Archives

Bài 6 – Bát Chánh Đạo và kinh Kamala

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý khán thính giả,

Trong kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã kính gửi tới quý thính giả bài kệ tóm tắt con đường tu hành của người Phật tử, như sau:

Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành.

“Không làm những điều ác” và “Siêng làm những việc lành” là phần đạo đức thế gian, không riêng đạo Phật, mà hầu hết các tôn giáo và các nền giáo dục trên khắp thế giới đều dạy. Duy câu “Tự thanh tịnh tâm ý” thì mới chính là đặc điểm riêng biệt của đạo Phật.

Tại sao vậy?

Tại vì, nội dung của “tự thanh tịnh tâm ý” thâu gồm sự giải thoát khỏi hết tất cả mọi vướng mắc gây ra bởi  Tham, Sân và Si.

Hóa giải ba sự độc hại này, chuyển thành Giới, Định, Tuệ, chấm dứt tất cả những nỗi thống khổ, là Đạo Đế, là Bát Chánh Đạo, gồm có:

– Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng thuộc về Giới học

– Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định thuộc về Định học

– Chánh Kiến, Chánh Tư Duy thuộc về Tuệ học.

Trong đó, Chánh Kiến quan trọng nhất, vì có chánh kiến thì toàn bộ con đường tu học mới được soi sáng, không bị lạc vào tà đạo.

Đức Phật đã nói trong kinh Trung Bộ rằng :

… “ … chánh kiến đi hàng đầu. Thế nào là chánh kiến? Ta nói có hai loại, có loại chánh kiến hữu lậu, thuộc phước báo; có loại chánh kiến thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi…”….

Từ ngữ chánh kiến được dùng trong Bát Chánh Đạo cũng còn gọi là chánh tri kiến, có nghĩa là thâm hiểu Tứ Diệu Đế. Người thâm hiểu, giác ngộ Tứ Diệu Đế thì sẽ  nảy sinh chánh tri kiến.

Nơi kinh Tương Ưng Bộ, đức Phật đã giải thích rõ ràng về Chánh Kiến, như sau:

“Này chư Tỳ-khưu, thế nào là chánh tri kiến?  Đó là sự thông hiểu về khổ, sự thông hiểu về nguyên nhân của khổ, sự thông hiểu về sự diệt khổ, và sự thông hiểu về con đường diệt khổ.

Thưa quý khán thính giả,

Nơi đây, chúng tôi xin quý vị lưu ý đôi chút về từ ngữ chánh kiến.

Trong đời sống, chúng ta thường nghe nói đến chánh kiến với nghĩa là  ý kiến, quan điểm, lập trường chính trị, thí  dụ  “bất đồng chánh kiến”, nghĩa là ý kiến về chính trị khác nhau. Tiếng Hán có nhiều từ tuy cùng âm thanh nhưng viết khác và nghĩa cũng khác. Cho nên còn một chữ chánh khác nữa có nghĩa là điều phải, chánh đáng, ngay thẳng. Vì thế, từ ngữ chánh kiến còn có nghĩa là sự hiểu biết đúng đắn.

Nhưng Chánh Kiến trong Bát Chánh Đạo thì lại đặc biệt khác. Chánh Kiến ở đây có nghĩa là thấu triệt Bốn Chân Lý Thâm Diệu. Kinh Ðại Tứ Thập và Kinh Chánh Tri Kiến xác định chánh kiến là chi phần chủ yếu của Bát Chánh Ðạo, tức là Ðạo Đế, con đường giải thoát. Có chánh kiến thì mới có chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Không có chánh kiến thì sẽ chỉ có tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm và tà định.

Để quý khán thính giả nhận định rõ thêm về Chánh Kiến, hoặc Chánh Tri Kiến, chúng tôi trích dịch để gửi tới quý vị một bài pháp nói về Chánh Kiến, từ cuốn “Being Nobody, Going Nowhere – Meditations on the Buddhist Path”, tác giả là Ni Sư Ayya Khema.

