cuộc nội chiến dưới triều đại phong kiến bên Nhật, có đoàn quân xâm lăng tràn vào thành phố cướp chính quyền.

Tại một làng đặc biệt kia, trong khi mọi người vội vã bồng bế nhau chạy thoát thân trước khi quân giặc tràn tới, thì có một vị thiền sư vẫn điềm nhiên tĩnh tọa.

Nổi cơn tò mò, viên tướng giặc muốn nhìn tận mắt coi ông thiền sư già này thuộc loại gan cóc tía nào mà dám ngang nhiên như thế, bèn thân hành tới tận chùa. Thấy mình không được thiền sư tiếp đón một cách cung kính, tôn trọng, điều mà hắn đã quen được hưởng, viên tướng bèn nổi trận lôi đình, vừa rút gươm ra vừa thét:

– Nhà người điên à? Bộ không biết rằng nhà ngươi đang đứng trước mặt một người có thể đâm ngươi một đường gươm lút cán mà không hề chớp mắt sao?

Vẫn bình thản dường như là bất động, vị thiền sư điềm tĩnh trả lời:

– Thế ông không nhận ra rằng ông đang đứng trước một người có thể bị đâm một đường gươm lút cán mà không hề chớp mắt sao?

Thưa quý thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay.  Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 21 – Giới Cấm uống rượu và men say, ma túy

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Trong nhiều kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình với quý vị bài kệ tóm tắt con đường tu hành của người Phật tử, như sau:

“Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành”

Chúng tôi cũng đã thưa rằng trong ba lời dạy cốt tủy đó, thì lời dạy thứ ba, “Tự thanh tịnh tâm ý”, mới chính là điều tối quan trọng, chỉ khi nào thực hiện điều đó, hành giả đạo Phật mới hoàn tất con đường tu chứng của mình, bởi vì nội dung của “tự thanh tịnh tâm ý” có nghĩa là chấm dứt những lôi cuốn của Tham, Sân và Si, vốn là nguyên nhân của tất cả mọi vướng mắc dây dưa trong vòng luân hồi sinh tử.

Tuy vậy, hai điều trước đó, “không làm những điều ác” và “siêng làm những việc lành” cũng rất quan trọng. Vì đó là phần đạo đức học của Phật giáo, mục đích đào luyện những phần tử tốt lành, những người hiền thiện trong xã hội, đồng thời chuyển dòng nghiệp của họ từ xấu sang tốt, làm nhân tố tốt cho giai đoạn “Tự thanh tịnh tâm ý”.

Để thực hiện điều này, nhà Phật có Ngũ Giới, là năm điều ngăn ngừa, mà mỗi Phật tử đều có phát lời nguyện sẽ tuân thủ, hoặc cả 5 Giới, hoặc nếu cảm thấy chưa đủ khả năng giữ được trọn vẹn cả 5, thì có thể thọ tùy theo nhiều hay ít giới, để tập cho quen từ từ, cuối cùng đạt được mục đích tuân thủ cả Năm Giới.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi xin kính gửi tới quý vị nội dung câu hỏi “Thế nào là Ngũ Giới của cư sĩ tại gia?” và câu trả lời của hòa thượng Thích Duy Lực, như sau:

– Giới thứ nhất là cấm sát sanh. Đã muốn thọ giới của Phật thì trước tiên là cấm sát sanh, bất sứ sinh vật gì thuộc hữu tình đều cấm giết hại.

– Giới thứ nhì là cấm trộm cắp. Đồ vật của người khác, nếu muốn lấy sử dụng phải được sự đồng ý của chủ nó, nếu không được sự đồng ý mà lén lấy thì gọi là trộm cắp. Dĩ nhiên các đồ vật trong gia đình giữa cha mẹ anh chị em thường dùng qua lại lẫn nhau là không phạm, nhưng cái nào cũng có sự giới hạn, ví như con cái ăn cắp tiền của cha mẹ cũng phạm giới trộm cắp.

– Giới thứ ba là cấm tà dâm. Thế nào là tà dâm? Người tại gia thường có gia đình, quan hệ vợ chồng chính thức là chánh, ngoài vợ chồng chính thức ra đều thuộc tà dâm, phải cấm, còn người xuất gia thì bất cứ hành động dâm dục nào cũng đều bị cấm.

– Giới thứ tư là cấm vọng ngữ, gồm bốn thứ: Vọng ngôn, ỷ ngữ, ác khẩu, lưỡng thiệt.

Vọng ngôn là nói dối, tức nói có thành không, nói không thành có;

Ỷ ngữ là lời nói thêu dệt;

Ác khẩu là chửi mắng người khác;

Lưỡng thiệt là thị phi hai đầu, làm cho hai bên bất hòa, khiến thù oán nhau.

– Giới thứ năm là cấm uống rượu, vì uống rượu rồi có thể phạm phải bốn giới trước nên cấm.

Giới nhà Phật có khai, giá, trì, phạm, ví như mình có bệnh, y sĩ nói phải dùng thuốc có pha rượu, tự mình công khai nói ra thì có thể uống. Lại nữa, có trường hợp vì không biết đó là rượu mà uống phải thì chẳng phạm; hoặc trong lúc nấu nướng cần bỏ rượu vào để chế biến cũng chẳng phạm. Ngoài ra, một số thực phẩm có men rượu nhưng ăn vào không bị say như cơm rượu, vân vân, cũng dùng được.

Ngũ Giới này là của cư sĩ tại gia, đã thọ rồi thì phải suốt đời giữ theo giới, nếu sơ ý phạm phải thì sám hối với một người cư sĩ đã thọ Ngũ Giới rằng: “Xin ông hãy chứng minh cho tôi đã lỡ phạm Giới này, từ nay về sau tôi sẽ không phạm nữa”. Vậy là hết tội phá giới, còn tội nhân quả thì chẳng thể sám hối được, giết một mạng phải trả một mạng.

Có người nói: “Thế thì chẳng thà không thọ giới, không phải mắc đến hai tội, vừa tội nhân quả vừa tội phá giới; nếu không thọ giới thì chỉ mắc một tội nhân quả mà thôi”.

Sự thật là nếu không thọ giới thì dễ phạm nhiều tội nhân quả, mắc nợ nhiều; còn thọ giới rồi sẽ cẩn thận hơn, ít phạm tội nhân quả, ít mắc nợ, cho nên có thọ giới vẫn tốt hơn”.

Trên đây là bài giảng về Ngũ Giới  của hòa thượng Thích Duy Lực.

Thưa quý thính giả,

Trong các Giới Cấm kể trên, Giới Cấm uống rượu là gây nhiều thắc mắc nhất. Có người nói rằng “Uống rượu thì có gì là hại, còn bổ máu, dễ tiêu hóa nữa kìa, các cụ dạy thế và cả bác sĩ cũng bảo vậy, sao Phật lại cấm?”

Do đó, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một đoạn trong bài pháp của hòa thượng Thích Thiện Hoa, phần nói về Giới Cấm uống rượu.

Hòa thượng dạy rằng :

“Phật cấm uống rượu vì muốn ngăn ngừa những nguyên nhân sanh ra tội lỗi.

Uống rượu chính nó không phải là một tội lỗi như sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nhưng nó có thể làm nhân cho những tội lỗi kia sanh ra. Khi đã uống rượu say sưa, thì tội nào cũng có thể phạm được. Dưới đây là một câu chuyện để chứng minh điều đó:

Một anh nông phu kia đang cày ruộng giữa đồng, bỗng thấy hiện ra sừng sững trước mặt mình một hung thần to lớn, kỳ dị, hăm giết anh. Anh kinh sợ, khóc lóc xin tha mạng. Vị hung thần bảo:

– Nếu ngươi làm được một trong ba việc này thì ta tha chết cho: hoặc là giết cha ngươi, hoặc là đánh mẹ ngươi hay uống hết lít rượu để trên bàn nhà ngươi.

Anh nông phu suy nghĩ một hồi rồi trả lời:

– Xin Ngài cho con được uống lít rượu.

Ác thần nghe xong, có vẻ hài lòng, rồi biến mất.

Trưa hôm ấy, anh nông phu về nhà, thấy lít rượu mà ông thân sinh mua để đãi khách, vì nhà sắp có giỗ, anh ta vội vàng chụp lấy, nốc cạn một hơi. Cha anh thấy đứa con hỗn láo, nắm gậy xông lại đánh mắng con. Ma men đã thấm, anh ta không còn biết phải trái, giựt gậy của cha, đánh ông một cây chết tốt ! Bà mẹ chạy đến ôm con la làng. Anh ta chưa hả cơn giận, đánh mẹ túi bụi. Làng xóm chạy lại bắt anh dẫn lên quan vì tội giết cha đánh mẹ. Tỉnh lại anh mới biết uống rượu là tội nặng nhất trong 3 điều mà hung thần đã bắt anh làm”.

Kính thưa quý vị,

Hòa thượng Thích Thiện Hoa kể câu chuyện ẩn dụ trên để gây ấn tượng về sự nguy hiểm sẽ phát sinh ra do rượu. Vì uống rượu thì sẽ say sưa, lý trí bị lu mờ, hành động trở thành mê muội, mất sáng suốt.

Vào thời đức Phật chế Giới Cấm, chỉ mới có rượu là chất làm cho tinh thần bị mê mụ, mất sáng suốt. Cho nên để giữ cho tinh thần minh mẫn, mới có Giới Cấm uống rượu.

Nhưng ngày nay nhân loại còn có những chất say độc hại, làm mê mụ tinh thần con người ta hơn cả rượu, thí dụ cần sa, ma túy. Các chất này vốn cũng được dùng trong y dược khoa để điều chế các loại thuốc giảm đau, gây mê, vân vân, với liều lượng rất nhỏ và do sự tinh luyện của những nhà chuyên môn để tránh độc hại.

Nhưng nó lại trở nên vô cùng độc hại khi bị lạm dụng với những liều lượng lớn và cơ thể có thói quen phải dùng liên tục vì tính chất các loại thuốc này là làm cho người ta trở thành nghiện.

Hiện tượng lạm dụng các loại cần sa ma túy phổ biến ở Tây Phương vào khoảng đầu thập niên 60, khi phong trào hippie lan tràn, gây ảnh hưởng sâu xa vào nền văn hóa của nhân loại. Điển hình của một hippie là quần áo  xốc xếch mầu sắc sặc sỡ, tóc dài dù là con trai, biểu dương quan niệm sống tự do buông thả trong nếp suy tư tình cảm và bác bỏ những giá trị văn hóa truyền thống. Họ tìm cảm giác bằng cách hút cần sa, ma túy.

Phong trào lan nhanh trên thế giới do nếp sống đồi trụy buông thả dễ lôi cuốn con người vào con đường sa ngã, và từ thời gian đó, nhân loại rơi vào một hiểm họa là nạn nghiện cần sa, ma túy.

Sự nguy hiểm của nghiện ma túy là khi đã lậm, liều lượng sẽ phải tăng dần để thỏa mãn nhu cầu đạt được sảng khoái của kẻ nghiện. Đồng thời, đã nghiện ma túy rồi thì sự từ bỏ rất là khó khăn, trừ trường hợp nạn nhân có ý chí thật là mãnh liệt.

Nhưng chuyện có ý chí từ bỏ này rất hiếm xảy ra vì bản chất của ma túy là nó tác hại vào tinh thần kẻ nghiện, khiến cho nạn nhân trở thành trì trệ, lười biếng, lừ đừ. Và người nghiện trở nên hung dữ khi cơn ghiền đến mà không có thuốc. Khi đó, họ có thể làm những hành động vô cùng tàn nhẫn ngay cả đối với người thân như cha mẹ anh chị em hoặc bạn bè để có tiền mua thuốc, thậm chí trở thành kẻ bất lương, cướp bóc nữa.

Kết quả tai hại của nạn nghiện ma túy này rất là tàn khốc, cho chính người lạm dụng, cho những người thân của đương sự và cho xã hội nữa.

Từ đó suy ra, chúng ta thấy Giới Cấm uống rượu này bao gồm tất cả “các chất làm say sưa, mất sáng suốt”. Như thế, các loại cần sa, ma túy, vân vân …, cũng phải được cho vào danh sách những chất bị Giới Cấm uống rượu chi phối.

Thưa quý thính giả,

Nhân nói về Giới Cấm uống rượu, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị câu chuyện thương tâm, hậu quả của một tai nạn do say rượu lái xe, được đăng trên Internet, do bà V.A. Bailey kể lại, đạo hữu Vy Khanh dịch ra Việt ngữ, như sau:

“Tôi vội vã chạy tới một cửa hàng bách hóa để quơ đại vài món quà Giáng Sinh vào giờ cửa tiệm sắp đóng. Nhìn đám người ùn lên phía trước, tôi vừa bực bội với sự trễ nải của mình vừa cố gắng xấn xổ vượt qua được đám đông chen chúc trong cái gian hàng đồ chơi trẻ con này. Giá mà tôi lăn kềnh được ra đây, ngủ thiếp đi, tỉnh dậy để phát hiện ra rằng ngày Lễ Giáng Sinh đã qua rồi thì hay biết mấy!

Bỗng nhiên, tôi  nhận ra tiếng của chính tôi đang lẩm bẩm đọc giá tiền những món đồ chơi bày trên kệ và tưởng tượng cảnh mấy đứa cháu được ôm những món đồ chơi đó trong lòng. Thuận chân, tôi tiến về khu bán búp bê. Phía xéo với tầm mắt, tôi thấy một em bé trai trạc 5 tuổi đang ôm một con búp bê xinh xắn. Đứa bé nâng niu món đồ chơi trong vòng tay, còn tay kia thì cứ vuốt mãi lên mái tóc mềm như tơ của con búp bê. Tôi không thể dời mắt khỏi quang cảnh đó mà cứ chăm chú nhìn cậu bé, trong lòng thắc mắc không biết cậu ta giữ con búp bê đó cho ai vậy. Rồi tôi thấy cậu ta quay qua phía một phụ nữ đứng bên cạnh mà hỏi:

– Cô có chắc là số tiền của cháu không đủ để mua con búp bê này không?

Người cô trả lời, giọng có vẻ sốt ruột:

– Cháu biết là cháu không đủ tiền mua nó mà.

Rồi cô ta dặn cháu đừng đi đâu cả, phải đứng tại đó chờ cô ta đi mua mấy món đồ, sẽ trở lại trong vòng vài phút. Nói rồi cô đi khuất khỏi tầm mắt chúng tôi.

Cậu bé vẫn đứng đó tay ôm con búp bê. Ngập ngừng một chút, tôi cất tiếng hỏi cậu bé rằng cậu định mua con búp bê cho ai. Cậu bé trả lời:

– Đây là con búp bê mà em cháu thích được tặng vào dịp Giáng Sinh này lắm. Em cháu biết chắc là Santa Claus sẽ mang tới cho em.

Tôi bảo cậu bé:

– Có lẽ Santa Claus sẽ mang tới cho em cháu thật đấy.

Cậu bé lắc đầu:

– Không, Santa sẽ không thể tới được nơi mà em cháu hiện nay đang ở. Cháu phải đưa con búp bê cho mẹ cháu để mẹ mang tới cho em.

Tôi hỏi:

– Vậy em cháu ở đâu?

Cậu bé nhìn tôi bằng cặp mắt thê thảm nhất, trả lời:

– Em cháu đã về với Chúa. Bố cháu nói rằng mẹ cháu cũng sắp phải đi với em rồi.

Tim tôi thót lại. Cậu bé nói tiếp:

– Cháu dặn bố cháu nói với mẹ là mẹ đừng đi vội. Cháu dặn bố cháu nói với mẹ là hãy chờ cháu từ tiệm trở về.

Rồi cậu bé hỏi tôi có muốn coi hình của cậu ta không. Tôi nói rằng tôi rất muốn. Cậu ta lôi ra mấy tấm hình mà cậu mới chụp ở ngoài cửa tiệm, nói:

– Cháu muốn mẹ cháu đem theo mấy tấm hình này để mẹ không bao giờ quên cháu. Cháu yêu mẹ cháu lắm. Cháu ước gì mẹ cháu sẽ không phải rời bỏ cháu. Nhưng bố cháu nói rằng mẹ cháu cần phải đi với em cháu.

Tới đây, cậu bé lặng lẽ cúi gục đầu xuống. Trong khi cậu ấy không nhìn thấy, tôi thò tay vào ví lôi ra một nắm tiền giấy cuộn trong lòng bàn tay rồi đề nghị:

– Này, hay là chúng mình đếm lại tiền của cháu một lần nữa coi sao?

Cậu bé có vẻ phấn khởi:

– Dạ, cháu biết chắc là phải đủ mà.

Thế là tôi nhẹ nhàng tuồn nắm tiền trong lòng bàn tay tôi nhập vào với tiền của cậu bé và bắt đầu đếm. Dĩ nhiên là bây giờ thì số tiền dư sức để mua con búp bê. Cậu bé nhìn lên cao, cất tiếng nhẹ nhàng:

– Xin cảm ơn Chúa đã cho con đủ tiền mua búp bê.

Rồi cậu nói với tôi:

– Cháu vừa mới cầu xin Chúa cho cháu đủ tiền mua con búp bê này để mẹ cháu có thể đem theo cho em cháu. Chúa đã nghe thấy lời cầu xin của cháu. Cháu đã muốn xin đủ tiền để mua được hoa hồng bạch cho mẹ cháu nữa mà cháu lại không hỏi. Vậy mà Chúa lại cũng cho cháu đủ tiền để mua được cả búp bê cho em cháu và hoa hồng cho mẹ cháu nè. Mẹ cháu thích hoa hồng bạch lắm, cô à.

Người cô của cậu ta đã trở lại. Tôi cũng đẩy xe đồ của tôi đi luôn. Đầu óc tôi cứ bận bịu với hình ảnh cậu bé trong khi tôi tiếp tục mua sắm, nhưng tinh thần tôi bây giờ không giống như trước khi tôi gặp cậu ta.

Tôi bỗng nhớ tới một câu chuyện đăng trên báo mấy ngày trước đây, câu chuyện về một người say rượu lái xe, tông vào xe kia làm cho một cô bé chết ngay và mẹ cô ta bị thương nặng. Gia đình người bị nạn đang bối rối trước quyết định có nên tháo bộ máy trợ sinh ra khỏi cơ thể bà ta chăng. Nhưng dĩ nhiên là cậu bé này chẳng liên quan gì đến câu chuyện đó cả, tôi tự nhủ thế.

Hai ngày sau tôi đọc báo thì biết được rằng gia đình người đàn bà trong tai nạn xe hơi đã quyết định tháo máy trợ sinh và bà ta đã chết. Tôi vẫn chưa quên câu chuyện cậu bé và cứ thắc mắc không biết hai chuyện có liên quan gì đến nhau không.

Chiều hôm đó, không nhịn được nữa, tôi đi mua mấy bông hoa hồng trắng và đến nơi quàn xác người đàn bà.

Thì ô kìa, nằm lặng lẽ trong bộ áo cuối cùng của cuộc đời, người đàn bà trẻ ôm trong tay một bông hoa hồng bạch cạnh con búp bê xinh xắn và trên ngực là tấm hình cậu bé chụp trước cửa tiệm bách hóa.

Tôi ra về với đôi mắt đẫm lệ, cuộc đời tôi thay đổi từ lúc đó. Tình yêu mà cậu bé thơ ngây dành cho em nhỏ và mẹ cậu ta mới thiêng liêng sâu sắc làm sao! Một tình yêu bao la như thế, đằm thắm như thế, mà chỉ trong thoáng chốc, một người say rượu, lái xe trong tình trạng tâm trí không sáng suốt, đã xé tan nát trái tim cậu bé ra thành từng mảnh.

Thưa quý thính giả,

Câu chuyện buồn về say rượu lái xe đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 20 – Tôn trọng các Tôn Giáo khác

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Trong thời gian qua, chúng tôi nhận được một số câu hỏi liên quan đến những vấn đề rất thực tế, đồng thời cũng rất nhậy cảm, xảy ra trong đời sống hằng ngày. Đó là những câu hỏi như:

– “Tôi thấy đạo Phật hay quá nên muốn rủ bà con và bạn hữu đang theo đạo khác đổi sang đạo Phật”,

hoặc

– “Phải làm gì khi những người trong gia đình không theo đạo Phật chống đối lại ta?”.

Những câu hỏi này thuộc về những vấn đề rất tế nhị, cũng như vấn đề tình yêu, chính trị, vân vân, để trong lòng thì thắc mắc, mà nói ra thì dễ đụng chạm vào niềm tin của nhau. Nhưng đó chính là những chuyện xảy ra trong đời sống hằng ngày, nên chúng ta cũng nên đem ra thảo luận hơn là tránh né.

Kính thưa quý vị,

Bình thường, mọi người đều thích làm việc phước thiện, nhất là làm việc phước thiện mà lại không tốn kém gì, chỉ mất công nói, nghĩ rằng có thể giúp người khác, mình lại được phước, thì rất nên nói. Cho nên đã có nhận xét rằng: “Trong mỗi người Việt Nam có 2 thày thuốc, một bác sĩ Tây y và một Đông y sĩ”. Điều này quả có đúng phần nào, vì mỗi khi thấy ai có vẻ gầy yếu, xanh xao, là lập tức có lời mách giúp về các loại thuốc nào đó, có khi cả Đông và Tây y.

Mách thuốc một cách thoải mái như thế, là vì người nói không biết tình trạng thực tế về sức khỏe của người nghe. Người nói có những kinh nghiệm về cơ thể của riêng họ và thuốc đó giúp cho họ khỏe. Nhưng khi mách cho người khác, họ không hề biết cơ thể người khác cần những chất gì. Cho nên, điều mình cho là tốt, chưa chắc đã phù hợp với người khác. Chuyện tôn giáo cũng vậy, những tôn giáo khác cũng có những điều phù hợp với tâm hồn tín đồ của họ. Nếu mình không thâm hiểu sâu xa tôn giáo của người khác, mà tích cực rủ rê họ đổi qua tôn giáo của mình, thì đó là điều thiếu sáng suốt.

Kính thưa quý vị,

Nay xin trở lại câu hỏi: “Tôi thấy đạo Phật hay quá nên muốn rủ bà con và bạn hữu đang theo đạo khác đổi sang đạo Phật”.

Về câu hỏi này, chúng tôi xin trích lời dạy của đức Đạt Lai Lạt Ma trong cuốn Beyond Dogma, khi được hỏi về vấn đề có nên khuyến khích người khác đổi từ đạo này qua đạo khác, Ngài đã trả lời như sau:

– Trong lúc chúng tôi trò truyện riêng, một tín hữu Thiên Chúa Giáo đã nêu lên lời khắc trên trụ đá của vua A Dục là:

“Sự không khoan dung đối với các tôn giáo khác đã tàn phá chính tôn giáo của mình và lòng kính trọng các tôn giáo khác có liên quan đến sự phong phú của một tôn giáo”.

Câu nói của vua A Dục đã biểu lộ sâu xa tinh thần bình đẳng, hiếu hòa, đức khiêm tốn và sự tôn trọng người khác của Phật giáo, vốn rất cần thiết trong đời sống đa chủng tộc, đa văn hóa trên thế giới. Sự kiện có nhiều tôn giáo khác nhau trên một thế giới đa dạng gồm trên 5 tỷ người, nó cũng phong phú và hữu ích như trong một dược phòng có nhiều loại thuốc khác nhau. Người bị đau bụng không thể dùng thuốc trị nhức đầu mà khỏi bệnh được.

Có người cho là đạo Phật không tích cực truyền bá, khiến cho Phật tử rơi rụng dần trước làn sóng hăm hở của một số nhà truyền giáo của đạo khác. Điều đó không hẳn là đúng. Đạo Phật không chủ trương bành trướng, mà đặt trọng tâm vào sự chuyển hóa con người về phương diện tinh thần để loại trừ Tham Lam, Sân Hận và Si Mê. Người Phật tử rất ca ngợi bất cứ ai theo bất cứ tôn giáo nào mà là người tốt, siêng làm việc thiện, không làm việc ác, không làm nô lệ cho ba điều độc hại kể trên. Đạo Phật không đòi hỏi tất cả mọi người đều phải là Phật tử.

Đức Phật đã dạy: “Mọi người đều có Phật tánh” và “ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”, chúng sinh đây gồm tất cả mọi loài sinh vật có giác tánh, không ngoại trừ bất cứ ai.

Do tin sâu nhân quả, người Phật tử tin rằng những người tốt lành, dù theo tôn giáo nào, hoặc không theo tôn giáo, mà không làm điều xấu ác, siêng làm việc lành thiện, gây nghiệp nhân thiện, thì sẽ được hưởng quả thiện trong đời sống. Thiện quả đó sẽ là nhân tốt, tạo thành duyên lành trên con đường thành Phật trong tương lai của họ.

Chúng ta thấy trong đời sống, có những nhà chính trị cho rằng lý thuyết về cải tạo xã hội của họ là đúng, đã dùng bạo lực để cưỡng bách nhiều dân tộc phải đi theo đường lối của họ, khiến cho cả triệu người tan nát gia đình, nước mất nhà tan. Không kính trọng và tìm hiểu tôn giáo khác, mà chỉ biết tự tôn về tôn giáo của mình, về những cái gì thuộc về mình, là mù quáng, sản phẩm của vô minh, có thể gây nên những va chạm, thù ghét lẫn nhau.

Kính thưa quý vị,

Để có thêm ý kiến của đạo sư Phật giáo, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một bài pháp của ni sư Thubten Chodron, trích dịch trong cuốn Buddhism for Beginners, liên quan đến đề tài này.

Ni Sư  Thubten Chodron sinh năm 1950, là người Hoa Kỳ, trưởng thành tại miền Nam tiểu bang California, tốt nghiệp trườngUniversity of California at Los Angeles về  bộ môn Lịch Sử và từng là một cô giáo dạy tại học khu Los Angeles.

Vào năm 1975, ni sư Thobten Chodron, lúc đó còn đang là cô giáo, có dịp tham dự một khóa thiền do hai vị sư Tây Tạng hướng dẫn. Do cơ duyên này, khi hai vị thày rời Hoa Kỳ, cô giáo cũng lên đường tới tu viện của hai vị tại Nepal để tiếp tục hành thiền. Tại đó, cô giáo được thọ giới Sa Di, và tới năm 1986 thì cô Sa Di được thọ giới Tỳ Kheo Ni tại Đài Loan.

Ni sư Thubten Chodron tu học Phật pháp theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng một thời gian dài tại Ấn Độ và Nepal dưới sự dạy bảo của đức Đạt Lai Lạt Ma và các bậc cao tăng Tây Tạng.

Sau thời gian tu học, ni sư đã từng đi nhiều nơi để giảng dạy Phật pháp như tại Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Do Thái, Ý, Pháp, Tân Gia Ba, Mã Lai Á và viết nhiều sách như Open Heart & Clear Mind, How to Free Your Mind, Taming the Monkey Mind, Cultivating a Compassionate Heart, Blossoms of the Dharma, vân vân….

Nhận thấy sự cần thiết phải có một nơi để người Tây Phương thường trú tu tập Phật pháp, ni sư đã thiết lập tu viện Sravasti, tọa lạc tại một vùng rừng gần tỉnh Newport, tiểu bang Washington. Tu viện rộng 240 acres. Nếu quý thính giả muốn tìm nơi để tu học hoặc tĩnh tâm một thời gian thì có thể vào website:

www.sravasti.org

để tìm hiểu chi tiết. Chủ trương của tu viện là cung cấp cho mọi người một nơi để tu tập, hành thiền, không chú trọng tới lợi nhuận, cho nên ai đến tu chỉ cần tôn trọng kỷ luật, chuyên cần tu hành. Tu viện không đòi hỏi tiền bạc, nhưng theo truyền thống Phật giáo, chúng ta có thể thực hành bố thí bằng cách cúng dường vào quỹ chung một số tiền tùy tâm, tùy theo sức mình, để chi tiêu điện nước và các thứ linh tinh, duy trì mức sống thanh đạm cần thiết. Tu viện không đặt trọng tâm vào lợi nhuận, chỉ quan tâm đến vấn đề tu học.

Thưa quý thính giả,

Sau đây, chúng tôi xin trích dịch mấy câu hỏi được ni sư Thubten Chodron trả lời trong cuốn Buddhism for Beginners. Cuốn này đã được đức Đạt Lai Lạt Ma giới thiệu như sau:

“Cuốn Buddhism for Beginners được viết cho người muốn tìm hiểu những điều căn bản nhất của đạo Phật, và cách ứng dụng những điều căn bản đó vào đời sống hằng ngày. Nó sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho độc giả”.

Hỏi:

– Làm thế nào để nói chuyện với thân nhân bè bạn thuộc các tôn giáo khác về đạo Phật? 

Ni sư  Thubten Chodron trả  lời:

– Vào thời gian đầu mới tiếp cận, chúng ta chưa có niềm tự tin về khả năng nhận xét và sự hiểu biết đủ để thẩm định giá trị của đạo Phật, đồng thời cũng chưa cảm thấy có niềm tin vào giáo pháp, cho nên chúng ta rất nhậy cảm với những ý kiến của mọi người về con đường tâm linh mà chúng ta mới bước vào.

Theo với thời gian, khi chúng ta thâm nhập sâu sắc hơn, cảm thấy thoải mái và gần gũi với Phật pháp hơn, thì lúc đó chúng ta cảm thấy dễ dàng hơn khi nói về đạo Phật với gia đình, bè bạn và thân thuộc. Dĩ nhiên là chúng ta không nên trở thành kẻ truyền giáo, không nên dùng những thuật ngữ khó hiểu để gây ấn tượng với mọi người. Tốt hơn, chúng ta nên dùng cách đơn giản để trả lời những câu hỏi sao cho dễ hiểu và hợp lý đối với họ. Có nhiều cách để nói về đạo Phật mà không cần phải dùng tới những thuật ngữ nhà Phật. Tóm lại về căn bản, đạo Phật là một đường lối sống hợp lý trong cuộc đời bình thường.

Khi bạn bè tâm sự với chúng ta về những vấn đề khó khăn trong đời sống của họ, chúng ta thảo luận với họ những cách hóa giải giận dữ, ghen tuông, níu kéo, ràng buộc, quyến luyến, vốn làm khổ mình, mà không nên dùng ngay cả đến chỉ một từ thôi, là từ “Phật giáo”. Nói nhiều quá sự người khác muốn nghe là thiếu khôn khéo. Cho nên chúng ta cần chú ý nghe câu hỏi, rồi trả lời chính xác, tránh lạc đề, hoặc nói lan man sang những đề tài, có thể là mình thích nhưng chưa chắc mọi người đều thích.

Khi thảo luận với những người khác tôn giáo, chúng ta có thể nói về những đặc điểm chung mà đạo Phật và các tôn giáo khác cũng có giống nhau, thí dụ tất cả các tôn giáo đều tôn trọng đạo đức, tình thương yêu, lòng trắc ẩn, vân vân, trước khi đi sâu và những điểm thâm áo của đạo Phật. Đừng bắt đầu câu chuyện bằng những vấn đề như tái sinh, nghiệp quả, đức Phật, giáo pháp, tăng đoàn, hoặc những từ ngữ và quan điểm xa lạ. Đồng thời, chúng ta cũng nhấn mạnh với họ rằng, theo quan điểm của nhà Phật, sự đa dạng trong tôn giáo trên thế giới là điều tốt, vì như thế, mọi người có thể tùy theo khuynh hướng của mình mà chọn lựa đường lối tư tưởng và phương pháp hành trì thích hợp. Đạo Phật không đòi mọi người đều phải là Phật tử.

Phát biểu tư tưởng theo lối này sẽ khiến cho những người khác tôn giáo đang đối thoại với mình cảm thấy thoải mái, vì họ thấy rằng mình tôn trọng đức tin của họ và không tìm cách cố gắng đòi họ bỏ đạo của họ để theo mình.

Những người có bạn đời khác tôn giáo có thể mời họ đến thăm đạo sư hoặc  bạn đạo của mình, nếu họ thích.

Có một số người bỏ bê gia đình vì họ cảm thấy say sưa trong mục đích lớn lao là cứu giúp tất cả chúng sinh và trở thành một vị Phật. Họ thực tập nhẫn nhục với tất cả chúng sinh nhưng lại bỏ rơi gia đình, hy vọng mọi người trong nhà phải làm tất cả những việc linh tinh trong khi họ lặng lẽ tọa thiền. Như thế là không thích hợp.

Trong khi thực tập Phật pháp, hành giả muốn giảm thiểu những dính mắc, vướng víu của gia đình, nhưng họ không nên bỏ rơi gia đình. Phật pháp gồm có sự phát triển tình thương yêu và lòng trắc ẩn đối với tất cả mọi người mà chúng ta tiếp cận hằng ngày, chứ không phải chỉ đối với tất cả mọi chúng sinh trên khắp hành tinh xa xôi mà chúng ta chẳng bao giờ nhìn thấy.

Hỏi:

– Chúng ta phải làm gì nếu thân nhân và bạn bè không ủng hộ, thậm chí còn  chống đối sự hâm mộ đạo Phật của chúng ta?

Ni sư Thobten Chodron đáp:

– Trước nhất, chúng ta hãy chấp nhận sự khác biệt giữa mọi người mà đừng nổi giận. Nếu tỏ thái độ khó chịu với họ thì chỉ làm cho tình thế thêm căng thẳng mà thôi. Tuy vậy, chúng ta cũng không vì áp lực của gia đình mà phải từ bỏ niềm tin hoặc chấm dứt tu tập. Tỏ thái độ chống đối bằng cách bầy biện nghênh ngang chuyện tu tập của mình là một thái độ thiếu tế nhị, nhưng cũng không vì sợ hãi mà phải giấu giếm.

Chúng ta phải tùy thuận với ngoại cảnh trong khi vẫn giữ được tính cách liên tục và sống động của sự thực tập giáo pháp và an tịnh nội tâm. Thí dụ, nếu gia đình không cảm thấy thoải mái với bàn thờ và tượng ảnh đức Phật thì chúng ta hãy để những hình ảnh đó trong kinh sách và chỉ khi nào tọa thiền hãy mang ra.

Trong nhiều trường hợp, chính nhân cách và hành động của mình nói lên giá trị của tôn giáo mình. Khi nào những người thân của mình nhận ra rằng chúng ta kiên nhẫn, khoan dung hơn, họ sẽ tò mò tìm hiểu coi chúng ta đã làm gì để có những sự đổi thay ấy.

Nếu khi đến thăm cha mẹ, chúng ta giúp dọn dẹp nhà cửa, liệng bỏ rác rưởi, có thể khiến cho cha mẹ cảm thấy hoan hỉ mà nghĩ : ”Ui da, đã bốn chục năm rồi, hôm nay tôi mới thấy con trai tôi giúp đỡ công việc trong nhà. Đạo Phật chuyển hóa con người hay thật!”

Đã lâu lắm rồi, người vợ không theo Phật giáo của một học trò tôi đã giúp đỡ và khuyến khích chồng cô ta tham dự khóa thiền 9 ngày hằng năm. Tại sao vậy? Bởi vì sau mỗi kỳ tham dự khóa thiền tĩnh tâm trở về, chồng cô ta ôn hòa hơn, trò chuyện thân mật, cảm thông và thương yêu mọi người trong gia đình hơn.

Dự đoán người nào trong gia đình hoặc bằng hữu của mình sẽ thích thú với đạo Phật thì khó lắm. Có thể chúng ta cho rằng người bạn rất thân sẽ hâm mộ, nhưng không phải vậy. Cũng thế, chúng ta có thể cho là một người thân của ta không thích thảo luận về đạo nhưng rồi lại phát hiện ra rằng cô ta là người dễ tiếp thu.

Cho nên, nếu cứ chỉ muốn nói về những đề tài mà mình thích thì sẽ khiến cho mọi người xa cách, chi bằng nói với họ những đề tài phù hợp với khả năng thưởng ngoạn của họ, như thế sẽ dễ dàng cảm thông và gần gũi nhau hơn.”

Thưa quý thính giả,

Trên đây là những ý kiến của ni sư Thobten Chodron, đã trình bày cho chúng ta thấy quan điểm của nhà Phật trong vấn đề giao tế giữa mọi tôn giáo với nhau, đó là, nên kính trọng tôn giáo của nhau mà đừng làm cho bằng hữu hoặc thân nhân khác tôn giáo cảm thấy xa lạ với mình.

Sau đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một câu chuyện thiền, trích dịch từ loạt bài mang tên là “Zen Stories To Tell Your Neighbors” do soạn giả John Suler gửi lên Internet, như sau:

“Có một vị đạo sư danh tiếng dừng chân trước cổng cung điện của nhà vua. Do danh tiếng của ông nên không có một người lính ngự lâm nào cản ông lại , mà họ còn hộ tống ông đến trước bệ rồng vua đang ngự.

Nhà vua nhận ngay ra đây là vị đạo sư danh tiếng, bèn hỏi:

– Ông muốn gì?

Vị đạo sư trả lời:

– Tôi muốn một chỗ trong cái quán trọ này để ngả lưng đêm nay.

Vua ngạc nhiên:

– Nhưng đây là cung điện của trẫm, không phải là cái quán trọ.

Vị đạo sư mỉm cười:

– Xin bệ hạ cho biết ai là chủ nhân của nơi này trước bệ hạ?

Vua trả lời:

– Là phụ hoàng của trẫm, nhưng ngài đã băng hà.

Vị đạo sư lại hỏi:

– Tâu bệ hạ, thế trước phụ hoàng của ngài thì ai là chủ nơi này?

Vua đáp:

– Thì ông nội của trẫm, ngài cũng băng hà rồi.

Vị đạo sư hỏi lại:

– Tâu bệ hạ, vậy thì đây là nơi người ta chỉ ở có một thời gian ngắn rồi ra đi, vậy có đúng là tôi đã nghe ngài nói rằng nó không phải là quán trọ không vậy?

Thưa quý thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 19 – Năm Giới Cấm của cư sĩ

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Trong nhiều kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình với quý vị bài kệ tóm tắt con đường tu hành của người Phật tử, như sau:

“Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành”

Chúng tôi cũng đã thưa rằng trong ba lời dạy cốt tủy đó, thì lời dạy thứ ba, “Tự thanh tịnh tâm ý”, mới chính là điều tối quan trọng, chỉ từ thực hành điều đó, hành giả đạo Phật mới hoàn tất con đường tu chứng của mình, bởi vì nội dung của “tự thanh tịnh tâm ý” có nghĩa là chấm dứt tất cả những lôi cuốn của Tham, Sân và Si, vốn là nguyên nhân của tất cả mọi nỗi vướng mắc dây dưa trong vòng luân hồi sinh tử.

Tuy vậy, hai điều trước đó, “không làm những điều ác” và “siêng làm những việc lành” cũng rất quan trọng. Vì đó là phần đạo đức học của Phật giáo, mục đích đào luyện những phần tử tốt lành, những người hiền thiện trong xã hội.

Để thực hiện điều này, nhà Phật có Ngũ Giới, là năm điều ngăn ngừa, mà mỗi Phật tử đều có phát lời nguyện sẽ tuân thủ, hoặc cả 5 Giới, hoặc nếu cảm thấy chưa đủ khả năng giữ được trọn vẹn cả 5, thì có thể thọ tùy theo nhiều hay ít giới, để tập cho quen từ từ, cuối cùng đạt được mục đích tuân thủ cả Năm Giới.

Kính thưa quý vị,

Hôm nay chúng tôi xin kính gửi đến quý thính giả một bài pháp nói về Ngũ Giới. Bài này được trích dịch từ cuốn Loving and Dying, tác giả là thày Visuddhacara.

