Archives

“Mười Bốn Điều Răn Của Phật” là Giả Mạo


Hỏi:
– “Tôi đọc được thư của một người mẹ gửi cho con trên một trang blog nói về 14 điều dạy của Đức Phật. Sau khi xem tôi thấy làm lạ, những điều này không thấy được nhắc tới trong kinh sách. Xin quý ban biên tập cho biết ý kiến.

Dưới đây là nguyên văn “14 điều dạy của Đức Phật” đó:

1.- Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình.
2.- Ngu dốt lớn nhất của đời người là dối trá.
3.- Thất bại lớn nhất của đời người là tự đại.
4.- Bi ai lớn nhất của đời người là ganh tỵ.
5.- Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất mình.
6.- Tội lỗi lớn nhất của đời người là bất hiếu.
7.- Đáng thương lớn nhất của đời người là tự ty.
8.- Đáng khâm phục lớn nhất của đời người là vươn lên sau khi ngã.
9.- Phá sản lớn nhất của đời người là tuyệt vọng.
10.- Tài sản lớn nhất của đời người la sức khỏe, Trí Tuệ.
11.- Món nợ lớn nhất của đời người là tình cảm.
12.- Lễ vật lớn nhất của đời người là khoan dung.
13.- Khiếm khuyết lớn nhất của đời người là kém hiểu biết.
14.- An ủi lớn nhất của đời người là bố thí.

(Trích lời kinh Phật)

(GHI CHÚ CỦA BAN BIÊN TẬP TVHS (trong quyển sách:
Nguồn: http://old.thuvienhoasen.org/tmd-tongiaovadantoc1-01.htm

14 điều răn của Phật” trên là tên của một bản văn được truyền tụng không có nguồn gốc rõ ràng. Theo Đại đức Thích Nhật Từ, 14 điều này vốn được lưu truyền tại chùa Thiếu Lâm, Trung Quốc. Không có bài kinh nào trong các bộ Kinh tạng Pa-li, A-hàm kinh và kinh Đại Thừa chứa đủ 14 điều này. Tác giả có thể là các nhà sư chùa Thiếu Lâm và họ đã biên tập, trích dẫn ý tưởng từ các bản kinh, và tập hợp lại theo trật tự mình đặt ra. Việc truy tìm lại nguyên gốc các câu riêng lẻ từ kinh Phật là điều rất khó. Các bản dịch tiếng Việt đã có một số điểm lệch so với nguyên tác. Ví dụ, “điều răn” là cách dịch không chính xác từ giới (nguyên ngữ Śīla trong tiếng Phạn với nghĩa “giới” của Phật giáo, hay “điều khoản đạo đức”).
(Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

Nghiên cứu nội dung cái gọi là “14 điều răn của Phật” này, tác gỉa Đoàn Đức Thành trong một email phổ biến trên mạng cho biết nó tương tự như bản văn “Nhân Sinh Thập Tứ Tối” (14 Cái Hay Nhất của Đời Người) của Trung Quốc, chỉ khác 2 điều:

(1) Điều 6 Trung Quốc viết là: “Tội lỗi lớn nhất của đời người là lừa dối chính mình”,
(2) Điều 10, Trung Quốc viết là “tài sản lớn nhất của đời người là sức khoẻ”.
Tác giả cũng đề nghị nên thay tiêu đề “14 ĐIỀU RĂN CỦA PHẬT” bằng “14 CÁI HAY NHẤT CỦA ĐỜI NGƯỜI” và bỏ dòng “TRÍCH LỜI KINH PHẬT”.

Dưới đây là phóng ảnh bản của Trung quốc:
(ĐOÀN HỌC GIẢ HỌC VIỆN QUAN HỆ QUỐC TẾ VIỆT NAM sưu tầm tại Chùa Thiếu Lâm Trung Quốc)


Hình bên trên: Một bản có tên “14 điều dạy của Phật”, dạng treo tường
(Ảnh: 
http://vi.wikipedia.org)




***

Dưới đây là ý kiến của cư sĩ Hiển Chánh:

So sánh với lời Phật dạy trong kinh điển thì nhiều điều trong số 14 điều này ý nghĩa khác hẳn ý trong kinh Phậtthí dụ:

Câu thứ nhất : Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình

Trong kinh Pháp Cú, phẩm Phật Đà, đức Phật dạy:

182. “Khó thay, được làm người,
Khó thay, được sống còn,
Khó thay, nghe diệu pháp,
Khó thay, Phật ra đời!”

Ngài cũng dạy:

“Thật khó được vậy, này các Tỳ kheo, là được làm người. Thật khó được vậy, này các Tỳ kheo, là được Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh đẳng giác, thật khó được vậy, này các Tỳ kheo, là Pháp và Luật này do Thế Tôn thuyết giảng, chiếu sáng trên đời.” (Tương Ưng V, 450 – 460).

Vậy “được làm người” là một điều tốt, vì nhờ đó mà người ta tu hành được, không thể coi là “kẻ thù”.

Câu thứ 2 : Ngu dốt lớn nhất của đời người là dối trá.

Dối trá là một điều xấu mà trong Ngũ Giới, nó đứng hàng thứ 4, Giới Vọng Ngữ gồm:

a. không nói dối,
b. không nói đâm thọc,
c. không nói thô lỗ cộc cằn và
d. không nói nhảm nhí.

Nhiều điều khác như giết người, trộm cắp, tà dâm, còn do “ngu dốt” hơn nhiều.

Câu thứ 3 : Thất bại lớn nhất của đời người là tự đại.

“Tự đại” chỉ là Ngã Mạn, một trong 6 phiền não căn bản gồm Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác Kiến, không phải là “thất bại lớn nhất”.

Phải là những điều đáng tiếc rất lớn như đã được là một tu sĩ mà lại phá giới hoặc lạc vào đường tà, để “lỡ một kiếp người” thì mới là thất bại lớn nhất.

Câu thứ 4 : Bi ai lớn nhất của đời người là ganh tị.

Ganh tị là một trong những tật xấu, nằm trong 6 phiền não căn bản. Ai cũng thấy trong cuộc đời thường ngày, có biết bao nhiêu chuyện xảy ra, “bi ai” hơn nhiều.

Câu thứ 5 : Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất mình.

Thế nào là “Đánh mất mình?”. Nếu “mình” đây là “Ngã” thì sự làm mất được khái niệm về “Ngã Chấp” là một thành công trong tu hành đạo Giác Ngộ Giải Thoát chứ, sao lại cho là “sai lầm”. Vô Ngã là một trong Tam Pháp Ấn, là ba điểm cốt tủy, quan trọng, dùng để đối chiếu Chân và Giả.

6.- Tội lỗi lớn nhất của đời người là bất hiếu.
7.- Đáng thương lớn nhất của đời người là tự ty.
8.- Đáng khâm phục lớn nhất của đời người là vươn lên sau khi ngã.
9.- Phá sản lớn nhất của đời người là tuyệt vọng.
10.- Tài sản lớn nhất của đời người la sức khỏe, Trí Tuệ .

Năm câu này thuộc loại “túi khôn muôn đời”, không cần đến trí tuệ của bậc Đại Giác để phát biểu

Câu thứ 11.- Món nợ lớn nhất của đời người là tình cảm.

Nhà Phật nói “tình sanh, trí cách”. Tình cảm làm cho con người mất khách quan, sáng suốt, níu giữ con người trong chốn trần ai Tham Sân Si, không phải là điều nhà Phật khuyến khích.

Phật dạy “Vô duyên Từ, Đồng thể Bi”, là lòng trắc ẩn, bi mẫn, thương xót toàn thể chúng sinh bình đẳng, không phân biệt có, hay không có tình cảm. Tu hành là để xóa bỏ tình cảm riêng tư để thay vào đó là lòng bi mẫn, trắc ẩn, thương xót tất cả chúng sinh.


Câu thứ 12.- Lễ vật lớn nhất của đời người là khoan dung.

Khoan dung nằm trong đức Nhẫn Nhục, là một trong Lục Độ, là 6 con đường để giải thoát, không là “lớn nhất”.

Câu thứ 13.- Khiếm khuyết lớn nhất của đời người là kém hiểu biết.

Biển “hiểu biết” mênh mông, không thể phân biệt hơn hoặc kém. Đệ tử Phật là Châu Lợi Bàn Đà Dà vì quá chậm lụt, ít hiểu biết, Phật dạy chỉ chú tâm vào hai chữ “chổi quét” mà đắc A La Hán. Lục Tổ Huệ Năng cũng chỉ là một tiều phu, mà nhờ công năng tu hành, trở thành Tổ thứ sáu của Thiền Tông.

Phật dạy:

Chư ác mạc tác,
Chúng thiện phụng hành,
Tự tịnh kỳ ý…

Đặc điểm quan trọng, cốt tủy của đạo Phật là “Tự tịnh kỳ ý”, tự thanh tịnh tâm mình, không phải là chất đầy kiến thức.

Câu thứ 14.-
 An ủi lớn nhất của đời người là bố thí.

Đức hạnh “Bố thí” trong nhà Phật là một trong Tứ Vô Lượng Tâm, là hạnh Xả. Vì thương xót chúng sinh thực hành “hạnh xả bỏ” và để bài trừ thói xấu bần tiện, nắm giữ, là nguyên nhân gây nghiệp, trả quả báo triền miên trong luân hồi.

Bố thí vì từ tâm, vì lòng thương trải rộng tới muôn loài, vô vị lợi, không phải là hành động vì cái tôi của mình, để được tự an ủi, là hành động vị kỷ, không phải quan điểm của nhà Phật.

Lời Phật đều phải nằm trong Kinh Phật. Nếu ai cũng tùy tiện, tự sáng tác, rồi gán là “Lời Phật”, thì đạo Phật sẽ bị biến dạng không biết tới đâu mà lường.

Theo “Bách khoa toàn thư mở Wikipedia”:

“14 điều răn của Phật là những điều được nhiều người Việt truyền tụng, xem như trích trong kinh Phật. Tại chùa Trấn Quốc hiện có ghi lại các điều này. [1]. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng những điều răn này có thể tìm thấy ở chùa Thiếu Lâm[2]….”
(Nguồn: Bách Khoa Toàn Thư Mở)

Câu “...những điều răn này có thể tìm thấy ở chùa Thiếu Lâm” không có giá trị về mặt chứng minh đây là lời Phật.

Từ khi Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày 1 tháng 10 năm 1949, Trung Quốc đã theo chủ nghĩa cộng sản vô thần.

Không những thế, sau khi đã xảy ra vụ cái gọi là “cách mạng văn hóa” do bọn Tứ Nhân Bang gồm: Giang Thanh (vợ thứ tư của Mao Trạch Đông), Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên và Vương Hồng Văn cầm đầu, giết và bỏ tù giới trí thức, tàn phá đền đài, chùa chiền, đốt xé kinh sách, làm tan hoang cả nước Tầu, gây kinh hoàng cho dân Trung Quốc trong suốt 10 năm trời, từ năm 1966 đến năm1976, tác động rộng lớn và sâu sắc lên mọi mặt của cuộc sống chính trị, văn hóa, xã hội, … vân vân … , với mục đích đánh bật nền văn hóa Trung Hoa tận gốc rễ.