Ni sư Ayya Khema là người Do Thái, sinh tại Đức năm 1923. Thời thơ ấu, khi mới 15 tuổi, bà đã trải qua những ngày gian nan trốn chạy khỏi sự tàn sát của Đức Quốc Xã. Cuối cùng, bà định cư tại Mỹ, lập gia đình và có hai con, một trai và một gái.

Từ năm 1960 đến 1964, bà cùng  chồng và con trai đi du lịch vòng quanh châu Á, gồm những nước quanh dẫy núi Hy Mã Lạp Sơn. Trong thời gian đó, bà thực tập tu thiền. Mười năm sau, bà khởi sự dạy thiền tại các nước thuộc Âu Châu và Úc Châu. Kinh nghiệm tu trì thúc đẩy bà trở thành một nữ tu sĩ của Phật giáo tại Tích Lan vào năm 1979. Do đó, bà có pháp danh Khema, có nghĩa là an toàn (Ayya có nghĩa là bậc đáng kính, dùng để tôn xưng người tu hành, tỏ lòng kính trọng)

Vào năm 1978, bà giúp hoàn thành một thiền viện trong rừng tu theo truyền thống Nguyên Thủy, tên là Wat Buddha-Dharma, tọa lạc gần Sydney, nước Úc. Tại Colombo, thủ đô thương mại của Tích Lan, ni sư thiết lập The International Buddhist Women’ Center, dùng làm nơi tu tập cho các nữ tu sĩ Tích Lan. Ni sư là Giám Đốc tinh thần của Buddha-Haus, Tây Đức, được thành lập năm 1989, do ni sư bảo trợ.

Vào tháng Sáu năm 1997, ni sư làm lễ khánh thành thiền viện trong rừng đầu tiên tại nước Đức tên là Metta Vihara.

Tháng Năm, năm 1987 ni sư là nữ tu sĩ đầu tiên kể từ trước tới nay, được mời tới New York để thuyết giảng tại trụ sở Liên Hiệp Quốc về đề tài Đạo Phật và Nền Hoà Bình Trên Thế Giới.

Ni sư Ayya Khema đã trước tác 25 cuốn sách về thiền và giáo lý của đạo  Phật bằng tiếng Anh và tiếng Đức. Sách của bà đã được dịch sang 7 ngôn ngữ, chưa kể tiếng Việt. Vào năm 1988, cuốn “Being Nobody, Going Nowhere” được tặng giải Chrismas Humphreys Memorial Award.

Ni sư tạ thế ngày 2 tháng 11 năm 1997 tại  Buddha- Haus, Đức quốc, sau một cơn bệnh nhẹ.

Sau đây là bài pháp trích dịch từ cuốn “Being Nobody, Going Nowhere”:

…”…Con đường chấm dứt tất cả đau khổ, cũng chính là con đường giải thoát, là Đạo Đế, là Bát Chánh Đạo. Con đường này,– như tất cả những lời Phật dạy, — chia ra làm ba phần, là Giới, Định và Tuệ.

Người ta thường nghĩ rằng hành giả phải học tập lần lượt theo thứ tự Giới, Định, Tuệ kể trên, như là bậc thang, vượt qua bậc thấp nhất là giữ Giới thì tâm sẽ Định, từ đó sẽ nhìn vào nội tâm và sẽ nảy sinh Trí Tuệ.

Bát Chánh Đạo sẽ cho chúng ta thấy rằng nghĩ như thế là sai lầm. Con đường Bát Chánh không khởi đầu bằng giới, mà từ trí tuệ. Không nên nhìn con đường Bát Chánh như là cái thang, mà phải quan niệm về nó như là cái xa lộ có tám con đường, mà chúng ta phải dùng tới cả tám đường. Bản thân tám con đường này cũng hỗ tương lẫn nhau vì khởi đi từ chánh kiến và cuối cùng sẽ chấm dứt tại chánh kiến. Dù rằng chánh kiến chỉ được đề cập tới lúc khởi đầu, nhưng kết quả của tất cả những bước trên con đường Bát Chánh sẽ đưa tới Chánh Kiến hoàn hảo.