Thày Visuddhacara sinh năm 1953, nguyên quán tại Mã Lai Á. Năm 1982, thày bắt đầu học Phật pháp và hành trì thiền Vipassana. Sau đó, vào năm 1983, thày xin từ chức phóng viên nhà báo mà thày đã theo đuổi 12 năm, để thọ giới Sa Di, y chỉ thày bổn sư là tỳ kheo Sujiva tại Kota Tinggi, Mã Lai Á, theo truyền thống Phật giáo Nam Tông.

Bốn năm sau, thày qua Miến Điện và được truyền đại giới bởi hoà thượng thiền sư Sayadaw U Pandita tại Mahasi Meditation Centre, Rangoon vào năm 1987.

Thày đã hướng dẫn nhiều khóa thiền Vipassana tại các nước như Mã Lai, Singapore, Hong Kong, Úc, Ý, Tiệp Khắc, Tích Lan và là tác giả nhiều sách luận giải Phật giáo, về quan điểm của nhà Phật trong đời sống và về thiền quán như “Curbing Anger Spreading Love”; “Drinking Tea — Living Life”; “Loving and Dying”; “Hello with Love and Other Meditations”, “Metta — the Practice of Loving-kindness for a Happier Life”.

Sau 16 năm trong vị trí tỳ kheo, vào năm 2003, cảm thấy không đủ duyên duy trì đời sống tu sĩ, thày thẳng thắn xin xả giới để trở lại cuộc sống của một cư sĩ bình thường.

Sau đây là bài pháp của thày Visuddhacara nói về Ngũ Giới:

“Giới thứ nhất, như chúng ta đã biết, là không sát sinh, không chấm dứt mạng sống của mọi loài chúng sinh, dù là con vật nhỏ bé. Đây là một giới tuyệt vời. Nó có nghĩa là chúng ta tôn trọng đời sống. Không những tôn trọng đời sống, mà chúng ta còn thương yêu, trìu mến. Đối với tất cả muôn loài, sự sống đáng quý trọng nhất. Cứu giúp một sinh vật được sống, là chúng ta tặng món quà cao quý nhất. Nếu giữ gìn chu đáo giới này, chúng ta sẽ càng ngày càng trở nên từ bi hơn, không chỉ là giảm bớt sự giết chóc, mà chúng ta còn  giảm thiểu sự làm tổn thương đến bất kỳ sinh vật nào.

Thực tế là trong cái thế giới bất hoàn hảo này, kẻ mạnh ăn hiếp kẻ yếu, sự giết chóc lan tràn khắp nơi. Chúng ta có thể thấy điều này ngay trong thế giới loài vật, con cọp ngốn con nai ra sao, con rắn nuốt con ếch cách nào, rồi thì con ếch đớp con ruồi, con chim mổ con sâu, cá lớn nuốt cá bé. Và con người thì tàn sát loài vật, tôm cá, thậm chí giết hại lẫn nhau.

Nhưng chúng ta không ngồi đây mà lên án hoặc chỉ trích. Chúng ta hiểu những khiếm khuyết của con người và sự bất toàn trong bản chất của đời sống. Đức Phật cũng hiểu như vậy. Ngài dạy rằng chỉ khi nào ta có thể thanh tịnh hóa được tâm mình và chứng ngộ Niết Bàn thì khi đó chúng ta mới có thể tự chấm dứt được sự lôi cuốn vào đời sống bất như ý được gọi là vòng luân hồi Sinh Tử này. Đó là điều chỉ có bản thân chúng ta biết rằng có thể làm được hay chăng mà thôi.

Khi tâm chúng ta đã hóa giải được Tham Sân Si thì chúng ta mới có thể trực ngộ được lời dạy của đức Phật. Vậy thì trước khi trực ngộ, chúng ta có niềm tin, tốt hơn hết hãy noi theo con đường đức Phật đã đi mà tích cực thanh tịnh hóa tâm. Chúng ta hãy cố gắng giữ gìn Giới Thứ Nhất với tất cả khả năng có thể, không giết hại mà phóng sinh, cứu giúp sự sống và vun bồi cho sự sống.

Giới thứ hai là không trộm cắp và gian lận, không lấy vật gì một cách bất lương. Chúng ta phải kiếm sống bằng con đường lương thiện. Có người nói rằng sống lương thiện thì không thành công hoặc giầu có. Tôi không đồng ý với quan điểm đó. Tôi bảo đảm là có nhiều người sống rất đàng hoàng, lương thiện và đã thành công. Hơn thế nữa, họ được thụ hưởng một cuộc sống an vui hạnh phúc với lương tâm trong sạch.

Mặt khác, những kẻ bất lương thường kéo dài đời sống trong nỗi trống trải và cuối cùng sẽ bị trừng phạt. Dù họ có thoát khỏi được pháp luật, nhưng họ vẫn luôn luôn sợ hãi rằng tội lỗi sẽ bị phát hiện, lương tâm luôn bị cắn rứt và khi đối diện giây phút cuối của cuộc đời, họ lo sợ chờ đợi quả báo trong tương lai.

Như thế, một cuộc sống lương thiện luôn luôn là con đường tươi sáng nhất. Đừng nghe những ý kiến khác. Sống lương thiện sẽ tốt hơn. Dù chúng ta có gặp những trở ngại trên cuộc đời, chúng ta cũng không nên dùng những thủ đoạn bất lương để đạt mục đích. Chẳng thà nghèo mà lương thiện còn hơn dùng thủ đoạn bất chính để làm giầu. Chúng ta sẽ sống hạnh phúc với lương tâm trong sạch, an vui cho tới ngày cuối cùng của cuộc đời.

Giới Thứ Ba là phải có tinh thần trách nhiệm trong vấn đề tình dục. Nếu đôi bạn thật sự tôn trọng cuộc sống lứa đôi, thương yêu và tin cậy nhau, thì tình yêu của họ sẽ bền chặt, kẻ thứ ba không thể chen vào. Trong vấn đề tình dục, tinh thần trách nhiệm rất quan trọng. Chính vì sự vô trách nhiệm mà các vấn nạn xảy ra. Bọn ma cô tàn phá cuộc đời những cô gái trẻ người non dạ và những người đàn ông không kiềm chế được lòng ham muốn thú vui xác thịt trở thành đồng lõa với những hành vi đồi bại.

Nhưng chúng ta không ngồi đây để lên án họ, mà chúng ta khuyến khích tình yêu chân thật và sự tử tế. Thật ra, nếu chúng ta thanh tịnh hóa được tâm mình và kiềm chế được dục vọng, thì trên thế giới sẽ giảm thiểu những sự tàn bạo và đau khổ. Như thế, căn bệnh AIDS kinh hoàng, mà nay đã trở thành mối đe dọa cho cả thế giới, cũng có thể bị ngăn chặn lại.

Giới Thư Tư là không nói dối mà nói sự thực. Một lần nữa xin nhắc rằng đừng nghe những kẻ nói là nếu không dối trá hoặc huênh hoang khoác lác về mình thì sẽ không thành công. Chân thực là 1 trong 10 đức hạnh cao quý của một người tu bồ tát đạo. Tất cả Phật tử đều phải triển khai những đức hạnh này nếu họ muốn giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Đức Phật muốn chúng ta nghiêm túc gìn giữ Giới hạnh này, không dối trá dù trong lúc đùa bỡn. Cho nên chúng ta cần cố gắng tối đa gìn giữ Giới Không Dối Trá.

Ngoài ra, dù có thể không phải là mục tiêu chính của chúng ta, tiếng tốt về một người thành thật sẽ lan ra xa khiến cho ngay đến một kẻ chuyên môn phỉ báng, gièm pha, cũng phải thừa nhận và tôn trọng.

Giới Thứ Năm là không uống rượu và không dùng các chất ma túy, vì chúng có thể làm cho trí óc bị mê mụ, đồng thời cơ thể cũng bị suy nhược.

Có người cho rằng Giới này có thể cho phép uống rượu trong giao tế, nhưng tôi không nghĩ như thế. Đức Phật không muốn chúng ta mất sự tỉnh thức mà vì thế sẽ làm hại đến sự giữ gìn các giới luật khác. Ngoài ra, rượu làm hại sức khỏe. Đối với các chất ma túy độc hại thí dụ bạch phiến, thì tất cả chúng ta đều đồng ý là phải cấm ngặt. Nhưng một số người lại cho rằng thuốc lá không thuộc vào lãnh vực bị Giới cấm. Vào thời Phật tại thế, người ta chưa phát minh ra thuốc lá.

Dầu vậy, dưới ánh sáng của khoa học ngày nay, rất nhiều chứng liệu y khoa cho thấy sự tai hại của thuốc là và nhiều quốc gia trên thế giới đã ban hành những lệnh cấm hoặc hạn chế sử dụng, cho nên chúng ta có thể chắc chắn rằng nếu đức Phật xuất hiện vào thời nay, thì Ngài cũng sẽ nghiêm khắc yêu cầu chúng ta tránh xa, vì Ngài không muốn chúng ta tự làm tổn hại sức khỏe, đồng thời cũng không muốn chúng ta nghiện ngập một loại mê thảo, tuy thuộc loại nhẹ, nhưng đã được chứng minh là độc hại.

Khi chúng ta giữ gìn cẩn thận Năm Giới quan trọng này, là chúng ta đã giúp cho mọi người chung quanh cảm thấy an toàn và hạnh phúc.

Tại sao vậy?

Vì họ không còn phải sợ hãi chúng ta, họ sẽ cảm thấy thoải mái khi gần gũi chúng ta. Họ được bảo đảm là chúng ta không làm hại, không trộm cắp hoặc gian lận đối với họ. Chúng ta sẽ không tà dâm với người hôn phối của họ, không dối trá, và hơn thế, chúng ta sẽ không say sưa bét nhè hoặc dùng ma túy. Họ không còn phải lo ngại rằng con cái họ sẽ bắt chức thói quen xấu rượu chè hút xách, cũng không lo ngại sẽ bị nguy hiểm cho sức khỏe của bản thân vì hít phải khói thuốc do chúng ta thải ra. Họ cảm thấy tin cậy chúng ta vì thấy ngay đến rượu chúng ta cũng không sa vào. Chúng ta là những người có đời sống tâm linh và giữ gìn giới hạnh một cách nghiêm túc. Chúng ta không làm hại ai. Những người có đời sống tham dục có thể nghĩ rằng sống như chúng ta thì rất đáng chán và chúng ta là những người dại dột. Nhưng chẳng sao cả, chúng ta sống hạnh phúc trong niềm an lạc.

Như vậy, giữ Năm Giới là điều rất tốt. Ngoài ra, chúng ta thực tập những đức tính như lòng quảng đại và sự tử tế. Chúng ta quan tâm và chia sẻ trong khả năng của chúng ta. Chúng ta cũng thực tập sống tỉnh thức như lời đức Phật dạy. Chúng ta thực hành thiền tập để thâm hiểu sự hiện hữu, về Vô Thường, Khổ và Vô Ngã.

Thành tựu những mục tiêu trên là chúng ta đã sống một cuộc đời đáng sống, như thế, chúng ta không có gì phải lo sợ về sự chết. Chúng ta không còn phải hối tiếc điều gì”.

Thưa quý thính giả,

Trên đây là bài pháp của thày Visuddhacara nói về Năm Giới của Phật tử cư sĩ.

Có người thắc mắc:

– Đồng ý rằng sát nhân, trộm cắp, tà dâm là những trọng tội. Nhưng rượu thì có gì là hại đâu, người ta còn dùng nó để giao dịch nữa kìa.

Về điều này, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện ẩn dụ, như sau:

“Vào thời kỳ đức Cổ Phật Ca Diếp xa xưa, có một cư sĩ thọ trì Ngũ Giới, giữ gìn rất nghiêm túc. Một hôm, từ tỉnh xa trở về nhà, đang lúc quá khát, khô cả miệng, nhìn thấy trên bàn có một chén đầy lóng lánh, ông tưởng là nước, vội bưng lên uống thẳng một hơi, uống rồi ông mới biết là rượu,

— thế là ông phạm giới uống rượu.

Uống xong, ông ta lăn ra ngủ. Lát sau rượu ngấm, men rượu bốc lên bừng bừng, ông vùng dậy nhìn ra ngoài sân. Lúc đó có con gà nhà hàng xóm chạy qua, ông bèn chụp bắt,

— thế là ông phạm thêm giới trộm cắp.

Trong tay có con gà rồi, ông chạy vào nhà bếp cắt cổ vặt lông nó, tính nấu cháo ăn,

— thế là ông phạm thêm giới sát sinh.

Bà hàng xóm mất gà chạy sang tìm. Hơi men đang bốc, ông ôm ngay bà vào lòng tính chuyện hành lạc,

— thế là ông phạm thêm giới tà dâm.

Chòm xóm xúm lại bắt ông lên công đường nhờ quan xét xử. Ông bèn chối bay,

— thế là ông phạm thêm giới vọng ngữ.

Chỉ vì một chén rượu mà ma men làm hại đến nỗi ông ta phạm liên tục một hơi đủ 5 giới răn của nhà Phật.

Thưa quý thính giả,

Dù câu chuyện trên không thực sự xảy ra, chỉ là ẩn dụ thôi, nhưng điều câu chuyện muốn gửi gấm là gợi cho chúng ta một hình ảnh rõ ràng về tai hại của chất men rượu, làm mê mụ tâm trí, ảnh hưởng vào cuộc đời người dùng nó.

Vì thế, đức Phật dạy nên tránh uống rượu để tâm trí luôn luôn được tỉnh thức.

Thưa quý thính giả,

Sau đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một câu chuyện Thiền nói về Tử và Sinh, trích dịch từ cuốn Zen Fables for Today, Stories Inspired by the Zen Masters, soạn giả là Richard McLean. Câu chuyện như sau:

“Hai thai nhi sinh đôi nằm trong bụng mẹ thảo luận về tâm linh. Thai nhi A phát biểu:

– Này, tường bị thu hẹp lại hay là cậu to phồng ra đấy?

Thai nhi B trả lời:

– Chẳng biết nữa, nhưng chắc chắn là chật chội quá rồi.

A chán nản:

– Đời buồn tẻ thật!

B an ủi:

– Ồ, cũng không tệ lắm đâu. Chúng mình không phải ăn, thở gì hết ráo.Tối ngày chỉ trôi nổi bồng bềnh trong nước ấm thôi mà.

A bực dọc:

– Bộ ý nghĩa của sự hiện hữu trên đời chỉ có thế sao?

B hòa hoãn:

– Thôi mà, đừng có suy nghĩ lung tung quá.

A tiết lộ:

– Ta nghe nói có một cái gì đó tên gọi là Sinh.

B gạt ngang:

– Ui da, tin đồn nhảm. Nè, nhích cái cẳng ra và im mồm lại cho tớ ngủ một tí.

Sáng sớm hôm sau, cơn chuyển bụng của bà mẹ đánh thức hai thai nhi. Một đứa kêu thất thanh:

– Trời ơi, động đất!

Đứa kia la lớn:

– Nhà đang xập!

Đứa nọ hét:

– Tôi đang bị trôi …

Đứa kia hỏi:

– Trôi đi đâu?

Đứa nọ rên rỉ:

– Không biết, cứu tôi với!

Đứa kia hoảng hốt:

– Tôi không thể cứu cậu.

Đứa nọ thổn thức:

– Vĩnh biệt người anh em, tôi sẽ… tôi sẽ …

Âm thanh tắc nghẽn, tiếp theo là tiếng thét kinh hoàng của đứa còn lại khi nó cảm thấy chính nó cũng đang bị trôi đi:

– Ôi da, kinh khủng quá. Chắc chắn là chết, tận thế mất rồi !”.

Phần dịch câu chuyện Thiền đến đây là hết, vì soạn giả chỉ viết đến đây. Nhưng cũng chắc chắn là quý thính giả có thể tưởng tượng ra cảnh tiếp theo, đó là tiếng khóc inh ỏi của hai trẻ sơ sinh mạnh khỏe, vang lên giữa tiếng reo vui tưng bừng náo nhiệt của mọi người đang nóng lòng chờ đón hai cháu bé mới ra đời.

 Thưa quý thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 18 – Bố Thí Chân Chính

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Như chúng tôi đã trình với quý vị trong những kỳ trước, đạo Phật xuất hiện trên đời bắt nguồn từ sự Giác Ngộ của đức Phật. Do công năng tu chứng, đức Phật thấu triệt được Bốn Chân Lý Thâm Diệu, còn gọi là Tứ Diệu Đế, gồm:

Chân lý thứ nhất là  Khổ Đế, cho rằng mọi hình thái tồn tại đều mang sẵn mầm mống của khổ não, bất như ý.  Sinh, già, bệnh, chết, mong cầu mà không toại nguyện, ưa thích mà phải rời xa, ghét bỏ mà phải gần gũi và cái thân ngũ uẩn thì chợt vui, chợt buồn, khi khỏe, khi đau, đều là khổ.

Chân lý thứ hai là Tập Đế, tức nguồn gốc hay nguyên nhân dẫn đến thực trạng đau khổ. Nguyên nhân của khổ là lòng ham muốn, tham lam, ái nhiễm, tìm cầu sự thoả mãn dục vọng. Các loại ham muốn này đều là nguồn gốc của khổ đau và nghiệp chướng, dẫn tới luân hồi

Chân lý thứ ba là Diệt Đế, sự chấm dứt khổ đau. Nếu lòng tham lam ái nhiễm được tận diệt thì sự khổ cũng được tận diệt.

Chân lý thứ tư là Đạo Đế, con đường hay phương pháp thực hành dẫn đến chấm dứt khổ đau. Phương pháp này là con đường diệt khổ tám nhánh, là  Bát Chánh Đạo.

Như thế, do giác ngộ Tứ Diệu Đế, Ngài cũng phát hiện ra rằng Tham Lam và Ái Nhiễm là nguyên nhân của Khổ, là lý do chính đã nhận chìm con người trong dòng sanh tử luân hồi.

Tham lam và ái nhiễm đưa tới thói gom góp, tích lũy từ vật chất tới tình cảm, chỉ muốn mọi thứ là của riêng mình, của thân nhân mình, của bè đảng mình, của đất nước mình, vân vân. Thói tật này phát sinh từ niệm vô minh đầu tiên, mà thuốc chữa là xả bỏ, hoặc còn gọi là bố thí.

Vì thế, người nào muốn đi trên con đường sáng của Ánh Đạo Vàng thì phải thực hiện hạnh tu xả bỏ, từ xả bỏ những điều tương đối dễ xả bỏ như của cải vật chất, danh vọng, rồi tới điều khó xả bỏ hơn như tình cảm tinh thần. Chỉ có xả bỏ thì tâm mới không bị ràng buộc loanh quanh trong thói quen thu thập, cất giữ.  Chỉ có xả bỏ thì tâm hồn mới được giải thoát khỏi sự kìm kẹp của sở hữu, tham sân si, thảnh thơi bước trên con đường tự do, khai phóng tâm linh.

Trong Lục Độ ba-la-mật, nghĩa là sáu nhánh thực hành để đưa chúng sinh sang bờ bên kia, tức là thoát khỏi bờ sinh tử sang được bờ Niết Bàn, thì Bố Thí là pháp môn tu đầu tiên. Bố Thí là cách tu tập để thực hiện hạnh xả bỏ.

Bố thí có 3 loại là Tài Thí tức là bố thí tài vật, Pháp Thí tức là bố thí Phật pháp, nghĩa đen là dạy giáo lý nhà Phật cho người ta biết đường tu hành để giác ngộ giải thoát và Vô Úy Thí tức là giúp cho người ta qua khỏi sự  sợ hãi.

Bố thí tài vật thì bất cứ ai cũng có thể làm được.

Bố thí Pháp bảo thì khi xưa chỉ có chư vị Tăng Ni là thâm hiểu giáo lý nhà Phật, nên mới làm được. Ngày nay có nhiều cư sĩ rất uyên thâm Phật học, lại kiêm luôn thực hành các pháp môn tu, nhất là tu Thiền và Niệm Phật, nên ngoài chư vị Tăng Ni, giới cư sĩ cũng đóng góp vào lãnh vực bố thí Pháp một cách tích cực.

Bố thí vô úy là đem lại sự không sợ hãi cho người khác. Có nhiều cách để thực hiện vô úy thí, như:

— Bản thân mình không giết hại, gây nên nỗi kinh hoàng cho các sinh vật có cảm giác.

— Thuyết phục những người đam mê sát sinh giảm bớt những hành động tàn nhẫn, gây đau thương cho chúng sinh

— An ủi, chia sẻ nỗi đau buồn của những người hoạn nạn, lâm nguy, giúp người ta vượt thoát nỗi sợ hãi  … vân vân ….

Bố thí cao quý nhất là bố thí theo pháp “Tam luân không tịch”, nghĩa là không khởi tâm chấp rằng có mình là người bố thí, có người thọ nhận vật được bố thí và có vật để bố thí.

Tại sao bố thí  “Tam luân không tịch” lại cao quý nhất?

Thưa quý thính giả,

Bố thí “Tam luân không tịch” cao quý nhất là vì:

— Bố thí mà không nghĩ rằng “có ta bố thí”, thì tâm sẽ không  nổi lên sự tự đắc về hành vi thiện của mình,

— Bố thí mà không nghĩ rằng ”có kẻ kia đang thọ nhận cái ta cho”, thì tâm sẽ không nổi lên sự tự kiêu của kẻ ban ơn,

— Bố thí mà không nghĩ rằng “có vật được ta đem cho”, thì tâm không nổi lên niềm tự mãn về hành động hào hiệp của mình.

Giải thoát ra khỏi những kiến chấp về hành động có nghĩa là cuồng tâm sinh diệt ngưng hoạt động. Có câu “cuồng tâm ngưng nghỉ tức là Bồ Đề”. Bồ Đề là giác ngộ. Cuồng tâm ngưng nghỉ là giác ngộ, giải thoát.

Nơi kinh Kim Cang, Phật dạy:

“Tu Bồ Đề ! Bồ Tát khi bố thí hay làm các việc lợi ích cho tất cả chúng sanh, không nên sanh tâm trụ chấp các tướng. Tu Bồ Đề ! Như Lai nói các tướng không phải thật mà chỉ giả gọi là các tướng. Như Lai nói chúng sanh, không phải thật chúng sanh, chỉ giả gọi chúng sanh”.

Hòa thượng Thích Thiện Hoa lược giải như sau:

…”…Hành giả khi làm lợi ích cho các chúng sanh, mà tâm còn trụ chấp các tướng, nghĩa là còn thấy mình bố thí, người thọ thí và vật bố thí, tất nhiên hành giả còn chấp ngã (nghĩa là thấy có mình, có người), chấp pháp (nghĩa là thấy có vật bố thí), thì hành giả chỉ được phước hữu lậu nhiễm ô, nên không phải là bố thí Ba-la-mật (nghĩa là bố thí rốt ráo).

Bởi thế nên Phật dạy, các vị Bồ Tát, khi bố thí, hay làm lợi ích cho chúng sanh, phải nhập Kim Cang Bát Nhã mà làm; nghĩa là không còn chấp các tướng: ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, thì được phước đức vô lậu thanh tịnh. Bố thí như vậy, mới phải là bố thí Ba-la-mật (bố thí rốt ráo)”.

Kính thưa quý vị,

Có người nói rằng:

– Tôi cũng muốn bố thí, nhưng nghèo quá lấy gì mà cho?

Thực tế, dù nghèo tới đâu mà khởi tâm muốn bố thí, vẫn có thể thi hành. Thí dụ có tù nhân kia, mỗi bữa vẫn dành lại vài hột cơm để bố thí cho con gián bò loanh quanh trong phòng giam ông ta.

Trong cuốn Hoa Sen Trên Tuyết, dịch giả Nguyên Phong viết về chuyến đi của bác sĩ Alan Havey và một người bạn tên Dennis tới Lamayuru, một thị trấn nhỏ ở phía Bắc xứ Ấn Độ, giáp ranh với Tây Tạng, kể lại câu chuyện về bố thí như sau:

…” …Chúng tôi đi dọc theo con đường chính duy nhất của thành phố, con đường vắng tanh không một bóng người.  Mọi nhà đều đóng cửa im ỉm, thỉnh thoảng có vài con chó hoang gầy ốm chạy rong.

Chúng tôi nhìn thấy một bà lão hành khất, thân hình còm cõi chỉ còn da bọc xương đang lê lết trên vỉa hè, tôi bèn dúi cho bà 5 rupee nhưng bà vẫn dơ tay ra trước mặt như muốn xin thêm một cái gì.  Dennis rút ổ bánh mì đựng trong chiếc túi đeo trên vai đưa ra, bà lạo mừng rỡ chụp lấy ăn ngay, thì ra bà lão quá đói.

Trong lúc bà đang ăn ngấu nghiến thì một con chó hoang ở đâu chạy đến.  Trước cặp mắt kinh ngạc của chúng tôi bà lão bẻ đôi ổ bánh mì chia cho con chó.

Cảnh tượng một bà lão không có một thứ gì ngoài bộ quần áo rách tơi tả, đang lả đi vì đói lại thản nhiên chia sẻ nửa phần ăn của mình cho một con chó hoang đã làm chúng tôi xúc động.  Bà lão hành động một cách tự nhiên, không ngại ngùng hay suy nghĩ hình như bà không hề phân biệt giữa mình và con chó.

Trong lúc tôi đang ngơ ngác về cảnh tượng này thì Dennis bất chợt run bắn người rồi thốt lên:

– “Đó mới thật là tình thương tuyệt đối”.

Hắn quỳ xuống trút tất cả mọi thứ trong chiếc túi ra cho bà lão hành khất.  Hành động bất ngờ của Dennis làm tôi ngạc nhiên nên trên đường về tôi đã hỏi:

– “Tại sao bạn cho rằng đó là một thứ tình thương tuyệt đối?”

Hắn trả lời ngay không do dự:

– “Khi cho mà không suy nghĩ, không đòi hỏi gì trả lại, không hối tiếc hay phân biệt một cái gì đó mới thật là tuyệt đối”.

Tôi đã suy nghĩ về vấn đề này rất lâu và không biết có người nào thực sự bố thí một cách tuyệt đối như vậy không?  Tôi đã đi khắp nơi và chỉ thấy bất cứ cái gì cho ra cũng đều hy vọng một điều gì trả lại, đ ôi lúc điều muốn đạt được lại nhiều hơn điều người ta cho ra là đàng khác… Sự ích kỷ được che đậy khéo léo và nguỵ tạo dưới nhiều danh nghĩa tốt đẹp nhưng tựu chung vẫn là một hình thức ích kỷ”….”…

Thưa quý thính giả,

Thời xưa, giới tu sĩ nhà Phật sống rất thanh bạch, mỗi vị chỉ sở hữu 3 tấm y  và một bình bát. Ấy vậy mà hằng ngày quý vị tu sĩ vẫn thực hiện được hạnh bố thí bằng cách trước khi thọ thực, quý vị lấy từ bát của mình ra 7 hạt cơm, gửi vào đó những lời thành tâm chú nguyện, rồi tung ra ngoài không gian để bố thí cho các loài chúng sinh vô hình mà mắt người không nhìn thấy.

Nhà Phật có câu “Tác ý là Nghiệp”. Khi tâm đã khởi lên một ý, thì tùy theo ý tốt hay xấu mà Nghiệp đã được tạo. Chỉ cần khởi lên một ý tốt, muốn giúp đỡ người, dù cho hoàn cảnh không làm được, ý nghiệp thiện cũng đã thành hình. Trong sự bố thí cũng vậy, khởi lên ý muốn bố thí, là Nghiệp tốt đã hình thành, không căn cứ vào sự bố thí nhiều hay ít.

Trong lễ Vu Lan, Phật tử vì lòng hiếu thảo với cha mẹ, thân nhân, mà dâng lễ cúng dường trai tăng, tạo duyên lành với nhà Phật, mở lòng ra thực hiện hạnh xả bỏ là điều rất đáng quý. Mặt khác, nhờ người Phật tử cúng dường những nhu cầu cần thiết mà chư Tăng Ni có thể an tâm tu hành cho tới giác ngộ để cứu độ chúng sinh bằng phương tiện bố thí Pháp, giữ cho ngọn tuệ đăng luôn luôn chiếu sáng con đường giải thoát trên thế gian.

Như thế, người Phật tử cúng dường cũng là thực hiện hạnh tu xả bỏ, có đà rồi, sẽ tiếp tục đi thêm những bước trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ…. vân vân…

Có một thắc mắc được nêu lên rằng:

– Nếu nhờ lễ Vu Lan cúng dường trai tăng mà thân nhân thoát khỏi địa ngục, thì đó có phải là một hình thức hối lộ không?

Kính thưa quý vị,

Đạo Phật quan niệm rằng tất cả pháp giới đều chỉ do tâm tạo.  Thế thì địa ngục cũng do tâm tạo.  Tâm tham lam, bủn xỉn, độc ác thì tạo thành cảnh giới địa ngục.  Tâm chuyển thì cảnh giới địa ngục tan rã.

Theo đúng giới luật, khi chư vị Tăng Ni thọ thực thì không được “tán tâm tạp thoại”, nghĩa là nghĩ vẩn vơ, nói chuyện lăng nhăng, bởi vì nếu phạm giới này thì “tín thí nan tiêu”, nghĩa là phẩm vật dâng cúng mà mình thụ hưởng sẽ khó mà tiêu hóa được.

Cho nên, chính là lúc thụ trai đó, chư vị Tăng Ni lặng lẽ không nghĩ thiện, ác, một hình thức thiền định, là lúc tâm lực mạnh nhất. Như câu “Cuồng tâm ngưng nghỉ tức là Bồ Đề”, khi tâm tất cả mọi người đều lặng lẽ, không suy nghĩ, thì sức tâm thanh tịnh đó tỏa ra, ảnh hưởng vào pháp giới, chuyển hóa được những tâm tham lam, keo kiệt, bủn xỉn đang trong cảnh giới địa ngục kia. Và ngay chính sát-na tâm chuyển đó, địa ngục tự tan rã, chứ không phải là do chư Tăng Ni “ăn hối lộ rồi xin xỏ” cho thân nhân gia chủ được ra khỏi địa ngục. Vì thế mới có câu:  “Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu”.

Vậy thì, là Phật tử, nhân lễ Vu Lan, rất nên cúng dường trai tăng để giúp chư vị Tăng Ni khỏi lo lắng về phần vật chất, an tâm tu hành đến giải thoát.  Phẩm vật cúng dường ít nhiều không khác gì nhau. Chỉ có cái niệm tâm lúc cúng dường, kính trọng người tu hành, mong cho chư vị đạt đạo để Phật pháp trường tồn mới là quan trọng.  Nếu không có tiền để cúng dường mà chỉ có lòng vui mừng theo, gọi là tùy hỉ khi thấy có người làm việc thiện, thì phước đức cũng bằng người cúng dường, đó là lời Phật dậy.  Câu này rất có ý nghĩa, vì người có tâm tùy hỉ là đã hóa giải được tâm ganh tị nhỏ mọn rồi!

Ngoài sự cúng dường trai tăng hoặc tùy hỷ với người cúng dường, xin đừng giết loài vật để cúng cô hồn. Niệm tâm thanh tịnh tỏa trong không gian không chỉ hạn hẹp chuyển hóa thân nhân mình, mà chuyển hóa tất cả pháp giới.  Nếu mình lại giết chúng sinh để cúng, thì mình lại làm cho pháp giới ô nhiễm vì tăng thêm sự đau khổ, thêm lòng thù hận.

Nếu tin lời Phật nói: “Tất cả chúng sinh đều là cha mẹ đời quá khứ, và sẽ là Phật trong tương lai”, mà mình còn giết chúng sinh thì hóa ra mình giết cha mẹ đời quá khứ. Cho nên, có nhiều người đã sáng suốt nhận định ra việc này, họ ăn chay tháng bảy để từ từ tăng thêm đến ăn chay trường, đó là hình thức báo hiếu rộng lớn nhất, không chỉ đối với cha mẹ đời này, mà với cả cha mẹ đời quá khứ nữa.

Kính thưa quý vị,

 Nhân đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một câu chuyện Thiền, trích dịch từ cuốn “Collection of Stone and Sand”, do thiền sư Muju viết bằng Nhật ngữ, Paul Reps dịch sang Anh Ngữ, như sau:

“Ngày xưa ở nước Nhật, có thiền sư Tetsugen khởi lên tâm nguyện ấn tống một số kinh mà vào thời đó chỉ có những ấn bản bằng chữ Hán. Chữ được khắc ngược nổi lên những phiến gỗ, rồi người ta quết mực vào và in lên giấy. Thiền sư Tetsugen dự định sẽ in 7 ngàn cuốn, là một số lượng rất lớn vào thời đó.

Thiền sư bắt đầu đi quyên góp khắp nơi. Có người phát tâm tặng hàng trăm đồng tiền vàng, nhưng phần lớn ông chỉ gom góp được những số tiền nhỏ bé gồm những đồng xu. Nhưng dù ít hay nhiều, thiền sư cũng cảm ơn họ bằng sự hoan hỉ một cách bình đẳng.

Sau mười năm, sư đã gom góp được đủ số tiền để ấn tống kinh theo dự định.

Nhưng đúng vào thời gian đó thì nước sông Uji dâng lên, gây ra nạn lụt, theo sau nạn lụt là nạn đói. Thiền sư bèn đem tất cả số tiền quyên góp được phát ra để cứu dân chúng khỏi chết đói.

Rồi thiền sư lại bắt đầu cuộc quyên góp lần thứ hai.

Nhiều năm trôi qua, thiền sư vẫn còn đang quyên góp cho đủ số tiền in kinh, thì bệnh dịch lại lan tràn trong dân gian. Sư lại một lần nữa, đem tất cả số tiền phát cho dân chúng, để cứu họ thoát khỏi nạn dịch bệnh.

Bây giờ, Sư lại bắt đầu kỳ quyên góp thứ ba. Sau 20 năm, nguyện ước ấn tống kinh của thiền sư Tetsugen mới thành sự thực. Ngày nay chúng ta còn có thể chiêm ngưỡng những phiến gỗ khắc lời kinh để in những ấn bản đầu tiên ấy tại tu viện Obaku ở Kyoto.

Người Nhật nói với con cháu rằng thiền sư Tetsugen đã ấn tống kinh tới 3 kỳ, hai kỳ đầu không thể nhìn thấy đã vượt trội hơn kỳ thứ ba”.

Thưa quý thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 17 – Lễ Mother’s Day

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Trong một dịp tham dự lễ mừng Mother’s Day tại nhà một người bạn, chúng tôi nghe thấy một bà khách thì thào với bà bên cạnh, giọng dè bỉu:

– Ui da, người Tây Phương cả năm mới có một ngày Mother’s Day để nghĩ đến mẹ, người Việt mình một năm 365 ngày đều là Mother’s Day, đều lo cho cha mẹ, đâu phải chỉ có mỗi ngày hôm nay mà phải bày vẽ, bắt chước họ, rõ thật là “phú quý sinh lễ nghĩa”!

“365 ngày đều là Mother’s Day, đều lo cho cha mẹ”, có thật là như vậy không ạ?

Xin thưa rằng chuyện đối xử với cha mẹ ngày nào cũng đẹp như Mother’s Day là chuyện xảy ra vào thời xa xưa, những người ngàn thu cũ đã làm như thế, chứ còn thời nay thì quả là rất hiếm hoi rồi. Hiếm hoi không hẳn là vì người thời nay không có hiếu bằng người thời xưa, nhưng là vì những điều kiện khách quan nó không còn cho phép chúng ta dành nhiều thời giờ cho cha mẹ nữa.

Có một vị thính giả gửi thư tới chúng tôi, tâm sự rằng gia đình ông có mẹ già, hai vợ chồng và 1 đứa con 3 tuổi. Mẹ ông hiện đang ở trong nursing home. Cụ thì vẫn còn tỉnh táo, vẫn còn đọc báo, nghe radio được. Nhưng một chân cụ bị liệt, phải đi xe lăn. Hai vợ chồng ông đều đi làm, cháu bé gửi nhà trẻ. Cụ thì không thể ở nhà một mình, cho nên ông phải gửi cụ vào nhà dưỡng lão để có người săn sóc, vài ngày một lần, tan sở làm ông ghé qua thăm mẹ.

Nhưng từ khi cụ vào nhà dưỡng lão thì tinh thần cụ sa sút hẳn đi. Nhân viên ở đó cho ông biết rằng cụ rất ít nói, thường nằm quay mặt vào tường. Ngày nào thăm mẹ, ông cũng đều buồn bã ra về, vì cụ cứ muốn gặp cháu bé và than rằng nhớ con nhớ cháu. Mà nơi gửi cháu bé thì lại không tiện đường và giờ giấc để ông đón cháu trước khi đi thăm mẹ. Ông hỏi chúng tôi có cách nào để trọn vẹn mọi bề thì cố vấn cho ông.

Kính thưa quý vị,

Hiện nay, những chuyện đại gia đình phải gửi cha mẹ già vào nursing home xảy ra rất nhiều. Cũng là vì hoàn cảnh của đời sống, thường là hai vợ chồng đều phải đi làm. Những nhà có cha mẹ già thì khi các cụ còn khỏe mạnh, lại được các cụ giúp đỡ trông nom cháu bé, hoặc đưa đón cháu đi học, các cháu bé vừa được hưởng tình thương yêu âu yếm của ông bà, mà ông bà cũng không cảm thấy lẻ loi, cô đơn và vô dụng lúc tuổi già.

Thế nhưng khi các cụ không còn khả năng tự lo cho mình, thì thật là đáng buồn cho cả các cụ và con cái. Đưa cha mẹ vào nursing home là chuyện chẳng đặng đừng, những người con có hiếu như ông thính giả kể trên, trong lòng đầy ắp nỗi áy náy, buồn bã và thương xót cha mẹ già, mà các cụ thì lại càng đáng buồn hơn khi tuổi đã cao, bỗng nhiên mất hẳn chỗ dựa tinh thần là con cái, mất niềm vui nghe cháu bé cười nói bi bô, một mình cô đơn ở nơi xa lạ.

Cho nên, khi cha mẹ còn sống, nếu có dịp nào làm gì cho cha mẹ, thì chúng ta cứ làm, ngày giỗ, ngày Tết, ngày sinh nhật, ngày Vu Lan mùa Báo Hiếu, hay bất cứ dịp nào, cứ nên gặp gỡ, vui vẻ với cha mẹ. Tuổi già sẽ ập đến với các người, ngày cha mẹ trở nên lẫn lộn, nhìn con mà hỏi “Ông, bà là ai?” rồi cũng đến thôi. Ngày đó dù có muốn đem bình hoa tặng, thì cha mẹ cũng chẳng còn nhận ra mình là ai nữa.

Thưa quý thính giả,

Nhân đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả bài pháp của thày tỳ kheo Thích Thiện Minh về lễ Vu Lan và lòng hiếu kính cha mẹ.

Thày dạy rằng:

…“…. Nói đến Vu Lan là phải nói đến mùa báo hiếu; mùa mà những người con nam nữ nhớ đến công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ và muốn làm việc gì đó để đền ơn đáp nghĩa. Bởi vì công ơn cha mẹ quả thật trên đời này không có gì thiêng liêng bằng. Công ơn ấy đã thấm trong ta từ thuở tượng hình, đến với ta qua hơi ấm, qua bàn tay trìu mến, qua dòng sữa bổ dưỡng và qua giọng hát ngọt ngào.

Cha mẹ là hình ảnh đầu tiên mà ta nhìn thấy khi ta mở mắt chào đời và cũng là người làm cho ta nhớ mãi nụ cười, ánh mắt và hương vị yêu thương của cha mẹ dành cho mình.