Như thế thì câu mơ hồ “những điều răn này có thể tìm thấy ở chùa Thiếu Lâm”, có gì đáng tin cậy là “lời răn của Phật”???

Hiển Chánh (aka Liên Hương)
06/07/2011
https://thuvienhoasen.org

Vườn Hồng Thiếu Nhi

Vườn Hồng Thiếu Nhi

 

  1. Nụ Cười



    Giả sử chị em ta gặp nhau lúc này nhỉ. Chúng ta sẽ làm quen với nhau bằng cách nào bây giờ ? Khó ghê.

    Chúng ta chưa biết nhau, mà nếu lại cũng không có ai giới thiệu. Vậy làm thế nào bây giờ. Nghĩ mãi, mặt mũi trở thành ngô nghê. Cử chỉ đâm ra lúng túng. Ấy thế rồi thì là tự nhiên thấy mình buồn cười. Bèn cười.

    Ơ kìa ! Em cũng cười hồn nhiên đáp lại. Dễ dàng ghê. Có thế mà mất bao thì giờ. Nụ cười thật tốt đẹp xiết bao. Nó làm cho hai người đang xa lạ trở thành gần gũi, dễ thông cảm.

    Ngoài ra, cười còn là một liều thuốc bổ. Chắc các em chị đang cười nhạo chị đây nè. Em cứ cười nhạo chị đi, tốt lắm. Vì khi em cười, cả khuôn mặt trở nên rạng rỡ (cứ soi gương thì thấy), mắt trở nên long lanh (một cách tập thể thao mắt) các đường nét trong khuôn mặt đều giãn với đường hướng chếch lên phía trên (hướng mà trong các mỹ viện họ vẫn vỗ nhẹ cho các bà các cô, để bắp thịt khỏi chảy xệ). Vô tình, các em đang làm những động tác mà người lớn phải tốn tiền vào mỹ viện nhờ người khác làm giúp đó.

    Vậy thì ngay lập tức, các em cười lên nào. Nhưng (chữ nhưng thật đáng ghét, làm cụt hứng quá) nhưng cười thế nào bây giờ. Cười ầm ỹ, cười ngả nghiêng, cười bò lăn ra ý à!

    Ấy, đâu có, các em gái của chị có khi nào lại ồn ào như vậy. Các em chỉ cười nhẹ thôi. Nét mặt cho thật thoải mái khi cười, và tiếng cười chỉ nổi lên nho nhỏ (còn gì tuyệt diệu cho bằng ba bốn cô bé đứng ở dưới gốc cây trong sân trường, nói chuyện vui với nhau rồi cười rúc rich). Đâu đây, tiếng cười nổi lên nho nhỏ, để người ngoài chỉ nhìn thấy nét mặt hồn nhiên trong sáng của các em, và tai họ chỉ thoáng nghe tiếng cười như tiếng reo vui.

    Các em ơi ! Cuộc đời tươi đẹp quanh ta. Vậy, cùng với chị, chúng ta hãy cười lên nào.

    Đỗ Phương Khanh
    Thiếu Nhi số 001, trang 16
    Ngày 15-8-1971
     
    ***
  2. Nét Mặt


    Kỳ này, chị em mình bàn về vấn đề thể thao. Ái chà ! ghê chưa, chị ĐPK định lập đảng để đi dự Thế Vận Hội sao đây. À, mà bí mật. Nhưng có làm gì thì cũng phải tuần tự, có đầu có cuối. Tập thể thao thì cũng phải tập trên đầu trước, phải không các em.

    Những lúc mệt mỏi hay đang bực bội, các em có thấy rằng mặt mình nặng trĩu, mí mắt muốn sụp xuống mà da mặt như là đang lên gân ấy, phải không nào. Nếu ngay lúc này mà có em nào đang có cảm giác ấy thì hãy bỏ ngay tờ báo này xuống, đi kiếm cái gương, soi mặt mà coi. Ui da, mặt gì mà tức cười, y như là tính gây với người khác ấy, phải không. Vây thì em gái ơi (cả em trai nữa, nếu có em trai nào đang coi cọp vườn hồng của chị em nhà người ta) em đang cần tập thể dục mặt đấy, kẻo mà chỉ một thời gian ngắn nữa, em sẽ bị già khủng khiếp cho mà coi.

    Dọa chơi thôi, chứ em không già khủng khiếp đâu. Nhưng mà tội nghiệp cho những người sống chung quanh em, và những người gặp em lúc này lắm. Nếu họ đang vui vẻ, mà gặp mình nhăn nhó, họ sẽ cụt hứng, lây buồn. Vô tình ta đã nhốt họ vào “nhà tù của buồn phiền”, nhà tù không có cửa, nhưng chị nghĩ, nó cũng đáng sợ như bất cứ nhà tù nào dữ dằn trên thế giói. Bởi vì, sự buồn phiền, chán nản, đã đưa nhiều người sang bên kia thế giới rồi đó, các em ạ.

    Vậy thì, các em gái dễ thương của chị, các cô gái nhỏ, những bông hồng của gia đình, chẳng bao giờ các em lại muốn những người thân yêu buồn phiền phải không ? Vậy nghe chị nhé, chúng mình tập thể dục mặt, các em nhé.

    Đầu tiên, em buông hết các bắp thịt ở mặt cho dãn ra, không làm một cử động nào hết, tự nhủ :

    “Dãn ra, dãn ra” …

    Bắt đầu từ trán, buông ra không cau, rồi má, rồi cằm, buông lơi các bắp thịt. Coi nào, à, mặt nhẹ ghê rồi, à, chị ĐPK xúi mình làm ảo thuật ta, dễ chịu quá, mà lại tức cười nữa à, cười !

    Em thấy dễ chịu chưa, nhẹ nhõm chưa. Các bắp thịt buông lơi sẽ không tạo thành vết nhăn. Rồi khi cười, tinh thần em sẽ thoải mái, và điều này đáng cho ta hãnh diện nhất, là em đã gây niềm vui cho người quanh em.

    Các bông hồng thân yêu của chị. Sắc đẹp chỉ gợi sự chú ý trong một thoáng, và sẽ tàn theo thời gian. Nhưng sự duyên dáng và lòng tốt chính là kho tàng. Ngay khi em có ý muốn mọi người đừng buồn vì em, em đã có tấm lòng thật tốt. Rồi khi tập cho nét mặt tươi tỉnh, nhẹ nhõm, em đã tạo cho em đường nét duyên dáng.

    Các em yêu quí, các bóng mát của cuộc đời, vì sự yên vui của mọi người chung quanh, các em và chị, chúng ta cùng ráng tập thể dục cho gương mặt đi nào.

    Đỗ Phương Khanh
    Thiếu Nhi số 002, trang 16
    Ngày 22-8-1971
     
    Cổ nhân đã nói:

    Không HỨA bậy … mình không phụ người …
    Không TIN bậy … người không phụ mình …

  3. ***

    Giọng Nói


    Hình minh họa
     
    Sau khi chị em ta gặp nhau, chúng ta mỉm cười, rồi sau đó, chị em ta sẽ hàn huyên tâm sự. Vậy kỳ này chúng ta bàn với nhau về giọng nói.

    Buổi sáng, khi chị em ta còn nằm lì trên giường, êm đềm thay là tiếng mẹ, như tiếng chim hót buổi sớm, mẹ gọi:

    – “Con ơi ! Sáng rồi, dậy đi con”.

    Dù ta còn muốn nằm thêm vài phút nữa, ta cũng cố mở mắt mỉm cười với mẹ, vươn vai mấy cái rồi bò dậy. Và cả ngày tiếng mẹ êm đềm văng vẳng bên tai chúng ta như tiếng đàn. Cám ơn trời ban cho ta đôi tai để được nghe tiếng nói của mẹ hiền. Chị em ta cũng phải bắt chước mẹ mới được.

    Mỗi khi nói gì với ai, các em của chị hãy cất lên giọng nói thật nhẹ, giọng nói chỉ vừa đủ cho người đối thoại nghe thôi. Em nhìn thẳng vào mắt người, nói như là những lúc em tâm sự với bạn, nghĩa là giọng nói trầm mà vừa đủ cho người nghe rõ, thỉnh thoảng điểm thêm nụ cười.

    Các em đừng bao giờ nói to quá, hoặc là nói liền một mạch không cho người khác chen vào. Đừng bao giờ tức giận đến líu cả lưỡi lại. và cũng đừng nói bằng giọng ẻo lả mà có người gọi là điệu.

    Chị em ta nhất định chỉ nói bằng một giọng đầm ấm đủ nghe, bằng thái độ đứng đắn mà vui vẻ. Và chúng ta cũng không nên nói tiếng lóng.

    Em đừng cho là chị khó tính, bởi đây chỉ là những kinh nghiệm của chính chị, chị nói với các em vì khi xưa, chị cũng hay nói lóng trong câu chuyện vui với bạn bè. Sau này quen đi, nhiều lúc buột mồm nói lóng làm chị ngượng hết sức. Phải bao nhiêu chú ý chị mới bỏ được tật nói pha vài tiếng lóng đấy các em gái ạ.

    Vậy các em nhớ lời chị dặn :

    “Nói êm tai vừa đủ cho người đối thoại nghe, bằng thái độ đứng đắn mà vui vẻ, không điệu, không nói lóng và tuyệt đối không bao giờ nói tục. Chỉ một câu nói tục có thể làm mất hết thiện cảm của mọi người đối với ta, có khi còn làm cả gia đình ta bị chê cười nữa đó, các em”.

    Bây giờ chị cười và nói :

    “Chào các em gái và chúc các em dịu dàng.”
    Đỗ Phương Khanh
    Thiếu Nhi số 003, trang 16
    Ngày 29-8-1971

        ***
     

  4. Biết Cảm Ơn


    Hình internet … cảm ơn họa sĩ…

    Trong một ngày của mỗi người, có biết bao nhiêu là dịp để cám ơn. Từ sáng sớm, khi mới bừng tỉnh dậy, nghe bên tai ta ríu rít tiếng chim hót, tiếng nói ngọt ngào của mẹ hiền, tiếng thỏ thẻ của em bé, rồi đến khi ta mở mắt, kìa ánh sáng chan hòa, vạn vật bừng sáng, một ngày mới rực rỡ đang lên. Cám ơn Thượng đế cho ta tai, mắt để mà nghe, mà nhìn.

    Thế còn nếu ta không có tai, mắt ? Thì em ơi ! Hãy cám ơn Thượng đế rằng ta còn tay chân để mà cầm mà đi, còn óc để suy nghĩ.

    Nhưng có người tàn tật hoàn toàn thì sao ? Thì em đáng thương của chị ! Hãy cám ơn Thượng Đế rằng ta đang sống giữa loài người, mà loài người thì có rất nhiều tình cảm.

    Rồi gần em nhất, còn cha, mẹ, anh, chị, em của em thương yêu em. Ấy là nói quá đi thế chứ chị tin chắc rằng trong số các bông hồng của chị, có rất ít em kém may mắn đến thế. Như vậy thì các em có nhiều dịp, quá nhiều dịp để mà cám ơn.