Chánh kiến là bước đầu tiên, có nghĩa là hành giả đã nhìn rõ được rằng trong cuộc đời, không có gì quan trọng bằng chuyện thực hành những phương pháp luyện tâm, để chấm dứt tất cả mọi khổ đau. Muốn thế, hiển nhiên là hành giả sẽ phải tìm phương pháp làm sáng tỏ những nhược điểm của mình. Nỗi khổ của chúng ta là bất mãn, lo lắng và cảm giác hụt hẫng, luôn luôn như là thiếu thốn cái gì đó. Có một khoảng trống trong tâm hồn khiến cho người ta cứ muốn tìm cách lấp đầy, hoặc bằng một người, hoặc nhiều người, hoặc  bằng một lý tưởng, một mục đích, hoặc bằng một dự án, một chương trình hành động, hoặc bằng một niềm hy vọng.

Nhưng thật ra thì chẳng có cái gì lấp bằng khoảng trống đó được. Cho nên nếu có một pháp luyện tâm nào có thể vạch rõ những sự bất mãn căn bản và có cách để hóa giải những bất mãn đó, để tâm trí chúng ta hoàn toàn bình phục, an lạc, thì chúng ta biết đó là phương pháp tốt, đáng tin cậy. Ngoài ra, phương pháp đó cũng phải thẩm thấu được vào nội tâm con người.

Phật pháp là những bài học có được cái giá trị này.

Chánh kiến cũng bao gồm nhận thức rằng bất cứ ai cũng có thể bắt đầu bước vào con đường luyện tâm ngay lập tức. Có chánh kiến, chúng ta cũng thấu hiểu thế nào là nhân quả nghiệp báo, khiến chúng ta nhận trách nhiệm về những sự việc xảy ra cho chúng ta, không đổ lỗi cho người khác, hoặc đổ tại hoàn cảnh, hoặc bất cứ cái gì ở bên ngoài chính mình. Như thế có nghĩa là chúng ta nhận trách nhiệm hoàn toàn về cuộc đời, sự nghiệp, đồng thời nhận thức rõ là chúng ta chính là chủ cuộc đời và vận mệnh của chính mình.

Vậy thì, chúng ta có thể thay đổi tương lai của cuộc đời.

Nhưng nếu chỉ biết xuông rằng chúng ta có thể thay đổi vận mệnh thì chưa đủ, mà phải thấy sự cần thiết của thay đổi. Có hai điều cần phải có tầm nhìn chính xác, đó là thấu triệt quy luật nghiệp báo và sự cần thiết phải chuyển nghiệp để giải quyết tận gốc những mầm mống của đau khổ. Sự thay đổi này xảy ra nơi bản thân chúng ta, không đòi thay đổi thế giới hoặc là những cư dân sống trong đó, hoặc đòi thay đổi người mà tình cờ chúng ta chung sống với. Nhưng là thay đổi chính bản thân.

Chúng ta không thể xóa bỏ những nỗi bất mãn, nhưng chúng ta có thể chuyển hóa phản ứng của chúng ta. Cuối cùng, nhờ có chánh kiến về bản ngã, chúng ta còn có thể đi tới tột cùng của con đường luyện tâm, là giác ngộ Vô Ngã.

Con đường luyện tâm khởi đầu từ trí tuệ. Nếu không có trí tuệ để nhận ra được điều gì cần làm, thì chúng ta đã không tu tập thiền quán.

Có nhiều cách để phản ứng trước sự đau khổ.

– Cách đầu tiên, dễ dãi và thông thường là người ta đổ lỗi cho ai đó. Đó là trò trẻ con.

– Cách thứ hai để phản ứng lại nỗi đau buồn, bất mãn là trở thành xuống tinh thần và sa lầy, buông trôi bản thân cho sự bất hạnh.