Hơn nữa, nói đến cha mẹ là phải nói đến sự hy sinh cho các con cả cuộc đời và cả tâm hồn lẫn thể xác. Chính vì tình thương và lòng hy sinh cao cả như thế, phận làm con chúng ta phải hiểu để đền ơn đáp nghĩa với đấng sinh thành dưỡng dục ta nên người.

Về phương diện đền ơn cha mẹ, Đức Phật có dạy: “Dù là tại gia hay xuất gia, dù là Thanh Văn hay chư Phật đều có bổn phận đền ơn cha mẹ. Vì tâm hiếu là tâm Phật”.

Do đó, theo quan điểm của Phật giáo Nam tông, không hẳn chỉ là ngày Rằm tháng 7 âm lịch mới là ngày mà những người con phải làm cái gì đó cho cha mẹ đã quá văng, mà bất cứ lúc nào, giờ nào, ngày tháng năm nào đều cũng có thể làm cha mẹ vui lòng hoặc làm việc tích đức để hồi hướmg cho họ ở bên kia thế giới.

Đối với người tại gia cư sĩ, trong một đoạn kinh, Đức Phật dạy cách báo hiếu cha mẹ có những đoạn như sau:

— Phụng dưỡng cha mẹ : Tức phải hết lòng cung kính cha mẹ, không làm cho cha mẹ buồn khổ, không nói lời vô lễ mà thể hiện sự phụ dưỡng bằng tinh thần như thăm viếng cha mẹ trong những khi họ cô đơn, bệnh hoạn xế chiều; hoặc là sự cung phụng bằng vật chất như vật thực, thuốc thang, chỗ ở, y phục…

— Làm việc thay thế cho cha mẹ : Là chúng ta phải gánh vác tất cả những việc gì mà trước đây cha mẹ đã vì ta mà gánh chịu. Đây cũng là lẽ thưòng tình của đời sống xã hội, không riêng gì Phật giáo. Đã là người con trưởng thành thì cần phải làm thay thế cho cha mẹ, để cho cha mẹ có thời gian thụ hưởng những ngày nhàn rỗi cuối cuộc đời.

— Gìn giữ gia phong tốt đẹp : Là gìn giữ gia phong đạo đức tốt đẹp; lược bỏ đi những phong tục cổ hủ vô bổ cho gia tộc cũng như cho xã hội. Chẳng những thế, cần phải làm phát huy thêm những truyền thống tốt đẹp để làm vang xa tiếng tốt của gia tộc.

—  Tạo phước hồi hướng khi cha mẹ đã quá vãng: Theo Phật giáo, khi cha mẹ còn hiện tiền thì người con phải làm sao cho cha mẹ luôn sống trong niềm an lạc hạnh phúc. Và khi cha mẹ đã quá vãng thì người con cần phải tạo thật nhiều công đức để hồi hướng phần công đức đó đến cha mẹ

Về phía người xuất gia, Đức Phật cũng cho phép nuôi dưỡng cha mẹ. Có một vị Tỳ Kheo chuyên đi khất thực nuôi cha mẹ; câu chuyện được bạch lên Đức Phật. Sau khi phán hỏi sự tình, Đức Phật chẳng những không quở trách mà còn hết lời tán thán hiếu hạnh của vị Tỷ Kheo. Ngài kết luận “Người nào muốn đạt đến cứu cánh Phật đạo, người ấy phải tuyệt đối hiếu kính cha mẹ”.

Lịch sử chép rằng, Đại đức Xá Lợi Phất, trước khi Niết bàn, cũng chọn căn phòng ngày nào Ngài đã chào đời và tìm đủ mọi cách để giảng đạo độ mẫu thân– vốn là tín đồ của Bà La Môn giáo — quay về quy ngưỡng chánh pháp. Và sau đó bà đắc quả Tu Đà Hoàn. Còn Đại đức A Nan Đa thì chọn dòng sông Kohinì làm nơi tịch diệt và Xá lợi của Ngài lại được chia đôi như ý nguyện, một phần đưa về hữu ngạn nội tổ, phần còn lại đưa về tả ngạn ngoại tổ. Thật là một đời sống hiếu hạnh trọn vẹn.

Tiêu biểu nhất là Đức Phật của chúng ta. Sau khi thành đạo, hay tin phụ vương lâm trọng bệnh, Ngài vội vàng cùng với chúng Tăng đệ tử trở về hoàng cung, ngự tại vườn Thượng Uyển, mỗi ngày Đức Phật vào cung vấn an phụ hoàng ba lần trong suốt thời gian vua cha thọ bệnh. Cuối cùng vua cũng đắc quả vị A La Hán. Khi vua băng hà, chính tự thân Đức Phật đã tắm rửa phụ hoàng, thay đổi xiêm y, làm lễ nhập kim quan; luôn cả ngày trà tỳ, Ngài cũng đưa tiễn kim quan với sự tiếp tay của chư Thánh tăng. Sau lễ trà tỳ Ngài thu nhặt Xá lợi phụ vương đem về làm lễ nhập tháp.

Thưa quý thính giả,

Trên đây là bài pháp của thày Tỳ Kheo Thích Thiện Minh. Chúng tôi cũng xin gửi tới quý thính giả thêm một hình ảnh nữa về bà mẹ, qua bức thư của đạo hữu Viên Diệu gửi tới, như sau:

… “….Tình cờ, trong lúc soạn tủ sách, Viên Diệu lượm được bài này. Nhân mùa Vu Lan, Viên Diệu xin gửi tới quý đạo hữu, để cùng ngậm ngùi với tác giả.

Bài này phần trên là Anh ngữ, phần dưới là Việt ngữ. Viên Diệu không được biết rằng phải chăng tác giả là người Việt Nam viết luôn hai thứ tiếng, hay là nguyên bản tiếng Anh do người ngoại quốc viết và có người Việt Nam nào đó đã dịch ra Việt ngữ. Sau đây là phần tiếng Việt:

KHI MẸ ĐI RỒI, ĐỜI CÓ NGHĨA GÌ ĐÂU !

– Khi con mở mắt chào đời, Mẹ ôm con trong cánh tay .
– Con cảm ơn Mẹ bằng tiếng khóc lèo nhèo không dứt.

– Khi con 1 tuổi, Mẹ cho con ăn uống, tắm rửa cho con.
– Con cảm ơn Mẹ bằng những đêm dài khóc lóc triền miên

– Khi con 2 tuổi, Mẹ tập cho con những bước đầu đời .
– Con cảm ơn Mẹ bằng ngoảnh mặt chạy đi khi Mẹ gọi .

– Khi con 3 tuổi, Mẹ nấu nướng thức ăn cho con với cả tấm lòng.
– Con cảm ơn Mẹ bằng xô cả cái mâm xuống sàn nhà

– Khi con 4 tuổi, Mẹ cho con vài cây bút mầu .
– Con cảm ơn Mẹ bằng vẽ đầy lên mặt cái bàn đẹp

– Khi con 5 tuổi, Mẹ mặc cho con quần áo đẹp để con dự những ngày lễ hội .
– Con cảm ơn Mẹ bằng vẩy ngay bùn đất lên áo .

– Khi con 6 tuổi, mẹ đưa con đến trường.
– Con cảm ơn Mẹ bằng kêu khóc “Con không muốn đâu”

– Khi con 7 tuổi, Mẹ mua cho con quả banh.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách ném nó vào cửa sổ nhà hàng xóm

– Khi con 8 tuổi, Mẹ mua cho con cây cà-rem.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách trây đầy vạt áo .

– Khi con 9 tuổi, Mẹ trả tiền cho con học đàn dương cầm.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách chẳng thèm tập dượt.

– Khi con 10 tuổi, Mẹ lái xe suốt ngày đưa đón con từ sân banh đến phòng tập thể dục, từ cuộc họp bạn này đến cuộc họp bạn sinh nhật khác.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách nhẩy ào ra khỏi xe mà không ngoảnh
mặt nhìn lại .

– Khi con 11 tuổi, Mẹ chở con và các bạn đi xem xi-nê .
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách yêu cầu Mẹ ngồi ở băng ghế khác.

– Khi con 12 tuổi, Mẹ không muốn con coi một vài chương trình nơi truyền hình.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách chờ cho Mẹ rời khỏi nhà.

– Khi con 13 tuổi, Mẹ muốn con cắt tóc vừa với dáng dấp của con.
– Con cảm ơn Mẹ bằng câu: ” Mẹ quê quá!”

– Khi con 14 tuổi, Mẹ trả tiền cả một tháng trại hè cho con.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách không viết cho Mẹ được một lá thư .

– Khi con 15 tuổi, lúc Mẹ đi làm về, muốn ôm con vào lòng.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cánh cửa phòng đóng lại .

– Khi con 16 tuổi, Mẹ dậy cho con lái xe .
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách tận dụng mọi cơ hội để lái xe đi biệt.

– Khi con 17 tuổi, Mẹ đang chờ một điện thoại quan trọng.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách ôm điện thoại suốt đêm dài .

– Khi con 18 tuổi, Mẹ xúc động thấy con xong được Trung Học.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách theo bạn bè vui chơi cho đến hừng sáng.

– Khi con 19 tuổi, Mẹ trả tiền chi phí Đại Học, chở con đến trường, giúp con với những túi vật dụng.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách chào từ giã Mẹ phía ngoài cửa phòng vì con không muốn bối rối trước mặt bạn bè.

– Khi con 20 tuổi, Mẹ muốn biết con đã có bạn trai chưa .
– Con cảm ơn Mẹ bằng câu :” Không phải việc của Mẹ”

– Khi con 21 tuổi, Mẹ đưa ý kiến về việc tương lai của con.
– Con cảm ơn Mẹ bằng câu :” Con không muốn sẽ giống y như Mẹ”.

– Khi con 22 tuổi, Mẹ muốn ôm con trong ngày lễ ra trường của con.
– Con cảm ơn Mẹ bằng câu hỏi: ” Mẹ có cho tiền để con đi du lịch Âu Châu không?

– Khi con 23 tuổi, Mẹ cho con bàn ghế khi con dọn vào căn gia cư đầu tiên.
– Con cảm ơn mẹ bằng câu :” Chúng xấu xí quá!”

– Khi con 24 tuổi, gặp người yêu của con, Mẹ hỏi :” Cậu có ý nghĩ gì về tương lai?”
– Con cảm ơn Mẹ bằng sự giận dữ, gầm gừ :” Thôi đi Mẹ!”

– Khi con 25 tuổi, Mẹ đã giúp cho chi phí về đám cưới của con, vừa rơi lệ, vừa nói: ” Mẹ rất thương con”.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách dọn đi xa nửa vòng đất nước.

– Khi con 30 tuổi, Mẹ gọi điện thoại với một vài lời khuyên về cách nuôi cháu
– Con cảm ơn Mẹ bằng câu: “Thời buổi bây giờ đã khác rồi”.

– Khi con 40 tuổi, Mẹ nhắc nhớ con về ngày sinh nhật của các thân nhân.
– Con cảm ơn Mẹ bằng câu trả lời :” Con rất là bận”

– Khi con 50 tuổi, Mẹ trở bệnh, già, yếu, cần sự giúp đỡ của con.
– Con cảm ơn Mẹ bằng kể lể về gánh nặng cha mẹ già đối với con cái …

Và rồi một ngày kia, Mẹ lặng lẽ qua đời .

Tất cả những điều con chưa hề làm cho Mẹ xẹt qua tâm trí con như tiếng sấm rền.

Hãy ru con … Hãy ru con suốt đêm dài …

Bàn tay Mẹ ru thủa con còn nằm trong nôi có thể ru cả thế giới này …

… Mẹ ơi !

Thưa quý thính giả,

Bài tâm cảm về Mẹ đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 16 – Giao dịch tương xứng giữa Tăng Ni và cư sĩ

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi nhận được thư của một vị gửi về, xin trích đoạn sau đây:

…”… Tuy gia đình theo đạo Phật nhưng ngoài bà tôi ra, bố mẹ và các anh chị em tôi rất ít khi tới chùa. Năm ngoái, nhân làm lễ cầu siêu cho ông tôi mới mất, cả gia đình tôi đều tham dự một buổi lễ cúng dường trai tăng. Có điều khó hiểu, xin Chương Trình Tuệ Đăng giải đáp giúp. Đó là tôi thấy trước khi các Tăng Ni ăn cơm, có mấy Phật tử, trong số đó có cả bà tôi, quỳ xuống xụp lạy các sư ngay trước bàn ăn. Tôi rất lấy làm khó chịu khi nhìn thấy bà mình xì xụp lễ lạy người ta như thế. Bà tôi bảo vì bà tôi “cúng dường trai tăng” nên phải “cúng” các vị sư, tức là Tăng. Chẳng lẽ đạo Phật lại phân chia giai cấp như triều đình phong kiến vậy sao?

Bà tôi bảo rằng năm nay là giỗ đầu ông tôi, bà tôi muốn cúng dường trai tăng như năm ngoái. Mấy anh chị em tôi đều không muốn tham dự nữa. Xin quý vị cho biết ý kiến…”…

Kính thưa quý vị,

Trong một kỳ trước, chúng tôi đã trình với quý vị rằng đạo Phật rất trọng giới tu sĩ. Tại sao vậy?

Xin thưa rằng, vì tu sĩ đạo Phật có nhiệm vụ phải hoàn tất rất là lớn lao, chứ không phải là chỉ làm chuyện cúng tế, cầu xin các đấng bề trên giúp cho tín đồ. Việc cúng tế cầu xin này không hề là mục tiêu của đạo Phật, tức là đạo Giác Ngộ, mà chỉ là chuyện phụ, trên đường hoằng truyền Phật pháp, nhà Phật vì tùy thuận theo ý muốn của chúng sinh nên làm những chuyện đó mà thôi. Nhiệm vụ chính của Tăng Ni nhà Phật là dạy chúng sinh thực hành các môn tu theo Phật pháp, làm công tác người cầm đuốc soi đường cho chúng sinh tu hành cho tới giác ngộ giải thoát khỏi vòng luân hồi triền miên sinh tử.

Chúng tôi cũng đã thưa rằng “… các vị Sư trong nhà Phật được tôn là Trưởng Tử Như Lai, là con lớn của đức Phật — với ý nghĩa về mặt tinh thần – có nhiệm vụ dìu dắt đàn em là tất cả chúng sinh đang còn lạc lõng trong biển luân hồi sinh tử.

Trưởng Tử Như Lai là người noi theo gương giáo hóa chúng sinh của đức Phật, làm công việc đức Phật ủy thác, là Đạo Sư. Vì thế, từ ngữ Sư trong nhà Phật rất cao quý. Vì sứ mạng cao quý như thế cho nên trong đạo Phật, giới Tăng Ni tu sĩ được coi là một trong Tam Bảo.

Nhiệm vụ của Phật tử, gọi là cận sự, tức cư sĩ, là phải cung kính cúng dường chư Tăng Ni 4 món cần thiết trong đời sống, gọi là “Tứ sự cúng dường” gồm y phục, thực phẩm, nơi ở và thuốc men.

Tại sao lại phải đặc biệt cung kính khi cúng dường?

Đó là để tỏ rõ lòng tôn kính vị Sư, bậc Thày dẫn dắt ra khỏi biển sinh tử, trở lại Bản Thể Chân Tâm, chấm dứt mọi nỗi thống khổ trong cuộc đời.

Cho nên đôi khi chúng ta trông thấy trong những buổi lễ dâng y, hoặc trai tăng, thí chủ dâng lễ vật đồng thời còn xụp lạy những Tăng Ni thọ nhận, cũng là vì theo truyền thống cung kính cúng dường đó.

Thưa quý thính giả,

Như thế, chúng ta minh định rõ vai trò cao quý của chư Tăng Ni trong nhà Phật, để có thể ứng xử với nhau cho đẹp và tương xứng với vị trí của Tăng Ni và cư sĩ khi giao dịch với nhau.

Nhưng thế nào là “tương xứng với vị trí của Tăng Ni và cư sĩ khi giao dịch”?

Trước nhất, chúng tôi xin minh xác rằng từ “cúng” trong cúng dường không có nghĩa là cúng bái. Cúng dường là do chữ cung dưỡng mà đọc trại ra. “Cung dưỡng” có nghĩa là “cung cấp và nuôi dưỡng”. Cúng dường trai tăng nghĩa là mời chư tăng thọ nhận một bữa cơm trước giờ Ngọ, không hẳn phải là cơm chay, chỉ cần ăn trước giờ ngọ nên gọi là Ngọ trai.

Do truyền thống “Tam Bảo gồm Phật, Pháp và Tăng là phước điền của chúng sinh, thọ nhận bất cứ loại thực phẩm nào do thí chủ phát tâm cúng dường, để chúng sinh trồng cây phước, vì thế không từ chối tấm lòng của chúng sinh, không chọn lựa khi thọ nhận phẩm vật được cúng dường” nên đôi khi chúng ta thấy các sư Nam Tông thọ Ngọ trai bằng thực phẩm từ thịt chúng sinh, miễn là thịt đó từ con vật không vì lý do mình muốn ăn mà nó bị giết, không trông thấy nó bị giết và không nghe thấy tiếng nó kêu khi bị giết,…, gọi là Tam Tịnh Nhục.

Như thế, cúng dường có nghĩa là cung dưỡng, là cung cấp và nuôi dưỡng. Nghĩ rằng vì “cúng dường trai tăng” nên phải lạy sống các sư là sai lầm.

Nhà Phật quý trọng Tăng Ni, tôn là Trưởng tử Như Lai, vì quý vị đó có công tiếp nối hạnh Phật mà chỉ đường cho chúng sinh tu tập ra khỏi cơn mê trong vòng luân hồi khổ não, giác ngộ lại bản thể Chân Tâm.

Nhưng kính trọng không có nghĩa là phải lạy sống. Người thời phong kiến làm thế vì họ có hủ tục người dưới lạy người trên, vua chúa ngồi cho triều thần, cung nữ, thái giám lạy. Hủ tục đó thiết tưởng nên dẹp bỏ.

Có người cho rằng lạy như thế để tập đức khiêm cung. Thực tế, nếu muốn lạy để luyện tập đức khiêm cung thì nên lạy những người ngang hàng hoặc địa vị thua kém mình. Còn nếu không lạy tất cả mọi người một cách bình đẳng như Thường Bất Khinh Bồ Tát gặp ai cũng lạy, mà chỉ đặc biệt lạy những người cao cấp hơn mình, về thần quyền hoặc thế quyền, thì chỉ có thể làm tăng trưởng thói bợ đỡ, nịnh trên nạt dưới, không thể do lạy mà tập được đức khiêm cung.

Thưa quý thính giả,

Để quý vị thấu triệt vấn đề cúng dường Tam Bảo, chúng tôi xin kính gửi một bài pháp do hòa thượng Thích Thanh Từ giảng về đề tài Cúng Dường Tam Bảo, trích trong cuốn Bước Đầu Học Phật.

Thày dạy như sau:

…”… Cúng dường là nuôi dưỡng khiến Tam Bảo hằng còn ở đời. Tất cả những sự bảo bọc giúp đỡ gìn giữ để Tam Bảo thường còn, đều gọi là cúng dường.

Tam Bảo là Phật, Pháp và Tăng:

 Phật đã quá khứ, chỉ còn lại hình tượng.
Pháp bắt nguồn từ chữ Phạn đến chữ Hán còn nằm sẵn trong kho tàng nhà chùa.
Tăng là những tu sĩ tu theo Phật học chánh pháp. Chính những vị này có bổn phận gìn giữ hình tượng Phật còn, phiên dịch giảng giải chánh pháp.

Tam Bảo đều quí kính, song hệ trọng nhất là Tăng. Nếu không có Tăng thì ai gìn giữ chùa chiền, ai giảng dạy chánh pháp? Thế nên, cúng dường Tam Bảo là nói chung, mà hệ trọng là Tăng. Tăng chúng còn là Tam Bảo còn, Tăng chúng mất thì Tam Bảo cũng vắng bóng. Vì thế mọi sự cúng dường đều đặt nặng vào Tăng, với mục đích Tam Bảo tồn tại ở nhân gian.

Thế mà có những người cúng dường một cách lệch lạc mất hết ý nghĩa cúng dường. Như có một Phật tử đi chùa đến thầy Trụ trì xin cúng năm đồng, liền đó được nghe hỏi “cầu cái gì”, Phật tử ngơ ngác. Thầy Trụ trì hỏi thêm “cầu an hay cầu siêu”, Phật tử bóp đầu suy nghĩ đáp “cầu siêu”, rồi biên một dọc tên vào sổ cầu siêu. Phật tử này như thế, Phật tử khác cũng thế. Ðã thành thông lệ, cúng chùa là phải cầu siêu hay cầu an.

Cầu an cầu siêu cho bản thân mình, cho gia đình mình, cho thân thuộc mình, sự cúng ấy quả là vì mình. Vì mình mà đi chùa, vì mình mà cúng chùa, đích thực là tham lam ích kỷ.

Nếu mang một tâm niệm tham lam ích kỷ đến với đạo thì chưa xứng đáng một Phật tử. Cái hư dở này tại ai? Chính tại người hướng dẫn đã chỉ lối sai lạc.

Ðến phần ông thầy, do Phật tử cầu siêu cầu an nên có tiền. Ðồng tiền này sau một thời kinh cầu nguyện xong, ông tự coi như trọn quyền sử dụng không có tánh cách e dè sợ sệt gì cả. Nếu một buổi lễ cầu nguyện được Phật tử cúng nhiều tiền, thế là ông mặc tình phung phí, vì tự cho do công tụng cúng của mình mà được. Thế thì đời tu hành cốt vì giác ngộ giải thoát, vô tình trở thành người tụng kinh mướn. Người tu cốt xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo, biến thành kẻ thụ hưởng. Trái với mục đích xuất gia, trở thành kẻ hư hèn, chính vì nhận đồng tiền phi pháp.

Cầu nguyện là một điều phụ thuộc nhỏ nhít trong Phật pháp, vì nó không phải là chân lý. Thế mà, người ta thổi phồng nó lên, để rồi cả đời người tu gần như hết tám chục phần trăm Phật sự đều nằm trong những lễ cầu nguyện. Truyền bá một điều không phải chân lý, ắt hẳn chánh pháp phải chịu suy đồi. Người có trách nhiệm hướng dẫn Phật tử mà một bề cổ xúy cho sự cầu cúng, là đưa họ vào rừng sâu mê tín, gây thêm lòng tham lam ích kỷ cho họ. Quả là kẻ tạo thêm tội lỗi, chớ không phải người tu hành.

Người Phật tử chân chánh khi phát tâm cúng dường Tam Bảo, chỉ vì mong cho Tam Bảo thường còn ở thế gian để đưa chúng sanh ra khỏi đau khổ mê lầm. Nếu đến chùa, Phật tử cúng năm mười đồng, Tăng, Ni có hỏi cầu điều gì, Phật tử nên thưa: “Chúng tôi chỉ cầu mong chư Tăng, chư Ni nhận món tịnh tài này để có phương tiện an ổn tu hành, hầu truyền bá chánh pháp lợi ích chúng sanh.”

Chỉ vì Tam Bảo, vì chúng sanh mà cúng dường, đây là tâm hồn cao thượng quảng đại vị tha. Làm việc bố thí cúng dường cao đẹp như vậy công đức làm sao giới hạn đuợc. Vì Tam Bảo thường còn ở thế gian để làm lợi ích cho chúng sanh, trong chúng sanh đã có bản thân mình và thân quyến mình rồi. Quên mình chỉ nghĩ đến toàn thể chúng sanh, không phải lòng lợi tha vô bờ bến là gì? Với một lòng vị tha rộng lớn như vậy, dù một số tiền nhỏ, một vật dụng mọn đem cúng dường cũng là phước đức vô biên.

Tăng, Ni nhận sự cúng dường chân chánh của Phật tử, tự nhiên thấy mình có một trọng trách lớn lao vô cùng. Làm sao tu hành tinh tiến? Làm sao truyền bá chánh pháp lợi ích chúng sanh? Ðể xứng đáng thọ nhận những thứ cúng dường của Phật tử, chỉ cần nỗ lực tu hành, cố gắng học tập để hiện tại và vị lai làm lợi ích chúng sanh. Nếu hiện đời, Tăng, Ni, không làm tròn hai việc này, có thể mai kia phải mang lông đội sừng để trả nợ tín thí. Biết như thế, hiểu như thế, Tăng, Ni làm sao dám lơi lỏng trong việc tu hành học tập. Thế là, nhờ sự cúng dường chân chánh của Phật tử thúc đẩy Tăng, Ni đã cố gắng càng cố gắng hơn trong nhiệm vụ thiêng liêng cao cả của chính mình. Thấy mình thiếu nợ, mới cố gắng lo đền trả bằng cách nỗ lực tu hành và độ sanh, đây là mục tiêu đức Phật bắt Tăng, Ni thọ nhận đồ cúng dường của Phật tử. Tăng, Ni là người có bổn phận hướng dẫn tín đồ cúng dường chân chánh đúng pháp thì cả thầy trò đều cao thượng và lợi ích lớn.

Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa chúng ta hoàn toàn phủ nhận sự cầu nguyện. Chúng ta thấy rõ cầu nguyện chỉ là trợ duyên nhỏ xíu, kẻ đối tượng cầu nguyện chỉ được lợi ích một hai phần mười, như trong kinh nói. Chúng ta đã thừa nhận “nhân quả nghiệp báo” là chân lý thì sự cầu nguyện là ngoại lệ, có kết quả cũng tí xíu thôi. Cổ vũ cho điều phi chân lý, để cho người xao lãng chân lý, là việc làm trái với chánh pháp. Vì lòng hiếu thảo của Phật tử, buộc lòng chúng ta phải cầu nguyện, khi cầu nguyện chúng ta phải cảnh cáo rằng: “Việc làm này là phụ thuộc không đáng kể, kết quả ít lắm.” Có thế mới khỏi lệch lạc trên con đường hoằng hóa lợi ích chúng sanh. Ðã thấy cầu nguyện là việc phụ, chúng ta đừng vì nó làm mất thì giờ tu học của Tăng, Ni, làm mất thì giờ truyền bá chánh pháp.

Chúng ta tu theo đạo Phật là đi trên con đường sáng, ánh sáng giác ngộ đến đâu thì bóng đêm mê lầm tan đến đấy. Mê tín là bóng đêm, giác ngộ là ngọn đèn sáng. Bóng đêm và ánh sáng hai cái không thể có đồng thời. Nếu sáng thì không tối, hoặc tối thì không sáng. Có giác ngộ là không có mê tín, có mê tín thì không có giác ngộ. Nếu chứa chấp mê tín là chúng ta đã phản bội với đạo giác ngộ. Trong đạo giác ngộ quả thật không có mê tín. Học đạo và truyền đạo giác ngộ, chúng ta cương quyết dẹp hết bóng đêm mê tín. Có được như vậy mới gọi là người trung thực với chánh pháp. Bằng ấp ủ nuôi dưỡng chứa chấp mê tín, dù kẻ ấy mỗi ngày cúng Phật trăm lần vẫn là kẻ phá hoại chánh pháp. Thà là chúng ta cam chịu chết đói, quyết không vì lợi dưỡng mà làm những điều mê tín, dẫn dắt người đi trên đường mê tín. Ðã thừa nhận mình là Phật tử, quyết định không vì lòng tham để bị một số người lợi dụng dẫn đi con đường mê tín…”…

Thưa quý thính giả,

Trên đây là lời dạy của hòa thượng Thích Thanh Từ, một bậc cao tăng thời hiện đại.

Tiếp theo, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một câu chuyện thiền về sức mạnh của tâm an định, trích dịch từ loạt bài mang tên là “Zen Stories To Tell Your Neighbors”, do soạn giả John Suler gửi lên Internet, như sau:

….” Chuyện rằng, ngày xưa tại làng kia, có một đại võ sư già. Dù đã rất già, ông vẫn còn hạ gục bất cứ người nào muốn tỉ thí với ông. Danh tiếng ông vang lừng khắp miền, lan ra tới tận cả những vùng xa xôi, hẻo lánh, khiến cho võ sinh khắp nơi kéo nhau nườm nượp tới xin làm đệ tử.

Ngày kia, có một võ sĩ trẻ, nổi tiếng đánh bằng đòn tàn bạo, tới làng thách thức vị võ sư già, đòi giao đấu. Hắn quả quyết rằng sẽ là người đầu tiên hạ gục vị đại võ sư. Cùng với sức mạnh của tuổi trẻ, hắn còn có khả năng phi thường là có thể thấu suốt bất cứ nhược điểm nào của đối phương. Cho nên khi ra trận, hắn chờ cho đối phương đánh trước. Ngay khi đối thủ ra đòn, hắn đã phát hiện được nhược điểm, để rồi, với toàn bộ sức mạnh vũ bão, tiến thoái mau lẹ như chớp, hắn hạ gục đối thủ không thương xót. Chưa một ai có thể chịu đựng nổi hắn, chỉ một đòn đầu tiên là hắn đã hạ gục đối phương.

Mặc cho các môn sinh lo lắng can gián, vị võ sư già vui vẻ nhận lời giao đấu với chàng võ sĩ trẻ.

Hai người vừa mới giáp trận, là chàng võ sĩ trẻ bắt đầu moi móc những lời lẽ thô tục ra để lăng mạ vị võ sư già. Hắn văng tục và nhổ nước miếng vào mặt ông già. Suốt một thời gian dài, hắn tận dụng tất cả những từ ngữ thô bỉ mà hạng vô liêm sỉ nhất của loài người có thể nói, để quát vào mặt ông già. Nhưng vị võ sư già chỉ lẳng lặng đứng, không nhúc nhích, không có bất cứ một phản ứng nào.

Cuối cùng, tên võ sĩ trẻ thấm mệt. Biết rằng đã bị ông già hạ gục, hắn cảm thấy xấu hổ mà rút lui.

Đám môn sinh của vị võ sư rất bực bội trước thái độ của thày, là đã không cho thằng nhãi hỗn láo một bài học, mà cứ đứng yên nghe nó chửi tục như thế. Họ đứng quây chung quanh vị võ sư già mà chất vấn:

– Sao thày có thể đứng đó mà chịu trận trước sự sỉ nhục kéo dài như thế? Sao thày không tống cổ nó đi?

Vị võ sư già thủng thỉnh trả lời:

– Nếu có ai đem món quà đến tặng các con, mà các con không nhận, thì món quà đó thuộc về ai?

Thưa quý thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới. Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 15 – Công Án trong nhà Thiền là gì ?

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Kỳ này chúng tôi dành riêng để trả lời một số câu hỏi của quý vị gửi về. Các câu hỏi này đều đi vào chi tiết của công cuộc chuyên tu, cho nên chúng tôi xin quý thính giả thông cảm về sự đặc biệt của nó và nếu thấy có gì khó hiểu, thì xin gửi email hỏi lại để chúng tôi có thể trình bày thêm cho rõ nghĩa hơn.

Chúng tôi xin lần lượt nêu lên từng câu hỏi rồi trả lời ngay câu đó trước khi nêu câu hỏi sau.

Câu hỏi thứ nhất là:

— Đọc sách Thiền, tôi thường thấy những câu chuyện người này hoặc người kia, sau khi nghe một câu nói, một tiếng hét, một cái tát, hoặc nhìn thấy một sư kiện gì đó, thí dụ sao Mai mọc, hoa đào nở, cánh cửa xập, bèn Ngộ, có vẻ như chuyện Ngộ đạo quá dễ dàng, phải không ạ?

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi thiết nghĩ rằng những câu chuyện trong các sách Thiền đã bị hiểu lầm rất nhiều.

Tại sao vậy?

Tại vì ở đó chúng ta chỉ được thấy phần kết quả của cả một quá trình tu hành tự thanh lọc tâm của người hành giả, tạm dùng thí dụ như chúng ta tham dự lễ ra trường của ông Tiến Sĩ, chỉ nghe có tiếng gọi tên là ông Tiến Sĩ lên lãnh bằng cấp, áo mũ, mà không hề nhìn thấy những năm dài đằng đẵng giùi mài kinh sử của người học trò, để có thể đạt được kết quả trên.

Có lẽ quý thính giả khi đọc các sách Thiền cũng nhận thấy một điều là các nhân vật trong đó khi ra mắt thiền sư đều khai danh tính và xuất thân từ chùa này hoặc tu viện nọ. Điều đó nói lên rằng hầu hết họ đều đã có một quá trình tu học, trước khi đi hành cước tìm thày.

Có câu “thiền môn nghiêm tịnh”, chùa chiền và tăng ni ngày xưa giữ gìn giới luật rất tinh nghiêm, chặt chẽ. Như thế có nghĩa là những hành giả đi tìm thày như vậy là đã trải qua giai đoạn tự thanh tịnh hóa tâm, xả bỏ tham sân si được một chừng mực nào đó, nay bước vào giai đoạn chót của cuộc đời chuyên tu, mục đích là Kiến Tánh để ra khỏi sinh tử.

Thiền sư Hám Sơn, một người đã Kiến Tánh, nhục thân còn lưu tại chùa Nam Hoa tỉnh Quảng Đông, đã dạy rằng:

…”…Nếu luận về đại sự nhân duyên này thì Phật Tánh ai ai cũng sẵn có đầy đủ, tơ hào chẳng thiếu .

Song le, do từ kiếp vô thủy đến nay, gốc rễ ái dục, vọng tưởng, tình lự, thói quen ô nhiễm sâu dầy, nên ánh sáng diệu kỳ của Tự Tánh hoàn toàn bị che khuất đi .

Rồi vì chẳng được thọ dụng chân thật, nên cứ khư khư bám víu nơi thân tâm, thế giới, bóng dáng, vọng tưởng, kết cuộc là trôi lăn phiêu dạt biển sinh tử.

Phật và chư Tổ ra đời, với trăm ngàn lời lẽ, đủ thứ phương tiện, nói Thiền, giảng Giáo, không ngoài tùy thuận căn cơ, dựng lập, phá chấp, nguyên lai nào có “pháp thật” nào để dậy người đâu!

Tu tức là tùy thuận Tự Tâm, tịnh trừ vọng tưởng, tập khí, rác rưởi . Cứ theo đây mà ra sức thì gọi là Tu . Khi một niệm vọng tưởng chợt ngưng, liền thấu suốt Tự Tâm xưa nay viên mãn quang minh chói lọi, thật là thanh tịnh bổn nhiên, chẳng dính vật gì, thì khi đó gọi là Ngộ. Nào phải lìa khỏi tâm này, mình mới tu, mới ngộ…”…

Kính thưa quý thính giả,

Xin quý vị lưu ý câu: “Khi một niệm vọng tưởng chợt ngưng, liền thấu suốt Tự Tâm xưa nay viên mãn quang minh chói lọi, thật là thanh tịnh bổn nhiên, chẳng dính vật gì, thì khi đó gọi là Ngộ…”…

Như thế, người Ngộ Đạo không phải là Ngộ câu nói hay hành động gì đó xảy ra lúc đó, mà là do sự kiện xảy ra lúc đó tác dụng vào tâm người hành giả vốn đã chín mùi, khiến cho chuỗi tư tưởng triền miên bỗng nhiên ngưng đọng lại, trong một thoáng dòng thường lưu suy tư ngưng bặt, Thực Tại hiển lộ.

Thực Tại đây chính là Phật Tánh, Giác Tánh, Buddha Nature, Buddha Mind, Tri Kiến Phật, vân vân …

Và sự Ngộ Đạo là kết quả của quá trình tự thanh lọc, khiến cho tâm đã thành khối, cũng giống như trái cây đã chín mùi, nên câu nói của bậc thày lúc đó chỉ tương đương với việc rung cây cho trái rụng mà thôi.

Điều quan trọng là bậc thày phải là người đã thấu suốt, biết được trò kẹt ở đâu, để chỉ nói một câu, làm một hành động nào đó là trò bừng tỉnh. Vì thế, hành động của bậc thày trong hoàn cảnh này còn được gọi là tháo đinh nhổ chốt.

Câu hỏi thứ hai:

— Xin giải thích giúp tôi thế nào là công án trong sự tu Thiền.

Thưa quý thính giả,

Công án trong nhà Thiền là thuật ngữ đặc biệt, để chỉ một phương cách hành trì khiến cho người tu Tổ Sư Thiền có thể Kiến Tánh, cũng tức là Ngộ Đạo.

Trong phần trả lời câu hỏi trước, chúng tôi đã trích dẫn lời dạy của thiền sư Hám Sơn, có câu:

– “Khi một niệm vọng tưởng chợt ngưng, liền thấu suốt Tự Tâm xưa nay viên mãn quang minh chói lọi, thật là thanh tịnh bổn nhiên, chẳng dính vật gì, thì khi đó gọi là Ngộ…”…

Ngộ tức là Kiến Tánh, là mục tiêu cốt tủy của Tổ Sư Thiền.

Nhà Phật cho rằng vì một niệm vô minh bất giác khiến cho trùng trùng duyên khởi, “Tự Tâm trở lại buộc Tự Tâm, không phải Huyễn mà thành pháp Huyễn”, tự Tâm cũng nghĩa là Bản Tâm, bỗng bị cuốn vào cơn xoáy của vọng tâm sinh diệt liên tục gọi là dòng thường lưu suy tư luân chuyển không lúc nào ngưng.

Nay muốn Ngộ lại Bản Tâm, còn gọi là Kiến Tánh, thì dòng thường lưu tư tưởng phải chợt ngưng bặt, dù chỉ trong một khoảnh khắc, đó là lúc Bản Thể Chân Tâm tự hiển lộ, điều mà tu viện Thiền Tào Động trên núi Shasta gọi là manifest itself.

Vào thời gian đầu của Tổ Sư Thiền, người tu chưa cần tới công án. Các bậc thày chỉ nói lên một câu nào đó rất là khó hiểu, khiến cho người đệ tử cứ thắc mắc hoài, đi đứng nằm ngồi không buông ra được, thí dụ một nhà sư hỏi Triệu Châu:

– ” Muôn pháp về một, một về chỗ nào?”.

Triệu Châu trả lời:

– ” Khi ở Thanh Châu, tôi có may được cái áo nặng 7 cân”.

Câu trả lời không ăn nhập gì với câu hỏi, rất bất ngờ này, là cơ xảo của bậc thày, hoàn toàn ra ngoài dự đoán của người nghe. Nó có thể gây nên sự sửng sốt khiến cho vọng tâm sinh diệt của đương cơ đang miên man trôi chảy bỗng khựng lại, hoặc nếu tâm hành giả chưa chín mùi thì câu trả lời vô nghĩa cũng gây nên một khối nghi, hành giả ôm khối nghi đó cho đến khi ngưng bặt tâm ý thức, rồi nếu có một đột biến nào xảy ra, thí dụ tiếng sỏi chạm, ly bể, sét đánh, vân vân, hành giả sẽ bỗng nhiên bừng tỉnh.

Sau này, dường như các cơ xảo không còn khiến cho người nghe cảm thấy ngạc nhiên, ngơ ngác nữa, cho nên chư Tổ Sư mới phải chế ra những câu hỏi vô nghĩa, không thể dùng tâm ý thức mà trả lời được, thí dụ:

– “Con trâu chui qua cửa, đầu và thân đều lọt, tại sao cái đuôi không lọt?”.

Câu hỏi vô lý như thế nhưng do một bậc thày đáng kính hỏi, người đệ tử không thể coi là trò đùa, và cứ thế mà nghiền ngẫm. Trong khi nghiền ngẫm như vậy thì tâm ý thức giảm hoạt động dần, cho đến khi thành khối, gọi là nghi đoàn, rồi khi tình cờ gặp một đột biến nào đó, khối nghi tan rã, hành giả bừng tỉnh, tức là Kiến Tánh, là Ngộ.