    Buổi sáng em ăn điểm tâm, cám ơn người nấu cho các em đĩa xôi hay tô phở ; thay đồ đi học, cám ơn người thợ dệt may vải đẹp ; đi xe tới trường, cám ơn người nghĩ ra phương tiện di chuyển, người tài xế lái xe ; ngồi học, cám ơn người nghĩ ra chữ để ta có thể bước vào biết bao nhiêu thế giới nhờ sách vở, cám ơn thầy cô hết lòng dạy dỗ ; trưa về ăn cơm, cám ơn mẹ, hoặc chị hoặc người giúp việc đã nấu nướng sẵn sàng.

    Các em ơi ! Cám ơn tổ tiên gây dựng nếp nhà và cám ơn cha mẹ suốt đời tận tụy thương yêu các con.

    Với một lòng thiết tha yêu thương các em gái, vì hạnh phúc của các em, chị xin các em hãy tập cám ơn. Bởi vì khi cám ơn ai, người đó sẽ vui và sung sướng, đó là em làm một việc tốt. Ngoài ra, chính em, em cũng sung sướng nữa có phải không em ? Cái sự biết rằng người ta giúp đỡ mình, người ta thương mến mình đó, nó làm cho chính mình ấm lòng lắm phải không các em.

    Người nào trên đời này cũng đều phải liên hệ đến người khác chứ không thể sống lẻ loi một mình được, vậy thì, các bông hồng của chị, chúng ta hãy cám ơn Thượng Đế đã cho con người cái sự biết cám ơn đi.

    Nếu có một người nào mà suốt đời không hề biết cám ơn là gì thì thật là đáng thương cho người ấy phải không các em ? Vì họ phải sống buồn chán, khô khan trong sự bất mãn, cô đơn, không cảm thông với người khác được.

    Còn người nào luôn luôn nhìn thấy lòng tốt của người khác để mà cám ơn, chính là đã được thượng đế thưởng cho họ có nhiều nguồn vui đấy phải không các em.

    Bây giờ chị xin các em dành cho chị mỗi buổi tối 5 phút, các em ghi tất cả những việc tốt của tất cả mọi người em gặp trong ngày đã làm cho em, mà em đã có cám ơn rồi hoặc em quên, em sẽ ngạc nhiên mà thấy rằng sao quanh mình có nhiều người tốt đến thế, và sao mà mình lại may mắn được hưởng nhiều hạnh phúc đến thế.

    Em ơi ! Bài đã dài, chị xin ngừng, và cùng với chị, chúng ta cùng cám ơn người nghĩ ra chữ để chị em ta có thể truyền thông tư tưởng đến cho nhau, các em chịu không nào ?
    Đỗ Phương Khanh
    Thiếu Nhi số 004, trang 16 – 17
    Ngày 05 -9-1971


    ***
     

  5. Sống Giản Dị


    Hình minh họa
     
    Một trong những nguyên tắc để tạo nét duyên dáng là giản dị. Giản dị từ thể chất tới tinh thần. Chị nhận thấy hình như hầu hết mọi người đều có vẻ thích chơi với người tính tình giản dị. Luôn luôn chị nghe thấy :

    – Cô ấy tính tình giản dị lắm ! Cô ấy ăn mặc giản dị lắm… Cô ấy trang điểm giản dị lắm.

    Lời nói đầy vẻ khen ngợi !

    Các em gái của chị ơi ! Nếu các em tin yêu chị, xin các em nghe lời chị đi. Các em nên tập tính giản dị. Cuộc đời ngắn ngủi lắm ! Vậy phải biết sống. Phải biết vất bỏ những hành trang cồng kềnh và phiền toái thì cuộc sống mới nên thơ được.

    Nhưng, giản dị là thế nào ? Muốn sống giản dị thì phải làm sao ?

    Các em phải tập từ thể chất trước. Ăn mặc, trang hoàng bàn học, chải đầu, v.v. ráng tìm kiểu nào giản dị nhất. Rồi ráng tập cho tính tình giản dị bằng cách luôn luôn nghĩ tới điều tốt của mọi người. Nếu có gì không như ý, ráng nghĩ giản dị rằng:

    “Tất nhiên là đôi khi cũng gặp phải điều không như ý chứ nếu lúc nào cũng như ý cả thì chính là ta đang sống trên thiên đàng, không phải dưới trần.”

    Có ai làm giúp ta điều gì, đừng nghĩ quá xa rằng họ lợi dụng, nên nghĩ rằng họ tốt mà giúp mình. Có ai làm buồn lòng, đừng cho là họ cố ý làm hại mình mà nên nghĩ là họ vô tình làm buồn mình. Quan niệm sống này đôi khi bị thiệt thòi trong cuộc đời nhưng bù lại, các em sẽ được rất nhiều niềm vui và an ủi, được rất nhiều tình thân yêu từ mọi người.

    Em ơi ! Hạnh phúc thay cho ai được sống với những người tính tình giản dị. Và cũng hạnh phúc thay cho ai được trời cho biết sống giản dị ! Cuộc đời sẽ đầy mầu hồng em ạ.

    Các em bé gái (cả trai nữa) của chị! Ráng tập sống giản dị đi. Từ thể chất tới tinh thần. Ráng vứt bỏ tất cả những gì cồng kềnh vô ích đi. Hãy chấp nhận những sự không thích với ý nghĩ :

    “Mỗi người đều khác nhau, chắc mình cũng có những điều mà bạn mình không thích”.

    Đi đâu xa, ráng thu hành trang lại, chỉ mang đi vừa đủ những món thật cần thiết. Trang hoàng bàn học bằng những đồ vật giản dị trang nhã. Gặp người bạn mới, ta sẵn sàng chấp nhận với một tâm tình cởi mở giản dị.

    Luôn luôn, em tâm niệm giản dị thế này:

    “Với tính tình giản dị, em rất dễ yêu người và đến gần người. Mà một xã hội tốt đẹp chính là nơi mà ở đó có nhiều người thương yêu nhau.”

    Đỗ Phương Khanh
    Thiếu Nhi số 005, trang 16
    Ngày 12-9-1971
     
    Cổ nhân đã nói:

    Không HỨA bậy … mình không phụ người …
    Không TIN bậy … người không phụ mình …
     
    Edit / Delete
 
 

Nhân Loại Rúng Động và Xã Hội Sụp Đổ Vì Một Con Siêu Vi Khuẩn

 
Hoàng Hiếu



 

Một thứ gì đó thật nhỏ, kích thước siêu vi, tên là Coronavirus đang làm đảo lộn hành tinh. Một thứ gì đó, không nhìn thấy được, đã đến đây áp đặt luật của nó. Nó đặt lại vấn đề cho mọi thứ và làm đảo lộn tất cả những trật tự có sẵn. Mọi thứ đang bị sắp xếp lại theo kiểu khác, cách khác.

Điều các cường quốc Tây Phương không làm được ở Syrie, Lybie, Yemen… thứ nhỏ xíu kia đã làm được: ngưng bắn, đình chiến…
Điều quân đội Algerie không làm được, thứ nhỏ xíu kia đã làm được: Hirak (1) đã chấm dứt….
Điều các nhà đối lập chính trị không làm được, thứ nhỏ xíu kia đã làm được: lùi ngày bầu cử.
Điều các xí nghiệp không làm được, thứ nhỏ xíu kia đã làm được: dời hạn trả thuế, miễn thuế, cho mượn tiền với lãi xuất bằng không, quỹ đầu tư, giảm giá nguyên liệu chiến lược…
Điều các ‘Gilets Vàng’ và nghiệp đoàn không làm được, thứ nhỏ xíu kia đã làm được: giảm giá xăng dầu, gia tăng quyền lợi xã hội…
Bỗng nhiên, chúng ta thấy tại Tây Phương nhiên liệu xuống giá, ô nhiễm suy giảm, mọi người bắt đầu có thời gian, nhiều đến mức không biết phải làm gì với nó. Cha mẹ bắt đầu tìm cách hiểu thêm con cái, con cái tập sống nhiều hơn với gia đình, việc làm không còn là điều ưu tiên và du lịch, thú tiêu khiển không còn là mức đo của một cuộc sống thành đạt.
Bỗng nhiên, trong yên lặng, chúng ta quay về với nội tâm của chính mình và hiểu được thế nào là giá trị của hai chữ “đoàn kết” và thế nào là sự “yếu đuối, dễ bị đánh ngã”.
Bỗng nhiên, chúng ta hiểu rằng tất cả đều ở trên cùng một chiếc thuyền, giàu cũng như nghèo. Chúng ta nhận thấy mình đã cùng nhau dọn sạch ngăn kệ các cửa hàng và nhận ra bệnh viện đang đầy ắp người và đồng tiền không còn chút gì quan trọng nữa! Rằng tất cả chúng ta đều là con người đang phải đương đầu với Coronavirus.
Chúng ta cũng nhận ra trong garage, những chiếc xe sang trọng đang nằm yên vì không ai có quyền ra khỏi nhà.
Chỉ cần vài ngày đủ cho thế giới thiết lập được bình đẳng xã hội, điều mà không ai có thể tưởng tượng trước đây.
Nỗi sợ đã xâm chiếm mọi người. Nỗi sợ đã đổi phe. Nó đã rời người nghèo để sang ở với người giàu có và quyền lực. Nó đã nhắc những người này nhớ lại bản chất con người và vạch ra cho họ thấy tính nhân bản của họ.
Mong rằng điều này sẽ giúp con người hiểu được sự mong manh, dễ vỡ của mình, từng tìm cách bay lên Hỏa Tinh để sống và vẫn tưởng mình đủ giỏi để cấy chủng tạo ra người mới với hy vọng sống trường sinh bất tử.
Mong rằng điều này sẽ giúp con người nhìn thấy sự thông minh giới hạn của mình khi đối đầu với sức mạnh của trời.
Chỉ cần vài ngày để những gì chắc chắn trở thành bất định, sức mạnh trở thành yếu đuối và quyền lực trở thành đoàn kết và hội ý.
Chỉ cần vài ngày để Phi Châu trở thành lục địa an toàn (2). Điều mơ mộng trở thành điều dối trá.
Chỉ cần vài ngày để con người ý thức được mình chỉ là hơi và bụi.
Chúng ta là ai? Chúng ta đáng giá bao nhiêu? Và chúng ta làm được gì trước con Coronavirus?
Hãy nhìn thấy sự thật hiển nhiên đó và trông chờ vào đấng thiêng liêng che chở.
Đối đầu với Coronavirus, hãy đặt câu hỏi cho chính “bản chất con người” của ta trong cuộc “toàn cầu hóa” này.
Hãy ở nhà và suy ngẫm về cơn đại dịch này.
Hãy yêu thương nhau, những người đang sống.

Chú thích:
(1) Hirak = chữ Ả Rập có nghĩa là phong trào chống đối
(2) Phi Châu cũng vừa bị Coronavirus tấn công, không còn là lục địa an toàn.