– Cách thứ ba là thương thân, tự an ủi là mình đang chịu đựng nỗi đau khổ cho cả thế giới, chẳng có ai khổ bằng mình. Điều này thì rõ ràng là sai rồi. Khi mình cảm thấy thương thân, thì mình cũng trông đợi mọi người thương cảm mình. Thế thì vô ích, chẳng có bài học nào, chẳng được cái gì. Trái lại, người như thế còn làm phiền đến những người khác.

– Hoặc là người ta có thể phản ứng trước nỗi đau khổ bằng cách nghiến răng nghiến lợi, đè nén đau buồn, giả bộ như chẳng xảy ra sự đau khổ nào cả. Như thế cũng vô ích, vì sự giả bộ chẳng giải quyết được gì cả.

– Cách thứ năm là trực diện với nỗi khổ và nói: ” A ha, bạn cũ lại xuất hiện. Kỳ này tôi sẽ học được gì?” Nhìn nỗi khổ bằng thái độ đó là chánh kiến.

Như thế là chúng ta đã thực sự hiểu tại sao được mang thân người lại là cơ hội tốt nhất để giác ngộ. Đau khổ là thày dạy tốt nhất, vì nó bám chắc lấy chúng ta, ghì chặt chúng ta trong sự kìm kẹp, cho tới khi chúng ta có được bài học thì mới hết khổ.

Chánh kiến là nền tảng cốt yếu để bước vào con đường luyện tâm…”…

Thưa quý khán thính giả,

Trên đây là bài pháp về chánh kiến của ni sư Ayya Khema, trích dịch từ cuốn “Being Nobody, Going Nowhere”.

Như quý vị đã thấy, Chánh Kiến là nền tảng cốt yếu để bước vào con đường luyện tâm. Hành trang trên con đường giải thoát,tức là Đạo Đế, người Phật tử được đức Phật trang bị cho 37 phẩm trợ đạo (phẩm có nghĩa là từng món, từng loại). Như thế, ngoài Bát Chánh Đạo, chúng ta còn có 29 bài học nữa để luyện tâm, trong số đó có bài Trạch Pháp, nằm trong bộ Thất Giác Chi, nghĩa là 7 chi nhánh để hành giả tu tập tiến tới giác ngộ.

Trạch pháp có nghĩa là chọn lựa pháp môn để tu tập. Muốn chọn lựa chính xác, hành giả phải có chánh kiến. Thời xưa cũng như ngày nay, trên con đường tâm linh, người ta rất dễ bị đưa vào tà đạo.

Tại sao vậy?

Tại vì đối với chuyện thế gian thì lý trí thường thắng thế, nên người ta nhìn sự việc một cách thận trọng. Nhưng về tình cảm và tâm linh thì con người trở nên rất yếu đuối, dễ mềm lòng. Đó là lý do tà sư tà đạo có thể hoành hành, do sự cả tin của người tìm đạo thiếu chánh kiến.

Trong kinh Kamala, đức Phật đã dạy đại ý rằng:

“- Đừng vội tin bất cứ điều gì chỉ vì đã nghe thấy,

– Đừng vội tin vào các truyền thống chỉ vì chúng đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

– Đừng vội tin vào bất cứ điều gì chỉ vì nó được nhiều người nói tới hoặc đồn đại.

– Đừng vội tin vào bất cứ điều gì chỉ vì nó được tìm thấy trong các sách vở.

– Đừng vội tin vào bất cứ điều gì chỉ vì nó được các bậc đạo sư hay các vị trưởng lão dạy bảo.”

– Nhưng sau khi quán sát và phân tích, khi đã thấy mọi thứ hợp với lẽ phải và đem lại lợi ích cho mọi người, thì hãy chấp nhận nó và sống phù hợp theo nó.”

Kính thưa quý vị,

Nhà Phật có những công thức rất ngắn gọn để nhắc nhở Phật tử như “Văn, Tư, Tu”, nghĩa là đầu tiên phải nghe kinh, hoặc nghe giảng pháp (là văn), rồi suy nghĩ để tìm hiểu (là tư), khi đã hiểu rõ nội dung phần lý thuyết thì bước lên con đường tu hành (là tu).