Để quý thính giả có thêm tài liệu về công án trong sự tu Tổ Sư Thiền, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một đoạn trích trong cuốn Thiền Luận bộ Trung, nguyên tác Essays in Zen Buddism, do tiến sĩ Daisetz Teitaro Suzuki biên soạn và thượng tọa Thích Tuệ Sỹ dịch ra Việt ngữ.

…”… Đại Huệ là một đại luận sư về công án của thế kỷ XII. Một trong những công án lừng danh của sư là VÔ của Triệu Châu, nhưng sư cũng có một công án riêng của mình. Sư thường mang cây gậy trúc ngắn đưa ra trước chúng tăng và bảo:

– “Nếu các ngươi gọi đây là cây gậy, hãy nói là phải. Nếu các ngươi không gọi nó là cây gậy, hãy nói là không phải. Ngoài cái phải và không phải, các ngươi sẽ gọi nó là gì?”.

Trong trích dẫn sau đây rút ra từ các bài pháp của ngài nhan đề Đại Huệ Phổ Thuyết, ngài còn nêu lên một công án khác cho vị tăng thị giả của mình là Tịnh Quang.

– “Pháp không do kiến văn giác tri mà thấu triệt. Nếu pháp do kiến văn giác tri mà thấu triệt, thì đấy chỉ là kiến văn giác tri mà thôi, hoàn toàn không phải là cầu pháp. Bởi vì pháp không ở nơi những cái mà người ta nghe từ kẻ khác hay học tập bằng thế trí.

Bây giờ, ngươi hãy bỏ đi những gì thấy, nghe và suy nghĩ, mà thấy những gì trong chính ngươi. Chỉ có chân không, vô vật, không thể bắt nắm được, không thể nghĩ tưởng đến được. Tại sao? Bởi vì đó là nơi siêu việt giác quan. Nếu giác quan mà với tới nơi này được, thì đó là cái có thể nghĩ tưởng có thể bám víu, và như vậy, nó nằm trong vòng sống chết.

Điều cốt yếu là khép chặt các giác quan, và biến tâm thức thành như một khúc cây. Khi khúc cây này đột nhiên trỗi dậy và khua vang, ấy là ngươi như sư tử cất tiếng rống tự do, tự tại không ai quấy phá, hay như một con voi vượt qua sông, chẳng e dè dòng nước chảy xiết. Đấy là lúc không còn dao động, không còn tạo tác, không có gì hết. Trưởng lão P’ing T’ien nói :

Trời trong không mây mù

Đạo thường tồn miên viễn

Ai bước vào cửa này

Không học, không luận biện

Nhà ngươi phải biết rằng do kiến văn giác tri mà bước vào đạo và cũng do kiến văn giác tri mà không bước vào được. Nếu ngươi muốn mình là một vị thầy tự tại của chính mình, hãy dứt bỏ kiến văn giác tri, hãy kềm lại cái tâm leo trèo như vượn, đừng để làm bậy, hãy bắt nó đứng yên, hãy kiên quyết chú tâm vào bất cứ những gì ngươi đang làm – đi đứng hay nằm ngồi, im lặng hay nói năng; hãy giữ tâm ngươi như một sợi dây căng thẳng; đừng để nó vuột khỏi tay mình. Ngay khi nó vuột khỏi vòng câu thúc, ngươi sẽ thấy nó lao đầu vào nơi kiến văn tri giác.

Học Thiền phải đi đến chung cùng là Chứng Ngộ. Các bậc tôn túc của Thiền cũng  vậy; bởi vì chúng ta chỉ biết rõ sự thành đạt đích thực của Thiền khi nào chúng ta Chứng Ngộ. Hãy nghĩ nhớ công án dù đang làm bất cứ việc gì, dù là ngày hay đêm.

Một thầy tăng hỏi Triệu Châu “Con chó có Phật tính không”. Triệu Châu nói Vô. Hãy chú tâm vào chữ Vô này và hãy nhìn xem cái gì nằm trong đó.

Đến lúc tâm đã định, ngươi sẽ thấy công án chẳng có mùi vị gì hết, nghĩa là chẳng có đường lối phân biệt nào để dò vào trong lòng của nó.”

Nơi khác, Đại Huệ nói: “Hãy kiên trì công án trong suốt cả bình sinh. Nếu một niệm khởi lên, đừng cố ý dẹp xuống, mà cứ cố giữ công án hiện tiền với tâm. Dù khi đi khi đứng hay nằm ngồi, chú tâm không gián đoạn. Đến khi bắt đầu thấy nó không còn hương vị gì hết, ấy là lúc thời cơ quyết định đang đến, đừng để nó vuột mất. Đến khi một vật đột nhiên chớp lên trong tâm ngươi, ánh sáng của nó sẽ sáng rực cả vũ trụ…”…

Thưa quý thính giả,

Trên đây là lời dạy của thiền sư Đại Huệ. Chúng tôi cũng xin trình với quý vị lời dạy của thiền sư Thích Duy Lực, như sau:

… “…Công án là một chuyện tích chẳng thể dùng bộ óc để lý giải, làm cho thiền giả cảm thấy thắc mắc mà phát khởi nghi tình, gọi là công án.

Mục đích của Phật và chư Tổ khi sử dụng công án là cốt để đương cơ ngay đó hoát nhiên trực ngộ. Nếu ngay đó chưa ngộ được, thì tất nhiên phát ra nghi tình, rồi do nghi tình đó, sau này sẽ được ngộ. Chứ không phải muốn người nghe hiểu theo lời nói văn tự. Nếu hiểu theo lời nói văn tự là trái ngược với ý chỉ của Thiền tông, lại đóng bít cửa ngộ của người hành giả, vĩnh viễn không thể chứng ngộ.

Nay xin hành giả tham thiền khi đọc đến chỗ không hiểu chớ nên dùng ý thức để nghiên cứu tìm hiểu. Cần phải ngay chỗ không hiểu phát khởi nghi tình, và luôn luôn giữ mãi cái nghi tình đó thì sẽ được “từ Nghi đến Ngộ”, đúng như lời Phật dạy vậy….”…

Thiền sư Thích Duy Lực là một trong số các bậc tôn túc hoằng truyền Thiền Đốn Ngộ. Thày dạy về tham công án và thoại đầu. Thày dạy rằng mặc dầu có tới 1700 công án, nhưng không phải giải được nhiều công án là sẽ giác ngộ. Trái lại, chỉ càng làm cho tâm ý thức hoạt động thêm, càng xa đạo mà thôi.

Thày dạy rằng nếu tham một công án hoặc thoại đầu mà tâm thành khối, rồi do một cơ duyên nào đó mà chợt bừng tỉnh, Kiến Tánh, thì sẽ thấy rằng mục tiêu của tất cả các công án cũng đều giống nhau, cũng để chặn đường đi của ý thức, tâm viên ý mã mà thôi.

Thưa quý thính giả,

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 14 – Cúng dường Trai Tăng – Vấn đề người lạy người

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Hằng năm, trong khoảng từ ngày Phật Đản cho tới lễ Vu Lan, là thời gian chư Tăng Ni nhập Hạ, nghĩa là vào mùa Hạ, chư vị tu sĩ ở rải rác tại nhiều địa điểm cùng vân tập về một nơi, thường là một ngôi chùa lớn, để tích cực tu học, không bước chân ra khỏi khuôn viên nhà chùa.

Khởi đầu mỗi khóa Hạ là ngày Phật Đản, nhằm ngày Rằm tháng Tư Âm Lịch và kết thúc vào ngày lễ Vu Lan, nhằm ngày Rằm tháng Bảy Âm Lịch. Thời gian này còn gọi là mùa An Cư kiết Hạ. Tuy chỉ có ba tháng, nhưng là ba tháng tích cực tu học, cho nên nhà Phật tính ba tháng này là một tuổi Hạ.

Để rõ nghĩa vấn đề “tuổi Hạ” này, chúng tôi xin trích dẫn lời dạy của hòa thượng Thích Thiện Siêu như sau:

…”… Ngày Rằm tháng Bảy còn được gọi là ngày Tăng Thọ tuế. Thọ tuế là nhận tuổi. Theo thế gian, nếu cha mẹ sinh ra đủ năm 12 tháng thì mới gọi là tròn một tuổi. Nhưng trong luật Phật chế, hàng xuất gia thọ giới của đức Phật không tính tuổi theo năm tháng kiểu thế gian trên — mà tính tuổi theo hạ lạp. Nghĩa là năm nào có an cư kiết hạ được trọn vẹn thì được tính một tuổi. Thí dụ: Vị nào an cư kiết hạ từ 15 tháng Tư đến 15 tháng Bảy âm lịch là mãn hạ, như vậy được tính một năm hạ, tức một tuổi hạ. Ai đã thọ Cụ túc giới nhưng không an cư thì không tính tuổi hạ, còn ai kiết hạ an cư liên tục thì được tính nhiều tuổi hạ.

Cho nên chúng ta thường nghe ở các chùa khi đọc tiểu sử của một vị Tăng nào viên tịch, thường nhắc đến tuổi đời và hạ lạp. Thí dụ vị đó 80 tuổi đời và 60 hạ lạp, nghĩa là vị đó có tuổi cha mẹ sinh là 80 năm, còn tuổi hạ là 60 hạ lạp. Hạ lạp được tính vào ngày rằm Tự tứ, tức là rằm tháng 7, sau khi đã tu hành tròn ba tháng hạ.

Tuy nhiên, cũng có trường hợp, đúng theo Luật Phật chế, 20 tuổi thì được thọ giới Tỷ-kheo, nhưng vì thiếu duyên, có vị 25 tuổi mới thọ giới Tỷ-kheo và sau khi thọ giới mỗi năm đều có kiết hạ. Nếu vị ấy viên tịch vào tuổi 70, thì vị ấy được 45 tuổi hạ và 70 tuổi đời. Nếu một vị Tỷ-kheo thọ giới rồi mà không an cư lần nào cả thì coi như vị ấy hoàn toàn không có tuổi hạ, khác với cha mẹ sinh ta ra, dù ta có làm hay không làm gì đi nữa, hoặc giả có ngủ cả năm đi nữa thì tròn một năm cũng vẫn được tính tuổi từng năm một.

Trái lại, vị Tỷ-kheo thì phải có kiết giới an cư thì mới nhận tuổi, còn không an cư, thì không tính hạ lạp, cũng gọi là giới lạp, pháp lạp…”…

Thưa quý thính giả,

Truyền thống an cư kiết hạ này bắt nguồn từ thời đức Phật tại thế. Vào thời đó, chư tăng Ni không nấu ăn, mà mỗi buổi sáng, chư vị cùng nhau ôm bình bát đi khất thực đủ cho bữa trưa, gọi là Ngọ Trai. Ngoài việc đó, tất cả thời giờ đều tận dụng vào việc hành Thiền, thanh lọc thân tâm với mục tiêu giải thoát.

Nhà Phật coi sự khất thực như thế là việc tốt cho cả giới tu sĩ và dân chúng. Đối với tu sĩ thì việc khất thực chỉ đủ ăn từng ngày sẽ khiến cho quý vị ấy xả bỏ thói quen tích lũy, nguồn gốc của tâm Tham, lại dùng được tất cả thời gian trong cuộc đời để miệt mài tu tập, không bị chia trí.

Đối với dân chúng thì sự kiện cúng dường chư Tăng Ni sẽ tạo thói quen tốt cho hạnh tu bố thí, xả bỏ.

Thế nhưng tại Ấn Độ vào mùa Hạ thì lại mưa nhiều, nên khí hậu và đất đai rất ấm thấp. Do đó, côn trùng sinh trưởng khắp mặt đất. Vì lòng từ bi tỏa rộng tới cả muôn loài chúng sinh, đức Phật muốn tránh mọi sự đau đớn, nên Ngài chế ra khoảng thời gian chuyên tâm tu học trong một địa điểm, gọi là an cư kiết Hạ,để tu sĩ không đi ra ngoài, không giẫm đạp lên các sinh vật nhỏ bé bò lê la dưới đất.

Vào thời đó, thực phẩm của chư Tăng Ni hoàn toàn trông vào sự khất thực hằng ngày. Nay vì phải ở lại trong chùa, không thể đi ra ngoài khất thực, nên dân chúng thân hành mang phẩm vật lên chùa để cúng dường chư vị Tăng Ni, trong tinh thần tứ chúng đệ tử Phật hỗ trợ lẫn nhau, chư Tăng Ni bố thí các lời dạy gọi là Pháp thí và dân chúng bố thí phẩm vật để chư vị thọ dụng gọi là Tài thí. Sự bố thí này được dùng bằng từ ngữ cung kính gọi là cúng dường.

Truyền thống đó vẫn được tứ chúng Phật tử gìn giữ và thực hành suốt chiều dài của lịch sử Phật giáo từ trên hai ngàn rưởi năm nay.

Để quý thính giả có thêm tài liệu về tinh thần liên đới trách nhiệm giữa tứ chúng đệ tử của đức Phật, là chư Tăng, chư Ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một bài phân tích rất minh bạch của Ni Sư Thubten Chodron, trích từ cuốn Buddhism for Beginners.

Ni sư là người Hoa Kỳ, đã viết nhiều sách giảng dạy Phật pháp như Open Heart & Clear Mind, How to Free Your Mind, Taming the Monkey Mind, Cultivating a Compassionate Heart, Blossoms of the Dharma, vân vân….

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói về cuốn sách này như sau:

“Cuốn Buddhism for Beginners được viết cho người muốn tìm hiểu những điều căn bản nhất của đạo Phật, và cách ứng dụng những điều căn bản đó vào đời sống hằng ngày. Nó sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho độc giả”.

Câu hỏi trong cuốn sách là:

– Xin cho biết về sự liên hệ giữa chư Tăng Ni và các cư sĩ Phật giáo?

Ni Sư Thubten Chodron đáp:

– Như đức Phật đã quy định, bổn phận của chư Tăng, Ni, là giữ gìn trọn vẹn giới luật đã nguyện hứa, đồng thời học và thực hành Phật pháp, rồi đem sự hiểu biết đó hướng dẫn lại cho Phật tử tu hành.

Về phần giới cư sĩ Phật tử thì cung cấp những sự cần thiết cho đời sống của người tu sĩ, như nơi cư trú, y phục, thực phẩm và thuốc men. Sự phân nhiệm này có mục đích dành cho giới tu sĩ có nhiều thì giờ để chuyên tâm học hỏi và hành thiền, để họ mau tiến bộ trên đường tu tập, để rồi qua sự tiến bộ của họ, sự truyền dạy giáo pháp lại cho giới cư sĩ cũng đạt được nhiều hiệu quả.

Mối quan hệ này đã lưu truyền trong khắp các truyền thống Phật giáo, dù khác hình thức.

Tại các tu viện Thiền Tông ở Trung Hoa, làm lụng ngoài đồng được coi là một phần của việc tu hành, chư Tăng, Ni phải làm ruộng, học giáo lý và tu tập thiền.

Tại Thái Lan thì lại khác, vì lời hứa khi thọ giới là không cất giữ tiền bạc được thi hành triệt để, nên cư sĩ Phật tử không những chỉ cung cấp tứ sự cúng dường gồm nơi ở, y phục, thực phẩm và thuốc men, mà còn nhận lãnh luôn cả những việc lao động khác trong tu viện, để giúp chư tăng ni chuyên tâm tu hành.

Tại Châu Á, chư Tăng, Ni thường được giới cư sĩ Phật tử kính trọng và săn sóc chu đáo, vì Phật tử tại những nơi đó vốn có truyền thống tôn quý Phật pháp. Dù là vậy, tu sĩ nên tự coi mình như những người phục vụ, để không trở thành kiêu ngạo khi được Phật tử cung kính cúng dường. Nếu tu sĩ lại nổi lên tâm kiêu ngạo khi hưởng sự cung kính, thì đường tu của chính họ lại bị thoái hóa.

Tại phương Tây thì mối quan hệ giữa giới tu hành và giới cư sĩ vẫn còn chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng dân chủ, và ít phân chia giai cấp, vốn sẵn có trong bản chất của các xã hội Tây Phương. Như thế cũng có điều lợi, mà cũng có điều bất lợi. Thí dụ, người tu sĩ Tây Phương không luôn luôn được tu viện, hoặc nơi họ cư ngụ, cung cấp đầy đủ về mặt tài chính, cho các chi phí trong đời sống. Kết quả là có những Tăng Ni phải kiếm thêm việc làm bên ngoài, để có đủ tiền chi tiêu cho những nhu cầu cần thiết của bản thân. Có người kiếm đủ sống qua ngày, nhưng khi ốm đau, hoặc muốn đi tầm sư học đạo, hoặc tham dự những khóa thiền thất, thì họ sẽ gặp khó khăn về chuyện tiền bạc….”…

Thưa quý thính giả,

Như thế, truyền thống cúng dường vốn là một tập tục rất quan trọng và tốt đẹp của nhà Phật. Cúng dường cũng chính là bố thí, chỉ khác nhau ở danh xưng. Về sự khác trong danh xưng và ý nghĩa sâu xa của bố thí, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một bài pháp của thượng tọa Thích Nhất Chân, phân tích rõ ràng như sau:

… »… Cúng dường và bố thí vốn cùng một nghĩa “cho“. Cái gì của mình mà có thể đem ra “cho” người khác, thì gọi là “cho“.

Cũng cùng một nghĩa, song tùy theo trường hợp hay hoàn cảnh mà nghĩa “cho” này có những tên gọi khác nhau. Thông thường thì chỉ gọi là “cho“, trường hợp khác thì gọi là “tặng“, đôi khi gọi là “biếu“. Riêng danh từ “bố thí” được dùng để chỉ trường hợp “cho” những người bần cùng nghèo khổ. Và trường hợp khi một người Phật tử đem những gì của mình ra “cho” Tam Bảo, vốn là nơi nương tựa của mình, thì gọi là “cúng dường“.

Còn nghĩa “tặng” là “cho”  giữa những người ngang hàng với nhau, “cho” để kết tình thân hay cốt để gây một ấn tượng tình cảm tốt đẹp mà thôi, thì gọi là “tặng“.

Trong thế gian không có nghĩa “cúng dường“, song có nghĩa “bố thí“. Tuy nhiên nghĩa “bố thí” trong Ðạo không giống với nghĩa “bố thí” của thế gian.

Ðạo pháp không nhìn “bố thí” theo chiều hướng “kẻ cả” hay “ra ân” mà theo một chiều hướng tâm linh rất thâm sâu, bao gồm nhiều ý nghĩa của Ðạo. Chúng ta hãy khảo sát một cách tổng quát về nghĩa Ðạo của bố thí như sau :

Bố thí gồm có ba thành phần chính : một là người cho, hai là vật để cho và ba là người nhận. Thiếu một trong ba thành phần này thì pháp bố thí sẽ không thành lập được. Trong ấy, vật để cho là mối liên kết giữa người cho và kẻ nhận. Vật này trước hết phải thuộc quyền sở hữu của người cho. Đem cho một vật không phải của mình, thì không thành nghĩa bố thí được. Sau khi cho, vật ấy thuộc về người nhận, và người cho không còn quyền hạn gì đối với vật ấy nữa.

Cho như thế có nghĩa là “xả bỏ” các sở hữu của mình, xả bỏ những gì mà mình có.

Tại sao lại phải xả bỏ các sở hữu của mình ?

Con đường giải thoát trong Ðạo Phật cho thấy rằng sự hiện hữu của mỗi hữu tình chúng ta là một sự ràng buộc trói chặt chằng chịt vào nhau.

Cái tâm thức mà là chúng ta một khi đã trói dính vào thân này, thời phải trói dính vào quần áo, nhà cửa, đồ ăn thức uống v.v… để nuôi dưỡng và duy trì thân này.

Một khi tâm thức ấy đã trói chặt vào thân ấy và cho đó là Tôi, thì nó sẽ trói chặt luôn vào vợ tôi, con tôi, nhà cửa gia sản của tôi, bạn bè thân quyến của tôi…

Khi Ðạo pháp nói rằng chúng ta bị trói dính vào luân hồi biến chuyển đau khổ, chúng ta không được giải thoát, tức có nghĩa là chúng ta, hay đúng hơn cái tâm thức mà là chúng ta, bị trói chặt vào thân này và các sở hữu khác của nó.

Thế nên giải thoát có nghĩa là cởi tâm thức ra khỏi các trói chặt của thân và các sở hữu. Tâm thức tự trói mình vào các thứ ấy bằng tâm ái luyến, nên chính tâm thức cũng phải tự cởi mình ra bằng tâm thoát ly hay tâm xả bỏ các pháp sở hữu ấy….. »…

Thưa quý thính giả,

Trong một bài trước, chúng tôi đã trình với quý vị rằng “… các vị Sư trong nhà Phật được tôn là Trưởng Tử Như Lai, là con lớn của đức Phật — với ý nghĩa về mặt tinh thần – có nhiệm vụ dìu dắt các em ra khỏi bến mê.

Trưởng Tử Như Lai là người noi theo gương giáo hóa chúng sinh của đức Phật, làm công việc đức Phật ủy thác, là Đạo Sư. Cho nên chúng tôi đã thưa rằng từ ngữ Sư trong nhà Phật rất cao quý. Sư là Thày dạy đạo, đưa chúng sinh ra khỏi biển khổ sinh tử, chấm dứt trôi nổi trong vòng luân hồi. Vì sứ mạng cao quý như thế cho nên trong đạo Phật, địa vị của Tăng Ni được coi rất trọng. Nhiệm vụ của Phật tử, gọi là cận sự, tức cư sĩ, là phải cung kính cúng dường chư Tăng Ni  4 món cần thiết trong đời sống, gọi là “Tứ sự cúng dường” gồm y phục, thực phẩm, nơi ở và thuốc men.

Tại sao lại phải đặc biệt cung kính khi cúng dường?

Đó là để tỏ rõ lòng tôn kính vị Sư, bậc Thày dẫn dắt ra khỏi bến mê, bước lên bờ giác, chấm dứt mọi nỗi đau khổ. Cho nên đôi khi chúng ta trông thấy trong những buổi lễ dâng y, hoặc trai tăng, thí chủ dâng lễ vật đồng thời còn xụp lạy những Tăng Ni thọ nhận, cũng là vì theo truyền thống cung kính cúng dường.

Chung quanh vấn đề “xụp lạy giữa người và người” này, đã nảy sinh ra một số suy nghĩ lấn cấn, có lẽ chúng ta cũng nên biết tới.

Giới chủ trương duy trì sự “người lạy người” thì cho là lạy như thế để mài tâm, xả bỏ sự kiêu ngạo, rèn luyện đức khiêm cung.

Giới không đồng ý thì cho rằng lạy trong trường hợp này là Phật tử lạy các vị Sư, cho là lạy sẽ được phước. Như thế thì không có sự “mài tâm” trong đây, mà là một dấu hiệu của tâm Tham tiềm ẩn. Sự kiện lạy một vị trung gian tâm linh, vốn là biểu tượng của thế giới huyền bí, ở một vị trí có thể ban phúc giáng họa, thì không thể làm cho người lạy trở thành khiêm cung, mà có lẽ chỉ tăng trưởng nỗi sợ sệt, hoặc lòng ham muốn được phước mà thôi.

Nhìn những cụ già mái tóc bạc phơ, quỳ ngoài sân xì xụp lạy để tác bạch lên chư Tăng Ni ngồi bên dẫy bàn ăn trong buổi lễ cúng dường Trai Tăng, người ngoài cuộc cảm thấy trong lòng sao mà bất nhẫn quá.

http://www.youtube.com/watch?v=zhSfFp4XemM

Những quang cảnh giống như đang sống trở lại thời phong kiến ấy liệu sẽ có ảnh hưởng vào tâm trí giới trẻ, khiến cho họ cảm thấy xa lạ với sinh hoạt của nhà chùa chăng?

 Nhân đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện thiền nói về thái độ của kẻ cho và người nhận, trích dịch từ cuốnCollection of Stone and Sand”, do thiền sư Muju viết bằng Nhật ngữ, Paul Reps dịch sang Anh Ngữ, câu chuyện như sau:

“Vào thời đại Kiếm Thương, trong thời gian làm trụ trì tại thiền viện Engaku thuộc tỉnh Kamakura, (một trong số những thiền viện quan trọng nhất thuộc hệ thống thiền viện của Nhật Bản, nơi có quả đại hồng chung Ôgune danh tiếng cao 2 mét rưỡi), thiền sư Seisetsu yêu cầu được cung cấp một khu vực lớn hơn, vì nơi ông đang giảng dạy có quá đông người theo học nên rất chật chội.

Một thương gia ở Edo tên là Umezu Seibei quyết định cúng dường 500 đồng tiền vàng ryo để xây trường học mới rộng rãi và tiện nghi hơn. Ông ta đem số tiền vàng tới đưa cho thiền sư Seisetsu. Thiền sư thản nhiên nói gọn lỏn:

– Được rồi, tôi sẽ nhận.

Thương gia Umezu đưa ra túi tiền vàng mà trong lòng rất lấy làm bất mãn trước thái độ của thiền sư. Ông ta nghĩ thầm: ”Chỉ với 3 đồng tiền vàng này, một người có thể sống trọn một năm, thế mà một lúc đưa ra tặng tới 500 đồng mà không nhận được một lời cảm ơn”. Bực mình, ông ta lên tiếng nhắc:

– Trong cái túi có 500 đồng tiền vàng ryo đấy.

Thiền sư trả lời:

– Ông đã nói điều đó với tôi rồi mà.

Umezu nói:

– Dù tôi là một thương gia giầu có, nhưng 500 đồng ryo là một số tiền lớn.

Thiền sư Seisetsu hỏi:

– Thế ông muốn tôi cảm ơn ông hả?

Umezu trả lời:

– Đó là việc ông nên làm.

Thiền sư hỏi lại:

– Ủa, sao lại là tôi? Người đem cho phải cảm ơn chứ? “

Thưa quý thính giả,

Có câu: “Kẻ  “cho” “được hưởng ” nhiều hơn người nhận”. Đúng là như vậy. Người nhận chỉ được chút vật chất. Người cho được toàn bộ niềm vui về tinh thần, được hưởng dư âm của niềm an lạc về hành động cao quý của mình.

Thế nên, như vị thiền sư đã nói, “người đem cho” phải cảm ơn “người nhận”. Đúng vậy, vì “người nhận” đã trải phước điền, là ruộng phước, để “người đem cho” trồng cây phước.

Nhưng một sự cung kính cúi đầu, một lời cảm ơn nhau cũng tạm coi như là đủ, chúng ta thử xét lại xem có cần thiết phải xì xụp lạy như đám vua quan lễ lạy nhau trong thời buổi phong kiến lạc hậu khi xưa chăng?

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Tuệ Đăng (ĐPK)

Bài 13 – Tâm được tịnh rồi, tội liền tiêu

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Như chúng tôi đã trình bày trong các kỳ phát thanh trước, cốt tủy tất cả những lời dạy trong quá trình giáo hóa chúng sinh được đức Phật tóm tắt bằng tuyên ngôn:

– “Này chư Tỳ kheo, bây giờ cũng như trước đây, Như Lai chỉ dạy về “Khổ” và về “Con Đường Diệt Khổ”.

Để có thêm tài liệu về “Khổ” và “Con Đường Diệt Khổ”, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một bài pháp của hòa thượng K. Dhammananda trích từ cuốn Gems of Buddhist Wisdom, do thượng tọa Thích Tâm Quang dịch.

Hòa Thượng K. Dhammananda, sanh năm 1919 tại một làng quê thuộc tỉnh Matara phía nam Sri Lanka. Ngay khi còn nhỏ, ngài đã hâm mộ Phật giáo. Nhờ có người cậu trụ trì tại ngôi chùa địa phương nên ngài được thọ giới Sa Di vào năm 12 tuổi, với pháp danh là “Dhammananda” có nghĩa là Pháp Hỷ.

Ngài là người siêng năng học tập, tốt nghiệp Ngôn Ngữ Học, Triết Lý, và Quy Tắc Pali Viện Đại Học Vidyalankara Pirivena, Sri Lanka, năm 26 tuổi và năm 30 tuổi, tốt nghiệp Cao Học Triết Lý Ấn Độ tại Viện Đại Học Beneres, Ấn Độ. Ba năm sau, ngài được cử đi hoằng pháp tại Mã Lai.

Vào các thập niên 50 và 60, Phật Giáo bị giới trí thức Trung Hoa tại Mã Lai rất coi thường vì họ nghĩ rằng Đạo Phật chỉ gồm những trò mê tín dị đoan. Qua Hội Truyền Bá Giáo Lý Phật Đà, ngài đã phát hành các tài liệu, các loại sách về mọi phương diện của Phật Giáo và kết quả là một số đông đã nhận thức được giáo lý chân chính của Đức Phật.

Ngài trước tác khoảng gần 50 cuốn sách luận giải kinh điển và về các vấn đề giáo dục theo quan điểm của nhà Phật, vốn rất thâm áo, khó hiểu, trở thành đơn giản, khiến cho không những chỉ có các bậc học thức uyên bác mà cả đến giới bình dân cũng nhờ ngài mà cũng có thể hiểu được ý kinh.

Những sách của ngài đã chuyển hóa tư tưởng của các giới thanh niên và trí thức. Qua những bài giảng và nhất là những cuốn sách ngài viết bằng Anh ngữ mà nhiều độc giả Tây Phương cũng có dịp thâm nhập được vào tinh hoa của đạo Phật.

Hòa thượng Dhammananda viên tịch tháng Tám năm 2006, hưởng thọ 87 tuổi, trong số đó có 75 năm sống cuộc đời thanh tu, tận tụy hoằng truyền chánh pháp, được suy tôn là một Trưởng Tử Như Lai gương mẫu.
Sau đây là bài pháp trích trong cuốn Gems of Buddhist Wisdom, do thượng tọa Thích Tâm Quang dịch ra Việt ngữ:

…”… Nếu chúng ta suy ngẫm sâu xa, chúng ta phải đồng ý với khái niệm đời là khổ đau. Chúng ta đau khổ cả thể chất lẫn tinh thần ở bất cứ lúc nào. Ta có thể tìm được người nào trên thế giới này thoát khỏi được cái đau đớn thể chất và tinh thần không? Quả là khó khăn. Cả đến những người đạt tới bậc thánh cũng không thoát khỏi cái đau đớn thể xác chừng nào mà họ còn mang xác thân vật chất.

Nếu có ai hỏi:

– “Ðiều gì bất trắc nhất trên thế giới này?”

Câu trả lời đúng phải là:

-“Ðời sống là điều bất trắc nhất”.

Tất cả mọi thứ ta làm trên cõi đời này đều là để thoát khỏi khổ đau và cái chết. Nếu chúng ta buông lung chỉ một giây, cũng thừa đủ để chúng ta mất nó. Hầu hết tất cả những thói quen hằng ngày như làm việc, ăn, uống, dùng thuốc men, ngủ và đi lại, đều là những phương cách và phương tiện chúng ta áp dụng để tránh khổ đau và cái chết. Mặc dù thỉnh thoảng chúng ta kinh qua một vài lạc thú trần tục thỏa mãn ham thích của mình nhưng ngay sau đó chính lạc thú ấy có thể biến thành khổ đau

Tất cả mọi thứ trong đời sống của chúng ta đều luôn luôn thay đổi và bất như ý. Do đó Ðức Phật đã giải thích chừng nào mà ta còn tham muốn dục lạc trần thế thì chúng ta không thể tránh khỏi khổ đau thể chất và tinh thần..

Nhiều người tìm kiếm một đời sống bất diệt, nhưng trớ trêu thay những người đi tìm cái bất tử này lại thấy rằng đời đáng chán đến nỗi họ không biết làm gì để qua ngày!

Theo Ðức Phật, cái tham về bất tử này là một trong những nguyên nhân của tư tưởng ích kỷ và sợ chết.
Lão Tử, một đạo sư nổi tiếng Trung Hoa nói:

“Ta đau khổ vì ta có thân xác. Nếu ta không có thân thể chất này, làm sao ta có thể đau khổ được?”

Khi bạn nhìn thấy con người đau khổ đến mức nào trên thế giới này, bạn có thể nhìn thấy tình trạng thực sự của đời sống trần thế. Tại sao ta phải chịu đau khổ như vậy? Ai là người chịu trách nhiệm về những đau khổ ấy?

Theo Ðức Phật, mỗi người chúng ta chịu trách nhiệm về khổ đau của chính mình. Một thi nhân nói:

“Con thiêu thân bay vào lửa,
không biết mình sẽ chết.
Con cá nhỏ cắn lưỡi câu,
không biết mình bị nguy hiểm.
Nhưng dù biết rõ hiểm nguy
của những lạc thú tội lỗi trần tục,
ta vẫn bám chặt vào chúng,
Quả thật ta khờ dại đến chừng nào!”

Phật Giáo nhấn mạnh đời người rất ngắn ngủi và ta nên lưu tâm, tích cực hoạt động và lưu ý để được giải thoát.

Trong thi phẩm The Light of Asia, Sir Edwin Arnold đã viết:

“Nếu ai dạy:

– Niết Bàn là sẽ phải ngưng

Hãy nói với họ:

– Nói dối

Nếu ai dạy:

– Niết Bàn là sẽ phải sống

Hãy nói với họ:

– Sai lầm”

Ðịnh nghĩa trên đây đủ cho mọi người hiểu quan niệm đạt Niết Bàn, nơi đau đớn về thể chất và tinh thần không còn nữa, vì Niết Bàn nói lên sự chấm dứt khổ đau. Mục đích của toàn bộ cuộc đời là ngăn chặn, giảm bớt khổ đau và tìm hạnh phúc.

Phải nhớ rằng không ai bắt chúng ta phải làm một hành động đặc biệt nào đó. Không ai phạt hay thưởng chúng ta. Chúng ta có hoàn toàn tự do ý chí và chọn lựa…”…

Trên đây là bài pháp của hòa thượng Dhammananda trích trong cuốn Gems of Buddhist Wisdom, do thượng tọa Thích Tâm Quang dịch ra Việt ngữ.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi nhận được thư nêu thắc mắc về nội dung câu chuyện Thiền trong một kỳ phát thanh trước rằng “Tại sao người con nạn nhân lại có thể tôn kẻ đã giết cha mình lên làm thày”.

Do thắc mắc này, thiết nghĩ, đây cũng là một cơ duyên để chúng ta cùng nhau thảo luận về vấn đề tội lỗi và hình phạt, về nhân quả, báo ứng, về Sám Hối theo quan điểm của nhà Phật.

Để quý thính giả thấu triệt, chúng tôi xin nhắc lại câu chuyện Thiền đã là lý do cho đề tài tìm hiểu Phật pháp kể trên. Câu chuyện Thiền này Vy Khanh trích dịch từ cuốn Collection of Stone and Sand”, xuất hiện vào thế kỷ 13, do thiền sư Muju theo truyền thống Bắc Tông, viết bằng Nhật ngữ, tên là Shasekishu, dịch giả Paul Reps dịch sang Anh Ngữ, nội dung như sau:

“Trong cuộc hành trình tới tỉnh Edo, Zenkai, con trai của một hiệp sĩ Nhật, trở thành người hầu cận của một quan chức cao cấp tại đó. Zenkai ngoại tình với vợ của quan chức này và bị phát hiện. Để tự vệ, hắn ta giết vị quan rồi chạy trốn cùng với người vợ.

Sau này hai người trở thành những tên ăn trộm. Nhưng người đàn bà quá tham lam khiến cho Zenkai càng ngày càng khinh ghét đến phát ghê tởm. Cuối cùng không còn chịu nổi, Zenkai bỏ người đàn bà lại mà đi tới nơi xa, tận tỉnh Buzen, trở thành một người hành khất lang thang.

Để chuộc lại lỗi lầm trong quá khứ, Zenkai quyết tâm hoàn thành một vài việc thiện trong cuộc đời. Biết rằng có một con đường nguy hiểm cheo leo trên vách đá từng là nguyên nhân gây ra tai nạn chết và bị thương cho nhiều người, Zenkai quyết tâm mở một con đường hầm xuyên qua núi tại nơi đó.Ban ngày thì đi xin thực phẩm, ban đêm Zenkai mài miệt đào con đường hầm. Trải qua ba chục năm, con đường hầm dài được 2.280 feet, cao 20 feet và rộng 30 feet.

Hai năm trước khi hoàn tất công trình, người con trai của viên quan mà Zenkai giết khi xưa, nay đã trở thành một kiếm sĩ lão luyện, tìm ra được Zenkai và tới để trả thù nhà. Biết mục đích của khách lạ, Zenkai nói:

– Tôi sẽ sẵn sàng trao mạng sống của tôi cho anh. Chỉ xin hãy để cho tôi làm xong công việc này. Ngay hôm con đường hoàn thành, anh có thể giết tôi.

Người con trai đồng ý đợi tới ngày đó. Nhiều tháng trôi qua, Zenkai cứ miệt mài làm việc. Người con trai càng ngày càng thêm chán nản vì cái cảnh ăn không ngồi rồi, nên bắt đầu phụ giúp công việc đào hầm. Sau khi đã giúp Zenkai trên một năm, anh ta cảm thấy ngưỡng mộ ý chí mãnh liệt và nghị lực của Zenkai.

Cuối cùng thì con đường hầm cũng đào xong và mọi người có thể sử dụng nó để đi lại an toàn. Bây giờ Zenkai mới nói:

– Công việc của tôi đã hoàn tất. Hãy chặt đầu tôi đi.

Với đôi mắt đẫm lệ, người đàn ông trẻ nghẹn ngào:

– Làm sao con có thể cắt đầu vị thầy của chính con được?”

Thưa quý thính giả,

Chủ đề chính của câu chuyên Thiền này là vấn đề tội lỗi, hình phạt và sám hối.

Nhà Phật không quan niệm rằng có quỷ thần hai vai hay một dạng thức thần thánh nào đó từ bên ngoài ghi nhận các việc thiện ác của mỗi người ngõ hầu sau khi chết đương sự sẽ phải tới đâu đó để được phán xét coi sẽ phải chịu hình phạt đầy đọa tại một nơi ghê rợn nào đó, hoặc được hưởng gì theo lệnh ban xuống từ các đấng, các bậc gì đó chăng.

Nhà Phật cho rằng mỗi hành vi tạo tác trong cuộc đời con người ta đều để lại dấu ấn nơi kho chứa của chính mình, đó là Tàng Thức, là một trong tám Thức, theo tâm lý học của đạo Phật. Những dấu ấn đó sẽ trở thành chủng tử, tức là hạt giống, nảy nở thành thiện quả hoặc ác báo trong đời sống tương lai, có thể là tương lai ngay trong cuộc đời này, hoặc trong những kiếp sau, chi phối bởi luật nhân quả.

Như thế đối với nhà Phật, mỗi cá nhân sẽ nhận sự báo ứng tùy theo hành vi thiện ác của mình trong cuộc đời, nếu gây tội ác thì sẽ nhận lãnh quả báo tương xứng với tội ác mình đã gây ra trong quá khứ, nhưng không do một thế lực nào bên ngoài giáng xuống mà do chính sức bật của quy luật nhân quả mà thôi.

Đến đây, chúng tôi xin nhắc quý vị một điều đặc biệt tối quan trọng, đó là vấn đề Tâm của nhà Phật.

Đức Phật là bậc Giác Ngộ. Ngài giác ngộ cái gì? Xin thưa rằng Ngài giác ngộ lại được chính Bản Tâm, điều mà chư Tổ Thiền Tông gọi là Kiến Tánh.

Từ sự giác ngộ, Ngài trực nhận rằng chúng ta trôi lăn vào màng lưới sinh tử này là do một niệm mê từ biển Tâm dấy lên, gọi là khởi niệm huyễn vọng, rồi từ đó tạo Nghiệp, nhận quả báo, dòng đời trôi lăn miên viễn.