NTT dịch từ nguyên bản của Moustapha Dahleb, một nhà văn nổi tiếng của Tchad.
Thứ Sáu, ngày 27/3/2020

 

Ðời sống trong thiền viện Thiền sư: Soko Morinaga

 
Ðời sống trong thiền viện
Thiền sư: Soko Morinaga
Biên dịch: Thuần Bạch Ngọc Bảo
 
 
 
Hành trì hằng ngày tại một thiền viện Phật giáo
 
 
Một ngày bình thường bắt đầu từ lúc 3 giờ sáng với tiếng chuông khua tay và tiếng gọi lớn “Kaijo!” (Thức dậy!) Các vị sư nhẩy ra khỏi giường, lấy một cái bình bằng tre đổ ba ngụm nước vào tay để xúc miệng và rửa mặt. Họ đi vệ sinh, mặc áo tràng lên, rồi vân tập đến thiền đường trong chánh điện.

Tất cả hành động của mỗi người đều được làm chung với nhau như một nhóm. Khi tiếng chuông đại hồng trong chánh điện đánh lên gọi các vị tăng vân tập, người trưởng nhóm của thiền đường, nơi mà các vị tăng thực sự sống ở đó, rung chuông tay lên và mọi người lần lượt im lặng bước vào. Thời kinh sáng bắt đầu trong chánh điện, kéo dài khoảng một tiếng đồng hồ.

Buổi chiều lúc bốn giờ, trong ngày cuối cùng của năm, các vị sư đi một vòng quanh chùa tụng niệm, bắt đầu từ chánh điện và chấm dứt ở nhà bếp, nơi thờ Idaten I daten có thần thông bay vòng quanh trái đất như cái chớp, và vì thế được phong là vị thần đem lại thực phẩm cho những người tu. Nhiều năm trước, khi mới bắt đầu học kinh, tôi lần đầu tiên đã đi vòng cuối năm tụng niệm quanh chùa này. Khi vừa mới xong, Zuigan Roshi bỗng bất ngờ hỏi tôi rằng:

“Ngươi dùng tâm gì để tụng kinh?”

Tôi hoàn toàn sững sờ, không biết phải nói gì có thể làm vui lòng đại sư. Rồi, khi tôi vội vã trả lời một câu có vẻ rất Thiền rằng, “Con tụng kinh mà không dùng tâm nào cả,” tôi đã bị mắng ngay.

“Ðồ ngu. Tại sao ngươi không tụng kinh trong sự biết ơn là: “Xin cảm tạ đã cho tôi một năm tu tập an lành?”

Cũng có những lúc khác Lão sư đã quát với tôi là, “Giọng của ngươi run lên là vì ngươi cố làm sao tụng cho thật hay. Ngươi chỉ cần tụng kinh với hết sức mình là đủ rồi.”

Tụng kinh là một hoạt động đã đưa đến cho tôi vô số lần đụng độ với những quan niệm sai lầm của mình.

Sau thời kinh buổi sáng, các vị sư trở về thiền đường và khóa tọa thiền bắt đầu. Khi một tiếng chuông đặc biệt được đánh lên, họ bắt đầu đi vào “tham thiền”, tức là đến gặp gỡ riêng tư với thầy. Từng người một, họ lần lượt đi vào đối mặt với lão sư. Những gì xẩy ra ở đó không phải là một cuộc gặp mặt thân thiện giữa hai con người bình đẳng với nhau mà là một cuộc vấn đáp. Mỗi vị sư đều nhận một công án từ thầy của mình, và phải trả lời cho công án đó trong cuộc gặp mặt này. (Một công án là một “vấn đề” rút ra từ pháp ngữ cũng như những hành động của Ðức Thích Ca Mâu Ni Phật và những vị Tổ, có thể làm khai mở sự giác ngộ.) Vị sư phải quán triệt được ý nghĩa thực sự của công án qua công phu tọa thiền, chứ không chỉ qua suy nghĩ lý luận.

Khi thời tham thiền chấm dứt là đến bữa ăn điểm tâm. Trong suốt bốn năm tôi ở thiền viện, thức ăn chúng tôi dùng chẳng có vẻ gì là thức ăn cả; dần dần những bữa ăn đó mới đổi thành có vẻ truyền thống hơn. Nhưng dù thế bữa cháo của chúng tôi cũng chỉ toàn là bằng những hạt lúa mạch lức tròn, chưa được chà vỏ, không phải là loại lúa mạch đã được hấp và xấy khô thường dùng trong các bữa ăn ở ngoài. Cháo là tiêu biểu cho bữa ăn điểm tâm trong thiền viện, đến nỗi chính chữ điểm tâm được đặt ra từ tên của món thực phẩm này.

Không cần biết hạt lúa mạch lức này được đun lâu tới đâu, nước cháo cũng chẳng đặc được tí nào, thế nên cuối cùng là món cháo này chỉ lõng bõng toàn là nước muối với những hạt lúa mạch lặn ở dưới đáy. Ngoài món cháo này ra, trong suốt ba năm, chúng tôi không được ăn gì khác ngoài hai miếng dưa mặn chát mà chúng tôi gọi là “dưa bất tận”. Chúng tôi sẽ cẩn thận mút cái mặn ra khỏi hai miếng dưa ấy khi ăn, hay có thể gọi là uống, ba bát cháo ấy.

Người ta thường nói rằng những vị thiền tăng ăn dưa muối mà không phát ra tiếng nào, nhưng thực sự là những miếng dưa chúng tôi ăn đó chẳng giòn gì cả. Cho dù có cố cẩn thận và dè dặt liếm miếng dưa đó thật lâu đến thế nào, miếng dưa cũng sẵn sàng tan ngay ra và trôi xuống cổ họng.

Thật sự như vậy, không chỉ trong vấn đề ăn dưa muối, mà trong tất cả những hoạt động ở phòng ăn … dơ đũa lên xuống, cầm bát lên và đặt bát xuống, húp miếng cháo nóng bỏng … không có cái gì là gây ra tiếng động. Không thể nào có sự thì thầm nói chuyện, tất cả các hành động đều được làm trong những cử chỉ đã được định sẵn và theo tiếng đập của chiếc mõ gỗ. Phòng ăn, cùng với phòng tắm và cầu tiêu, được coi như là ba nơi im lặng, ở đó bắt buộc phải giữ yên lặng thật nghiêm nghặt. Dĩ nhiên, không cần phải nói là, thiền đường cũng luôn luôn thật là im lặng.

Tất cả những học tăng mới chung sống với nhau hai mươi bốn tiếng mỗi ngày, mỗi người có chỗ chỉ định chỉ rộng khoảng một chiếu tatami, trong gian thiền đường rộng lớn trống trơn, không có một vách ngăn, cho nên không có chỗ nào hay lúc nào có thể riêng tư được. Do đó, cơ hội duy nhất để có thể hoàn toàn riêng tư một mình là ở trong cầu tiêu, và vì thế bắt các vị sư phải giữ im lặng ngay cả ở nơi chốn đó, cũng là một cách để thúc cho họ tiếp tục giữ chánh niệm không ngưng nghỉ.

Ngày tắm rửa trong thiền viện là những ngày có số 4, hay 9 trong tháng. Các vị sư không chỉ tắm rửa mà còn giặt đồ, vá quần áo, và đi lo những công chuyện cần giải quyết. Tóm lại là họ chỉ tắm một lần mỗi năm ngày thôi.

Dù có là ai đi chăng nữa, nếu một người phải dậy sớm tinh mơ và đi ngủ trễ, tọa thiền rồi đi lao tác mỗi ngày, thì bước vào trong bồn tắm là một cái thú thần tiên giống như là lên thiên đàng vậy. Tinh thần của ông ta sẽ lên cao độ mặc dù ông không muốn như vậy. Vì lý do đó, phòng tắm cũng là một trong ba nơi chốn phải im lặng.

Nhưng chúng ta hãy trở lại với phòng ăn. Ðiều quan trọng phải giữ giới luật im lặng trong lúc ăn là bởi vì dù thức ăn có dở đến thế nào chăng nữa, tâm của một vị tăng cũng dễ đi lan man trong lúc đó. Thật vậy, tôi còn dám nói là thức ăn càng dở bao nhiêu, tâm lại càng dễ đi lang thang bấy nhiêu.

Sau bữa điểm tâm, các vị sư lau dọn bên trong và bên ngoài thiền đường trước khi đi ra ngoài khất thực vào lúc quá bẩy giờ. Những ngày khất thực xen kẽ với những ngày giảng pháp của thầy, nên nếu thầy giảng vào ngày thứ hai, thứ năm, thứ bẩy và thứ mười trong tháng, thì ngày khất thực sẽ là ngày thứ nhất, thứ ba, thứ sáu và thứ tám. Vì ở Kyoto có đến bẩy thiền viện, nên chương trình được sắp xếp để các vị sư trong khu vực gần nhau không đi khất thực trùng một ngày.

Quanh năm, các vị sư lê gót đi khất thực qua những nẻo đường của thành phố, đôi chân trần trụi bao trong những đôi dép rơm. Họ không được phép đứng ở ngưỡng cửa các nhà họ đi ngang qua, nhưng họ thường đi thành từng nhóm ba người và đi theo hàng một, cách nhau khoảng ba mươi mét, vừa đi vừa hô to lên “HO”.

Những căn nhà ở Kyoto thường nhỏ hẹp, sâu vào trong và sát với nhau, trông giống như một hàng lươn. Tôi được một vị sư lớn tuổi hơn dạy là phải đi cách xa nhau đủ để bà chủ nhà nếu đang ở ngoài sân sau phơi quần áo có nghe tiếng “Ho!” đầu tiên của vị sư đi đầu sẽ có thì giờ để mà lau tay, đi kiếm ít tiền lẻ hay bới ít cơm ra cửa trước kịp lúc vị sư thứ ba đi sau cùng vừa mới tới nơi.

Hiện tại chúng ta đang sống trong một thời đại dư thừa, một thời đại mà không có gì khó khăn khi nhận được tiền và đồ cúng dường của thí chủ. Nhưng trong thời kỳ vừa sau cuộc thua trận Thế Chiến của chúng tôi, hầu như tất cả các vị sư đều rất ngại ngùng khi phải làm việc này. Ngay chính tôi cũng cảm thấy thật khó khăn khi phải thản nhiên mà cúi đầu xuống nhận một ít tiền lẻ của thí chủ.

Khu vực đèn đỏ — còn được gọi một cách văn hoa là xóm hoa — vẫn còn tồn tại trong những ngày ấy, và có một hôm, khi chúng tôi đang đi khất thực qua khu ấy, từ trên lầu hai, một cô gái làng chơi với khách của cô ta đã ném xuống vài đồng xu cho chúng tôi. Một vị sư trẻ vừa tốt nghiệp đại học và nhập chúng trong thiền viện đã bắt lấy mấy đồng xu ấy không suy nghĩ và dợm ném trả lại. Khi trở về chùa, ông ta bị sư huynh mắng một trận nên thân, và được nhắc nhở thật rành mạch về ý nghĩa hai mặt của sự đi khất thực. Một mặt, đó là sự tập luyện hạnh nhẫn nhục; một mặt khác, đi khất thực là để gieo duyên cho người khác xả đi cái tâm tham của họ. Thực hành khất thực đem lại lợi ích cho bản thân cũng như cho người khác, tự lợi và lợi tha, như hai bánh xe trong một cái xe, và vị sư trẻ đó đã được dạy cho rằng ông ta đã hoàn toàn hành động một cách không cẩn trọng.