Nhưng Chân Tâm vốn là viên mãn, cũng như hoa sen dù mọc trong bùn mà không bị nhuốm mùi bùn. Một niệm Giác Ngộ thì mê vọng tan rã, cũng như người ngủ mê chợt tỉnh, như căn nhà tối hàng ngàn năm, thắp lên ngọn đèn là bóng tối tan biến.

Về điều này, đức Phật đã dạy rõ nơi kinh Viên Giác, hòa thượng Thích Duy Lực dịch như sau:

Huyễn từ bản giác sanh,
Huyễ­n diệt, giác viên mãn.
Bản giác vốn chẳng động,
Như tất cả Bồ Tát,
Và mạt pháp chúng sanh.
Thường nên xa lìa huyễn,
Các huyễn thảy đều lìa,
Như dùi cây lấy lửa,
Cây hết, lửa cũng diệt.

Thưa quý thính giả,

“Cây hết lửa cũng diệt” chính là ý của câu đức Phật nói khi ngài chứng ngộ, được ghi lại trong kinh Trung A Hàm là:

“… Tâm siêu thoát của ta không thể lay chuyển. Ðây là kiếp sống cuối cùng của ta. Từ đây ta sẽ không còn trở thành, không còn tái sanh…”

Trong các cuộc đàm luận Phật pháp, có một câu thường hay được nhắc đến, coi như danh ngôn, đó là “Kẻ cướp buông dao thành Phật”. Vì câu nói quá ngắn gọn, khiến cho một số người hiểu lầm. “Buông dao” trong câu này có hàm ý là buông cái tâm sát nhân, tâm bất thiện, chứ không phải chỉ buông con dao bằng vật chất trong khi tâm còn giữ nguyên những ý niệm xấu ác. Nếu chỉ buông con dao mà tâm ác vẫn còn thì lại có thể cầm kiếm, cầm súng vậy.

Tại các thời kinh của nhà Phật, đều có tụng lên bài kệ:

Tội từ tâm khởi, đem tâm Sám
Tâm được tịnh rồi, tội liền tiêu
Tội tiêu tâm tịnh, thảy đều Không
Ấy mới thật là Chân Sám Hối.

Tội nói ở đây tức là nghiệp báo.

Như bài kinh Viên Giác trên, chúng ta thấy tất cả pháp giới, tội phước, nghiệp báo, đều chỉ là huyễn, đều “Huyễn từ bản giác sanh”, vốn chỉ do nhân duyên giả hợp mà huyễn hiện thành ra như là có. Nghiệp sẽ là nhân chi phối dòng đời, lặn hụp trong biển sinh tử, nghiệp thiện thì hưởng quả thiện, nghiệp ác thì lãnh quả báo ác, như bóng đi theo hình, không thoát được cái vòng lẩn quẩn.

Nếu biết tỉnh ngộ mà theo các đường lối tu hành để chuyển nghiệp, từ xấu chuyển qua tốt, rồi từ tốt chuyển qua thanh tịnh, thì sẽ tiêu dung được nghiệp, ra khỏi dòng sinh tử triền miên.

Sám Hối là một trong những phương pháp tu để chuyển nghiệp. Sám Hối ở đây là “Tâm Sám”, tức là chuyển Ý nghiệp từ những tư tưởng xấu ác thành những tư tưởng lành thiện, rồi tới Thân nghiệp là thực hiện những việc lành thiện đó.

Kẻ sát nhân trong câu chuyện Thiền trên đã thực hiện trọn vẹn chu kỳ chuyển nghiệp. Trước hết là trong thâm tâm, ông ta Sám Hối chuyện ác đã gây ra trong quá khứ, và muốn chuộc tội bằng cách làm việc thiện.
Suốt ba chục năm trường, ông ta cần cù chỉ làm một việc là đào con đường hầm để giúp mọi người thoát tai nạn, cho đến khi con của nạn nhân tới trả thù, đòi chém đầu, ông ta cũng sẵn sàng chết cho anh này tròn bổn phận làm con, muốn báo thù cha, chỉ xin lưu mạng sống một gian ngắn đủ để hoàn tất con đường. Khi con đường đã xong, ông ta bèn nộp mạng. Như vậy, kẻ sát nhân đã buông dao, đồng thời buông luôn tâm ác, đó là trường hợp “Buông dao đồ tể thành Phật”.

Sau một thời gian chứng kiến hành trình chuyển hoá của kẻ sát nhân, trước mắt người con, hình bóng kẻ thù tàn ác đã biến mất, mà chỉ còn lại tấm gương sáng của một bậc thày miệt mài trên con đường bồ tát hạnh, quên mình, hy sinh bản thân vì lợi ích của chúng sinh, cứu chúng sinh khỏi bị tai nạn hiểm nguy trên con đường núi hiểm trở, mà thôi.

Nơi phẩm Bát Nhã, kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng đã dạy:

…”… Thiện tri thức, khi chưa ngộ thì Phật tức chúng sanh, lúc một niệm khai ngộ, chúng sanh tức Phật.”

Tâm chúng sinh thì vô thường, không cố định. Con đường giải thoát của nhà Phật rộng mở thênh thang, bất cứ ai phạm tội mà biết hối cải, chuyển hóa Tâm ác trở thành lành thiện, thì nghiệp dữ cũng theo đó mà hoán chuyển, khi “tâm được tịnh rồi tội liền tiêu.

Bản hoài của đức Đại Giác Bổn Sư Thế Tôn là dạy chúng sinh các pháp môn tu để tới được đích cuối cùng là “Tội tiêu Tâm tịnh thảy đều Không”. Không ở đây là Tánh Không, là Bản Thể Chân Tâm Giác Tánh, là Niết Bàn, là vĩnh viễn giải thoát, là Tận Diệt tất cả Khổ vậy.

Thưa quý thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới. Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 12 – Về ngày Đản Sinh Đức Phật

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý khán thính giả.

Thưa quý khán thính giả,

Chúng tôi nhận được thư của ông Phạm Văn Lâm ở tỉnh Orange gửi về, có kèm theo mấy câu hỏi như sau:

…”… Mỗi mùa Phật Đản hằng năm, tôi đều được nghe giảng tại chùa hoặc đọc trong báo chí về lịch sử chào đời của đức Phật. Có mấy sự kiện rất khó hiểu, nhờ quý vị giải thích giùm:

1 — Sự kiện thái tử Tất Đạt Đa được mẹ sanh ra qua ngả nách.

2 — Mới ra đời, thái tử đã bước bảy bước, có bảy bông sen đỡ dưới chân.

3 —  Sau đó, thái tử đứng lại, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, tuyên bố : ” Thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn”, rồi thái tử nằm xuống, trở về trạng thái đứa trẻ sơ sinh.

Tôi thấy chuyện sinh ra bằng nách rất không hợp lý, không phù hợp với cơ thể học. Mới ra đời đã biết đi, biết nói, chuyện này có vẻ huyền bí quá. Còn câu “duy ngã độc tôn” là để chỉ Chân Ngã phải không ạ ?

Thưa quý thính giả và ông Lâm,

Trước nhất, chúng tôi xin cảm ơn ông Lâm, đã gửi về mấy câu hỏi rất đặc biệt để chúng ta cùng nhau tìm hiểu.

Trong một bài trước, chúng tôi đã trích dẫn lời dạy của thiền sư Soyen Shaku như sau:

…”…đức Phật đã khẳng định rằng những điều Ngài dạy đều không có gì khác thường, chỉ đơn giản là những sự kiện rõ ràng mà ai cũng có thể kiểm chứng. Ngài dạy rằng không phải chân lý được mở ra cho chúng ta từ những nguồn xa lạ, bí hiểm, mà do chính chúng ta tự khám phá qua công năng hành trì thiền quán, thanh tịnh hóa tâm, điều mà bất cứ ai cũng có thể thực hiện được.

Ngài cũng nhắc chúng ta rằng niềm tin đạo Phật không phải là mê tín mà là nhận định sáng suốt, niềm tin đó là chân lý đã được thực nghiệm, kiểm chứng, chứ không phải là niềm tin từ một nguồn giả tưởng nào đó do được mặc khải.

Phải chăng đó chính là nguyên nhân đã kết thành hoa trái là lòng khoan dung, từ bi, bất bạo động của nhà Phật….”…

Trên đây là ý kiến của thiền sư Soyen Shaku.

Đức Phật cũng dạy chúng ta trong bài kinh Kamala đại ý rằng:

“- Đừng vội tin vào bất cứ điều gì chỉ vì đã nghe thấy.

– Đừng vội tin vào các truyền thống chỉ vì chúng đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

– Đừng vội tin vào bất cứ điều gì chỉ vì nó được nhiều người nói tới hoặc đồn đại.

– Đừng vội tin vào bất cứ điều gì chỉ vì nó được tìm thấy trong các sách vở.

– Đừng vội tin vào bất cứ điều gì chỉ vì nó được các bậc đạo sư hay các vị trưởng lão dạy bảo.”

– Nhưng sau khi quán sát và phân tích, khi đã thấy mọi thứ hợp với lẽ phải và đem lại lợi ích cho mọi người, thì hãy chấp nhận nó và sống phù hợp theo nó.”

Trong tinh thần đó, chúng ta tìm lời giải đáp cho ba câu hỏi trên của ông Lâm. Trước nhất, chúng ta mang câu chuyện trở về thời điểm được cho là nó đã xảy ra, là ngày chào đời của thái tử Tất Đạt Đa.

Nhưng thái tử chào đời ngày nào?

Đó là một câu hỏi mà cho tới nay vẫn chưa có câu trả lời chính xác.

Có sử liệu viết rằng:

….”…. Không có tài liệu chính xác về ngày sinh của thái tử Tất Đạt Đa và ngày nhập niết bàn của đức Phật. Phần đông sử gia thuộc cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 thì cho rằng thái tử chào đời vào khoảng năm 563 trước tây lịch và đức Phật nhập niết bàn vào khoảng năm 483 trước tây lịch. Nhưng gần đây, nhiều nhà sử học cho rằng ngài nhập niết bàn vào khoảng năm 410 hoặc 400 trước tây lịch, mặc dầu vẫn còn có những người giữ lập trường về ngày nhập niết bàn sớm trong khi những người khác thì cho là ngày trễ mới đúng. . 

Và có tài liệu viết rằng:

…”… Vào ngày trăng tròn tháng Tư năm 625 trước tây lịch, thái tử Tất Đạt Đa ra đời tại vườn Lâm Tì Ni. Ngay sau khi ra khỏi lòng mẹ, thái tử  bước 7 bước, mỗi bước có một bông sen đỡ lấy bàn chân …”…

Trong bài “Tìm hiểu ngày sanh của Đức Phật Thích Ca”, tác giả Nguyễn Phúc Bửu Tập đã viết:

… “ …truy tầm năm sanh của đức Phật rất khó, chưa ai tìm ra được dữ kiện chính xác, khó chối cãi, về năm sanh của đức Thích Ca. Về ngày sanh của đức Phật cũng vậy, chỉ dựa trên truyền thống…”….

Thưa quý thính giả,

Như thế, ngày hoặc năm sanh của đức Phật mà cũng không còn tìm ra được tài liệu chính xác, vậy thì những chuyện như “ra đời từ nách mẹ”, hoặc “mới sanh đã đi 7 bước”, hoặc ”mới sanh đã nói”, vân vân, chưa chắc gì trong thực tế đã từng xảy ra.

Nhà Phật có câu rằng:

“Kinh sách như ngón tay chỉ trăng, thấy trăng rồi thì quên ngón tay đi. Nếu coi ngón tay là mặt trăng là nhận lầm cả ngón tay và mặt trăng, không còn thấy được Chân Lý.

Trong cuốn Hé Mở Cửa Giải Thoát, hòa thượng Thích Thanh Từ dạy:

…“…Có một Phật tử hỏi chúng tôi rằng người xưa nói: “Y kinh giải nghĩa tam thế Phật oan, ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết”. Tại sao y kinh giải nghĩa mà oan ba đời chư Phật? Tại sao lìa kinh một chữ tức đồng ma nói? Ðây chúng tôi sẽ giải thích cho quý vị thấy rõ ý nghĩa của kinh điển đại thừa.

Kinh là lời của Phật, trong lời của Phật có khi Ngài nói trắng ra, có khi Ngài nói ẩn dụ, như vậy những chỗ Phật dạy ở trong ẩn dụ, nếu chúng ta giải trắng như những lời thường, đó là y kinh giải nghĩa, tam thế Phật oan.

Thí dụ như trong kinh Pháp Hoa, Phẩm Phổ Môn, là phẩm quý vị thường tụng nhất. Trong phẩm Phổ Môn có đoạn sau đây nói rằng: “Nếu có người cầu con trai, niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, sanh được con trai. Người muốn cầu sinh con gái, niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát sinh được con gái. Cho đến người niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát thì vào lửa không bị cháy, xuống nước không bị chìm”.

Như quý vị tu hành dạy các Phật tử cũng dạy như vậy, có phải không? thấy kinh Phật nói chúng ta cũng theo như vậy. Giả sử có người hỏi: Thưa quý cô tụng kinh như vậy mà cô tin kinh hay không? quý cô sẽ trả lời ra sao? Nếu tụng kinh không tin thì tụng kinh làm chi? Nếu bảo rằng: Tin, thì xin quý cô niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát cho chí thành mà vào lửa bị cháy, xuống nước bị chìm, chẳng lẽ lời Phật không phải là lời vàng ngọc, không phải là chơn lý hay sao? Rồi chúng ta trả lời ra làm sao?

Có cô Phật tử đến hỏi chúng tôi: Cô được một người bạn khuyên tụng kinh Phổ Môn niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát để cầu con trai, cô làm theo lời bạn, nhưng đến lúc sanh ra lại là con gái. Cô mới hỏi bạn: “Vậy kinh có linh không?” cô bạn không có lời để đáp lại. Tin và hiểu kinh Phổ Môn như vậy là thiếu thực tế.

Thường trong kinh điển đại thừa, khi nói đến các vị Bồ Tát là nói đến đặc tính tượng trưng của các vị: Như nói đến Ðức Quán Thế Âm  là nói đến nhĩ căn là tai, nói đến Ngài Văn Thù Bồ Tát là nói đến nhãn căn là mắt, …vân vân …

Chúng ta phải hiểu rõ tinh thần tượng trưng nầy. Cho nên niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát tức là nhìn lại Tánh Nghe của mình, chớ không chạy ra bên ngoài. Khi nhìn lại Tánh Nghe của mình, thấy nó không tướng mạo thì làm sao lửa đốt cháy được, làm sao nước đắm chìm được?

Và khi mình sống được với Tánh Nghe thì mọi việc sẽ được như ý. Nên nói rằng cầu con trai được con trai, cầu con gái được con gái, đó là tượng trưng cho mọi việc như ý. Nhìn lại Tánh Nghe của mình ví như mình được hòn ngọc Ma Ni bảo châu tức là hòn ngọc như ý. Nghĩa là được toại nguyện, được như ý và được diễn tả bằng: “Cầu cái gì được cái nấy”. Hiểu kinh như vậy, chúng ta mới thấy lời Phật là đúng, là chơn thật..

Kế đây, tôi xin nói đến câu “Ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết”. Giả sử có người nói với quý vị: Người nào trì kinh Pháp Hoa thì cỏ cây tươi tốt, người nào trì kinh Kim Cang thì cỏ cây héo sào, người nói như vậy quý vị có tin chăng? Quý vị thấy rõ ràng những chỗ nói mà không căn cứ vào kinh, mà chúng ta lại tin, đó là đồng ma thuyết…”….

Không riêng hòa thượng Thanh Từ, hòa thượng Tịnh Không, một bậc cao tăng Trung quốc thời hiện đại, chuyên hoằng pháp môn Tịnh Độ, cũng dạy rằng:

…”… Chúng ta thường nghe câu nói sau đây: Nhà Phật thường nói “y văn giải tự, tam thế Phật oan” nghĩa là y theo câu văn hiểu nghĩa theo mặt chữ, thì ba đời Phật bị oan. Cứ chiếu theo văn tự để nghiên cứu, giải thích thì tam thế chư Phật là quá khứ Phật, hiện tại Phật, vị lai Phật đều kêu oan uổng, quý vị hiểu lầm ý Phật mất rồi!

Trong bài kệ Khai Kinh có câu “nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa”, tôi nói con người hiện tại hiểu sai lệch, nên trở thành “khúc giải Như Lai chân thật nghĩa” tức là hiểu cong vạy ý nghĩa chân thật của Như Lai, hoặc “ngộ giải Như Lai chân thật nghĩa” là  hiểu lầm lạc ý nghĩa chân thật của Như Lai.

Quý vị xem: Có phải là Như Lai kêu “oan uổng” hay không?  Học Phật pháp phải quy về tự tánh, điều này khẩn yếu lắm. Nói cách khác, giúp cho chúng ta đạt được tâm thanh tịnh, giúp chúng ta mở mang trí huệ, đấy chính là Phật pháp. ….”…

Thưa quý thính giả,

Như thế, quý vị Đạo Sư đã căn dặn chúng ta phải hiểu rõ nghĩa của lời Phật dạy. Chúng ta cũng cần nhớ rằng Phật nói kinh là để trị bệnh tâm cho chúng sinh, lời trong kinh sách cũng là đức Phật tùy bệnh tâm chúng sinh mà cho thuốc, chúng sinh nhiều tâm bệnh khác nhau thì cần nhiều pháp trị khác nhau, nhiều lời kinh với vô lượng nghĩa khác nhau, chứ không phải chỉ có một loại thuốc mà thôi.

Kinh Phật lại có những câu chuyện huyền ký với ý tứ tiềm ẩn, thí dụ mục đích đức Phật nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa là để khai thị cho chúng sinh ngộ nhập Tri Kiến Phật, nghĩa là dạy cho chúng sinh thấu triệt được rằng mọi người đều có Phật Tánh, bởi vì trước khi Phật nói kinh Pháp Hoa thì mọi người chưa biết đến Tri Kiến Phật, tức là Chân Tâm, Phật Tánh, Giác Tánh.

Vì kinh Pháp Hoa dạy về Phật Tánh, cho nên trong kinh có những câu như « vào nước không chìm », vào lửa không cháy », « đốt thân cháy lâu tới một ngàn hai trăm năm », « đốt cánh tay mãn bảy muôn hai ngàn năm »  vân vân, đều là những ẩn dụ để nói về Chân Tâm bất sanh bất diệt, vào nước không chìm vào lửa không cháy mà thôi. Nếu lại dùng tâm chấp chặt của thế gian mà cho rằng những điều trên đã có xảy ra thật, tin rằng nhảy xuống biển sẽ không chìm, bước vào lửa sẽ không cháy, thì rõ ràng là không thông hiểu quy luật của vật chất, không thể có cái xác nào cháy lâu tới 1,200 năm hoặc cánh tay cháy lâu tới bảy muôn hai ngàn năm.

Trong tinh thần đó, chúng ta thử tìm giải đáp cho  ba câu hỏi kể trên :

Câu hỏi thứ nhất :

— Sự kiện thái tử Tất Đạt Đa được mẹ sanh ra qua ngả nách.

Xin trả lời:

— Có thể coi như do hoàn cảnh tâm lý của dân chúng nước Ấn Độ vào thời đó và do lòng kính trọng đức Phật mà họ thần thánh hóa Ngài, cho là một vị giáo chủ không thể giống người bình thường, phải có những đặc điểm khác lạ, siêu nhân, nên qua truyền khẩu một thời gian dài mà nảy sinh ra những câu chuyện xa thực tế như vậy. Rồi nhiều năm tháng trôi qua, lời đồn đại truyền khẩu ngày càng lan rộng, trở thành giống như là sự thực.

Câu hỏi thứ hai:

— Mới ra đời, thái tử đã bước bảy bước, có bảy bông sen đỡ dưới chân.

Xin trả lời:

— Câu này có thể là một ẩn dụ, dùng sự kiện thái tử mới ra đời để trình bày quá trình hình thành loài người. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đã phân tích cặn kẽ về 7 thành tố tạo nên con người, gọi là 7 Đại gồm:

Một là chất cứng, thuật ngữ nhà Phật gọi là Địa Đại, tạo thành thịt da xương cốt, vân vân..

Hai là chất lỏng, nhà Phật gọi là Thủy Đại, tạo thành máu huyết, nước mắt, nước tiểu, vân vân…

Ba là chất hơi, nhà Phật gọi là Phong Đại, tạo thành hơi thở, vân vân…

Bốn là chất nóng, nhà Phật gọi là Hỏa Đại, tạo thành sự ấm áp của cơ thể, vân vân..

Năm là khoảng trống rỗng, thí dụ những mô xốp, lỗ tai, cuống họng, nhà Phật gọi là Không Đại, tạo thành những khoảng trống để cơ thể hoạt động …

Sáu là sự thấy biết thuần túy, không phân biệt, thấy chỉ là thấy, tùy duyên ứng dụng, thí dụ ở mắt thì nhìn, ở tai thì nghe, nhà Phật gọi là Kiến Đại, cũng gọi là “Tánh Thấy”.

Bảy là sự phân biệt đối tượng, duyên theo các căn mà nhận thức, suy lường hay dở tốt xấu trong đời sống, nhà Phật gọi là Thức Đại.

Như thế, bảy bước chân tượng trưng cho bảy Đại, là căn bản của đời sống con người.

Nói về bông sen đỡ dưới chân, trước hết chúng tôi xin nhắc với quý thính giả rằng nhà Phật dùng hoa sen để tượng trưng cho Chân Tâm, Phật Tánh, với hàm ý hoa sen mọc lên từ bùn nhơ mà vẫn thanh khiết cũng như Phật Tánh vốn ngay tại nơi con người mà không bị ô nhiễm, dù con người mang những niệm xấu ác trong tâm.

Tổng kết lại ý nghĩa 7 bước chân đều có hoa sen hứng là bởi vì hoa sen tượng trưng cho Chân Tâm, mà Chân Tâm vốn khắp không gian và thời gian, nên tất cả các Đại cũng vẫn ở trong Chân Tâm mà thôi.

Câu hỏi thứ ba:

— Sau đó, thái tử đứng lại, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, tuyên bố : ” Thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn”, rồi thái tử nằm xuống, trở về trạng thái đứa trẻ sơ sinh.

Xin trả lời:

— Giáo lý nhà Phật đều nằm trong khuôn khổ của Tam Pháp Ấn, nghĩa là ba dấu ấn của chánh pháp, gồm có Vô Thường, Khổ và Vô Ngã hoặc Chư Hành Vô Thường, Chư Pháp Vô Ngã, Niết Bàn Tịch Tĩnh, câu nào cũng hàm chứa Vô Ngã.

Do đó, nếu cho rằng đức Phật thị hiện qua hình thức thái tử sơ sinh để ra tuyên ngôn báo hiệu sau này tự mình sẽ thành bậc cao quý độc nhất trên đời bằng câu “duy ngã độc tôn” thì mâu thuẫn với giáo lý giải thoát mà đức Phật dạy chúng sinh sau này.

Còn như nếu cho rằng ngã đây là Chân Ngã thì đã không thấu triệt mục đích của đức Phật khi truyền dạy đạo Giải Thoát. Chữ Chân Ngã trong nhà Phật chỉ được tạm dùng để phá chấp không.

Trong bình diện tương đối mà nói rằng có một cái thường hằng là Chân Ngã tức là chấp Có, sẽ lọt vào trường hợp Đại Ngã, Tiểu Ngã của giáo lý Bà La Môn và  Ấn Độ giáo.

Trong cuốn luận Trung Quán, luận sư Long Thọ đã nêu rõ quan điểm của nhà Phật về Chân Lý là “bất dị nhưng cũng bất nhất” (không phải là khác nhưng cũng không phải là một, như tình trạng Tiểu Ngã nhập vào Đại Ngã, nghĩa là không thuộc bình diện tương đối), vượt ra ngoài các phạm trù “Có” hoặc “Không”, tạm gọi là tuyệt đối, không thể gán vào một nghĩa cố định.

Cho nên đức Phật đã nói: “Phàm lời nói đều không có nghĩa thật”.

“Nghĩa thật” tức là nghĩa tuyệt đối. Lời nói là quy ước của thế giới tương đối, không thể nói về Chân Lý Tuyệt Đối, về Chân Tâm, Phật Tánh, Buddha Mind,  True Mind, vân …vân. Muốn tới được cảnh giới này, cảnh giới “ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt”, nghĩa là “đường ngôn ngữ đứt, nơi tâm suy nghĩ ngưng bặt”, thì phải thanh tịnh hoá tâm, phải tu chứng.

Kinh Viên Giác đã nói:

“Nếu đem tâm sinh diệt mà nói về Viên Giác thì Viên Giác cũng thành luân hồi”.

Con đường hành trì giáo pháp mà đức Phật mở ra cho chúng sinh để tiến tới từ bi, bình đẳng, giải thoát, là con đường rực rỡ như ánh sáng từ mặt trời.

Nếu chúng ta tích cực hành trì theo lời Phật dạy, thì tâm chúng ta sẽ chuyển hóa một cách mầu nhiệm, không cần phải có sự hỗ trợ bằng những câu chuyện mơ hồ, huyền bí, tưởng như là đề cao đức Phật, nhưng thực tế là làm giảm bớt mất tinh thần trong sáng cao quý của đạo Phật.

Thưa quý thính giả,

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 11 – Trưởng tử Như Lai – Đạo Sư

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý khán thính giả,

Sau bài nói về Tu viện Shasta, về Ni Sư Jiyu Kennett và môn phái thiền Tào Động tại Mỹ, chúng tôi nhận được thư quý khán thính giả gửi về hỏi thêm chi tiết về tu viện Shasta để có thể tới tham dự một kỳ tĩnh tâm (retreat). Vì thế, chúng tôi xin trình bày thêm như sau:

Tu viện được thiết lập trên sườn núi Shasta, cực Bắc của tiểu bang California, tại tỉnh Mount Shasta, cách San Jose, California  300 miles và cách Orange County, Califonia 630 miles.

Nếu quý khán thính giả muốn liên lạc với tu viện bằng thư tín, xin theo địa chỉ:

Shasta Abbey
Attn: Guest Master,
3724 Summit Drive,
Mt. Shasta, CA96067

Hoặc bằng điện thoại số : (530) 926-4208;

Fax số  (530) 926-0428.

Địa chỉ  E-mail: shastaabbey@obcon.org

Nếu quý vị sử dụng computer, xin vào webpage:

www.obcon.org

Kính thưa quý vị,

Như chúng tôi đã trình bày với quý vị, rằng suốt thời gian trên bốn chục năm ròng rã thân hành đi khắp gần xa để truyền dạy, những lời vàng ngọc của đức Phật đã được chư đệ tử nhập tâm, các vị này lại truyền xuống cho đệ tử, rồi được tuyên đọc trong các kỳ kết tập kinh điển, tổng hợp thành tạng Kinh, là một trong Tam Tạng, thì nhiều vô số kể. Tuy nhiên, cốt tủy tất cả những lời dạy đó được đức Phật tóm tắt bằng tuyên ngôn:

– “Này chư Tỳ kheo, bây giờ cũng như trước đây, Như Lai chỉ dạy về “Khổ” và về  “Con Đường Diệt Khổ”.

Tuyên ngôn này rút ra từ Bốn Chân Lý Thâm Diệu mà ngài đã Chứng Ngộ, đó là :

– Thứ nhất là Chân Lý về Khổ (Khổ Đế)

– Thứ hai là Chân Lý về nguồn gốc của Khổ (Tập Đế)

– Thứ ba là Chân Lý về sự Diệt Khổ (Diệt Đế)

– Thứ tư là Chân Lý về Con Đường đưa đến sự Tận Diệt Khổ (Đạo Đế)

Bốn Chân Lý này tức là Tứ Diệu Đế  ( Đế nghĩa là Chân Lý).

Có người mới nghe nửa câu nói của đức Phật “chỉ dạy về Khổ” thì cho là quan điểm của nhà Phật về cuộc đời rất bi quan, tiêu cực. Nhưng nếu nghe thêm phần sau Ngài nói “và dạy Con Đường Diệt Khổ”, thì sẽ thấy ngay rằng đức Phật rất tích cực muốn cải thiện đời sống để mọi người được hết khổ.

Hành trang trên “Con Đường Diệt Khổ” có 37 phẩm trợ đạo, là những bài phân tích chi tiết cần thiết để giúp hành giả thực hiện thành công trên con đường giác ngộ. Đại cương, có thể thu gọn trong bài kệ:

“Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành.”

Noi theo gương đức Phật, các vị Sứ Giả Như Lai là chư Tăng Ni dùng đời sống của mình để tu hành tới giác ngộ giải thoát, đồng thời trong khi tu tập, quý vị Tăng Ni cũng dẫn dắt chúng sinh bằng cách giảng giải lại cho Phật tử hiểu thấu đáo những lời đức Phật dạy.

Đến đây, chúng tôi xin được trình bày thêm về ý nghĩa của một vài từ ngữ trong nhà Phật, thí dụ chữ Sư.

Thưa quý khán thính giả,

Thật ra thì chữ Sư vốn rất dễ hiểu, chúng ta thường dùng hằng ngày, ai cũng biết sư tức là thày. Sở dĩ phải trình bày cho rõ vì từ Sư trong nhà Phật đã bị  hiểu lầm.

Chữ Sư – nghĩa là thày — trong nhà Phật rất cao quý.

Mục tiêu của đạo Phật là giác ngộ giải thoát. Thời Phật còn tại thế, Ngài thân hành dạy chư đệ tử đường lối tu hành để giác ngộ giải thoát ra khỏi vòng sinh tử luân hồi. Nhưng Ngài không thể dạy tất cả thế gian và thông suốt ba thời là quá khư, hiện tại và tương lai, cho nên Ngài đã ủy thác cho chư đệ tử tiếp nối con đường của Ngài để soi sáng cho chúng sinh sau này. Vì thế, các vị Sư trong nhà Phật được tôn là Trưởng Tử Như Lai, là con lớn của đức Phật — với ý nghĩa về mặt tinh thần – có nhiệm vụ dìu dắt các em ra khỏi bến mê.

Trưởng Tử Như Lai là người noi theo gương giáo hóa chúng sinh của đức Phật, làm công việc đức Phật ủy thác, là Đạo Sư. Cho nên chúng tôi đã thưa rằng từ ngữ Sư trong nhà Phật rất cao quý. Sư là Thày dạy đạo, đưa chúng sinh ra khỏi biển khổ sinh tử, chấm dứt trôi nổi trong vòng luân hồi. Vì sứ mạng cao quý như thế cho nên trong đạo Phật, địa vị của Tăng Ni được coi rất trọng. Nhiệm vụ của Phật tử, gọi là cận sự, tức cư sĩ, là phải cung kính cúng dường chư Tăng Ni  4 món cần thiết trong đời sống, gọi là “Tứ sự cúng dường” gồm y phục, thực phẩm, nơi ở và thuốc men.

Tại sao lại phải đặc biệt cung kính khi cúng dường?

Đó là để tỏ rõ lòng tôn kính vị Sư, bậc Thày dẫn dắt ra khỏi bến mê, bước lên bờ giác, chấm dứt mọi nỗi đau khổ. Cho nên đôi khi chúng ta trông thấy trong những buổi lễ dâng y, hoặc trai tăng, thí chủ dâng lễ vật đồng thời còn xụp lạy những Tăng Ni thọ nhận, cũng là vì theo truyền thống cung kính cúng dường.

Nhiệm vụ của Tăng Ni thì cao quý và được Phật tử tôn trọng như thế. Vậy thì, nếu có người tu hành nào đã nhận trọng trách làm Trưởng Tử Như Lai, đã nguyện giữ những giới răn, đã khoác tấm y giải thoát của nhà Phật mà không làm tròn nhiệm vụ Đạo Sư, lợi dụng sự được cung kính tôn trọng để thủ lợi, hoặc không thực hành đúng Chánh Pháp, thì đó là họ đã đi sai đường, mắc vào tội “lạm nhận cung kính” vì bản thân không xứng đáng nhận sự lễ lạy, cung kính, và “hư tiêu tín thí”, vì bản thân không thực hành nhiệm vụ cao quý, nên coi như phí phạm phẩm vật cúng dường của thí chủ.

Chúng ta nên sáng suốt nhận định, chỉ cung kính cúng dường quý vị Tăng Ni giới đức trang nghiêm và thực hiện nhiệm vụ Đạo Sư cao quý mà thôi.

Thưa quý khán thính giả,

Để có thêm tài liệu về “Con Đường Diệt Khổ”, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một bài pháp trích trong cuốn “Mind, Overcoming its Cankers”, tác giả là hòa thượng Acharya Buddharakkhita, tỳ khưu Pháp Thông dịch ra Việt ngữ.

Hòa thượng Acharya Buddarakkhita là một bậc đạo sư danh tiếng trong truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy, chủ tịch sáng lập hội Maha Bodhi Society tại Ấn Độ. Trước khi xuất gia, vào thời gian Thế Chiến Thứ Hai, ngài là một kỹ sư phục vụ tại bộ Quốc Phòng. Do mắt thấy những sự tàn phá, đau đớn, chết chóc kinh hoàng của chiến tranh, tâm tư ngài bị chấn động, cảm thấy muốn tìm về con đường tâm linh. Rời bỏ chức vụ kỹ sư, ngài trở thành nhà sư Phật giáo, tận lực nghiên cứu Phạn ngữ và hành trì thiền tập với thiền sư danh tiếng Mahasi Sayadaw tại Miến Điện. Ngài từng dạy Phật pháp tại trường Phật học Nalanda, viết nhiều sách luận giải và dịch kinh sách từ tạng Pali qua tiếng Anh, được xuất bản tại nhiều quốc gia trên thế giới, trong số đó có những cuốn được nhiều người biết như The Dhammapada – The Buddha’s Path of  Wisdom. Ngoài ra  còn các cuốn quan trọng như  ‘The Living Legacy of the Buddha”, “’Mind, Overcoming its Cankers” và “Karma and Rebirth”.

Ngài là một học giả đồng thời là hành giả, đem tất cả cuộc đời cống hiến cho sự nghiệp giác ngộ giải thoát mình và dìu dắt người khác cùng đi, chỉ đạo cho lớp tu sĩ trẻ bước trên con đường giác ngộ bằng thiền quán cùng lúc với chính bản thân tận lực hành trì.

Sau đây là nội dung bài pháp của hòa thượng Acharya Buddharakkhita:

“Người ta thường cho rằng vấn đề tốt và xấu chỉ là khái niệm phỏng chừng, rằng trong thực tế, cái gọi là tốt hay xấu ấy không hiện hữu. Hay nói cách khác, phải – trái, tốt – xấu, là những khái niệm có giá trị quy ước chứ không có sự đồng ý tuyệt đối.

Không gì có thể vượt ra ngoài sự thực. Vì, nếu không có những thực chất tốt và xấu như vậy trong ý nghĩa tuyệt đối, ắt hẳn sẽ không có những vấn đề như khổ đau và hạnh phúc, nghèo và giàu, đẹp và xấu, bịnh hoạn và khoẻ mạnh trong thế gian này. Những bất bình đẳng mà người ta thấy trong cuộc đời, chỉ nhằm diễn đạt cái sự thực về vấn đề nhân quả được gọi là nghiệp trong đạo Phật mà thôi. Và đạo đức học chính là ngành khoa học nghiên cứu về thiện – ác, tốt – xấu này.

Ðức Phật rất thẳng thắn về điểm này. Ngài loại bỏ tất cả mọi tư tưởng mơ hồ và mâu thuẫn về những vấn đề liên quan đến luân lý, được xem là rất thịnh hành trong thời đại của Ngài. Ngài nhấn mạnh rằng có hai con đường hoàn toàn rõ rệt và đối nghịch lẫn nhau — hắc đạo và bạch đạo.

Ðây không phải là những con đường phỏng chừng, cũng không phải là những khái niệm hay qui ước đơn thuần. Nó là những sự thực, chúng hiện hữu trong thực tại như những thế lực thiện và bất thiện, như những pháp công đức và phi công đức biểu thị ra bằng hạnh phúc và khổ đau, bằng tiến bộ và thoái bộ.

Trong một câu kệ Pháp Cú ý vị, đức Phật với thái độ hết sức rõ ràng đã chỉ ra:

“Bậc trí bỏ pháp đen
Tu tập pháp thuần trắng.”

Khi người ta hiểu một cách chân chánh và đầy đủ rằng luân lý và đạo đức đề cập đến những giá trị và những pháp tuyệt đối, và những vấn đề như phải – trái, thiện – bất thiện, đen – trắng, công đức và phi công đức không phải là những chuyện hư cấu mà là những điều kiện thực tế, chỉ khi ấy họ mới có thể hiểu được tâm và vận hành của nó. Vì những lực đối nghịch này xuất phát từ tâm. Chúng do tâm tạo, như đã được xác định rõ trong hai bài kệ đầu tiên của kinh Pháp Cú :

“Ý  dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ, ý tạo.
Nếu với ý bất tịnh,
Nói lên, hay hành động,
Khổ não liền theo sau,
Như xe, chân vật kéo.”

“Ý dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ, ý tạo.
Nếu với ý thanh tịnh
Nói lên, hay hành động,
An lạc liền theo sau
Như bóng, không rời hình.”

Như vậy, chỉ sau khi khởi lên trong tâm rồi chúng mới kết tinh lại như hai mô thức tác nghiệp rõ rệt mà trong Phật Giáo gọi là thiện nghiệp đạo và bất thiện nghiệp đạo. Chính vì vấn đề này mà tất cả mọi cố gắng trong đời phạm hạnh đều nhắm vào việc thành tựu sự toàn bích, một mặt bắt đầu với việc từ bỏ những pháp đen là bất thiện pháp và mặt khác với sự tu tập các pháp trắng là thiện pháp.

Tại sao? Bởi vì các pháp đen là nơi những điều xấu xa, ô nhiễm, mê lầm trú ngụ, ẩn nấp và che giấu. Và trong pháp trắng hàm chứa các pháp dẫn đến Giác Ngộ. Hắc đạo nuôi dưỡng các pháp ác, trong khi bạch đạo là sự báo hiệu điềm lành. Bất thiện pháp báo trước những bất hạnh và khổ đau, trong khi thiện pháp là chỗ chứa của hạnh phúc. Hắc đạo là nơi lai vãng của những rối loạn và bạch đạo là nơi cư trú của an lạc. Còn rất nhiều hình ảnh khác có thể được thêm vào, nhưng ở đây như vậy đã tương đối đủ để hiểu thế nào là hắc và bạch.

Ngoài việc là hang ổ của các ô nhiễm, mê lầm, hắc pháp còn báo trước những điềm xấu dưới dạng đáng ngại hơn. Vì trong bóng tối luôn luôn mai phục những điều bất tường, đặc biệt đe dọa đến đời phạm hạnh. Những điều bất tường ấy được gọi là những pháp gây nguy hại đến đời phạm hạnh. Về cơ bản, chúng là các điều xấu ác dưới dạng ngủ ngầm, là tai họa tiềm tàng”.

Thưa quý khán thính giả,

Trên đây là bài pháp của hòa thượng Acharya Buddharakkhita, thuộc truyền thống Nguyên Thủy. Ngài dạy rất rõ ràng, phân biệt minh bạch thiện và ác.

Để sự tìm hiểu Phật pháp thêm phần phong phú, chúng tôi xin kính gửi tới quý khán thính giả một câu chuyện Thiền, trích dịch từ cuốn Collection of Stone and Sand”, xuất hiện vào thế kỷ 13, do thiền sư Muju theo truyền thống Bắc Tông, viết bằng Nhật ngữ, tên là Shasekishu, dịch giả Paul Reps dịch sang Anh Ngữ. Câu chuyện như sau:

“Trong cuộc hành trình tới tỉnh Edo, Zenkai, con trai của một hiệp sĩ Nhật, trở thành người hầu cận của một quan chức cao cấp tại đó.  Zenkai ngoại tình với vợ của quan chức này và bị phát hiện. Để tự vệ, hắn ta giết vị quan rồi chạy trốn cùng với  người vợ.

Sau này hai người trở thành những tên ăn trộm. Nhưng người đàn bà quá tham lam khiến cho Zenkai càng ngày càng khinh ghét đến phát ghê tởm. Cuối cùng không còn chịu nổi, Zenkai bỏ người đàn bà lại mà đi tới nơi xa, tận tỉnh Buzen, trở thành một người hành khất lang thang.

Để chuộc lại lỗi lầm trong quá khứ, Zenkai quyết tâm hoàn thành một vài việc thiện trong cuộc đời. Biết rằng có một con đường nguy hiểm cheo leo trên vách đá từng là nguyên nhân gây ra tai nạn chết và bị thương cho nhiều người, Zenkai quyết tâm mở một con đường hầm xuyên qua núi tại nơi đó.

Ban ngày thì đi xin thực phẩm, ban đêm Zenkai mài miệt đào con đường hầm. Trải qua ba chục năm, con đường hầm dài được 2.280 feet, cao 20 feet và rộng 30 feet.

Hai năm trước khi hoàn tất công trình, người con trai của viên quan mà Zenkai giết khi xưa, nay đã trở thành một kiếm sĩ lão luyện, tìm ra được Zenkai và tới để trả thù nhà. Biết được mục đích của khách lạ, Zenkai nói:

– Tôi sẽ sẵn sàng trao mạng sống của tôi cho anh. Chỉ xin hãy để cho tôi làm xong công việc này. Ngay hôm con đường hoàn thành, anh có thể giết tôi.

Người con trai đồng ý đợi tới ngày đó. Nhiều tháng trôi qua, Zenkai cứ miệt mài làm việc. Người con trai càng ngày càng thêm chán nản vì cái cảnh ăn không ngồi rồi, nên bắt đầu phụ giúp công việc đào hầm. Sau khi đã giúp Zenkai trên một năm, anh ta cảm thấy ngưỡng mộ ý chí mãnh liệt và nghị lực của Zenkai.

Cuối cùng thì con đường hầm cũng đào xong và mọi người có thể sử dụng nó để đi lại an toàn. Bây giờ Zenkai mới nói:

– Công việc của tôi đã hoàn tất. Hãy chặt đầu tôi đi.

Với đôi mắt đẫm lệ, người đàn ông trẻ  nghẹn ngào:

– Làm sao con có thể cắt đầu vị thầy của chính con được?”

Thưa quý khán thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý khán thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý vị một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Tuệ Đăng

Bài 10 – Tu viện Shasta và Ni Sư Jiyu-Kennett

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                           Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý khán, thính giả,

Trong một kỳ trước, chúng tôi đã trình quý vị câu hỏi của vị thính, hỏi rằng:

— Vậy thì, làm thế nào để có  thể  “tự thanh tịnh tâm ý?

Hôm nay, chúng tôi xin giới thiệu với quý vị một bậc nữ lưu, người đã tận tụy một đời tu và học ở đất nước xa xôi, để có đủ khả năng truyền dạy lại cho người đời phương pháp “tự thanh tịnh tâm ý”, đồng thời tạo dựng những cơ sở vật chất để mọi người có phương tiện tới tu học. Đó là ni sư Jiyu-Kennett, nữ thiền sư môn phái Tào Động Nhật Bản, đồng thời là người sáng lập The Order of Buddhist Contemplatives, mà hai nơi tu tập chính là tu viện Shasta tại Hoa Kỳ và tu viện Throssel Hole tại Anh Quốc.

Ni sư ra đời tại Anh Quốc vào ngày Tết dương lịch năm 1924, con út và là con gái độc nhất của một cuộc hôn nhân không hạnh phúc, gia đình theo Anh Giáo, tên thánh là Peggy Teresa Nancy. Thiếu thời, cô Peggy được học bổng để học âm nhạc, đậu bằng cử nhân tại University of Durham về đàn organ và hòa âm.

Tiếp cận đầu tiên của Peggy với đạo Phật là cuốn The Light of Asia trong tủ sách của thân phụ và một pho tượng Phật, chẳng biết vì lý do gì được đặt gọn gàng trên bệ lò sưởi tại phòng họp của ngôi trường đầu tiên mà cô bé tới học. Pho tượng này đã đem lại niềm an ủi cho Peggy về những nỗi buồn bã cô đơn tại gia đình và trường học. Dù mới chỉ là một em bé gái nhỏ, mỗi khi nhìn thấy vị sư trong tấm y tu hành thong thả bước trên đường phố, là cô bé lại nói với mẹ rằng cô muốn khi lớn lên sẽ thành một nhà sư như thế.

Vào năm 1939, thế chiến thứ 2 bùng nổ, bom đạn, chết chóc và những nỗi kinh hoàng mà cô chứng kiến bám theo cô suốt cả cuộc đời. Luôn luôn, cô tự hỏi “Tại sao người ta lại gây ra những chuyện tàn nhẫn như thế với nhau?”.

Thời gian này là buổi đầu cô giao tiếp với nhạc thánh ca nhà thờ, đồng thời cũng báo hiệu rằng âm nhạc là niềm vui tinh thần đi theo suốt cuộc đời ni sư Jiyu Kennett sau này và được ni sư ứng dụng tuyệt vời vào nhạc lễ tại các thiền viện trong hệ thống Order of Buddhist Contemplatives mà ni sư thiết lập.

Lúc này cũng là thời gian Peggy tích cực tìm hiểu  đạo Phật và được dạy rất chu đáo về căn bản Phật pháp theo truyền thống Nguyên Thủy, quy y và thọ giới cư sĩ với thiền sư Saddhatissa, tiến sĩ Phật học Tích Lan, một bậc danh tăng và là sư trưởng tại London. Cũng tại London, Peggy được gặp gỡ và tham học với rất nhiều giáo sư, trong số đó có tiến sĩ Daisetz Teitaro Suzuki, người đã giới thiệu thiền Lâm Tế với cô.

Năm 1960, đại sư Keido Chisan Koho, tu viện trưởng chùa Soji bên Nhật qua London, trong chương trình hoằng truyền Phật pháp tại Hoa Kỳ và Anh quốc, gặp cô Peggy Kennett, người tổ chức cuộc đón tiếp, bèn hỏi ý nếu cô muốn trở thành đệ tử của ngài và qua Nhật tu học tại chùa Soji, một trong hai thiền viện chính của tông Tào Động, nơi vốn xưa nay chỉ có nam tu sĩ, thì ngài sẽ chấp nhận.

Trên đường qua Nhật vào năm 1962, tới Malaysia, cô thọ ni giới theo truyền thống Trung Hoa với đại sư Seck Kim Seng, được đặt pháp danh là Chân Hữu. Tới Nhật,  ni cô Chân Hữu tu học với đại sư Koho tại chùa Soji. Sau này ni cô  Jiyu được đại sư Koho xác nhận khả năng giảng dạy Phật pháp và cuối cùng, ni sư được ấn chứng là Đạo Sư.

Trong thời gian lưu ngụ tại Nhật, một quốc gia vốn có truyền thống trọng nam khinh nữ, lại kỳ thị người ngoại quốc, nhất là đàn bà ngoại quốc mà lại muốn trở thành tu sĩ là việc vốn của nam giới, ni cô Jiyu phải chịu trăm ngàn cay đắng để nỗ lực hành trì thiền quán, mục tiêu là giải thoát, theo gương đức Phật, không ngại gian nan cực khổ, làm nhiều việc, giữ nhiều nhiệm vụ, kể cả Tri Khách bộ môn người nước ngoài. Cuối cùng ni sư được được bổ nhiệm là tu viện trưởng chùa Umpukuji.

Sau khi đại sư Chisan Koho qua đời, ni sư rời nước Nhật định trở lại London. Trong khi dừng chân tại San Francisco, năm 1969, ni sư quyết định lưu lại Hoa Kỳ, thiết lập Zen Mission Society năm 1970. Tám năm sau, hội này tái tổ chức và đổi tên là Order of Buddhist Contemplatives cho tới nay. Tháng 11 năm 1970, ni sư thành lập tu viện Shasta tại tỉnh  Mount Shasta, California, nơi ni sư trụ trì và là tu viện trưởng đầu tiên suốt 26 năm. Ni sư thành lập tu viện Throssel Hole tại  Northumberland, Anh quốc năm 1972, đồng thời trong suốt cuộc đời, ni sư cũng thành lập nhiều tu viện tại Bắc Mỹ cũng như tại Âu Châu.

Ni sư Jiyu- Kennett qua đời tại tu viện Shasta vào ngày 6 tháng 11 năm 1996, để lại khoảng trên 1,000 bài thuyết giảng và một số sách viết về đạo Phật và phương pháp hành trì để giác ngộ.

Thưa quý khán thính giả,

Sau đây, chúng tôi xin gửi đến quý thính giả một đoạn trích dịch từ cuốn Roar of the Tigress, gồm những bài thuyết giảng của ni sư Jiyu Kennet, nói với những người mới bước vào rừng thiền:

…”… Trước khi nói về cách thực hành Thiền, tôi muốn hãy nói về lý do mà người ta tìm tới con đường Thiền tập đã.

Bạn phải bắt đầu từ chính bản thân, từ sự ham muốn của bản thân. Bạn cũng thấy đó, có những người đến với tôn giáo không phải vì họ thực sự hâm mộ tôn giáo, nhưng vì họ chẳng có nơi nào khác để hướng tới. Bạn đến với tôn giáo khi tâm lý hoặc tinh thần suy sụp, hoặc thất bại về chuyện gì đó, tâm bạn hoang mang tự hỏi: “Ôi, bây giờ mình biết làm gì, đi đâu ?” Hỏi rồi bạn tự trả lời: “Ờ, biết đâu chẳng có cái gì đó mà mình chưa biết rõ, hay là tìm hiểu thử coi”.

Thế là bạn bắt đầu mầy mò đi tìm ông tu sĩ hoặc ông đạo sư. Nếu may mắn, bạn sẽ gặp được một người có khả năng chỉ đường cho bạn.

Vậy thì, lý do tiên quyết nào khiến cho người ta đi tầm đạo?

Nhiều người nói rằng vì họ sợ chết, nhưng không phải vậy, mà là họ sợ đời sống. Rất nhiều người sợ những hệ lụy trong đời sống hơn là sợ chết, họ khiếp hãi trước những bất trắc của cuộc đời. Họ có thể chấp nhận cái chết, họ biết đó là chuyện chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai, vả lại, đã luôn luôn có bác sĩ chống chọi để kéo dài mạng sống của họ. Chưa hết, may ra lại có những loại thuốc thần làm cho chuyện chết trở thành dễ có thể chịu đựng được.

Nhưng chuyện sống thì khác. Ngày mai, bạn sẽ phải chạm mặt ông xếp trong sở làm, bạn phải đi làm, bạn phải lái xe trên xa lộ và biết đâu chừng lại có một tên điên khùng đang lái xe ngay cạnh xe bạn, vậy bạn phải làm thế nào?

Sự sợ hãi trong đời sống đã đưa người ta tìm về tôn giáo, tìm tới những nhà tâm lý trị liệu, những nhà tâm thần học để hỏi những câu như :” Bây giờ tôi phải làm gì?”, hoặc:” Tôi phải phản ứng như thế nào ?”

Khi mà những câu hỏi đơn giản đó không đủ để trả lời cho những băn khoăn thao thức trong lòng, bạn quay vào nội tâm để trầm tư. Và khi mà bạn nói: ”Thế này chưa đủ, tôi muốn đi xa hơn nữa”, thì đó là lúc bạn muốn đến với tôn giáo. Và khi bạn nói: “Tôi chưa thỏa mãn, chắc là còn có cái gì khác hơn nữa”, và bạn bế tắc tại chính điểm này, không còn đường đi tới, thì bạn sẽ tìm về đâu?

Thưa bạn, khi đó, bạn tìm về nội tâm.

Ngày nay có nhiều người biết rằng tọa thiền là phần quan trọng của Thiền Phật giáo. Họ hỏi: “Tại sao bạn lại tọa thiền?”, hoặc “Tại sao thiền Tào Động lại lặng lẽ ngồi nhìn vào vách tường?”

Thưa rằng, đó là một trong những phương pháp chính để nhìn vào nội tâm, để trực diện với chuyện sinh và tử….”… Đã bao giờ bạn nhìn thẳng vào tâm bạn chưa? Khi tọa thiền, bạn ngồi đối diện và nhìn vào bức tường thực, nhưng chỉ một lúc sau là bạn sẽ nhận ra ngay rằng bạn đang nhìn vào đó để lấp bít các cảnh tượng, đang đóng cửa các giác quan, để nhìn vào nội tâm của bạn…”…

Thưa quý khán thính giả,

Trên đây là bài pháp trích dịch từ cuốn Roar of the Tigress. Để quý vị có thêm khái niệm về hành thiền Phật giáo, chúng tôi xin kính gửi những lời tâm tình của đạo hữu Danny Việt, người cư sĩ đã từng lưu ngụ tại tu viện Shasta, nơi ni sư Jiyu Kennett đã dày công xây dựng, như sau:

… “… Tu viện tọa lạc trên một khoảng đất rộng 20 mẫu rừng thông, nơi sườn núi Shasta, cực bắc tiểu bang California, giáp ranh Origon, trên độ cao 4000 feet, gồm khu nhà tăng ni và khu cư sĩ riêng biệt. Khu tăng ni thì tôi không được vào coi, theo như hình ảnh cho thấy thì đời sống tu hành của họ đạm bạc, gọn gàng, cũng như những thiền viện cổ xưa bên Nhật, hoặc bên Tầu, với cái giường dài thoòng, chia ra cho mỗi người một khúc, chạy theo giường là cái tủ dài, cũng chia ra theo với cái giường, coi như đầu giường, để đựng quần áo cá nhân, mà thôi.

Khu cư sĩ là một căn nhà dài, chia ra làm hai khu Nam và Nữ, giữa là phòng uống trà. Mỗi bên chạy dài hai dẫy phòng cho cư sĩ ở, có người thường trú quanh năm, có người chỉ lưu lại trong khoảng thời gian mỗi khóa retreat, thường là một hoặc hai tuần. Ngoài ra, ai muốn ở lâu mau, tùy ý, chỉ cần liên lạc với tu viện để sắp xếp.

Trong hai lần lưu ngụ trên đó, tôi đều thấy các sư thường trú gồm khoảng gần 30 vị, và cư sĩ thường trú chừng 20 vị, có một lần gặp kỳ retreat, tôi thấy cư sĩ từ các nơi xa đến, đông cỡ gần một trăm vị

Tu viện đặt sự hành trì lên rất cao. Phần lớn thời gian dành cho tọa thiền, thiền hành, và working meditation, cũng chỉ là làm những việc thường ngày trong tu viện, mục tiêu để luôn luôn giữ được sự tỉnh giác, sống ngay trong hiện tại, không để tâm lang thang về quá khứ hoặc tương lai. Mọi người đều rất tôn trọng sự tu hành của người khác, và giúp đỡ nhau tối đa. Trong một lần tôi ở trên đó, một hôm tôi bị xoắn bắp thịt lưng, đau quá, vậy mà thấy tôi không đi được, suốt mấy ngày trời, mọi người dìu tôi lên thiền đường, xa cỡ 100 mét, để tôi không bị gián đoạn tọa thiền. Mà nào đã xong, tôi đau quá, không ngồi được, các sư và bạn đạo lại sắp xếp, dìu tôi nằm xuống để tâm tọa. Sau khi sống với các vị tu sĩ trên đó mấy tháng trời, tôi cảm động xác nhận rằng họ là những người tràn ngập lòng từ bi, mọi người cư xử với nhau rất bình đẳng.

Mỗi ngày mọi người dùng bữa ba lần, ăn trong hoàn toàn yên lặng, có cử hành tam đề, ngũ quán. Tuy ăn chay lacto ovo, tức là có trứng và sữa (vì hầu hết cư sĩ đều là người Mỹ, mới tập ăn chay theo đạo Phật), nhưng các sư nấu thêm đồ ăn không có trứng và sữa cho người kiêng kỹ.

Các sư săn sóc người già, bệnh, không phân biệt giầu nghèo, và tiền mọi góp để đến ở là tùy hỉ, tự động bỏ vào cái hộp đề là Begging Bowl, không cần phải đưa cho tu viện, tránh người nghèo tủi thân. Nếu cư sĩ đã thường trú hai năm, muốn xuất gia, sẽ được tiếp đón nồng nhiệt vào tăng đoàn.

Trong hai lần ở trên tu viện Shasta, dù tôi là người VN độc nhất, xa lạ, nhưng tôi cảm nhận cách tu viện đối xử với tôi hoàn toàn bình đẳng.

Tu viện có một nghĩa địa chôn chó mèo v.v…, khắp khu chung quanh đem chôn xác pet của họ, rồi họ tới thăm mộ, nghe các sư giảng về lòng từ bi, bình đẳng của đạo Phật đối với toàn thể chúng sinh, có một số chuyển qua đạo Phật luôn.

Về phương pháp hành trì, tu viện Shasta theo truyền thống từ Tổ Tào Động của Nhật Bản, đại sư Đạo Nguyên, viết trong cuốn Shobogenzo (Chánh Pháp Nhãn Tạng), là Phật tánh (trên đó gọi là Buddha Nature, Buddha Mind, True Mind) vốn sẵn sàng, khắp nơi, thường hằng. Chỉ vì ta đã để cho mọi hoạt động trong đời sống hằng ngày liên tiếp lôi kéo, khiến cho tam độc tham, sân, si chi phối, tạo nghiệp liên tục, như con tầm dệt cái kén để tự nhốt mình vào trong, thấy thế giới chỉ còn là phạm vi cái kén, chúng ta thì tạo nghiệp, trả quả báo, nên sống hết kiếp này tới kiếp khác trong mê. Tọa thiền là trở lại sự bình thường, vĩnh hằng, phi không gian thời gian, của TÂM. Mà vì TÂM ở mọi nơi, mọi lúc, nên có thể tự hiển lộ (họ dùng chữ “manifest itself”). Chính vì không đuổi theo cái sanh diệt liên tục, nên có từ ngữ tạm dùng gọi là quán chiếu tâm, rồi lại có người cho là hành giả Tào Động Nhật Bản nhìn vào tâm tưởng như là mặt trăng, im lặng nhìn cái mặt trăng đó, nên gọi là mặc chiếu. Theo quan niệm thực tế của tôi trong vài tháng ở trên đó, tôi chưa hề nghe sư nào dậy ngồi “quán chiếu” như vậy, mà chỉ dậy rằng vì tâm vốn sẵn, đầy đủ quanh ta, nên nó sẽ “manifest itself”, khi có cơ duyên.

Tọa thiền theo tu viện Shasta (zazen) là ngồi lặng lẽ, lưng thẳng, mắt mở hé cho khỏi ngủ, ngó mông (nghĩa là nhìn bâng quơ) cách khoảng 1 mét, tất cả mọi sự việc của thế gian trôi qua cứ để tự nhiên, theo thí dụ như một người ngồi dưới chân cầu, bao nhiêu xe cộ chạy qua, dù tai có nghe, nhưng không phải chuyện mình quan tâm, nên cứ để kệ, thế thôi, đối với họ, như thế là mình trở về nguồn tâm.

Đây là tôi tóm tắt, nhưng cách ngồi cũng có qui tắc để không bị phát những bệnh như đau lưng, tức ngực v.v…, do ngồi nghiêng vẹo v.v…

Một đặc điểm của tu viện Shasta là có rất nhiều tượng Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, bầy ở khắp nơi, (các tượng chư Phật, chư Bồ Tát khác cũng có, nhưng ít thôi). Tôi có hỏi lý do thì các sư trả lời là :” Tượng Ngài khắp nơi để nhắc chúng ta là tất cả chúng ta đều có thể hiển lộ tâm từ bi bất cứ lúc nào, và vì chúng ta sống trong thế giới cùng với những sinh vật khác, nên chúng ta luôn luôn có cơ hội để thể hiện tâm đó, chúng ta thì hay quên, nên tượng để nhắc nhở”.

Không những từ bi với sinh vật, ngay đối với đồ vật, mọi hành động thí dụ đặt món đồ xuống, đóng cánh cửa, v.v…, đều được yêu cầu làm thật nhẹ nhàng.

Đời sống trong tu viện rất êm ả, gặp nhau là chắp tay xá, không có đảnh lễ, cư sĩ xá sư thì sư xá lại. Ít khi có tiếng nói lớn, thường chỉ vừa đủ nghe tuy rằng thiền viện rộng lớn.

Thời khóa biểu của tu sĩ thì tôi không được biết, nhưng chỉ biết họ thức dậy lúc 3:30 AM

Thời khóa biểu của cư sĩ trong thời gian tôi ở đó thì sáng dậy từ 6 giờ, tối đi ngủ lúc 10 giờ, được chia ra để làm các việc như tọa thiền tại thiền đường, khóa lễ buổi sáng, dọn dẹp trong ngoài chùa, dùng bữa sáng, đọc sách, thiền trong lúc làm việc, thiền tập tại khu cư sĩ, bữa trưa, nghỉ trưa,thiền làm việc, khóa lễ chiều, bữa chiều, nghỉ ngơi, tọa thiền và khóa lễ ngắn, trà đàm, có sư tới nhà khách để giải đáp thắc mắc, tắt đèn lúc 10 giờ. Những giờ như “nghỉ”, “đọc sách”, ai thích thay thế bằng tọa thiền thì đã có thiền phòng trong dẫy nhà cư sĩ.

Trong tuần lễ retreat mà tôi có tham dự, thời khóa biểu được tăng thêm thời gian tọa thiền, và hằng ngày có “độc tham”, (tức là gặp riêng vị sư có trách nhiệm, để được giải đáp về những kinh nghiệm tâm linh, nếu có).

Cuối kỳ retreat, tất cả mọi người đều được mời gặp riêng vị sư đó. Tôi trông thấy một bà cụ đi từ phòng độc tham ra, vừa đi vừa khóc. Bà cụ sau này hẹn sẽ gặp tôi trong kỳ retreat tới, với nét mặt tưng bừng, rạng rỡ. Có lẽ bà cụ đã tìm thấy một niềm tin sâu sắc về mặt tâm linh, hoặc là vị sư đã giải tỏa nỗi ẩn ức, niềm thống khổ nào đó của bà cụ.

Có thể vì thói quen của người Mỹ là tôn trong sự riêng tư (privacy), nên tuy trong bản qui chế chỉ dặn sơ qua, mà suốt thời gian tôi ở trên đó không ai hỏi gia cảnh, nghề nghiệp vân vân, của tôi. Mà tôi cũng rất hiếm thấy cảnh vài người rù rì tâm tình, tuy là phong cảnh thiên nhiên đẹp vô cùng với những dẫy núi mây giăng, sương tỏa, cảnh mặt trời chiếu trên đỉnh núi tuyết trắng xóa, rực rỡ như khối kim cương khổng lồ óng ánh …………

Kính thưa quý vị,

Câu chuyện tâm tình của đạo hữu Danny Việt đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý khán thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 9 – Tự thanh tịnh Tâm Ý

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Trong những kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình bày với quý vị bài kệ tóm tắt con đường tu hành của người Phật tử, như sau:

“Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành”

“Không làm những điều ác” và “Siêng làm những việc lành” là phần đạo đức thế gian, không riêng đạo Phật, mà hầu hết các tôn giáo và các nền giáo dục trên khắp thế giới đều dạy. Duy câu “Tự thanh tịnh tâm ý” thì mới chính là đặc điểm riêng biệt của đạo Phật. Bởi vì, nội dung của “tự thanh tịnh tâm ý” có nghĩa là chấm dứt tất cả những lôi cuốn của Tham, Sân và Si, vốn là nguyên nhân của tất cả mọi nỗi thống khổ trên đời.

Kinh Phật nói: “Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu”, câu đó có nghĩa là khi tâm đã tịnh là đã bạch hóa được nghiệp chướng tích lũy từ vô lượng kiếp. Tội là những nghiệp ác. Tâm đã tịnh rồi thì cũng có nghĩa là tất cả nghiệp thiện và ác đều đã tiêu dung, không còn nghiệp nhân để tái sinh, là chấm dứt được dòng sinh tử, ra khỏi vòng luân hồi. Tóm lại, là hoàn tất được bước thứ tư trong bốn Chân Lý Thâm Diệu, là Diệt Khổ.

— Vậy thì, làm thế nào để có  thể  “tự thanh tịnh tâm ý?

Đây là một câu hỏi rất hay mà một vị thính giả đã gửi về cho chúng tôi. Bức thư có đoạn như sau:

– “Tôi thường nghe nói rằng đạo nào cũng như nhau, cũng dạy ăn hiền ở lành. Nay nghe quý vị phân tích rõ ràng chỗ đặc biệt quan trọng của đạo Phật là “tự thanh tịnh tâm ý”. Vậy chúng tôi muốn quý vị chỉ cho chúng tôi cách làm thế nào để có thể tham dự vào phần “tự thanh tịnh tâm ý” của nhà Phật. Hiện nay chúng tôi còn gia đình đùm đề, công việc ngập đầu, vậy có cách nào để tu từ từ, chứ chẳng lẽ bỏ hết tất cả để lên núi tu luôn được sao?”

Trước hết, chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng chúng tôi xin cảm tạ vị thính giả đã gửi về câu hỏi rất thiết thực này. Điều đó chứng tỏ là quý vị quan tâm tới nội dung những lời Phật dạy và bản thân quý vị cũng thiết tha muốn thực tập theo những lời dạy đó.

Kính thưa quý vị,

Nội dung câu “Tự thanh tịnh tâm ý” đã nói lên rất rõ là muốn tiến bước trên con đường giác ngộ của nhà Phật thì phải “tự mình thanh lọc tâm mình”. Tâm ý thì luôn luôn trôi chảy, nhảy nhót, cho nên nhà Phật mới gọí tâm chúng sinh là “tâm viên ý mã”, nghĩa là “tâm như vượn, ý như ngựa”, ngày đêm bị vướng mắc với đủ mọi loại chuyện vui buồn, không hề có lúc nào ngưng, không có một phút giải thoát.

Vì thế, đức Phật và chư Tổ mới nghĩ ra những pháp môn phương tiện để chúng sinh có thể thực tập từ từ  ngay tại nhà, ngay trong đời sống bận rộn, thí dụ pháp môn mỗi tháng tu một ngày gieo duyên như Thọ Bát Quan Trai Giới. Giới tử sống một ngày trong chùa, giữ giới thanh tịnh y như các vị tăng ni. Do tin sâu nhân quả, Phật tử tin rằng có nhân tu hành một ngày thì trong tương lai, nhân đó sẽ trổ ra thiện quả có thể tu tới giác ngộ, giải thoát.

Ngoài ra, tại các chùa, thiền viện, tự viện, tịnh thất, quý vị tu sĩ Phật giáo thường tổ chức các khóa thiền, các khóa niệm Phật gọi là thiền thất, Phật thất vào dịp cuối tuần, hoặc mùa hè, hoặc ngày nghỉ lễ. Mục đích là để có những khoảng thời gian cho tâm được giảm bớt căng thẳng và tạo thói quen thiền tập, tịnh tâm, xả bỏ những tạp niệm. Cũng như cơ thể cần tắm rửa hằng ngày, tâm cũng cần những giây phút trống vắng để thanh tịnh hóa.

Sau một thời gian tham dự những khóa thiền thất, niệm Phật thất, hành giả đã quen với những giây phút quán chiếu nội tâm, thường có khuynh hướng muốn thiết lập một góc để tọa thiền tại nhà, mỗi ngày tới ngồi chừng 10 phút, dần dần tăng lên nửa giờ, hoặc hơn nữa. Thời gian ngồi là hai phần ba, sau đó đứng lên đi thiền hành. Như thế, thân và tâm đã có thể hòa nhập trong bầu không khí an lạc, giải thoát khỏi những suy tư trói buộc, ít nhất là một khoảng thời gian ngắn mỗi ngày, là những bước đầu.

Để có thể tịnh tâm bất cứ lúc nào, tại bất cứ đâu, thì có pháp môn Niệm Phật, thường gọi là pháp môn Tịnh Độ. Pháp môn này có nhiều cách tu, một trong những cách đó là dùng câu Phật hiệu để hóa giải tạp niệm. Nhà Phật gọi là “Niệm Phật thì không niệm chúng sinh”. Niệm chúng sinh là những suy nghĩ miên man trói buộc tâm tư vào dòng đời. Dù trong chốn ồn ào náo nhiệt, hành giả có câu Phật hiệu để âm thầm niệm lên trong tâm, là được giải thoát ngay ra khỏi những ưu phiền của thế gian.

Nhà Phật có rất nhiều pháp môn phương tiện phù hợp với căn cơ của chúng sinh. Điều chúng ta cần phải làm là tìm coi pháp môn  nào phù hợp với bản thân để có thể thực tập được, có thể thanh tịnh hóa tâm ngay bây giờ, thì bắt đầu ngay, dù mỗi ngày chỉ mới tập được một thời gian ngắn. Mọi việc dù lớn lao tới đâu cũng đều có những bước khởi đầu nho nhỏ, rồi dần dà mới phát triển, miễn là mỗi ngày đểu có tiến thêm.

Đạo Phật là phương pháp luyện tâm để chấm dứt khổ, là pháp thực hành. Nếu chỉ dùng sự hiểu biết đạo Phật để nói lý thuyết suông thì hoàn toàn vô ích, đã không được hưởng phần tinh túy từ những lời dạy của đức Phật, còn tăng trưởng lòng kiêu ngạo về sự hiểu biết vô dụng của mình.

Thưa quý thính giả,

Để có thêm khái niệm về “thanh tịnh hóa tâm”, chúng tôi xin giới thiệu với quý vị thiền sư Satya Narayan Goenka, một người đã tận tụy gần suốt cuộc đời vì công cuộc thanh tịnh hóa tâm chúng sinh, bằng cách phổ biến và giảng dạy pháp môn thiền Vipassana, tức là Minh Sát, một pháp thiền Nguyên Thủy rất phổ biến tại các quốc gia theo truyền thống Phật giáo Nam Tông.

Thiền sư Goenka sinh trưởng tại Miến Điện, song thân là người Ấn Độ. Gia đình ông theo Ấn Độ giáo. Ông là một kỹ nghệ gia, hội trưởng hội thân hữu Miến Ấn.

Do bị bệnh nhức đầu kinh niên, dù đã chạy chữa nhiều nơi mà bệnh không giảm, ông tham dự khóa thiền Vipassana do thiền sư U Ba Khin, một vị thiền sư cư sĩ danh tiếng tại Miến Điện hướng dẫn, hy vọng chữa trị được căn bệnh. Chính nhờ sự chỉ dẫn tận tâm của thày và tinh thần tích cực trong hành thiền mà bệnh ông giảm dần rồi tan biến luôn.

Sau 14 năm thiền tập với thiền sư U Ba Khin, vào năm 1969 vâng lời thày, ông trở về Ấn Độ, nơi quê hương của đức Phật, để mở trường dạy lại cho những người dân Ấn Độ đã lạc đường tu, không còn biết đến giáo pháp mà khi xưa đức Phật đã hành trì để đạt giác ngộ. Ông muốn báo đáp ơn đức Thế Tôn bằng cách truyền bá lại phương pháp tu tập để Diệt Khổ.

Dù trên mảnh đất quê hương vẫn còn nạn chia rẽ gay gắt, những khóa thiền Vipassana do ông hướng dẫn vẫn lôi cuốn được nhiều ngàn hành giả từ khắp các miền đất nước về tham dự. Ngoài ra, còn có rất nhiều người hâm mộ đến từ nhiều nước trên thế giới để thực tập.

Với trên 300 khóa tu tập tại Ấn Độ và tại nhiều nước khác từ Đông sang Tây phương, thiền sư Goenka đã dẫn dắt hàng nhiều chục ngàn hành giả trên con đường luyện tâm.

Vì số thiền sinh ngày càng đông, ông phải kiếm thêm nhiều phụ tá để giúp đỡ trong việc phát triển. Dưới sự hướng dẫn của ông, các Trung Tâm tu thiền được mở ra tại Ấn Độ, Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Pháp quốc, Anh quốc, Nhật Bản, Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Nepal, và nhiều nước khác nữa.

Thiền sư Goenka dạy thiền theo phương pháp truyền thống mà khi xưa đức Phật đã dạy. Ông nói rằng đức Phật khi xưa không hề dạy môn phái tôn giáo, mà Ngài dạy Phật pháp — là con đường giải thoát — vốn không có biên giới. Theo tôn chỉ đó, thiền sư Goenka cũng duy trì đường lối phi môn phái. Đó là lý do ông đã thu hút được rất nhiều người xuất thân từ đủ mọi thành phần xã hội, tôn giáo hoặc không tôn giáo và đến từ nhiều địa phương trên thế giới.

Với con số hành giả thực tập Vipassana tại các trung tâm thiền dưới sự điều khiển của ông ngày càng đông đảo, thiền sư vẫn  cố gắng giữ cho toàn bộ hệ thống không trở thành một môn phái tôn giáo. Ông nhấn mạnh là sự phát triển lớn mạnh phải mang lại lợi ích cho mọi người, không phải lớn mạnh chỉ để mà lớn mạnh, để phục vụ cho một niềm tin mù quáng. Mục tiêu của ông là phổ biến phương pháp tu hành của đức Phật ngõ hầu đem lại lợi ích cho càng nhiều người càng tốt. Ông tin rằng đó mới chính là bản hoài của đức Thế Tôn, chứ không phải chỉ để cho giáo phái hoặc hệ thống của mình lớn mạnh.

Ngoài sự tận tụy hướng dẫn hành thiền, ông còn viết trên mười cuốn sách về phương pháp thanh tịnh hóa tâm, dựa theo ý trong kinh Phật.

Sau đây, chúng tôi xin trích dịch bài nói chuyện của thiền sư Satya Narayan Goenka với chư Tăng Ni tại Dharma Drum Monastery, Đài Loan, năm 1998, đề tài là “Cách tỏ lòng tôn kính hợp giáo pháp”.

Thiền sư Goenka nói:

…”… Thật là vạn hạnh cho tôi, một lần nữa được gặp lại đại sư thánh thiện và chư vị ưa chộng pháp hành thiền. Nhìn thấy quý vị ngồi trong tư thế hoa sen, tôi nhớ tới chuyện một lần có người hỏi đức Phật rằng

— “Làm thế nào chúng tôi có thể tỏ lòng tôn kính đối với đấng Giác Ngộ “?

Trỏ ngón tay về phía chư Tăng Ni đang tọa thiền, Ngài nói:

— Đây là cách tỏ lòng tôn kính với bậc Giác Ngộ.

Cách tỏ lòng tôn kính thích hợp nhất đối với bậc Giác Ngộ là tích cực thực thi lời Ngài dạy. Lời Ngài dạy là tọa thiền và tỉnh giác trước các hiện tượng xảy ra trong tâm, để kinh nghiệm những ô nhiễm gợn lên, phát triển, chi phối tâm chúng ta và làm thế nào để chế ngự và chuyển hóa thói quen của tâm. Quá trình này đức Phật gọi là Thiền Minh Sát, hoặc là Thiền Quán, nghĩa là quán sát thực tế xảy ra đúng như nó đang như thế, trong trạng thái đích thực của nó, — chứ không phải “tưởng rằng nó là như thế”, — quán sát bên trong thân mình và sự tương quan giao động giữa thân và tâm trong từng khoảng thời gian ngắn ngủi.

Vào thời Phật còn tại thế, có rất nhiều pháp tu thiền định trên giải đất Ấn Độ. Có pháp môn đưa hành giả vào các trạng thái Định sâu thẳm, những tầng Định thứ bảy, thứ tám, là những cảnh giới mà Ngài đã học được từ các bậc thày đương thời. Nhưng Ngài đã nhận ra được rằng nếu chỉ đạt được các tầng Định thì không thể đưa Ngài tới mục tiêu hoàn toàn giác ngộ, giải thoát. Cho nên trong thời gian ngồi dưới gốc cây Bồ Đề, Ngài bắt đầu quán sát sự diễn biến ngay trong thân, tâm và triệt ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Công việc đầu tiên hành giả phải làm là quán sát hơi thở tự nhiên. Đó là thiền tỉnh giác về hơi thở. Quán sát hơi thở ra vô tự nhiên trên một điểm nhỏ ngay nơi cửa lỗ mũi, tâm hành giả sẽ càng ngày càng nhậy bén, nhỏ nhiệm và vi tế. Với cái tâm nhậy bén và vi tế, hành giả sẽ kinh nghiệm được những cảm giác khác nhau dù rất nhỏ ngay nơi nhân trung.

Rồi từ trụ điểm nhỏ xíu đó, hành giả bắt đầu quán sát khắp cả cơ thể, từ đỉnh đầu cho tới ngón chân rồi lại từ ngón chân chuyển sự quán sát trở ngược lên đỉnh đầu, để nhận rõ những cảm giác khác nhau trong cơ thể.

Có nhiều cảm giác khác nhau, khi thì rất thô, khó chịu và căng thẳng, khi thì rất nhỏ nhiệm, thoải mái, dễ chịu, lúc thì êm đềm trung bình, không gây ra cảm giác gì. Hành giả chỉ thuần túy quán sát mà không hòa nhập hay phản ứng, chỉ khách quan mà thấy.

Dần dà, hành giả sẽ nhận ra được thói quen phản ứng của mình, đối với cảm giác vui sướng thì thèm muốn, tham đắm hoặc đối với điều khó chịu thì chống đối, ghét bỏ.

Hành giả nhận chân được thực tế này, thấu suốt đặc tính của từng cảm giác vui hoặc khó chịu, thô thiển hay là vi tế hiện ra rồi biến mất, sinh diệt liên tục. Ôi ! Thật là vô thường! Hành giả bỗng trực nhận ra được tính cách vô thường, sinh diệt liên tục của tâm và vật. Lý vô thường xuất hiện càng lúc càng sáng rỡ, rõ ràng, bằng thực chứng của chính hành giả….”…

Thưa quý thính giả,

Trên đây là một phần bài nói chuyện của thiền sư Satya Narayan Goenka, người đang tận tụy phổ biến phương pháp tu hành để Diệt Khổ, hoàn tất Chân Lý Thâm Diệu Thứ Tư trong Tứ Diệu Đế của nhà Phật. Điều đáng thán phục nơi ông là tuy từ tôn giáo khác bước vào nhà Phật, mà ông đã nắm vững được lời dạy cốt tủy của đức Phật, là dạy con người cách tu hành để Diệt Khổ, càng nhiều người hết khổ càng tốt, chứ không đề cao phần hình thức suông. Ông chỉ chú trọng vào việc dạy phương pháp thực tập

Để kết thúc buổi phát thanh hôm nay, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một giai thoại về niệm Phật, trích trong bộ Thiền Luận, tác giả là thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki, dịch giả là thượng tọa Thích Tuệ Sỹ. Câu chuyện như sau:

..”…  Một trong vô số tục gia đệ tử của Bạch Ẩn rất phiền muộn về cha già keo lận của mình, tâm ông chỉ theo việc làm tiền, chẳng chút bận tới đạo Phật. Y muốn Bạch Ẩn gợi cho một phương pháp nào để chuyển tư tưởng của cha y ra khỏi sự keo lận. Bạch Ẩn gợi lên đề nghị này : “Bảo lão già keo lận cứ niệm Phật mỗi khi ông nhớ đến, và sẽ trả cho ông mỗi lần tụng niệm là một tiền. Nếu trong một ngày ông niệm Phật được một trăm lần, ông sẽ có được một trăm tiền”.