Tôi đã nghe được lúc vị sư này bị mắng, và những lời răn dạy ấy đã làm tôi xúc động sâu xa. Tôi chợt nghĩ ra rằng cái chữ “Ho!” mà chúng tôi kêu to lên ấy có nghĩa là “Pháp” và khi chúng tôi khất thực là đang đi trên một con đường truyền bá Pháp Phật cho khắp thế gian. Từ đó tôi sửa soạn đi khất thực trong tâm niệm là tôi đang làm khu vực đó được thanh tịnh với tiếng “Ho” của tôi vang xa, y như là tôi đang là một cái máy hút bụi khổng lồ vậy. Một ngày kia khi đến thăm thầy tôi, Ðại sư Zuigan, tôi chợt nói ra ý tưởng này, và nhận lãnh một trận quát tháo như sấm sét.

“Ðồ ngu!” Ngài hét. “Ðừng có tự mê hoặc mình. Chữ “Ho!” mà người hô lên đó là tượng trưng cho bình bát ngươi mang để nhận đồ bố thí đó. Ðừng có thắc mắc ai đang làm gì, vì lý do gì hay là ai đang nhận gì, hay bất cứ một cái gì khác. Chỉ cứ đi ra khất thực mà không tìm kiếm gì cả, cũng như nước trôi đi vậy, hay là như đám mây bay theo gió vậy thôi.”

Thế là lại thêm một ý tưởng ngu si của tôi đã bị dập tắt. Trong quãng đời tu tập đôi khi người ta dễ bị lạc hướng qua muôn ngõ ngách quanh co của những ấn tượng méo mó chủ quan.

Khi những vị sư đi khất thực trở về rồi, khoảng sau 10 giờ sáng, là đến giờ ăn trưa. Bữa ăn trưa này gồm có cơm lúa mạch, súp miso với rau, và hai củ cải muối. Có thể nói một phần cơm là để độn vào với chín phần hạt lúa mạch lức. Sau khi hỗn hợp này được đun lên cho tới mức nhừ nhất có thể được, nó lại được nghiền thêm bằng một cái môi múc cơm để cho hột lúa mạch dẻo ra thêm một chút. Nếu không nghiền ra, lúa mạch sẽ vẫn cứng và rất khó ăn. Ðến bữa tối, đồ ăn dư từ bữa trưa còn lại được pha trộn vào nhau thành một món hổ lốn. Nếu các vị sư ăn cơm độn lúa mạch nhiều quá trong bữa trưa, nước sẽ được đổ thêm vào trong món hổ lốn này, làm thành một món hỗn hợp thật là lõng bõng.

Sau bữa ăn trưa là phần lao động, được gọi là samu. Công việc phải làm là làm vườn rau, tỉa cây cảnh, nhổ cỏ dại, và chẻ củi. Công việc lao động được nhấn mạnh đặc biệt trong đời sống thiền viện, và những vị sư thường xuyên được cảnh cáo là không nên phán xét công việc đó trong những giá trị tương đối của chúng mà chỉ là buông bỏ hết mọi phân tích lý luận và lo làm công việc đó hết mình.

Thiền sư Bá Trượng, thời xưa ở Trung Hoa từ năm 720-814, là người đã có công thiết lập tiêu chuẩn luật lệ phải theo trong những thiền viện. Ðại sư Bá Trượng vẫn tiếp tục làm việc dù cho ngài đã đến tuổi tám mươi. Khi các đệ tử của ngài, vì quan tâm đến sức khỏe của thầy, đã dấu những dụng cụ của ngài đi, Bá Trượng bắt buộc phải thôi làm việc. Nhưng cùng lúc ấy, ngài cũng thôi không ăn. Khi các đệ tử van xin ngài hãy ăn uống, ngài đã trả lời họ với những lời nói vẫn còn nổi tiếng cho đến ngày nay: “Ngày nào không làm là ngày ấy không ăn.”

Có một lần, khi tôi kể lại chuyện này cho một đệ tử, anh ta đã nhận xét rằng, “À ra thế đấy. Người nào không làm việc thì không được ăn, có phải vậy không thầy?”

Nếu xét hai câu nói này của Bá Trượng và của người đệ tử kia, thoạt nhìn thì có vẻ giống nhau, nhưng thực ra là khác hoàn toàn. Cái khác biệt giữa sự đối mặt với một người và ra lệnh rằng, “Người nào không làm là không được ăn,” với câu tự nói với chính mình, “Nếu tôi không làm, tôi sẽ không có ăn,” là khác biệt với nhau một trời một vực. Câu nói trước mang một vẻ khiêu khích và có tính cách tranh cãi, trong khi câu nói sau là một nhận định thật sâu sắc từ trong nội tâm mà ra.

Sau thời lao tác và bữa ăn tối “có dược tính” của món hổ lốn (chữ bữa ăn chính đúng ra được viết theo chữ Nhật là “dược thạch”), các vị sư đi vào trong thiền đường và tọa thiền ở đó cho đến chín giờ tối. Trong khoảng thời gian này, họ cũng có một buổi tham thiền chính thức với thầy nữa. Ðến chín giờ tối, lại có một thời tụng kinh đặc biệt trước khi đến “giờ đi ngủ”, một chữ dùng có ý nghĩa là “hết áp dụng luật lệ (cho ngày hôm đó)”. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là khi thời tụng kinh đã chấm dứt và đèn đuốc đã tắt hết, mọi người đều đi ngủ ngay. Khi tiếng tụng kinh vừa xong, vị sư trưởng rung chuông lên rồi, các học tăng nhanh chóng cởi áo tràng ra, lấy chăn gối từ kệ xuống, rồi chui vào giường ngủ một cách trật tự, đó là, tạm thời thì có vẻ như vậy.

Chắc bạn chưa bao giờ có dịp được thấy bên trong một thiền đường ra sao, nhưng bạn có thể tưởng tượng đó như là một trại lính vậy. Tôi đã từng nghe nói khi phái Thiền tông muốn xây dựng một thiền đường, họ trông vào trại lính làm gương mẫu. Dọc mỗi bên thiền đường là một hàng dài chiếu tatami, mỗi học tăng được chỉ định một chiếu để tọa thiền, ngủ, và sống ở trong đó. Ở giữa hai hàng chiếu là một lối đi lát gạch theo kiểu Trung Hoa.

Chăn chiếu chỉ gồm có một cái nệm futon, được xếp làm hai và dùng vừa để nằm, vừa để đắp, còn được gọi là “nệm futon lá sồi”, vì vị tăng nằm gọn trong cái futon đó giống như một chiếc bánh nếp nhân đậu gói gọn lỏn trong một chiếc lá sồi. Vị tăng nào quen nằm với tấm nệm như vậy sẽ quấn mình trong đó thật khéo như một miếng cơm quấn rong biển, và sẽ thấy ấm áp vô cùng. Bất cứ lúc nào, dù mùa hè hay mùa đông, tấm nệm duy nhất này cũng được dùng làm chăn chiếu cho người học tăng.

Vừa khi vị sư trưởng phụ trách thiền đường, với cây gậy trong tay gọi là keisaku đã đi kiểm soát xong xuôi những hàng người quấn mền như quấn rong biển, đèn sẽ tắt và vị sư trưởng sẽ rời khỏi thiền đường. Ngay lúc đó, mọi người đồng loạt chui ra khỏi giường và lại mặc áo tràng vào, tọa cụ ôm trong tay, đi ra ngoài tìm một chỗ trống dưới mái hiên chính điện hay trên bia một ngôi mộ nào đó, ai có chỗ nấy, và bắt đầu tọa thiền ban đêm.

Tôi thường hay chọn một mộ bia nào có nền cao nhất để ngồi thiền ban đêm. Tôi đã thật sự tin tưởng một cách trẻ con rằng ngồi ngất ngưởng trên một tảng đá cao– rõ ràng là một chỗ nguy hiểm nếu lỡ ngủ gục sẽ khiến cho tôi không dám ngủ gục.

Cho đến chín giờ tối, tất cả mọi người đều ngồi thiền chung với nhau trong thiền đường. Rồi sau đó, khi luật lệ trong ngày chấm dứt, mọi người đều tự nguyện ngồi thiền riêng. Ðối với một học tăng mới đến trong thiền viện, những thông lệ này thật là quá cam go . Tuy nhiên, sau một thời gian, tôi bắt đầu nhận thấy rằng hành thiền ban đêm như vậy là thực sự có lợi ích.

Cũng tựa như mỗi người đều có một nét mặt riêng biệt, hoàn cảnh của mỗi người cũng hoàn toàn đặc thù cho người ấy, cho nên trong thế gian này có vô lượng hoàn cảnh riêng biệt khác nhau. Cái tâm nguyên thủy mà mỗi người chúng ta đều sẵn có từ khi sinh ra là một điều vi diệu vô cùng, nhưng những ấn tượng huân tập từ các kinh nghiệm trong đời và kiến thức thâu thập đều khác nhau với mỗi người. Vì thế, sau khi những ngọn đèn đã tắt, để ra một thời gian cho mỗi người ngồi thiền riêng là sự cần thiết.

Theo thứ tự thâm niên, những vị sư trở lại thiền đường đi ngủ, và điều đó có nghĩa là người nào mới nhất trong các vị sư thường chỉ đi ngủ khi đã tới nửa đêm. Và như thế, ngay cả trong những ngày bình thường, họ cũng chỉ có được ba tiếng đồng hồ để ngủ. Vốn sẵn yếu đuối, tôi luôn luôn cảm thấy như mình ngất đi hơn là ngủ đi. Hơn thế nữa, trong thời gian một tuần chuyên tu gọi là tiếp tâm (sesshin), giờ ngủ lại còn bị cắt xén thêm nữa.

Miêu tả những thông lệ này trong thiền đường có lẽ sẽ vẽ lên một lối sống cực kỳ khắc khổ, nhưng trong thời kỳ mà con người còn đang tràn trề sức sống và năng lực, sẽ không thể nào đạt được sự định tâm trong tọa thiền nếu ta ngủ bất cứ lúc nào muốn ngủ và ăn bất cứ lúc nào muốn ăn. Cũng trong ý nghĩa đó, những thực phẩm chay lạt cũng giúp cho tâm được yên tịnh phần nào, và tôi tin rằng đó cũng là điều cần thiết.

Trong đời sống thiền viện, sự sở hữu riêng tư được giới hạn nghiêm ngặt. Những vị sư sống trong sự giản tiện tối đa những đồ dùng cần thiết: chỉ có một tấm khố, áo trong bằng vải bông, khăn buộc bụng, và áo kimono một lớp.

Ngay cả trong mùa đông, cũng không có áo kimono dầy hoặc hai lớp để mặc. Chính tôi cũng không bao giờ có được một cái áo lót cho đến khi tới trên ba mươi tuổi. Về mùa đông, áo ngoài mặc dầy hơn một chút, nhưng áo trong cũng vẫn mỏng, áo kimono cũng chỉ có một lớp, và rồi đến áo tràng, vì vậy chỗ duy nhất trên thân mình mà không bị gió trực tiếp thổi vào là khu vực ở giữa bụng được quấn khăn chặt . Chúng tôi gần như là trần trụi, với hầu hết thân thể tiếp xúc trực tiếp với không khí ở ngoài. Lúc cảm thấy buốt giá nhất là về buổi sáng tinh mơ khi bị dựng dậy khỏi giường, trong bóng đêm tê tái của mùa đông, khi đó người tăng sĩ vội vàng ướp lạnh thân mình … bởi vì khi toàn bộ thân mình đã lạnh hết rồi, thì không còn cảm thấy lạnh nữa. Tôi thấy rằng, tọa thiền trong mùa đông là thật sự biết đến cái không khí lạnh, cảm thấy nó đi vào qua cửa tay áo để được thân sưởi ấm một chút, xong lại truyền lên ngực, dâng lên tới cằm như một dòng lưu chuyển ấm áp dần.

Bất kỳ mùa nào cũng vậy, những vị sư chỉ đi vớ trong những dịp lễ đặc biệt. Cái quai của đôi guốc gỗ làm bằng lát tre đan lại, cũng như những dây của đôi dép rơm mà họ đi đã cọ xát và làm cho da chân của họ dầy lên, vì thế da chân của một vị sư còn dầy hơn là gót chân của một người thường.

Sống một cuộc đời thiếu thốn như vậy, buồn ngủ là một căn bệnh kinh niên, và dạ dầy cũng đói quanh năm suốt tháng. Ngay cả một người có lòng ham muốn thật nhiều cũng chỉ còn đơn giản một ước muốn thèm được ăn, và ngủ nhiều hơn.

Những bà già thường đặc biệt cúi chào kính cẩn khi thấy chúng tôi chân trần đi những đôi dép rơm ra ngoài khất thực trong đường phố lạnh giá mùa đông. Tuy nhiên, phải nói rằng, sau thời gian chừng hơn một năm, hầu hết các vị tăng cũng quen với đời sống thiền viện, và những cực khổ vật chất không còn có ảnh hưởng mấy nữa. Thật ra phương diện khổ tâm nhất trong sự tu tập không phải là sự cực khổ thân xác mà là cái khổ tinh thần trong những lần đối đầu riêng tư với thầy. Cái khổ này chắc chắn là sau một năm cũng không biến đi đâu được.

Trọng tâm của mỗi lần gập gỡ riêng với thầy là sự trình bầy kiến giải của người đệ tử về công án. Ðể thí dụ, tôi xin dùng một trong những công án nổi tiếng nhất, “Hãy chỉ cho tôi thấy bộ mặt bản lai trước khi cha mẹ anh sinh ra,” Nói cách khác, công án này hỏi là, “Cái gì là bản thể chân thật của anh trước khi được cha mẹ sinh ra?”

Một vài người trong số các bạn sẽ cho những câu hỏi loại này là vô nghĩa, nhưng vị sư được giao cho công án này — biết là thế nào ông ta cũng phải đưa ra một câu trả lời cho thầy sáng ngày hôm sau — sẽ bắt buộc phải làm việc với công án đó như là chuyện sống chết vậy. Sự tham khán đến cùng cực công án ấy khiến điều đầu tiên ông ta nhận ra là, trong khi thân vật chất này được sinh ra từ cha mẹ, sự sống đang được tiếp tục một cách vô hạn định. Không đứa trẻ nào được sinh ra sau khi cha mẹ nó đã chết rồi. Bị mê hoặc với cái chết của thân xác, chúng ta phân biệt ra — đời sống của cha mẹ, đời sống của đứa con, đời sống của tôi, đời sống của anh — nhưng trên thực tế, dù cho chúng ta có đi trở ngược lại quá khứ không ngừng, đời sống mà chúng ta đang sống hiện tại là một sự tiếp diễn vô hạn, không thể định rõ được đâu là điểm khởi đầu của nó. Bằng sự lý luận, chúng ta cũng có thể hiểu được điều này.

Nhưng hơn thế nữa, chức năng lớn của đời sống chính là chức năng của tâm. Nếu dùng lý trí thuần túy để nghĩ đến điều này, ta sẽ tự hỏi rằng: “Đi vượt ra khỏi cái mà ta gọi là “cái ta”, cái gì là bản chất làm nên sự sống vô hạn định? Ði vượt ra khỏi cái ta mà chúng ta phân biệt dựa trên những sự khác nhau nhỏ nhặt như: khác nhau về nét mặt, về cá tính, khả năng … cái gì là cái ta nguyên thủy, thực sự thường hằng? Dần dần rồi tất cả mọi người, ít nhất, cũng nhận ra được đây chính là câu hỏi của công án.

Nhưng dù người thiền sinh có biết được tới đó, ông ta vẫn còn phải gặp rất nhiều khó khăn trước khi có thể nói với lão sư rằng, “Ðây chính là bộ mặt bản lai của tôi.” Gần như bao giờ cũng vậy, ông ta sẽ bắt đầu bằng cách đưa ra đủ mọi lý luận trống rỗng. Vị thầy, lúc đầu, sẽ yên lặng lắng nghe xong rồi rung chuông lên, ám chỉ cuộc tham thiền đã chấm dứt và người kế tiếp phải đi vào.

Dần dần, qua một thời gian, vị thầy sẽ quát lớn lên, “Ta không cần nghe giải thích gì cả! Bỏ hết những lý thuyết đó đi và chỉ cho ta bộ mặt bản lai của ngươi như thế nào!” Người học tăng rốt cuộc sẽ cảm thấy như muốn phát khùng.

Những vị sư không tụ tập một chỗ đợi chờ đến phiên mình để trả lời câu hỏi về Thiền theo thứ tự nối tiếp nhau, “Rồi, bây giờ đến người kế tiếp”. Thực tế là, khi đến giờ tham thiền, vị tăng phụ trách sẽ đem một cái chuông nhỏ ra một nơi giữa chừng của thiền đường và phòng tham thiền của thầy rồi để ở đấy. Lão sư, cầm một cây gậy dầy gọi là “trúc bề” (shippei), đã chờ đợi sẵn sàng trong phòng. Khi chuông rung, những vị tăng đang ngồi tọa thiền sẽ phải bước ra ngoài thiền đường, sắp hàng trước cái chuông, và chờ đợi đến phiên của họ. Khi lão sư ra hiệu, những vị sư, lần lượt từng người một, sẽ đến rung chuông để báo trước họ sẽ bước vào phòng tham thiền.

Một khi vào trong phòng lão sư rồi, thầy với trò hoàn toàn một mình trong đó, sẽ trao đổi một cuộc đối thoại Thiền. Không ai có thể nghe được cuộc đối thoại này. Khi lão sư quyết định chấm dứt buổi họp, ngài sẽ rung chuông tay lên và học tăng cúi đầu vái chào rồi lui ra, chạm trán trên đường đi với người kế tiếp đang vào gặp thầy.

Sự gặp gỡ riêng tư nay với thầy diễn ra hai lần trong ngày, buổi sáng và buổi tối trong những ngày thường, và ba lần một ngày trong tuần lễ chuyên tu. Ngoài ra, có một khoảng thời gian tu tập đặc biệt gắt gao gọi là “tiếp tâm lạp bát” (Rohatsu O-sesshin), diễn ra một lần trong năm, từ ngày mồng một tháng chạp suốt cho đến rạng ngày 8 tháng chạp, khi gà bắt đầu gáy sáng mới chấm dứt. Tuần lễ huân tu ráo riết này để kỷ niệm ngày thành đạo của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni lúc ngôi sao mai xuất hiện trong rạng sáng ngày mùng 8 tháng chạp. Trong tuần lễ này, không ai được nằm xuống ngủ, và thời tham thiền với thầy tăng lên bốn lần trong ngày.

Bao nhiêu lý luận cũng không thể giúp người học tăng có thể thông qua công án được. Và khi không còn lý luận nào đem ra nữa, nghe tiếng chuông rung vào gặp thầy, ông ta sẽ cảm thấy không muốn rời khỏi thiền đường chút nào. Trong những ngày thường, học tăng có thể được phép bỏ bữa tham thiền đó và chí tâm tiếp tục tọa thiền. Nhưng trong tuần lễ chuyên tu, hai hay ba vị sư huynh tiền bối sẽ xuất hiện như những hung thần, lôi cổ người học tăng đó ra khỏi gối thiền và bắt phải đi gặp thầy. Học tăng không thể nào tránh vào gặp thầy chỉ bởi vì ông ta không có câu trả lời cho công án được.

Nếu nhìn vào những cột nhà giữa thiền đường và phòng tham thiền, ta sẽ thấy vô số những vết trầy. Ðó là những dấu vết ấn chứng sự tuyệt vọng của những vị tăng không có câu trả lời cho công án đã cố bám vào cột khi họ bị những sư huynh lôi đi vào phòng tham thiền. Có nhiều khi, vị tăng nào kiên quyết bám dính vào cột sẽ bị gậy đánh vào tay. Sự đau đớn sẽ làm ông ta phải buông tay ra và bị kéo đi đến gặp thầy.

Vị tăng nào đến gập thầy mà im lặng, không có câu trả lời, thế nào cũng nghe thầy quát lớn, “Ngươi làm gì ở đây nếu không có gì để nói?” và rồi sẽ bị đánh với cây gậy dầy của thầy. Bị tấn công từ mọi mặt, vị tăng biết rằng nếu ông có thoát được kỳ này, cũng sẽ có kỳ khác chỉ trong vài tiếng nữa thôi, vào buổi tối, hay buổi sáng tinh mơ hôm sau. Dù có lười biếng hay khôn lanh đến đâu, vị tăng cũng sẽ bị dồn vào thế kẹt mà ông sẽ không thể tìm cách thoát ra được bằng những cách vá víu tạm thời. (Sự tu luyện kiểu này đặc biệt được dùng trong các thiền viện Lâm Tế, đối nghịch với cách tu của thiền viện Tào Ðộng.)

Kết quả của sự tu luyện này là, tôi thường mơ thấy mình được giác ngộ khi ở trong thiền đường. Tỉnh dậy, phần nhiều tôi hay thấy là kinh nghiệm giấc mơ ấy chẳng có gì đáng kể và không có ích lợi gì. Tuy nhiên, có những lần, kinh nghiệm giác ngộ trong mơ kéo dài ngay cả khi tôi đã tỉnh dậy. Có vài ba lần khi xẩy ra như vậy, tôi đã đi gặp thầy trong sự hứng khởi, và được thông qua công án.

Hàng đêm, khi cuối cùng được quấn mình trong tấm mền lá sồi, thay vì ngủ, tôi thiếp đi trong một cơn mê mệt, để rồi một lúc sau đã bị đánh thức cho một ngày mới. Nhưng mỗi lần rơi vào trạng thái mê mệt này, công án vẫn là cái sau cùng còn lại trong ý thức của tôi. Tuy thân tôi ngủ, nhưng trong tiềm thức vẫn chờn vờn cái viễn tượng phải đối diện với thầy vào sáng sớm hôm sau, cảm giác bị tra hỏi vẫn tiếp tục tồn tại, và câu “Bộ mặt bản lai… bộ mặt bản lai…” vẫn vang vọng ngay cả trong giấc mơ.