Lão già nghĩ rằng đây là một cách bỏ tiền vào túi dễ nhất trong thế gian. Mỗi ngày ông đến Bạch Ẩn để được trả tiền do sự niệm Phật của mình, vì ông rất siêng năng trong vụ này, và cứ tái diễn như vậy rất nhiều lần. Ông bị mê hoặc với những thủ đắc của mình.

Nhưng chẳng bao lâu ông thôi không đến Bạch Ẩn để được trả tiền hằng ngày nữa. Bạch Ẩn sai người đi tìm hiểu xem người cha mắc chuyện gì. Thì ra bây giờ ông bị sự Niệm Phật lung lạc đến độ quên cả ghi nhớ. Ðấy là điều mà Bạch Ẩn lúc nào cũng chờ đợi nơi ông. Ngài dạy người con cứ để cho cha y ở một mình trong một thời gian, thử xem chuyện gì sẽ đến với ông nữa. Lời khuyên này được tuân hành, và trong vòng một tuần lễ, người cha thân hành đến kiếm Bạch Ẩn với cặp mắt ngời sáng, bộc lộ một kinh nghiệm tâm linh cực lạc mà ông đã trải qua …”…

Thưa quý thính giả,

Thiền sư Bạch Ẩn đã ứng dụng phương pháp giáo hóa của nhà Phật là “tùy duyên phương tiện hóa độ chúng sinh”. Câu đó có nghĩa là sự giáo hóa cần uyển chuyển, phù hợp với tình trạng thực tế. Tuy nhiên, “tùy duyên nhưng bất biến”, có nghĩa là về mặt hình thức thì uyển chuyển tùy theo với thực tế để giáo hóa nhưng mục tiêu cốt tủy của đạo Phật là giác ngộ giải thoát thì không thay đổi.

Pháp giáo hóa tùy duyên phương tiện này đã được giới thiệu nơi kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm Thí Dụ.

Trong kinh, đức Phật nói thí dụ ông nhà giầu kia có một đàn con đang chơi trong căn nhà chỉ có một cửa. Bỗng nhà phát hỏa. Ông phải nghĩ cách kêu các con ra gấp kẻo chết cháy. Mà các con lại chưa hề biết đến nguy hiểm của lửa. Cho nên ông phải dụ các con chạy ra bằng cách hứa sẽ cho chúng các thứ đồ chơi như xe dê, xe hươu, xe trâu. Nhờ vậy các con ông thoát được nạn lớn là chết cháy.

Ở đây, thiền sư Bạch Ẩn đã có kinh nghiệm tu chứng, nên ông biết rằng chỉ cần sau một thời gian tịnh tâm bằng cách chuyên chú niệm Phật, ông già kia sẽ kinh nghiệm được trạng thái tâm an lạc, hạnh phúc. Như thế là dùng phương tiện tùy duyên để giáo hóa chúng sinh, nhưng vẫn bất biến là ông già bước được trên con đường thanh tịnh, giải thoát.

Thưa quý thính giả,

Giai thoại niệm Phật đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

Bài 8 – Bản Tâm bất sanh bất diệt

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý khán thính giả,

Trong một kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình với quý vị lời khẳng định của đức Phật:

– “Này chư Tỳ kheo, bây giờ cũng như trước đây, Như Lai chỉ dạy về “Khổ” và về  “Con Đường Diệt Khổ”.

Tại sao Ngài có thể khẳng định như vậy?

– Xin thưa rằng vì Ngài đã thực chứng được cảnh giới Niết Bàn, tức là cảnh giới tâm thức bất sanh bất diệt. Từ sự thực chứng, Ngài truyền dạy lại chúng sinh những kinh nghiệm tu trì. Rồi tới chư đệ tử của Ngài, chư Tổ Sư, cũng từ sự thực chứng mà truyền dạy lại những kinh nghiệm, mục đích là để nhắc nhở, thức tỉnh chúng sinh, mong họ theo lời chỉ dạy mà thanh tịnh hóa tâm, để họ ra khỏi cơn mê vọng  Tham Sân Si, tạo nghiệp, trả quả báo, trôi lăn hoài trong vòng sinh tử luân hồi.

Một trong những kinh chuyên chở lời dạy cao quý này của đức Phật là kinh Lăng Nghiêm (The Surangama Sutra). Nơi kinh này, đức Phật dùng những thí dụ cụ thể về Tánh Thấy để giải thích cái bất sanh bất diệt. Tánh Thấy là khía cạnh ứng dụng của Tâm. Chúng tôi xin trích dịch một đoạn trong kinh The Surangama Sutra do Charles Luk dịch từ Hán văn sang Anh ngữ, như sau:

… “ …Khi ấy vua Prasenajit đứng dậy bạch với đức Phật :

— Bạch Thế Tôn, lúc trước chưa thọ giáo với Phật, đệ tử nghe nói rằng “khi thân này chết thì thành hư vô, gọi là Niết Bàn.” Mặc dù hôm nay đệ tử đã được Phật chỉ dạy, nhưng vẫn còn chưa hiểu rõ. Mọi người tại đây cũng đều mong được biết cách làm thế nào để nhận ra được Bản Tâm và chứng minh được rằng Tâm này ở ngoài vòng sanh diệt.

Phật hỏi :
— Đại vương ! Bây giờ tôi hỏi về cái thân máu thịt của ông hiện tại đây, nó bền chắc như kim cương, hay nó đổi thay và hư hoại ?

Vua đáp :
— Bạch Thế Tôn, thân đệ tử sẽ hư hỏng từ từ, cuối cùng sẽ hoại diệt và chết luôn.

Phật hỏi :
— Đại Vương, ông chưa chết, làm sao biết nó sẽ hoại diệt ?

Vua đáp :
— Bạch Thế Tôn, cái thân vô thường của đệ tử luôn luôn thay đổi, hư hoại dần, tuy là chưa chết, nhưng đệ tử vẫn đang nhìn thấy sự thay đổi, hư hoại không lúc nào ngưng, đang tàn tạ như lửa cháy lụi dần cho đến lúc hết củi.

Phật nói :
— Đúng vậy Đại Vương. Bây giờ ông đã già, so với lúc còn là đứa trẻ ông thấy thế nào?

Vua đáp :
— Bạch Thế Tôn, khi đệ tử còn là đứa bé thì da dẻ hồng hào, rồi lúc lớn lên thì khí lực dồi dào, sung mãn. Ngày nay già nua yếu đuối, thân hình gầy gò, trí óc chậm lụt, tóc bạc, mặt nhăn, cho nên đệ tử biết mình chẳng còn sống bao lâu, chẳng thể so sánh ngày nay với những ngày thanh xuân đầy ắp sức sống của đệ tử. Mà sự đổi thay này nó xảy ra một cách âm thầm, khó mà nhận thấy. Nhưng chính vì sự đổi thay liên tục đó, mà thân thể đệ tử trở thành già yếu như bây giờ. Bởi vì khi đệ tử 20 tuổi, tuy là còn trẻ, nhưng trông cũng đã già hơn lúc lên 10, rồi khi 30 lại già hơn 20. Bây giờ đệ tử đã 62, thì lại già yếu hơn lúc năm chục tuổi.

Bạch Thế Tôn, đây là đệ tử nói về sự thay đổi của từng thập niên, nhưng nếu nhìn kỹ hơn thì lại thấy sự thay đổi chẳng những xảy ra từng năm, từng tháng, từng ngày, mà thật ra là từng niệm, từng niệm nó đã dời đổi. Vì thế đệ tử biết thân này đang đi tới đích cuối cùng là hoại diệt.

Phật hỏi :

— Đại Vương, ông quan sát những cái đang thay đổi không ngừng và biết rằng ông sẽ chết. Nhưng ông có quan sát biết được trong thân ông có cái gì không thay đổi rồi chết chăng?

Vua chắp hai tay cung kính thưa :

— Bạch Thế Tôn, đệ tử thật tình không được biết !

Phật dạy:

— Bây giờ tôi chỉ cho ông thấy cái Bản Tâm không hề sinh diệt. Đại Vương, lần đầu tiên nhìn thấy sông Hằng, ông được mấy tuổi ?

Vua đáp :

— Khi lên ba tuổi, đệ tử được mẹ dẫn đi lễ thần Jiva. Lúc đi qua con sông, đệ tử được biết đó là sông Hằng.

Phật hỏi :

— Như ông mới nói, khi 20 tuổi, ông già hơn lúc lên 10, cho đến khi ông 60, ngày, tháng, năm trôi qua, cơ thể ông thay đổi theo từng niệm tưởng. Vậy năm lên 3 tuổi thấy sông Hằng và năm 13 tuổi thấy sông Hằng, hai “cái Thấy” đó có khác nhau không?

Vua thưa :
— Bạch Thế Tôn, cái Thấy thì cũng giống nhau, dù là lúc đệ tử mới lên 3 hay là khi đã 13 tuổi, mà ngay cho đến nay đã 62 tuổi, cái thấy cũng vẫn là thấy, cũng giống nhau thôi.,

Phật dạy :
— Ông thấy tóc ông bạc, mặt ông nhăn, hẳn là ngày nay ông có nhiều nép nhăn trên cơ thể hơn khi ông còn là đứa bé. Vậy hôm nay ông thấy sông Hằng, ông có nhận ra cái thấy của ông có “già” hơn cái thấy khi ông còn trẻ chăng?

Vua thưa :
— Bạch Thế Tôn , cái thấy thì luôn luôn vẫn vậy.

Phật dạy :
— Này đại vương, dù mặt ông già đi, nhưng cái “bản thấy” vẫn không già. Vậy cái nào có nhăn nhúm, có già đi, thì cái ấy bị biến đổi; còn cái nào không già, thì cái đó không biến đổi. Cái có biến đổi thì có hoại diệt, sinh tử. Cái không biến đổi thì bản chất nó không thuộc về quy luật sanh diệt, cho nên nó không bị luật này chi phối, nó không sinh diệt.

Vua Prasenajit cùng đại chúng nghe Phật dạy thì đều hiểu được rằng sau khi chết sẽ không phải là hư vô, hoàn toàn hoại diệt, mà sau khi bỏ xác thân này, tâm sẽ thọ thân khác, sẽ có cuộc đời khác, không phải mất hẳn.

Nhà vua cùng toàn thể đại chúng đều hớn hở vui mừng vì được nghe bài pháp từ trước tới nay chưa từng được nghe…”….

Thưa quý khán thính giả,

Đức Phật giảng bài pháp này để hóa giải sự hiểu lầm rằng con người ta sau khi chết sẽ hoàn toàn hoại diệt, mất tích vào hư vô. Quan niệm như thế là Chấp Đoạn. Ngài muốn giải thích cho tôn giả Ananda biết rằng ngoài cái hoại diệt còn có cái trường tồn. Mà đây lại là vấn đề rất khó giải thích, nên đức Phật đã phải dùng lời thưa hỏi của vua Prasenajit để làm sáng tỏ.

Không những vua Prasenajit không nhận ra được bản chất của sinh tử, mà nhà vua còn nhìn lầm rằng con người sau khi chết sẽ hoại diệt thành hư vô. Nếu nhà vua biết rằng chết chỉ là một ảo giác trong dòng đời, thì nhà vua đã nhận ra được rằng sinh  và tử chỉ là hai giai đoạn của dòng sinh tử triền miên, trong sinh đã có mầm mống của tử và sau tử lại có sinh trở lại, thay đổi trôi lăn hoài trong vòng quay sinh, trụ, dị, diệt, ….rồi lại tới sinh …

Nếu biết được điều này thì nhà vua đã thấu hiểu được cái Chân Thường — là Bản Tâm bất sanh bất diệt, như trong Bát Nhã Tâm Kinh đã nói “bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm…”

Để có thêm tài liệu về Tâm, chúng tôi xin kính gửi đến quý thính giả một bài pháp của thiền sư Soyen Shaku, trích dịch từ cuốn Sermons of a Buddhist Abbot, do học trò của ông là Daisetz Teitaro Suzuki dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Anh.

Thiền sư Soyen Shaku là vị thiền sư Phật giáo đầu tiên giảng dạy về đạo Phật trên đất Hoa kỳ. Ông thuộc dòng thiền Lâm Tế, là viện trưởng hai thiền viện Engaka-Ji  và Kencho-Ji, tỉnh Kamakura, nước Nhật.

Vào cuối thế kỷ thứ 19, năm 1893, thiền sư đã đến nước Mỹ và thuyết trình về Thiền của Phật giáo trong Hội Nghị các Tôn Giáo tại Chicago. Đầu mùa Xuân năm 1905, thiền sư trở lại nước Mỹ và ở lại cho đến tháng Tư năm 1906 mới rời nước Mỹ để qua Âu Châu thuyết giảng.

Trong thời gian trên một năm trời lưu ngụ tại Mỹ, thiền sư Soyen Shaku thể theo lời mời của các bằng hữu, đã giảng rất nhiều thời pháp. Thiền sư nói bằng tiếng Nhật, được thông ngôn qua tiếng Anh, chủ yếu là giới thiệu kinh Tứ Thập Nhị Chương và đại cương về giáo lý nhà Phật, tại nhiều địa danh, thí dụ San Francisco, Los Angeles, Sacramento, Fresno, San Jose, Oakland, Washington, New York, Philadelphia, Boston và nhiều nơi khác nữa trong nước Mỹ.

Kinh Tứ Thập Nhị Chương là kinh căn bản trong kho tàng kinh điển Phật giáo.

Cuối thế kỷ thứ 19 là thời gian các phương tiện truyền thông còn thô sơ, eo hẹp, sự tận tụy đi khắp nơi của ông để hoằng truyền Phật pháp và giải tỏa những sự hiểu lầm đạo Phật của người Tây Phương tại Mỹ Châu và Âu Châu, đã làm thay đổi nhãn quan của nhiều người. Thuyết giảng tại bất cứ nơi nào, ông cũng đều được thính chúng nồng nhiệt tán thưởng.

Những bài giảng của ông được tiến sĩ Daisetz Teitaro Suzuki, người đệ tử cùng một chí hướng như ông, đã tận tụy đem đạo Phật từ Đông Phương trải dài qua Tây Phương, dịch sang tiếng Anh.

Cả hai thày trò đều coi Đông Phương và Tây Phương cùng là nhà của mình.

Thưa quý khán thính giả,

Sau đây là bài pháp được trích dịch từ cuốn Sermons of a Buddhist Abbot của thiền sư Soyen Shaku:

…”… Nhà Phật nhìn thế giới dưới hai khía cạnh, vật chất và tâm linh. Trong thế giới vật chất, sinh và tử là quy luật tự nhiên, chi phối toàn bộ đời sống. Trong thế giới này, không có bất cứ cái gì có thể  tồn tại vĩnh viễn. Tất cả những gì xuất hiện dưới ánh mặt trời đều sẽ biến mất, nó biến hiện  nhanh thoăn thoắt như con chim đại bàng xà xuống quắp mồi. Mặt trời mọc rồi lặn, những dẫy núi cao vút rồi xụp xuống, đại dương dậy sóng rồi khô cạn, và ngay đến bản thân trái đất, cũng rung lên đùng đùng ngay trên nền của chính nó.

Trong thế giới vật chất, cái gì xuất hiện thì sẽ có ngày biến mất, đổi thay liên tục. Tóm lại, thế giới này chẳng có gì hơn là một sự liên tục đổi thay để trở thành cái mới.

Tính cách tạm bợ, không bền vững, là một trong những sự kiện phổ biến nhất trên cuộc đời. Chắc chắn rằng bất cứ ai có tầm nhìn sáng suốt đều phải nhận ra điều đó. Và nếu nhận chân được điều đó thì người ta sẽ không còn quá dính mắc với cái thế giới sinh diệt biến hiện liên tục này. Từ ý nghĩ đó, người ta ước ao một cảnh giới bình an vĩnh cửu.

Nhưng cái thế giới sinh diệt liên tục này có đáp ứng được nhu cầu về niềm mơ ước một cảnh giới vĩnh cửu không?

Phật giáo dạy chúng ta rằng có cảnh giới siêu việt mà nơi đó phần tâm linh được hoàn toàn giải thoát. Phật giáo cũng dạy rằng cảnh giới siêu việt này không bị giới hạn bởi vật chất, vì thế, không bị chi phối bởi quy luật sinh tử. Chỉ có những người đã giải thoát khỏi những tham đắm của thế giới hiện tượng, thì mới nếm được mùi vị của cảnh giới cao thượng. Núi có thể dời, biển có thể cạn, nhưng một nội tâm thanh tịnh thì sẽ vượt lên trên mọi sự thăng trầm, thảnh thơi trong trạng thái vĩnh viễn an lạc.

Vậy thì cái thế giới tâm linh thanh tịnh đó có tách rời khỏi thế giới vật chất này chăng? Nếu nó tách rời thì làm sao mà những con người phàm phu như chúng ta có thể nâng mình lên tới cảnh giới đó?

Chúng ta cần nhớ kỹ một điều là không có vấn đề siêu tự nhiên trong đạo Phật. Người Phật tử chân chính theo sát những sự kiện thực tế minh bạch, hiếm khi để cho mình nhắm mắt tin theo những người tự cho là có thẩm quyền siêu nhiên.

Thành ra đối với một số người, Phật giáo có vẻ như quá đơn sơ, không hấp dẫn, thiếu tính chất phong phú huy hoàng của trí tưởng tượng. Cho nên đôi khi người ta coi đạo Phật như là một ngành văn hóa đạo đức xã hội học, chứ không phải là tôn giáo. Vì người ta cho rằng không tôn giáo nào có thể tồn tại nếu không có niềm tin vào cái gì đó siêu nhiên, phép lạ, hay là những điều gì đó mà người ta không thể thực nghiệm hoặc giải thích một cách hợp lý.

Nhưng đức Phật đã khẳng định là những điều Ngài dạy đều không có gì khác thường, chỉ đơn giản là những sự kiện rõ ràng mà ai cũng có thể kiểm chứng. Ngài dạy rằng không phải chân lý được mở ra cho chúng ta thấy từ những nguồn xa lạ, bí hiểm, mà do chính chúng ta tự khám phá qua công năng hành trì thiền quán, thanh tịnh hóa tâm, điều mà bất cứ ai cũng có thể thực hiện được. Ngài cũng nhắc chúng ta rằng niềm tin đạo Phật không phải là mê tín mà là nhận định sáng suốt, niềm tin đó là chân lý đã được thực nghiệm, kiểm chứng, chứ không phải là niềm tin từ một nguồn giả tưởng nào đó do được mặc khải.

Phải chăng đó chính là nguyên nhân đã kết thành hoa trái là lòng khoan dung, từ bi, bất bạo động của nhà Phật….”…

 Thưa quý khán thính giả,

Trên đây là bài giảng của thiền sư Soyen Shaku. Trước khi ngưng lời, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị câu chuyện Thiền về pháp An Tâm của Sơ Tổ thiền tông Bồ Đề Đạt Ma dạy đệ tử là Nhị Tổ Huệ Khả.

Có lẽ quý vị đã có dịp nghe nói về Sơ Tổ, hoặc trông thấy ngài trong hình ảnh một vị sư Ấn Độ với bộ râu quai nón, đôi mắt xếch nhìn sâu thăm thẳm, vai vác một cây thiền trượng, đầu thiền trượng treo lủng lẳng một chiếc dép.

Hình ảnh ngài đã đi sâu vào tâm khảm dân chúng, nhất là giới văn học Phật giáo, như là một biểu tượng của tự do khai phóng, với câu tuyên ngôn sấm sét khi ngài mới đặt chân lên đất Trung Hoa:

Không lập văn tự
Truyền ngoài giáo lý,
Chỉ thẳng tâm ngưòi
Thấy Tánh thành Phật.

Từ Ấn Độ  vượt sóng tới đất Trung Hoa để truyền bá Ánh Đạo Vàng, người đầu tiên Sơ Tổ gặp là vua Lương Võ Đế. Nhà vua rất am hiểu giáo lý nhà Phật, thường khoác tăng bào ra ngoài ngự bào để giảng pháp cho dân chúng. Buổi sơ kiến, hai người đã không hiểu nhau vì Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma là một thiền sư đắc đạo, ngài dạy cái cốt tủy, thuộc về Phật thừa, Ngài dạy người tu hành để giác ngộ thành Phật. Vua Lương Võ Đế chỉ dạy về lý thuyết suông. Cũng có thể ví như nếu nói rằng “kinh sách như ngón tay để chỉ mặt trăng là giác ngộ Bản Thể” thì nhà vua chỉ nói về ngón tay trong khi Sơ Tổ chỉ thẳng vào mặt trăng, là Tâm.

Vì thế Lương Võ Đế không hiểu được Sơ Tổ. Ngài từ biệt vua băng qua sông Giang Bắc, thẳng đường tới nước Ngụy, lên núi Tung Sơn ngồi quay mặt vào vách đá chùa Thiếu Lâm chín năm, người đương thời gọi ngài là bích quán  Bà La Môn, nghĩa là ông Bà La Môn nhìn vách.

Một hôm, đệ tử của Sơ Tổ là Huệ Khả thưa:

– Bạch thầy, sao tâm con không an. Xin thày dạy con phép an tâm.

Tổ nói:

– Đưa tâm ra đây ta an cho.

Huệ Khả ngẩn người rồi thưa:

– Con tìm tâm mà không thấy.

Tổ dạy:

– Ta đã an tâm cho con rồi.

Ngay lập tức, Huệ Khả nhận ra được lối vào Đạo.

 Câu hỏi của Huệ Khả là nói về tâm sinh diệt suy nghĩ lăng xăng tối ngày. Nó vốn là Vọng. Trong hội giảng kinh Lăng Nghiêm, tôn giả Ajnata-Kaundinya gọi nó là khách trần, tới rồi đi. Vọng tâm này có thể ví như hình ảnh hiện trên máy truyền hình, hình này đi hình khác tới. Nhưng màn hình thì vẫn còn đó. Vọng tâm sinh diệt lăng xăng, tới rồi đi theo với cuộc đời ngắn ngủi phù du, nếu còn nghiệp chướng chiêu cảm tái sinh thì bỏ thân này sẽ qua thân khác, đến khi nào tu hành cho tới tâm được thanh tịnh thì sẽ là Thanh Tịnh Pháp Thân, là Chân Tâm, là trạng thái Niết Bàn.

Thưa quý khán thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý khán thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý khán thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 7 – Chân Tâm – Vọng Tâm

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý khán thính giả,

Trong một kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã kính gửi tới quý vị đoạn mở đầu của bài Bát Nhã Tâm Kinh, thường gọi tắt là Tâm Kinh, mà có lẽ ít nhất một lần trong đời, quý vị đã từng tụng, hoặc nghe tụng, vì bất cứ một thời kinh nào, dù là ở chùa hay tại tư gia, cũng đều có tụng bài này.

Ngay câu đầu của bài kinh là:

“Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm bát-nhã ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai Không, độ nhất thiết khổ ách …”…

Bát-nhã ba-la-mật-đa là phiên âm của tiếng Phạn prajna paramita, còn được gọi là “trí-tuệ bát-nhã”. Tiếng Phạn prajna có nghĩa là trí tuệ, paramita nghĩa là “rốt ráo”, “qua bờ kia”. Trí-tuệ bát-nhã là một thuật ngữ của nhà Phật có nghĩa là “trí-tuệ rốt ráo”. Trí tuệ này không do học nhiều hiểu rộng chuyện thế gian mà phát triển, nhưng từ công năng thiền quán thâm sâu mà trực ngộ.

Câu kinh trên được giải thích là “Bồ Tát Quán Tự Tại do thực hành thiền quán thâm sâu mà trực ngộ rằng ngũ uẩn (tức là toàn thể thân và tâm) vốn chỉ duyên với nhau mà xuất hiện, bản chất là “Không”, do đó, không còn bám víu, nên giải thoát khỏi tất cả mọi nỗi thống khổ”.

Bài kinh này được coi là quan trọng vì rất cô đọng, chỉ gồm có 260 từ ngữ  thôi, mà giới thiệu được điều cốt tủy của đạo Phật, là Tâm.

Tâm này, theo Luận Đại Thừa Khởi Tín, tác giả là luận sư Mã Minh, thì vốn có hai mặt là Tâm Chơn Như (nói gọn là Chân Tâm) và Tâm Sanh Diệt (nói gọn là Vọng Tâm). Tuy có hai tên gọi, nhưng không phải là 2 tâm, cũng như nước và sóng, tuy gọi bằng 2 tên, có hai dạng khác nhau, nhưng đều là nước, chỉ khác nhau là trong thể tĩnh và động mà thôi. Hai tâm này không rời nhau và bao trùm tất cả mọi sự, mọi vật, trên thế gian, cả những cái có hình tướng và những điều không có hình tướng.

Tâm Chơn Như thì bất sanh bất diệt, nên gọi là Như, là Chân Tâm. Tâm Sanh Diệt thì tùy theo sự suy nghĩ mà khởi, nên gọi là Vọng Tâm. Vọng Tâm tức là tâm ý thức của chúng ta liên miên trôi chảy, suy nghĩ liên tục, như dòng suối không lúc nào ngưng, nên còn gọi là “dòng suối ý thức”.

Thưa quý khán thính giả,

Có người quan niệm rằng “Suy nghĩ là hiện hữu”. Nhà Phật cho rằng “suy nghĩ chỉ là phần Vọng của Tâm, như lớp sóng nhồi trên biển cả. Không suy nghĩ là hội nhập toàn thể biển cả, là Chân Tâm, là Trí Tuệ Bát Nhã”.

Công cụ của Vọng Tâm là Ngũ Uẩn, là “năm món ngăn che” như sau:

Sắc Uẩn, là phần hình hài vật chất, gồm bốn thành tố là:

Chất cứng, thuật ngữ nhà Phật gọi là Địa Đại, tạo thành thịt da xương cốt, vân vân..

Chất lỏng, nhà Phật gọi là Thủy Đại, tạo thành máu huyết, nước mắt, nước tiểu, vân vân…

Chất hơi, nhà Phật gọi là Phong Đại, tạo thành hơi thở, vân vân…

Chất nóng, nhà Phật gọi là Hỏa Đại, tạo thành sự ấm áp của cơ thể, vân vân…

Nói gọn thì phần cơ thể vật chất của con người là do bốn thành tố này họp lại, nên nhà Phật thường nói “cái thân tứ Đại”. Sắc Uẩn gồm tất cả những cơ quan như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể con người, còn gọi là Thân Căn.

Thọ Uẩn, là phần cảm giác, vui buồn khi đối trước cảnh.

Tưởng Uẩn, là phần nhận biết cảm giác, âm thanh, màu sắc, mùi vị, ý niệm, vân vân…

Hành Uẩn là phần tác ý, tạo nghiệp.

Thức Uẩn, là môi trường nhận biết để cho Thân Căn và đối tượng có thể duyên sanh với nhau mà hoạt động, gọi là bộ ba Căn, Trần và Thức.

Thí dụ khi một người nghe thấy tiếng trống, thì tai là Căn, tiếng trống là Trần và  duyên sanh giữa Căn và Trần khiến người đó nghe được, là do sự hiện hữu của Thức.

Căn có Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý Căn, tức là Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân và Ý Căn.

Thức tùy duyên theo Căn nào thì đổi thành Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân và Ý Thức, chứ không phải là một thể cố định. Về điều này, đức Phật đã dạy rõ như sau:

– “ Thức do các duyên với điều kiện mà sinh khởi chứ không cố định. Nếu không có duyên thì không có Thức sinh khởi. Thức được gọi tên tùy thuộc vào điều kiện nó duyên theo, do con mắt và cảnh vật mà Nhãn Thức duyên, do tai nghe và tiếng động mà Nhĩ Thức duyên, vân vân. Thí dụ ngọn lửa được gọi tên theo nguyên liệu, lửa cháy bằng củi gọi là lửa củi, cháy bằng rơm gọi là lửa rơm. Thức cũng thế, tùy theo điều kiện tương ứng mà nó có tên, thí dụ ở mắt là Nhãn Thức, ở tai là Nhĩ Thức, ở mũi là Tỷ Thức, vân vân”.

Hành giả thiền quán thâm sâu, tâm thức trở nên thanh tịnh, bất chợt xảy ra đột biến, trực nhận rằng tất cả những thành tố của năm nhóm tạo thành Ngũ Uẩn vốn chỉ là “Không”, do duyên với nhau mà tạo thành mọi sự, hợp tan không cố định, cho nên không còn bám níu và vì thế mà tự giải thoát khỏi mọi nỗi thống khổ.

Thưa quý khán thính giả,

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là người đầu tiên đã thực hiện thành công quá trình tu chứng đó.  Vốn là một vị hoàng tử Ấn Độ thời phong kiến, được vua cha đặc biệt cưng chiều, thái tử Tất Đạt Đa đã từng sống một cuộc đời cực kỳ xa hoa. Sau khi chứng kiến 4 trường hợp sinh ra, già đi, bệnh tật rồi chết, ngộ được lý vô thường, Ngài khởi tâm đi tìm đường giải thoát cho chúng sinh, thực tập những pháp tu tập cực kỳ gian nan, khổ hạnh, ròng rã 6 năm trời, tới nỗi đã đứng bên ngưỡng cửa của tử thần. Từ kinh nghiệm bản thân, Ngài nhận định rằng cả hai lối sống — xa hoa và cực khổ, hành xác — đều không phải là con đường đúng trong công cuộc luyện tâm để giải thoát, Ngài khởi sự theo đường lối Trung Đạo, ăn uống vừa đủ để nuôi sống thân thể trong khi chú tâm nỗ lực hành thiền.

Sau một thời gian hành trì thiền quán dưới gốc cây Bồ đề, dòng suối ý thức đã lắng đọng, vào buổi sáng ngày thứ 49, khi Sao Mai mọc trên nền trời, Ngài chợt bừng tỉnh, ra khỏi cơn mê vọng của thế giới hiện tượng duyên sinh, trực ngộ cái mà chúng ta tạm dùng danh từ để gọi lên, là Bản Thể, Chân Tâm, Phật Tánh, Giác Tánh, Phật Tâm, Buddha Nature, Buddha Mind, True Mind, True Nature, vân vân….

Từ sự giác ngộ đó, suốt gần 50 năm, cho đến lúc tạ thế, Ngài đã dùng rất nhiều pháp phương tiện để quảng bá đường lối tu tập thành công của Ngài.

Như chúng tôi đã trình bày, Bát Nhã Tâm Kinh là bài kinh tuy là rất ngắn, chỉ 260 chữ thôi, nhưng rất quan trọng, vì đó là bài kinh giới thiệu về Tâm.

Đoạn trích dẫn ở trên là nói về Vọng Tâm, biến hiện là do Ngũ Uẩn duyên nhau mà thành. Hành giả quán chiếu thâm sâu, trực nhận được rằng Ngũ Uẩn — tức là toàn bộ thân và tâm — bản chất là Không, chỉ nhờ biến hiện liên tục, như người cầm cây nhang một đầu cháy đỏ, quay tít thành một vòng tròn, thì đầu cây nhang đỏ xoay tròn làm thành vòng tròn mầu đỏ, tưởng như là có một vòng tròn mầu đỏ, mà thật ra chỉ là đầu cây nhang đang cháy di động, huyễn hiện lên thành hình vòng tròn đỏ mà thôi.

Kinh Hoa Nghiêm có bài kệ:

“Nếu người muốn biết rõ,

Tất cả Phật ba thời,

Phải quán tánh pháp giới,

Tất cả do TÂM tạo”.

Thiền sư Duy Tắc giải thích như sau:

– “Nói đến chữ TÂM cũng như hư không, vốn là thanh tịnh, vốn là thấu triệt, chẳng có hình dáng, chẳng có phương sở, bất diệt, bất sanh, bất động, bất biến. Vậy tại sao lại nói là duy tâm tạo?

Nguyên cái tâm này dù nói bất biến mà cũng là tùy duyên, vì tùy duyên nên năng tạo; nói tùy duyên là vì một niệm thình lình sanh khởi, hoặc tiếp xúc với ngoại cảnh, trong và ngoài cảm ứng với nhau, gọi là nhân duyên, có nhân duyên mới thành pháp giới. Nay dùng thí dụ để tỏ rõ :

Tâm như nước, pháp giới như làn sóng. Bản thể của nước vốn yên tịnh, chẳng phương sở, chẳng lay động, khi gặp gió thổi thì muôn ngàn làn sóng tùy sự tiếp xúc mà nổi lên. Vậy thì nước có thể tạo ra làn sóng, làn sóng do nước mà có; cũng như Tâm có thể tạo ra pháp giới, pháp giới do Tâm mà có vậy”.

Kính thưa quý vị,

Kinh Lăng Nghiêm, đức Phật giảng về Tâm. Nhờ sự giải thích rất chi tiết, kỹ lưỡng, chu đáo của đức Phật mà tôn giả A Nan cùng chúng đệ tử trong hội Lăng Nghiêm hiểu được rằng Tâm vô hình mà chu biến khắp mười phương.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phật khai thị cho chúng sinh ngộ nhập Tri Kiến Phật. Tri Kiến Phật là một cách gọi khác của Chân Tâm.

Kinh Lăng Già giới thiệu Tự Giác Thánh Trí, cũng là một cách gọi khác của Chân Tâm, Trí Tuệ Bát Nhã, Tri Kiến Phật.

Kinh Đại Bát Nhã giới thiệu Trí Tuệ Bát Nhã, cũng là một cách gọi khác của Chân Tâm.

Nỗ lực của đức Phật và chư Tổ là nhắc nhở, thức tỉnh chúng sinh, để họ ra khỏi cơn mê vọng  Tham Sân Si, tạo nghiệp, trả quả báo, trôi lăn hoài trong vòng sinh tử luân hồi.

Đức Phật đã khẳng định:

– “Này chư Tỳ kheo, bây giờ cũng như trước đây, Như Lai chỉ dạy về “Khổ” và về  “Con Đường Diệt Khổ”.

Ngài nói vậy vì Ngài đã có kinh nghiệm thực chứng, đã bừng tỉnh ra khỏi cơn mê, đã “ngộ nhập Tri Kiến Phật”, đã “chứng ngộ Thánh Trí, Trí Tuệ Bát Nhã, Chân Tâm”, đã “độ nhất thiết khổ ách”, đã “đi hết con đường Diệt Khổ” đã “hết khổ” và đang sống trong cảnh giới Hữu Dư Niết Bàn.

Đến đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả lời giải thích về Niết Bàn, trích trong cuốn “The Mind and the Way – Buddhist Reflections on Life”, tác giả là thiền sư Ajahn Sumedho.

Thiền sư Sumedho thế danh là Robert Jackman sinh năm 1934 tại Seattle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ. Sau khi tốt nghiệp đại học, thày gia nhập binh chủng Hải Quân Mỹ, ngành quân y, phục vụ trong cuộc chiến Triều Tiên. Sau bốn năm quân ngũ, thày trở lại nhà trường và tốt nghiệp 2 bằng M.A. về môn Viễn Đông Học và môn Nam Á Châu Học tại University of California, Berkeley, năm 1963. Sau đó, thày hoạt động trong hội Hồng Thập Tự và Tổ Chức Quốc Tế Phụng Sự Hòa Bình.

Vào năm 1966, do lòng ái mộ Phật Giáo, thày sang thăm Thái Lan và xin thọ giới Sa Di. Một năm sau, 1967, thày thọ giới Tỳ Kheo và từ đó, thày ở lại tu thiền theo hệ phái Nguyên Thủy suốt mười năm, dưới sự hướng dẫn của thiền sư Ajahn Chah, một bậc đạo sư danh tiếng của Thái Lan trong thời hiện đại. (Ajahn có nghĩa là bậc đại đức, là người có đức độ lớn.)

Năm 1977, nhận lời mời của giáo hội Phật giáo Anh Quốc, thiền sư Ajahn Chah đã dẫn theo thày Sumedho qua Anh. Sau đó, thiền sư Ajahn Chah để thày Sumedho ở lại chùa Hampstead tại Luân Ðôn để coi sóc tăng chúng tại đây. Năm 1979 chư tăng tìm thêm được một cơ sở hoằng pháp tại Sussex và thế là tu viện Chithurst ra đời.

Sự phát triển càng tăng mau dưới sự hướng dẫn của thày Sumedho. Năm 1984, Trung Tâm Phật Giáo Amaravati được thành lập ngay tại gần thủ đô Luân Đôn, Anh Quốc, cùng với các cơ sở Phật giáo khác được thành lập tại nhiều nơi thuộc miền Bắc và Tây Nam nước Anh. Đồng thời các chi nhánh thuộc hệ thống Giáo hội Phật giáo Anh Quốc cũng được thành lập tại các nước Thụy Sĩ và Tân Tây Lan, dưới sự chỉ đạo tinh thần của thày Sumedho.

Đề tài thày Sumedho giảng thường là các vấn đề thực tế, xảy ra trong đời sống hằng ngày. Thày giảng về cách hóa giải cơn giận dữ, sống hài hòa với thế giới và luôn luôn nhắc nhở thính chúng phải tỉnh thức trước sự vô thường trong cuộc đời. Thày dạy mọi người bước trên con đường giác ngộ giải thoát bằng thiền định, về sự xả bỏ những vướng mắc do Tham Sân Si gây ra và nuôi dưỡng tâm từ bi, khuyên khích sống cuộc đời thanh đạm, vân vân …

Sau đây là quan điểm của thày Sumedho về Niết bàn.

…“… Theo một số người thì Niết Bàn là từ ngữ để mô tả trạng thái sung sướng, ngây ngất, mê ly, như đang ở trên thiên đàng. Sự thực, Niết Bàn có nghĩa là “không bị những điều kiện tạo thành Sinh và Tử trói buộc”. Có nghĩa là đương sự đã hoàn toàn buông xả, đã giải thoát khỏi những trói buộc của tham lam, sân hận và si mê.

Đức Phật đã nói rõ rằng giáo pháp của Ngài là để dạy con người, những người có tinh thần trách nhiệm về đạo đức, những người thông tuệ. Vậy thì bạn có phải là một trong số người đó không? Nếu không thì, có lẽ tốt hơn, bạn hãy tu tỉnh lại.

Như vậy, Niết Bàn không phải là một trạng thái thần tiên siêu thoát ở trên trời, hoặc lơ lửng giữa không trung, hoặc trong kiếp sắp tới. Đức Phật luôn luôn nhắc nhở chúng ta về sự tỉnh thức, thấy rõ dòng đời đang trôi chảy như chính nó, ngay trong lúc này và tại nơi đây, trong phạm vi khả năng của con người.

Chúng ta cần quán chiếu thực trạng của đời sống, có thế chúng ta mới thực sự bắt đầu nhìn thấy chân lý, hơn là cứ suy đoán, tưởng tượng, tin hoặc không tin. Như thế, bạn sẽ có thể sáng suốt quán chiếu, thẩm thấu, thực nghiệm được trạng thái giải thoát, Niết Bàn, do đã thoát ra khỏi những dính mắc, trói buộc của đời sống….”…

Thưa quý khán thính giả,

Trước khi dứt lời, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một câu chuyện Thiền, trích dịch từ cuốn Collection of Stone and Sand”, do thiền sư Muju viết bằng Nhật ngữ, dịch giả Paul Reps dịch sang Anh Ngữ. Câu chuyện như sau:

“Ngay trước khi Ninakawa từ trần, thiền sư Ikkyu đến thăm và hỏi ông:

– Để cho tôi độ ông, được không?

Ninakawa trả lời:

– Tôi đến đây một mình và ra đi một mình. Ông có thể giúp gì cho tôi?

Thiền sư Ikkyu trả lời:

– Nếu ông nghĩ rằng ông thật sự có đến có đi, thì đó là ảo tưởng của ông. Để tôi chỉ cho ông con đường mà ở đó không có đến và đi.

Với mấy lời khai thị này, Đạo lộ đã được thiền sư Ikkyu mở ra rõ ràng,  Ninakawa mỉm cười, nhẹ nhàng qua đời.”

Kính thưa quý vị,

Con đường “không có đến và đi” là con đường Niết Bàn. Bát Nhã Tâm Kinh đã nói: “… bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm…”, đó là Như Như, là Chân Tâm, Phật Tánh, Niết Bàn. Vì Bản Tâm, Giác Tánh, Phật Tánh của mỗi chúng sinh vốn cùng khắp không gian và thời gian, bất tăng bất giảm, nên gọi là Như, có nghĩa là không đi, không đến, mà vốn đã sẵn sàng, như kinh Viên Giác nói “trong quặng vàng vốn đã có vàng”.

Chỉ một lời khai thị, thiền sư Ikkyu đã cởi mở được tâm thức chấp chặt của Ninakawa, kéo ông ta ra khỏi cơn mê vọng về sinh tử luân hồi, về đến và đi trong cõi Ta Bà.

Thưa quý khán thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc chương trình phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.

Nếu quý khán thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý khán thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

Bài 6 – Bát Chánh Đạo và kinh Kamala

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý khán thính giả,

Trong kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã kính gửi tới quý thính giả bài kệ tóm tắt con đường tu hành của người Phật tử, như sau:

Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành.

“Không làm những điều ác” và “Siêng làm những việc lành” là phần đạo đức thế gian, không riêng đạo Phật, mà hầu hết các tôn giáo và các nền giáo dục trên khắp thế giới đều dạy. Duy câu “Tự thanh tịnh tâm ý” thì mới chính là đặc điểm riêng biệt của đạo Phật.

Tại sao vậy?

Tại vì, nội dung của “tự thanh tịnh tâm ý” thâu gồm sự giải thoát khỏi hết tất cả mọi vướng mắc gây ra bởi  Tham, Sân và Si.

Hóa giải ba sự độc hại này, chuyển thành Giới, Định, Tuệ, chấm dứt tất cả những nỗi thống khổ, là Đạo Đế, là Bát Chánh Đạo, gồm có:

– Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng thuộc về Giới học

– Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định thuộc về Định học

– Chánh Kiến, Chánh Tư Duy thuộc về Tuệ học.

Trong đó, Chánh Kiến quan trọng nhất, vì có chánh kiến thì toàn bộ con đường tu học mới được soi sáng, không bị lạc vào tà đạo.

Đức Phật đã nói trong kinh Trung Bộ rằng :

… “ … chánh kiến đi hàng đầu. Thế nào là chánh kiến? Ta nói có hai loại, có loại chánh kiến hữu lậu, thuộc phước báo; có loại chánh kiến thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi…”….

Từ ngữ chánh kiến được dùng trong Bát Chánh Đạo cũng còn gọi là chánh tri kiến, có nghĩa là thâm hiểu Tứ Diệu Đế. Người thâm hiểu, giác ngộ Tứ Diệu Đế thì sẽ  nảy sinh chánh tri kiến.

Nơi kinh Tương Ưng Bộ, đức Phật đã giải thích rõ ràng về Chánh Kiến, như sau:

“Này chư Tỳ-khưu, thế nào là chánh tri kiến?  Đó là sự thông hiểu về khổ, sự thông hiểu về nguyên nhân của khổ, sự thông hiểu về sự diệt khổ, và sự thông hiểu về con đường diệt khổ.

Thưa quý khán thính giả,

Nơi đây, chúng tôi xin quý vị lưu ý đôi chút về từ ngữ chánh kiến.

Trong đời sống, chúng ta thường nghe nói đến chánh kiến với nghĩa là  ý kiến, quan điểm, lập trường chính trị, thí  dụ  “bất đồng chánh kiến”, nghĩa là ý kiến về chính trị khác nhau. Tiếng Hán có nhiều từ tuy cùng âm thanh nhưng viết khác và nghĩa cũng khác. Cho nên còn một chữ chánh khác nữa có nghĩa là điều phải, chánh đáng, ngay thẳng. Vì thế, từ ngữ chánh kiến còn có nghĩa là sự hiểu biết đúng đắn.

Nhưng Chánh Kiến trong Bát Chánh Đạo thì lại đặc biệt khác. Chánh Kiến ở đây có nghĩa là thấu triệt Bốn Chân Lý Thâm Diệu. Kinh Ðại Tứ Thập và Kinh Chánh Tri Kiến xác định chánh kiến là chi phần chủ yếu của Bát Chánh Ðạo, tức là Ðạo Đế, con đường giải thoát. Có chánh kiến thì mới có chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Không có chánh kiến thì sẽ chỉ có tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm và tà định.

Để quý khán thính giả nhận định rõ thêm về Chánh Kiến, hoặc Chánh Tri Kiến, chúng tôi trích dịch để gửi tới quý vị một bài pháp nói về Chánh Kiến, từ cuốn “Being Nobody, Going Nowhere – Meditations on the Buddhist Path”, tác giả là Ni Sư Ayya Khema.

Ni sư Ayya Khema là người Do Thái, sinh tại Đức năm 1923. Thời thơ ấu, khi mới 15 tuổi, bà đã trải qua những ngày gian nan trốn chạy khỏi sự tàn sát của Đức Quốc Xã. Cuối cùng, bà định cư tại Mỹ, lập gia đình và có hai con, một trai và một gái.

Từ năm 1960 đến 1964, bà cùng  chồng và con trai đi du lịch vòng quanh châu Á, gồm những nước quanh dẫy núi Hy Mã Lạp Sơn. Trong thời gian đó, bà thực tập tu thiền. Mười năm sau, bà khởi sự dạy thiền tại các nước thuộc Âu Châu và Úc Châu. Kinh nghiệm tu trì thúc đẩy bà trở thành một nữ tu sĩ của Phật giáo tại Tích Lan vào năm 1979. Do đó, bà có pháp danh Khema, có nghĩa là an toàn (Ayya có nghĩa là bậc đáng kính, dùng để tôn xưng người tu hành, tỏ lòng kính trọng)

Vào năm 1978, bà giúp hoàn thành một thiền viện trong rừng tu theo truyền thống Nguyên Thủy, tên là Wat Buddha-Dharma, tọa lạc gần Sydney, nước Úc. Tại Colombo, thủ đô thương mại của Tích Lan, ni sư thiết lập The International Buddhist Women’ Center, dùng làm nơi tu tập cho các nữ tu sĩ Tích Lan. Ni sư là Giám Đốc tinh thần của Buddha-Haus, Tây Đức, được thành lập năm 1989, do ni sư bảo trợ.

Vào tháng Sáu năm 1997, ni sư làm lễ khánh thành thiền viện trong rừng đầu tiên tại nước Đức tên là Metta Vihara.

Tháng Năm, năm 1987 ni sư là nữ tu sĩ đầu tiên kể từ trước tới nay, được mời tới New York để thuyết giảng tại trụ sở Liên Hiệp Quốc về đề tài Đạo Phật và Nền Hoà Bình Trên Thế Giới.

Ni sư Ayya Khema đã trước tác 25 cuốn sách về thiền và giáo lý của đạo  Phật bằng tiếng Anh và tiếng Đức. Sách của bà đã được dịch sang 7 ngôn ngữ, chưa kể tiếng Việt. Vào năm 1988, cuốn “Being Nobody, Going Nowhere” được tặng giải Chrismas Humphreys Memorial Award.

Ni sư tạ thế ngày 2 tháng 11 năm 1997 tại  Buddha- Haus, Đức quốc, sau một cơn bệnh nhẹ.

Sau đây là bài pháp trích dịch từ cuốn “Being Nobody, Going Nowhere”:

…”…Con đường chấm dứt tất cả đau khổ, cũng chính là con đường giải thoát, là Đạo Đế, là Bát Chánh Đạo. Con đường này,– như tất cả những lời Phật dạy, — chia ra làm ba phần, là Giới, Định và Tuệ.

Người ta thường nghĩ rằng hành giả phải học tập lần lượt theo thứ tự Giới, Định, Tuệ kể trên, như là bậc thang, vượt qua bậc thấp nhất là giữ Giới thì tâm sẽ Định, từ đó sẽ nhìn vào nội tâm và sẽ nảy sinh Trí Tuệ.

Bát Chánh Đạo sẽ cho chúng ta thấy rằng nghĩ như thế là sai lầm. Con đường Bát Chánh không khởi đầu bằng giới, mà từ trí tuệ. Không nên nhìn con đường Bát Chánh như là cái thang, mà phải quan niệm về nó như là cái xa lộ có tám con đường, mà chúng ta phải dùng tới cả tám đường. Bản thân tám con đường này cũng hỗ tương lẫn nhau vì khởi đi từ chánh kiến và cuối cùng sẽ chấm dứt tại chánh kiến. Dù rằng chánh kiến chỉ được đề cập tới lúc khởi đầu, nhưng kết quả của tất cả những bước trên con đường Bát Chánh sẽ đưa tới Chánh Kiến hoàn hảo.

Chánh kiến là bước đầu tiên, có nghĩa là hành giả đã nhìn rõ được rằng trong cuộc đời, không có gì quan trọng bằng chuyện thực hành những phương pháp luyện tâm, để chấm dứt tất cả mọi khổ đau. Muốn thế, hiển nhiên là hành giả sẽ phải tìm phương pháp làm sáng tỏ những nhược điểm của mình. Nỗi khổ của chúng ta là bất mãn, lo lắng và cảm giác hụt hẫng, luôn luôn như là thiếu thốn cái gì đó. Có một khoảng trống trong tâm hồn khiến cho người ta cứ muốn tìm cách lấp đầy, hoặc bằng một người, hoặc nhiều người, hoặc  bằng một lý tưởng, một mục đích, hoặc bằng một dự án, một chương trình hành động, hoặc bằng một niềm hy vọng.

Nhưng thật ra thì chẳng có cái gì lấp bằng khoảng trống đó được. Cho nên nếu có một pháp luyện tâm nào có thể vạch rõ những sự bất mãn căn bản và có cách để hóa giải những bất mãn đó, để tâm trí chúng ta hoàn toàn bình phục, an lạc, thì chúng ta biết đó là phương pháp tốt, đáng tin cậy. Ngoài ra, phương pháp đó cũng phải thẩm thấu được vào nội tâm con người.

Phật pháp là những bài học có được cái giá trị này.

Chánh kiến cũng bao gồm nhận thức rằng bất cứ ai cũng có thể bắt đầu bước vào con đường luyện tâm ngay lập tức. Có chánh kiến, chúng ta cũng thấu hiểu thế nào là nhân quả nghiệp báo, khiến chúng ta nhận trách nhiệm về những sự việc xảy ra cho chúng ta, không đổ lỗi cho người khác, hoặc đổ tại hoàn cảnh, hoặc bất cứ cái gì ở bên ngoài chính mình. Như thế có nghĩa là chúng ta nhận trách nhiệm hoàn toàn về cuộc đời, sự nghiệp, đồng thời nhận thức rõ là chúng ta chính là chủ cuộc đời và vận mệnh của chính mình.

Vậy thì, chúng ta có thể thay đổi tương lai của cuộc đời.

Nhưng nếu chỉ biết xuông rằng chúng ta có thể thay đổi vận mệnh thì chưa đủ, mà phải thấy sự cần thiết của thay đổi. Có hai điều cần phải có tầm nhìn chính xác, đó là thấu triệt quy luật nghiệp báo và sự cần thiết phải chuyển nghiệp để giải quyết tận gốc những mầm mống của đau khổ. Sự thay đổi này xảy ra nơi bản thân chúng ta, không đòi thay đổi thế giới hoặc là những cư dân sống trong đó, hoặc đòi thay đổi người mà tình cờ chúng ta chung sống với. Nhưng là thay đổi chính bản thân.

Chúng ta không thể xóa bỏ những nỗi bất mãn, nhưng chúng ta có thể chuyển hóa phản ứng của chúng ta. Cuối cùng, nhờ có chánh kiến về bản ngã, chúng ta còn có thể đi tới tột cùng của con đường luyện tâm, là giác ngộ Vô Ngã.

Con đường luyện tâm khởi đầu từ trí tuệ. Nếu không có trí tuệ để nhận ra được điều gì cần làm, thì chúng ta đã không tu tập thiền quán.

Có nhiều cách để phản ứng trước sự đau khổ.

– Cách đầu tiên, dễ dãi và thông thường là người ta đổ lỗi cho ai đó. Đó là trò trẻ con.

– Cách thứ hai để phản ứng lại nỗi đau buồn, bất mãn là trở thành xuống tinh thần và sa lầy, buông trôi bản thân cho sự bất hạnh.

– Cách thứ ba là thương thân, tự an ủi là mình đang chịu đựng nỗi đau khổ cho cả thế giới, chẳng có ai khổ bằng mình. Điều này thì rõ ràng là sai rồi. Khi mình cảm thấy thương thân, thì mình cũng trông đợi mọi người thương cảm mình. Thế thì vô ích, chẳng có bài học nào, chẳng được cái gì. Trái lại, người như thế còn làm phiền đến những người khác.

– Hoặc là người ta có thể phản ứng trước nỗi đau khổ bằng cách nghiến răng nghiến lợi, đè nén đau buồn, giả bộ như chẳng xảy ra sự đau khổ nào cả. Như thế cũng vô ích, vì sự giả bộ chẳng giải quyết được gì cả.

– Cách thứ năm là trực diện với nỗi khổ và nói: ” A ha, bạn cũ lại xuất hiện. Kỳ này tôi sẽ học được gì?” Nhìn nỗi khổ bằng thái độ đó là chánh kiến.

Như thế là chúng ta đã thực sự hiểu tại sao được mang thân người lại là cơ hội tốt nhất để giác ngộ. Đau khổ là thày dạy tốt nhất, vì nó bám chắc lấy chúng ta, ghì chặt chúng ta trong sự kìm kẹp, cho tới khi chúng ta có được bài học thì mới hết khổ.

Chánh kiến là nền tảng cốt yếu để bước vào con đường luyện tâm…”…

Thưa quý khán thính giả,

Trên đây là bài pháp về chánh kiến của ni sư Ayya Khema, trích dịch từ cuốn “Being Nobody, Going Nowhere”.

Như quý vị đã thấy, Chánh Kiến là nền tảng cốt yếu để bước vào con đường luyện tâm. Hành trang trên con đường giải thoát,tức là Đạo Đế, người Phật tử được đức Phật trang bị cho 37 phẩm trợ đạo (phẩm có nghĩa là từng món, từng loại). Như thế, ngoài Bát Chánh Đạo, chúng ta còn có 29 bài học nữa để luyện tâm, trong số đó có bài Trạch Pháp, nằm trong bộ Thất Giác Chi, nghĩa là 7 chi nhánh để hành giả tu tập tiến tới giác ngộ.

Trạch pháp có nghĩa là chọn lựa pháp môn để tu tập. Muốn chọn lựa chính xác, hành giả phải có chánh kiến. Thời xưa cũng như ngày nay, trên con đường tâm linh, người ta rất dễ bị đưa vào tà đạo.

Tại sao vậy?

Tại vì đối với chuyện thế gian thì lý trí thường thắng thế, nên người ta nhìn sự việc một cách thận trọng. Nhưng về tình cảm và tâm linh thì con người trở nên rất yếu đuối, dễ mềm lòng. Đó là lý do tà sư tà đạo có thể hoành hành, do sự cả tin của người tìm đạo thiếu chánh kiến.

Trong kinh Kamala, đức Phật đã dạy đại ý rằng:

“- Đừng vội tin bất cứ điều gì chỉ vì đã nghe thấy,

– Đừng vội tin vào các truyền thống chỉ vì chúng đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

– Đừng vội tin vào bất cứ điều gì chỉ vì nó được nhiều người nói tới hoặc đồn đại.

– Đừng vội tin vào bất cứ điều gì chỉ vì nó được tìm thấy trong các sách vở.

– Đừng vội tin vào bất cứ điều gì chỉ vì nó được các bậc đạo sư hay các vị trưởng lão dạy bảo.”

– Nhưng sau khi quán sát và phân tích, khi đã thấy mọi thứ hợp với lẽ phải và đem lại lợi ích cho mọi người, thì hãy chấp nhận nó và sống phù hợp theo nó.”

Kính thưa quý vị,

Nhà Phật có những công thức rất ngắn gọn để nhắc nhở Phật tử như “Văn, Tư, Tu”, nghĩa là đầu tiên phải nghe kinh, hoặc nghe giảng pháp (là văn), rồi suy nghĩ để tìm hiểu (là tư), khi đã hiểu rõ nội dung phần lý thuyết thì bước lên con đường tu hành (là tu).

Khi xưa phương tiện truyền thông nghèo nàn, kinh sách rất thiếu thốn, lâu lắm mới có một kỳ in kinh, thường là khắc lên miếng gỗ để in lên giấy bản, sách đóng bằng nhiều tờ giấy xếp lên nhau, dán bằng nhựa quả cậy, gọi là bìa phất cậy. Rất ít chùa có được một tủ sách kinh. Chùa nhỏ thường chỉ có năm ba cuốn kinh nhật tụng. Cho nên khi nào có quý vị tăng đi hoằng pháp thì dân chúng kéo nhau đi nghe rất đông. Những cơ hội như thế rất là hiếm hoi.

Ngày nay kinh sách in ra rất nhiều, băng giảng của quý vị cao tăng phổ biến khắp nơi, ngoài ra lại còn có những thư viện điện tử toàn cầu, dù ở tận hang cùng ngõ hẻm, không tới được chùa, mọi người vẫn có kinh sách và luận giải trong internet để mà đọc, vẫn có băng giảng, đĩa CD để mở máy lên nghe giảng pháp hằng ngày, nếu muốn.

Vì vậy, chúng ta nên áp dụng câu Văn, Tư, Tu một cách tích cực. Đồng thời chúng ta cũng cần nhớ bài học trong kinh Kamala, phải dùng chánh tri kiến để chiếu rọi vào những lời giảng, để phân biệt rõ chánh pháp hoặc tà pháp.

Nhờ có chánh kiến làm ngọn hải đăng, hành giả có thể tự mình phân biệt được, để không phí uổng công trình tu tập, mất thì giờ và tiền bạc đi theo tà sư, mang hận một đời.

Nhân đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện thiền, trích dịch từ cuốnCollection of Stone and Sand”, do thiền sư Muju viết bằng Nhật ngữ, Paul Reps dịch sang Anh Ngữ.

 “Bên nước Nhật thời xưa, người ta dùng đèn lồng bằng tre và giấy, có gắn nến bên trong. Một đêm kia, có một người mù đến thăm bạn, khi ra về, người bạn trao cho cái đèn lồng để anh ta cầm về. Anh mù từ chối:

 Tôi không cần đèn đâu mà. Đối với tôi thì sáng hay tối cũng vậy thôi.

 Người bạn trả lời:

 Tôi biết là anh không cần đèn để soi đường. Nhưng nếu anh không cầm cái đèn này, thì biết đâu lại chẳng có người chạy tới đâm xầm vào anh. Cho nên anh hãy cầm lấy.

 Người mù cầm đèn ra đi. Nhưng chưa được bao xa thì bỗng có người tông thẳng ngay vào anh ta từ phía trước. Anh ta giận dữ quát:

 Phải coi chừng chứ, bộ anh không nhìn thấy cây đèn này hả.

 Người kia trả lời:

 Ông anh ơi, đèn của ông đã tắt ngóm mất rồi.”

 Như quý thính giả đã thấy, người mù cầm đèn vì quá tin tưởng vào cây đèn, không  nghĩ tới chuyện đèn đã tắt. Nếu anh ta biết rằng mọi sự trên đời đều vận hành trong trạng thái vô thường, không có gì là bền vững, cây đèn ra gió có thể tắt bất cứ lúc nào, là có chánh kiến. Nếu anh ta có chánh kiến thì đã không giữ khư khư cái ý kiến rằng mình cầm cây đèn sáng, mà có thể nghĩ rằng đèn tắt mất rồi, không mắng người để bị cười nhạo.

Thưa quý khán thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc chương trình phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.

Nếu quý khán thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý khán thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 5 – Niết Bàn là gì ?

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Trong một kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình bày với quý vị về mục đích của đạo Phật, được đức Phật tóm tắt bằng tuyên ngôn:

– “Này chư Tỳ kheo, bây giờ cũng như trước đây, Như Lai chỉ dạy về “Khổ” và về  “Con Đường Diệt Khổ”.

Tuyên ngôn này rút ra từ Bốn Chân Lý Thâm Diệu mà Ngài đã Chứng Ngộ, đó là :

– Thứ nhất là Chân Lý về Khổ (Khổ Đế)

– Thứ hai là Chân Lý về nguồn gốc của Khổ (Tập Đế)

– Thứ ba là Chân Lý về sự Diệt Khổ (Diệt Đế)

– Thứ tư là Chân Lý về Con Đường đưa đến sự Tận Diệt Khổ (Đạo Đế)

Bốn Chân Lý này tức là Tứ Diệu Đế  ( Đế nghĩa là Chân Lý).

Trong đó, Chân Lý thứ tư, Đạo Đế, là con đường Niết Bàn.

Vì từ ngữ Niết Bàn thường được thế gian dùng khi có tin buồn, chúng tôi xin nhắc lại rằng đó là điều hiểu lầm rất đáng tiếc.

Niết Bàn không phải là sự chết, mà là một trạng thái tâm thức đã hoàn toàn chấm dứt những ô nhiễm do Vô Minh mà duyên theo Tham Sân Si, tạo Nghiệp, chịu khổ, bị cuốn vào dòng đời sinh tử triền miên. Chứng ngộ Niết Bàn là tâm thức chuyển sang trạng thái khác, tạm nói là an lạc và giải thoát. Trạng thái này chỉ người đã Chứng Ngộ mới biết thực tế là thế nào, có thể dùng câu “như người uống nước, nóng hay lạnh ra sao, chỉ chính người đó tự biết” để nói lên tính cách không thể trình bày ra được. Các vị đã chứng Đạo thường dùng câu “như người câm muốn kể lại chuyện xảy ra trong giấc mộng” để mô tả tâm trạng của mình, muốn nói ra mà không có cách nào, vì nếu dùng thí dụ bằng những trạng thái tâm thức ở thế gian để mô tả thì không đúng, vì tất cả đều chỉ là những sự vui buồn trong điều kiện của đời sống quy ước,  không có niềm an lạc vô biên của người đã giải thoát khỏi những ràng buộc của Tham Sân Si.

Chân Lý Thâm Diệu thứ nhất, Khổ Đế, đức Phật chỉ rõ cho chúng ta nhận ra sự thực, rồi tới Tập Đế, Ngài chỉ cho chúng ta thấy nguyên nhân, Diệt Đế, Ngài chỉ con đường cho chúng ta tận Diệt nỗi Khổ và Đạo Đế, là con đường Niết Bàn, tức là Chứng Ngộ thực tại, Phật Tánh, Giác Tánh, Buddha Nature, True Nature vân vân…, mà đức Phật đã cho biết rằng tất cả chúng ta đều có khả năng khiến cho hiển lộ y như Ngài, trong lời tuyên bố ngay khi Ngài mới bừng tỉnh, rằng:

– “Lạ thay, tất cả chúng sanh đều có Trí Huệ Như Lai, mà để bị trôi giạt trong vòng Vô Minh, đến nỗi phải chịu biết bao thống khổ!”

Trí Huệ Như Lai cũng còn được gọi là Trí Huệ Phật, là Giác Tánh, Phật Tánh. Đức Phật dạy Bốn Chân Lý Thâm Diệu để cuối cùng, do sự “Tự tịnh kỳ ý” mà Trí Huệ Phật hiển lộ.

Đạo Phật không hề chủ trương rằng công trình tu chứng của Phật tử chỉ thành tựu sau khi chết. Một hành giả chứng ngộ Niết Bàn ngay trong đời sống hiện tiền, nghĩa là trong lúc còn mang thân ngũ uẩn, thì gọi là “Hữu Dư Niết Bàn”. Lúc đã chấm dứt đời sống của cơ thể vật lý thì gọi là “Vô Dư Niết Bàn”.

Như thế, Niết Bàn không phải là chết, mà là tâm thức chuyển qua một bình diện mới.

Để quý vị có thêm tài liệu về quan điểm của nhà Phật đối với Niết Bàn, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một bài pháp trích từ cuốn The Tree of Enlightenment, tác giả là tiến sĩ Peter Della Santina, do thượng tọa Thích Tâm Quang dịch ra Việt ngữ.

Tiến sĩ Peter Della Santina sinh quán tại Hoa Kỳ, tốt nghiệp cử nhân ngành tôn giáo tại Wesleyan University, tiểu bang Connecticut, và tiến sĩ Phật học tại University of Delhi, Ấn Độ.  Ông đã có một thời gian dài dạy về triết học và Phật học tại các miền Đông và Nam Á Châu. Đồng thời, ông còn tích cực tới nhiều trường đại học và các Phật Học Viện tại Âu Châu và Á Châu để diễn giảng về Phật giáo. Ông cũng viết nhiều sách luận giải đạo Phật, trong số đó có cuốn The Tree of Enlightenment dạy những điều căn bản, được rất nhiều độc giả hâm mộ.

Vốn không phải là một Phật tử theo truyền thống gia đình, nhưng từ khi khám phá ra viên kim cương Phật giáo, ông tích cực học hỏi và hành trì theo lời đức Phật dạy. Ông từng là đệ tử của ngài Sakya Trizin, thuộc truyền thống Phật giáo Tây Tạng trong 25 năm. Từ những điều hiểu biết do học và hành, ông tận tụy trình bày ra sách báo, đi diễn thuyết vân vân, để giảng giải lại cho mọi người.

Ông qua đời ngày 14 tháng 10 năm 2006, trong khi đang đứng trên bục giảng về Phật giáo Đại Thừa cho sinh viên làm luận án cao học Phật học tại trường International Buddhist College, Penang, Malaysia.

Sau  đây là luận giải của tác giả Peter Della Santina về Niết Bàn và Đạo Đế là con đường chấm dứt đau khổ, con đường Niết Bàn:

…”…Khi chúng ta nói về Niết Bàn, chúng ta gặp phải một số khó khăn trong việc diễn đạt vì bản chất xác thực của một kinh nghiệm không thể truyền đạt bằng cách nói về nó, đúng hơn là Niết Bàn phải được chứng nghiệm trực tiếp. Ðiều này rất đúng với tất cả kinh nghiệm, dù đó là kinh nghiệm về vị của muối, đường hay sô cô la hay lần đầu tiên bơi ở đại dương. Tất cả những kinh nghiệm ấy không thể diễn tả cho đúng được.

Ðể giải thích đầy đủ điểm này, thí dụ như tôi vừa tới Ðông Nam Á, và tôi được biết có một trái cây địa phương rất được ưa chuộng gọi là trái sầu riêng. Tôi có thể hỏi người dân trong vùng thường ăn và thích trái sầu riêng, nhưng làm sao họ có thể diễn tả thật đúng cho tôi hiểu, ăn trái đó giống như ăn gì? Ðơn giản là không có thể nào mô tả trung thực mùi vị của trái sầu riêng cho một người chưa bao giờ ăn trái đó.

Chúng ta cố gắng so sánh, tùy theo sự lựa chọn, hoặc phủ nhận; chẳng hạn chúng ta có thể nói rằng trái sầu riêng có chất như kem hay nó ngọt và chua, và có thể nói thêm nó cũng giống như trái mít và chưa hết nó không giống như trái táo tí nào. Nhưng vẫn không thể nào truyền đạt bản chất xác thực về điều đã kinh qua khi ăn trái sầu riêng. Chúng ta thấy mình cũng đương đầu với một vấn đề tương tự khi chúng ta cố gắng mô tả Niết Bàn.

Ðức Phật và các đạo sư Phật Giáo qua nhiều thời đại cũng dùng một phương sách tương tự để diễn tả Niết Bàn gọi là so sánh, và phủ nhận.

Ðức Phật nói rằng Niết Bàn là hạnh phúc, niềm an lạc tối thượng. Ngài nói Niết Bàn là bất tử, không có tạo tác, không hình tướng vượt ra ngoài đất nước gió lửa, mặt trời, mặt trăng, khó dò và không thể đo lường được.

Nơi đây chúng ta có thể thấy một số phương sách mà Phật Giáo dùng để miêu tả Niết Bàn, loại Niết Bàn giống như ta nếm trải trong thế giới này. Ðôi khi chúng ta đủ may mắn để nếm trải hạnh phúc to lớn kèm theo bởi niềm an lạc sâu xa trong tâm khảm, có thể tưởng tượng như chúng ta đang nếm trải một thoáng Niết Bàn.

Nhưng trái mít không thực sự giống trái sầu riêng, và Niết Bàn thực sự không giống một thứ gì trong thế giới này. Nó không giống như bất kỳ kinh nghiệm nào hàng ngày, vượt qua tất cả hình tướng và danh xưng chúng ta sử dụng để chỉ cái mà ta kinh nghiệm trên thế gian này.

Vấn đề là để hiểu Niết Bàn thực sự như thế nào, bạn phải tự mình nếm trải, giống như muốn biết trái sầu riêng như thế nào, bạn phải ăn nó. Không có một bài tiểu luận hay mô tả thi văn nào về trái sầu riêng có thể giống kinh nghiệm ăn nó.

Tương tự như vậy, chúng ta phải kinh qua việc chấm dứt khổ đau tự nơi chúng ta, đó là phương cách duy nhất để loại bỏ nguyên nhân của khổ đau – những tai họa của quyến luyến, chấp chặt, sân hận, và vô minh. Khi chúng ta loại bỏ được những nguyên nhân của khổ đau, chúng ta sẽ chứng nghiệm Niết Bàn cho chính mình.

Làm thế nào chúng ta có thể loại bỏ được những nguyên nhân của khổ đau ấy? Bằng những phương cách nào chúng ta có thể loại bỏ được những tai họa nguyên nhân của khổ đau? Ðó là con đường do Ðức Phật dạy, con đường Trung Ðạo, con đường tiết chế điều độ.

Các bạn sẽ nhớ ra rằng cuộc đời Ðức Phật trước khi giác ngộ được chia thành hai thời kỳ khác biệt. Thời gian trước khi từ bỏ trần tục của Ngài là thời gian mà Ngài vui hưởng cực kỳ xa hoa; thí dụ, những chuyện kể Ngài có ba lâu đài, mỗi lâu đài cho mỗi mùa, tràn đầy những nguồn vui không thể tưởng tượng nổi ở thời đó.

Theo sau thời gian vui hưởng này là sáu năm cực kỳ khổ hạnh và hành xác, khi ngài sống không tiện nghi căn bản của cuộc sống, màn trời chiếu đất, mặc quần áo thô sơ nhất, và nhịn ăn trong một thời gian dài. Thêm vào những sự thiếu thốn như vậy, Ngài hành hạ thân xác qua những sự tu tập như nằm ngủ trên giường gai và ngồi dưới cái nóng gay gắt như lửa của mặt trời lúc trưa hè.

Vì đã chứng nghiệm những xa hoa và thiếu thốn cực đoan này và vì đã tiến tới giới hạn của những cực đoan này, Đức Phật nhìn thấy sự phù phiếm của chúng và Ngài đã khám phá ra con đường Trung Ðạo, tránh cả nuông chiều cực đoan những dục lạc của giác quan và cực đoan hành hạ thân xác.

Nhờ có sự nhận thức bản chất của hai cực đoan này trong chính đời sống của Ngài mà Đức Phật đã có thể đi đến lý tưởng Trung Ðạo, con đường tránh cả hai cực đoan. Có nhiều giải thích đầy ý nghĩa và sâu xa về Trung Đạo, nhưng căn bản nhất là điều hòa lối sống và thái độ, đối với tất cả mọi sự vật.

Chúng ta có thể lấy thí dụ về ba sợi dây của một cây đàn để minh họa cho điều ta muốn nói về thái độ này. Ðức Phật có một người đệ tử tên là Sona tu tập thiền định rất hăng say nhưng không có kết quả gì mà lại còn gặp nhiều trở ngại. Sona bắt đầu có ý không giữ lời thệ nguyện và muốn từ bỏ đời sống của một thầy tu. Ðức Phật hiểu rõ vấn đề, liền nói với Sona rằng:

– ” Sona con, trước khi con trở thành nhà tu, con là một nhạc sĩ phải không?”

Sona trả lời :

“Thưa đúng ạ”.

Ðức Phật hỏi tiếp,

“Là một nhạc sĩ con biết cách phải làm sao cho dây đàn tạo ra âm thanh hay và du dương, dây đàn phải thật căng phải không?

Sona trả lời:

– “Thưa không, dây căng quá sẽ tạo ra âm thanh không hay và sẽ bị đứt bất cứ lúc nào “.

Ðức Phật tiếp:

– ” Dây chùng quá thì sao?

Sona trả lời :

– “ Thưa không, dây chùng quá không tạo được âm thanh hay và du dương. Dây tạo được âm thanh hay và du dương phải không căng quá và cũng không chùng quá”.

Trong trường hợp này, sống buông thả và xa hoa thì quá phóng túng bừa bãi, vô kỷ luật hay không chuyên tâm, trái lại sống hành xác thì quá khắt khe, quá khắc nghiệt và căng thẳng có thể gây ra sự suy sụp của tâm và thân xác, giống như dây đàn quá căng có thể đứt bất cứ lúc nào.

Ðặc biệt hơn nữa, con đường đi tới mục tiêu chấm dứt khổ đau trong Phật giáo giống như một toa thuốc. Khi một vị bác sĩ giỏi chữa một bệnh nhân có bệnh nặng, toa thuốc của ông không chỉ chữa thể xác mà còn tâm lý. Nếu bạn đang đau đớn, chẳng hạn, về bệnh tim, bạn không những được cho thuốc men mà bạn còn được yêu cầu phải kiêng khem trong việc ăn uống và tránh tình trạng căng thẳng.

Nơi đây cũng vậy, nếu bạn nhìn vào những chỉ dẫn đặc biệt để theo con đường chấm dứt khổ đau của Phật Giáo, chúng ta thấy chúng không chỉ đề cập đến thân xác – hành động và lời nói – mà còn đề cập đến tư tưởng.

Nói một cách khác, Bát Chánh Ðạo cao quý, con đường dẫn đến chấm dứt khổ đau, là một con đường toàn diện, một phương pháp chữa trị tổng hợp. Nó được đặt ra để chữa lành chứng bệnh về khổ đau bằng cách loại bỏ nguyên nhân của nó, và cũng chữa trị áp dụng không chỉ cho thân xác mà còn cho cả tinh thần…”…

Trên đây là bài luận giải của tiến sĩ Peter Della Santina về nội dung của Niết Bàn. Niết Bàn là một cảnh giới tâm thức đã có nhiều người kinh nghiệm và sống trong cảnh giới đó, thí dụ đức Phật, sau khi đắc đạo, Ngài còn trụ thế gần 50 năm nữa và như các vị A La Hán, các thiền sư Kiến Tánh, các tu sĩ đã xong việc, nghĩa là đã hóa giải được các ô nhiễm Tham Sân Si.

Bài kệ tóm tắt con đường tu hành của Phật tử là:

Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành.

“Tự thanh tịnh tâm ý” chính là con đường Niết Bàn. Tâm ý con người luôn luôn hoạt động, dòng tư tưởng trôi chảy triền miên khiến cho trí óc luôn bị dính mắc với hết chuyện này tới chuyện khác, nhà Phật gọi là vọng tâm sinh diệt.

Tất cả các pháp môn tu hành của nhà Phật đều để đạt mục tiêu chấm dứt tâm viên ý mã, tức là tâm ý nhảy nhót lung tung, từ chuyện này qua chuyện khác  như con vượn con ngựa, không lúc nào yên. Chấm dứt được những trói buộc của sự suy nghĩ liên tục, vọng tâm sinh diệt, thì tâm hồn sẽ được giải thoát.

Có một câu chuyện Thiền như sau:

Một thiền sinh tới gặp vị thiền sư danh tiếng, xin làm đệ tử. Thiền sư liệng cái gối ngồi thiền ra ngoài hè rồi nói:

– Ông ra kia ngồi đi.

Thiền sinh hỏi:

– Ngồi rồi có làm gì nữa không ạ?

Thiền sư đáp:

– Không làm gì cả, có cái gì trong đầu thì ông xả bỏ đi.

Nhiều ngày trôi qua, một hôm thiền sinh bước vào gặp thiền sư:

– Bạch thày, con đã xả hết rồi.

Thiền sư nhẹ nhàng:

– Ông xả luôn cái ý nghĩ về xả đi.

Thiền sinh hỏi:

– Bạch thày, nếu con xả hết như thế thì con được gì ạ?

Thiền sư cười:

– Ông chẳng được gì cả, chỉ ra khỏi thùng rác thôi.

Thưa quý khán thính giả,

Nhà Phật coi những hoạt động của tâm ý thức, suy nghĩ triền miên là vọng tâm, không phải chân tâm. Nghĩ điều tốt là tạo ý nghiệp tốt, sẽ được hưởng thiện quả, nghĩ điều xấu thì tạo ý nghiệp xấu, sẽ lãnh quả báo xấu, đều trong vòng sinh diệt nhân quả của thế gian, thuộc về hai lời dạy của chư Phật là “Không làm những điều ác” và “Siêng làm những việc lành”.

Nhưng mục tiêu của hành giả tu thiền Phật giáo là ngộ Đạo, giải thoát khỏi mọi khổ não, cho nên phải giải quyết phần thứ ba là “Tự thanh tịnh tâm ý”. Đó là ý nghĩa câu “ra khỏi thùng rác” của vị thiền sư

Nơi kinh Viên Giác, đức Phật dạy:

– ….”…chúng sanh bổn lai thành Phật, sanh tử Niết Bàn đều như việc trong mộng.

Bồ tát Kim Cang Tạng thưa:

– Bạch Thế Tôn! Nếu các chúng sanh bổn lai thành Phật, tại sao lại có tất cả vô minh? Nếu chúng sanh bổn lai thành Phật, rồi sau mới khởi vô minh, vậy chư Như Lai đến lúc nào sẽ sanh khởi lại tất cả phiền não?

Phật dạy:

– “Như luyện quặng vàng, vàng chẳng phải do luyện mà có, mà trong quặng vốn đã có vàng. Sau khi đã thành vàng ròng thì dù trải qua vô lượng kiếp tánh vàng chẳng hoại, chẳng thể trở lại làm quặng nữa; vậy chẳng nên nói rằng vàng ròng vốn chẳng thành tựu, Viên Giác của Như Lai cũng như thế”.

Vàng quặng đã vốn có vàng, lọc bỏ tạp chất thì vàng ròng xuất hiện. Tâm ý thức của con người lăng xăng che mờ Giác Tánh, vì thế cần “thanh tịnh hóa” để Giác Tánh hiển lộ.

Khi thiền sinh xả bỏ được tất cả, là ông ta “thanh tịnh hóa tâm ý”. Cũng như vàng quặng lọc bỏ tạp chất sẽ xuất hiện vàng ròng. Hành giả ngưng dứt cuồng tâm bay nhẩy như vượn như ngựa, thì sẽ thể nghiệm được cảnh giới an lạc, giải thoát của Hữu Dư Niết Bàn.

Câu chuyện Thiền đã kết thúc chương trình phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.

Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.