Rồi, mỗi buổi sáng khi vị tăng có nhiệm vụ đánh thức chạy ngang qua thiền đường, rung chuông lên và hô lớn, “Thức dậy! Thức dậy!”; nghe tiếng gọi đó, ngay cả khi còn chưa ra khỏi cơn ngái ngủ, cái cảm giác bị tra hỏi, “Bộ mặt bản lai” đã sẵn sàng ở đó rồi. Ý thức về câu hỏi nan giải trong tâm sẽ thức dậy trước, rồi mới đến ý thức chung. Nghe thì có vẻ khó tin, nhưng đó là kinh nghiệm tu tập của tôi ở chùa Ðại Ðức.

Thiền sư: Soko Morinaga
Biên dịch: Thuần Bạch Ngọc Bảo
https://quangduc.com/a38230/doi-song-trong-thien-vien

 

Kinh nghiệm trồng, chăm sóc và nhân giống hoa Nhật quỳnh

Nhật quỳnh là loài hoa đẹp, nở vào nhiều ngày và có hương thơm, đa dạng màu sắc, ít công chăm sóc nên được nhiều người yêu thích, hôm nay hoala.vn chia sẻ với các bạn kinh nghiệm trồng, chăm sóc và nhân giống hoa Nhật quỳnh nhé!

1. Cách chăm sóc hoa quỳnh


Chậu trồng Quỳnh phải có nhiều chỗ thoát nước

Mùa nắng 1 tuần tưới 1 lần, mùa lạnh 2 tuần tưới 1 lần

Trồng nhánh thì khoảng 3 – 4 năm là nhật quỳnh sẽ có hoa

 

2. Cách dâm cành nhật quỳnh


Cắt nhánh dài khoảng 20cm đến 30cm cành già
Để chổ mát khoảng 10 ngày cho vết cắt khô mặt để không bị thối gốc, có thể bôi vào vết cắt nước vôi pha loãng

Cắm nhánh Quỳnh sâu khoảng 1 hoặc 2 cm (sâu đủ cho nhánh Quỳnh đứng được) vào trong chậu đất có pha cát để thoát nước tốt.
Cắm nọc trụ buộc cho nhánh Quỳnh tựa vào giúp cố định nhánh ra rể, chùm bao nylong lên trên
không phủ kín hoàn toàn và để chỗ mát 1 tuần, sau đó mở bao nilong và đưa ra nắng từ từ.

Không tưới nước trong vài tuần, rồi tưới dần dần sau đó (giữ cho đất ẩm cho cây không bị khô, tránh để sũng nước gây thối gốc).
Sau một năm thì thay chậu to hơn . Hai hoặc ba năm sau Quỳnh sẽ có hoa

3. Cách làm Nhật Quỳnh ra hoaTháng 5 hoặc 6 mỗi năm ngưng tưới nước trong vòng từ 3 đến 4 tuần, có thể lâu hơn, chủ yếu để đất trong chậu quỳnh khô hẳn nước nhưng không để cây bị héo.

Cây nhật quỳnh phải có thời gian bị khô hạn, cây mới trổ hoa được.

 

4. Cách làm nhật quỳnh có nhiều hoa

THAY ĐẤT ( hai hoặc 3 năm một lần) sau vụ hoa cuối

Cách thay đất:

– Đổ chậu quỳnh ra, giũ cho HẾT TẤT CẢ đất
– Cắt bớt rễ
– Bỏ bớt nhánh nhỏ/xấu/quá cỗi, giữ lại những cành to, thân (lá) dầy.
– Cắt ngắn bớt nhánh cao quá
– Đặt cây quỳnh vào chậu, cho đất vào, ấn nhẹ cho chắc gốc, tưới cho đẫm nước. Sau đó để chậu quỳnh trong chỗ mát ba bốn tuần, rồi đem ra nắng.

 

_http://hoala.vn/

Dưới những làn dao mổ


Sau đây là câu chuyện có thật về cuộc đời con chó bị bán cho phòng thí nghiệm. Hàng triệu con chó khác cũng có chung cảnh ngộ thảm thê này.

 

Hình minh họa
 
Chúng tôi đặt tên nó là Kiki. Nó là một con chó Đức cao lớn, với hai tai vểnh, lúc nào cũng như đang nghe ngóng để phóng lên chạy khi có tiếng động. Đầu và chân nó dường như là to quá khổ so với cái thân mình nhỏ nhắn với những bắp thịt rắn chắc, thon thon của nó. Từ lớp da đầy bọ chét rúc rỉa và cái tai không được rửa ráy bốc ra chung quanh nó một mùi hôi hám khăn khẳn. Tựu chung thì nó cũng chẳng có gì là đặc biệt lắm đối với một con chó trong số hàng ngàn con chó khác đã không có cái may mắn được có một người chủ.

Năm học đó là niên khóa thứ ba tại trường thú y của tôi, và con chó được nhà trường mua từ một sở nhốt súc vật đi lạc. Tam cá nguyệt sắp tới, bốn người trong số chúng tôi sẽ thực tập về kỹ thuật mổ xẻ trên thân mình nó. Đó là buổi thực tập mổ xẻ đầu tiên của chúng tôi trên mình một con thú loại nhỏ còn đang sống.

Kiki rất nhiều tình cảm, luôn luôn tỏ ra thân thiện với mọi người . Mỗi khi thấy chúng tôi bước tới gần, mắt Kiki sáng long lanh nhìn, miệng rên lên ư ử, đuôi vẫy rối rít, quất lia lịa vào thành cái chuồng nhỏ bằng nan sắt. Mà chúng tôi cũng chẳng cho nó được nhiều nhặn gì, bất quá là dắt nó ra ngoài, vỗ nhè nhẹ vào đầu nó vài cái, và cho nó đi loanh quanh một cuốc ngắn trong sân trường, rồi lại dẫn nó trở về cái chuồng chật chội mà nó sống qua ngày.

Rồi thì buổi thực tập cũng đã tới. Việc đầu tiên chúng tôi làm là hoạn nó. Cuộc mổ này chỉ là chuyện nhỏ, ngoại trừ chuyện chúng tôi đã dây dưa ra tới cả giờ đồng hồ cho cái việc lẽ ra chỉ làm xong trong vòng 20 phút, để bọn sinh viên chúng tôi bàn luận, nghiên cứu. Và vì biết rằng chúng tôi sẽ mầy mò thân mình nó lâu hơn thường lệ, chúng tôi đã tặng nó liều thuốc mê nặng hơn, cộng thêm phần thuốc “phòng xa”, nên sau khi mổ xong, nó đã ngủ thẳng cẳng tới 36 tiếng đồng hồ.

Tuy vậy, nó cũng mau chóng hồi phục và lại vui vẻ, vẫy đuôi, mừng rỡ khi gặp chúng tôi như thường lê..

Hai tuần sau, chúng tôi tiến hành một cuộc thám hiểm sâu xa hơn. Chúng tôi mổ banh bụng nó ra, kiểm tra lục phủ ngũ tạng của nó, rồi khâu kín trở lại . Đối với tất cả chúng tôi, đây là cuộc giải phẫu lớn đầu tiên và vì không có sự giám sát thích hợp, chúng tôi đã không khâu lại một cách thích đáng. 

Sáng sớm hôm sau, vết mổ bị bể ra, và nó ngồi đè lên khúc ruột của chính nó. Chúng tôi vội vã đem nó lên phòng mổ, khâu lại cho nó, nhờ vậy, nó thoát chết.

Nhưng cũng phải đến hơn một tuần lễ sau nó mới có thể bước được để mà hăm hở gia nhập vào cuộc đi tản bộ. Nó vẫn vẫy đuôi khi chúng tôi tới gần và mừng rỡ đón tiếp chúng tôi với tất cả cảm tình nồng nhiệt của nó.

Vài tuần lễ sau, một lần nữa, trong khi nó nằm trong cơn say thuốc mê, chúng tôi bẻ gẫy chân nó rồi chắp lại bằng cách kèm theo một thanh sắt nhỏ.

Sau lần mổ này, dường như Kiki bị đau đớn liên tục, nhiệt độ tăng lên và nó không hồi phục mau lẹ như trong quá khứ. Nó đã mất cái khả năng phục hồi mau lẹ. Mặc dầu được dùng thuốc kháng sinh, nó không bao giờ hoàn toàn bình phục. Bước đi của nó lảo đảo, và sự thăm viếng của chúng tôi cũng chỉ có thể làm cho nó gắng gượng vẫy đuôi một cách yếu ớt. Tia sáng lấp lánh từ mắt nó chiếu ra trước kia, nay đã biến mất. Cái chân bị mổ ra để ráp nối lại vần còn xưng cứng.

Tam cá nguyệt đã qua và cuộc đời của Kiki chỉ còn kể ngày. Một buổi chiều, chúng tôi chích cho nó một mũi thuốc để nó được vĩnh viễn ra đi .

Khi mà sự sống từ từ rời khỏi thân mình nó và đôi mắt nó bắt đầu lạc thần thì cũng chính là lúc mà quan điểm về sự nghiên cứu trên mình con vật sống của tôi bắt đầu thay đổi .

Sưu tầm internet (không thấy ghi tên tác giả)

Chuyện về người phụ nữ sáng lập ngành điều dưỡng

Là con gái một gia đình giàu có ở Anh, Florence Nightingale (1820-1910) luôn được cha mẹ kỳ vọng là sẽ trở thành một người có vai vế. Tuy nhiên, cô lại có những dự tính riêng. Từ tuổi 16, Florence nhận ra mình đã được Chúa ban cho một sức mạnh nội tâm huyền bí để chăm sóc người khác.

 


Florence Nightingale.

 

Florence có tư chất thông minh, thích đọc sách về triết học, tôn giáo, chính trị và cảm thấy rất thú vị khi chăm sóc cho những nông dân bị đau ốm và cả súc vật nuôi trong gia đình. Niềm đam mê của nàng là bí mật tìm đọc các sách dạy cách chăm sóc người bệnh mà nàng thu thập được, rồi đi thăm các bệnh viện tại London và những vùng lân cận.

Khi Florence thông báo là không muốn trở thành người có địa vị trong xã hội, gia đình đã hết sức tức giận. Cha mẹ nàng không hề muốn con mình làm những việc “dơ bẩn” nên đã tìm đủ cách ngăn cản để thay đổi suy nghĩ của con. Chị nàng thì giả vờ ngất, mẹ nàng mắng con là làm điều trái luân lý… Đầu thế kỷ thứ 19, việc phụ nữ làm nghề chăm sóc cho bệnh nhân hay theo học ngành y là một điều sỉ nhục đối với những cô gái “con nhà”. Không trường y nào chịu nhận phái nữ vì cho rằng họ không thể học được, cũng không thể thích nghi với những cách làm việc trong môi trường máu me. 

Tuy nhiên, tiểu thư Nightingale vẫn trung thành với lý tưởng đã đặt ra và tiếp tục đấu tranh với gia đình. Cuối cùng, nàng đạt được một thỏa hiệp với cha, rằng nếu được đến bệnh viện Kaiserwerth ở Đức để học tập, nàng sẽ tuyệt đối không tiết lộ cho ai biết về kế hoạch của mình. Florence đã trở thành một sinh viên xuất sắc và khi đã tốt nghiệp, nàng theo học thêm ở Paris (Pháp) vào năm 1853. Sau đó, nàng trở lại London và điều hành một bệnh viện.

Florence không muốn lập gia đình để toàn tâm theo đuổi các hoạt động xã hội. Năm 30 tuổi, bà đã trở thành người điều hành và tổ chức chăm sóc sức khỏe cho những người nghèo khổ tại thủ đô nước Anh, sắp xếp hợp lý và đưa ra các tiêu chuẩn cho công tác điều dưỡng. Trong vòng 2 năm, bà đã trở thành một trong những nhà lãnh đạo đầy quyền uy tại các bệnh viện ở xứ sở sương mù.

Sau đó, theo yêu cầu của chính phủ Anh, Florence đồng ý đến Thổ Nhĩ Kỳ trong cuộc chiến Crimée (1854-1856) với cương vị chỉ huy đội điều dưỡng và tổ chức chăm sóc thương bệnh binh tại mặt trận. Trong thời gian này, Florence đã tổ chức bệnh viện dã chiến tại mặt trận. Đây là những hoạt động đầu tiên trong việc xây dựng các bệnh viện tân tiến có sự quản lý điều trị của đội ngũ điều dưỡng.

Trong suốt cuộc chiến Crimée, bà đảm nhiệm công tác điều dưỡng, săn sóc cho các thương bệnh binh và chỉ huy 38 nữ điều dưỡng lên đường ra mặt trận. Lúc này, bệnh viện tiền phương được đặt trong một doanh trại khổng lồ và bẩn thỉu. Florence đưa ra yêu cầu phải dọn dẹp sạch sẽ để đảm bảo công tác vệ sinh, chống nhiễm trùng, đồng thời tìm cách xoay xở để được cung cấp các phương tiện y tế cần thiết. Chính bà là người quan tâm rất nhiều đến công tác vệ sinh vô trùng để giảm tỷ lệ tử vong do nhiễm khuẩn từ 42% xuống còn 2%.

Florence từng viết: 

“Tôi đứng bên mộ những chiến sĩ đã hy sinh vì bệnh tật. Và trong khi còn sống, tôi sẽ đấu tranh chống lại những nguyên nhân dẫn đến cái chết của họ”.

Trong suốt 34 năm, bà đã làm việc không mệt mỏi để bảo vệ sức khỏe cho các chiến binh Anh, đồng thời ra sức cải thiện điều kiện vệ sinh ở nước này và Ấn Độ (thuộc địa Anh thời đó). Trong thời gian này, bà đã tổ chức lại hệ thống điều dưỡng một cách hiện đại.

Trong đêm tối, Forence thường cầm đèn đi chăm sóc cho từng thương bệnh binh từ mặt trận chuyển về. Vì thế, các thương binh đã âu yếm đặt cho bà danh hiệu “Nữ công tước với cây đèn”. Nightingale đã cứu được hàng nghìn mạng sống của thương bệnh binh và cũng được mọi người gọi là “Thiên thần trong bệnh viện”.

Nhưng chính cuộc chiến Crimée đã gieo cho Florence Nightingale căn bệnh sốt, gọi là sốt Crimée (chính là bệnh brucellosis truyền từ gia súc). Trong những năm 1858-1888, sức khỏe bà ngày càng suy yếu rồi đến lúc không còn đi lại được. Tuy vậy, Nightingale không cô đơn vì hàng triệu người trên thế giới vẫn luôn nhớ đến bà. Trong suốt cuộc nội chiến tại Mỹ, chính phủ nước này đã luôn tham khảo và xin ý kiến của bà về việc tổ chức các bệnh viện dã chiến để chăm sóc thương bệnh binh tại chiến trường.

Khi không còn khả năng làm việc, Florence được nhân dân và các chiến sĩ Anh tặng món quà 50.000 bảng Anh để chăm sóc sức khỏe. Nhưng bà đã dùng tất cả số tiền này thành lập trường điều dưỡng Nightingale với chương trình đào tạo một năm. Từ đấy, Florence được coi là người sáng lập ra ngành điều dưỡng thế giới và ngày sinh 12/5 của bà trở thành ngày truyền thống của ngành điều dưỡng.

Florence Nightingale ra đi vào giấc ngủ trưa ngày 13/8/1910. 

Trong dịch SARS năm 2003 tại Trung Quốc, các chương trình văn hóa nhằm ca tụng tinh thần hy sinh của đội ngũ y tế được đặt tên là “Chương trình Nightingale”. Điều đó cho thấy ảnh hưởng và vai trò quan trọng của bà đối với công tác điều dưỡng.

 

DS. Trương Tất Thọ, Sức Khoẻ & Đời Sống
4/7/2004

Kinh hoàng bởi trận chiến Solférino, Henri Dunant thành lập Hội Chữ Thập Đỏ




fr.aleteia.org, Caroline Becker, 2018-05-08

Ngày 8 tháng 5 kỷ niệm ngày quốc tế thế giới Chữ Thập Đỏ, ngày này là ngày sinh nhật của ông Henri Dunant, người Thụy Sĩ, nhà sáng lập Hội Chữ Thập Đỏ được ông thành lập cách đây 150 năm.

Ngày 24 tháng 6 năm 1859, là chứng nhân của trận chiến Solférino (Lombardi) giữa quân đội Pháp của Napoléon III quân đội Áo của François-Joseph, ông Henri Dunant quá kinh hoàng trước cảnh ông chứng kiến. Tổn thất của cả hai bên quá nặng nề, gần 40 000 thi thể phơi ở trận chiến.

Vào thời đó, các dịch vụ y tế thiếu thốn, các điều kiện vệ sinh chưa đủ nên quân nhân bị nhiễm trùng rất nhiều. Các người bị thương được khẩn cấp đưa về thành phố nhỏ Castiglione delle Stivierie ở cách đó mười mấy cây số, họ được săn sóc trong các cơ sở công cộng hoặc được dân làng săn sóc.

Giữa chiến trường của đau khổ

Ông Henri Dunant lúc đó 31 tuổi, là tín hữu kitô và là thương gia, khi đến gần Solférino, ông thấy cảnh kinh hoàng của chiến tranh. Kinh nghiệm này đã tác động mãnh liệt trên ông, đến mức vài năm sau ông xuất bản quyển sách có tên Một kỷ niệm ở Solférino năm 1862. Ông viết: “Người nào hôm qua băng qua chiến trường mênh mông khốc liệt này đều thấy ở đây, trên từng bước đi , lòng mình ngổn ngang với các nỗi tuyệt vọng không diễn tả được, các khốn cùng đủ mọi cảnh”.

Với tấm lòng nhân bao la, ông Henry Dunant không thể dửng dưng trước cảnh bất hạnh này. Cùng với sự giúp đỡ của dân chúng, ông ra tay cứu giúp và quyết định giúp đỡ mọi binh lính, không kể họ thuộc phe nào. Sáng kiến này đánh dấu bước đầu căn bản của phong trào Chữ Thập Đỏ: trung lập hóa các dịch vụ y tế quân đội trên chiến trường. Hết sức dấn thân trong nhiệm vụ này, ông Dunant đích thân săn sóc người bị thương trong nhiều tuần trước khi về lại nhà ông ở Genève, Thụy Sĩ. Nhưng kỷ niệm của các cơ thể bị thương in hằn trong trí ông làm cho ông không có một đời sống bình thường. Bị kinh hoàng vì những gì đã thấy, ông quyết định dấn thân hết mình vào cuộc chiến nhân đạo này.

An ủi các nạn nhân

Ông viết thư cho bà bá tước Gasparin, nhà sáng lập trường y tá ở Lausanne, Thụy Sĩ, ông xin bà giúp đỡ. Bà liên lạc với Hội Phúc Âm Genève, Hội gởi ban cấp cứu đến thành phố Castiglione. Nhưng không may, hai tháng sau trận chiến, tổn hại còn gấp đôi. Ông Dunant không thể giải quyết được thực trạng này, ông quyết định xuất bản quyển sách về trận chiến Solférino để cuộc chiến này được nhiều người biết đến. Ông bỏ công việc và gởi quyển sách mình đến các nhân vật chính trị có trách nhiệm, đến các nhà lãnh đạo quân đội và các nhà trí thức trên toàn Âu châu. Ông nói lên ước mong của mình là thành lập các tổ chức nhân đạo trên tất cả các nước, dựa trên sự trung lập và thiện nguyện. Tóm tắt, ông Dunant muốn tất cả những người bị thương, dù ở chiến tuyến nào cũng được săn sóc xứng đáng và các bác sĩ, y tá làm việc mà không sợ bị kẻ thù bắt. Quyển sách đã có một tiếng vang đáng kể và được dịch ra nhiều thứ tiếng.

Sự hình thành Hội Chữ Thập Đỏ

Năm 1863, Hội hữu dụng công cộng Genève quan tâm đến các vấn đề ông Dunant đưa ra, Hội thành lập Hội đồng Năm nước. Nhưng để thực hiện được công việc này, cuộc đấu tranh còn nhiều hơn. Họ muốn nới rộng ra thêm nhiều nước. Như vậy phải thuyết phục các nhà lãnh đạo Âu châu! Đó là chuyện họ làm một năm sau: các đại diện của 12 nước, trong đó có nước Pháp ký bản Công ước Genève đầu tiên, thành lập Hội Chữ Thập Đỏ. Ngày 22 tháng 8 năm 1864, Hội với quyền quốc tế nhân đạo ra đời.





Chủ yếu xây dựng trên các đề nghị của ông Dunant, Công ước Genève nổi tiếng này khẳng định sự cần thiết phải tôn trọng các nạn nhân chiến tranh, đối xử bình đẳng cho mỗi bên, không được vi phạm đến thiết bị y tế và nhìn nhận các tổ chức cấp cứu quốc gia. Một dấu hiệu ra đời: chữ thập đỏ trên nền trắng, chỉ là đổi ngược màu cờ của Thụy Sĩ. Qua năm tháng, Hội đã có mặt trên nhiều quốc gia trên thế giới, Mỹ, Ba Tây, Nam Phi, Nhật, Trung quốc… Hội Chữ Thập Đỏ can thiệp chủ yếu trong các cuộc xung đột vũ trang, nhưng dần dần Hội nới rộng tầm hoạt động của mình, Hội giúp tất cả các nạn nhân, quân đội cũng như thường dân.

Con người của hòa bình

Đối với ông Henry Dunant, người rất sâu đạo, việc thành lập Hội Chữ Thập Đỏ là mục đích tối hậu đời ông và thể hiện con người của ông: một người có tấm lòng nhân sâu đậm. Từ khi còn ở tuổi vị thành niên, ông dành ra các buổi chiều để đi thăm tù nhân và giúp đỡ những người khốn cùng nhất. Năm 1901, ông được Giải Nobel hòa bình. 

“Còn hơn là Chữ Thập Đỏ, hòa bình thế giới ở trong tâm hồn tôi. Chữ Thập Đỏ chỉ là kết quả của lòng khát khao hòa bình của tôi”.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
phanxicovn 
09/05/2018