Khi xưa phương tiện truyền thông nghèo nàn, kinh sách rất thiếu thốn, lâu lắm mới có một kỳ in kinh, thường là khắc lên miếng gỗ để in lên giấy bản, sách đóng bằng nhiều tờ giấy xếp lên nhau, dán bằng nhựa quả cậy, gọi là bìa phất cậy. Rất ít chùa có được một tủ sách kinh. Chùa nhỏ thường chỉ có năm ba cuốn kinh nhật tụng. Cho nên khi nào có quý vị tăng đi hoằng pháp thì dân chúng kéo nhau đi nghe rất đông. Những cơ hội như thế rất là hiếm hoi.

Ngày nay kinh sách in ra rất nhiều, băng giảng của quý vị cao tăng phổ biến khắp nơi, ngoài ra lại còn có những thư viện điện tử toàn cầu, dù ở tận hang cùng ngõ hẻm, không tới được chùa, mọi người vẫn có kinh sách và luận giải trong internet để mà đọc, vẫn có băng giảng, đĩa CD để mở máy lên nghe giảng pháp hằng ngày, nếu muốn.

Vì vậy, chúng ta nên áp dụng câu Văn, Tư, Tu một cách tích cực. Đồng thời chúng ta cũng cần nhớ bài học trong kinh Kamala, phải dùng chánh tri kiến để chiếu rọi vào những lời giảng, để phân biệt rõ chánh pháp hoặc tà pháp.

Nhờ có chánh kiến làm ngọn hải đăng, hành giả có thể tự mình phân biệt được, để không phí uổng công trình tu tập, mất thì giờ và tiền bạc đi theo tà sư, mang hận một đời.

Nhân đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện thiền, trích dịch từ cuốnCollection of Stone and Sand”, do thiền sư Muju viết bằng Nhật ngữ, Paul Reps dịch sang Anh Ngữ.

 “Bên nước Nhật thời xưa, người ta dùng đèn lồng bằng tre và giấy, có gắn nến bên trong. Một đêm kia, có một người mù đến thăm bạn, khi ra về, người bạn trao cho cái đèn lồng để anh ta cầm về. Anh mù từ chối:

 Tôi không cần đèn đâu mà. Đối với tôi thì sáng hay tối cũng vậy thôi.

 Người bạn trả lời:

 Tôi biết là anh không cần đèn để soi đường. Nhưng nếu anh không cầm cái đèn này, thì biết đâu lại chẳng có người chạy tới đâm xầm vào anh. Cho nên anh hãy cầm lấy.

 Người mù cầm đèn ra đi. Nhưng chưa được bao xa thì bỗng có người tông thẳng ngay vào anh ta từ phía trước. Anh ta giận dữ quát:

 Phải coi chừng chứ, bộ anh không nhìn thấy cây đèn này hả.

 Người kia trả lời:

 Ông anh ơi, đèn của ông đã tắt ngóm mất rồi.”

 Như quý thính giả đã thấy, người mù cầm đèn vì quá tin tưởng vào cây đèn, không  nghĩ tới chuyện đèn đã tắt. Nếu anh ta biết rằng mọi sự trên đời đều vận hành trong trạng thái vô thường, không có gì là bền vững, cây đèn ra gió có thể tắt bất cứ lúc nào, là có chánh kiến. Nếu anh ta có chánh kiến thì đã không giữ khư khư cái ý kiến rằng mình cầm cây đèn sáng, mà có thể nghĩ rằng đèn tắt mất rồi, không mắng người để bị cười nhạo.

Thưa quý khán thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc chương trình phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.

Nếu quý khán thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý khán thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 5 – Niết Bàn là gì ?

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Trong một kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình bày với quý vị về mục đích của đạo Phật, được đức Phật tóm tắt bằng tuyên ngôn:

– “Này chư Tỳ kheo, bây giờ cũng như trước đây, Như Lai chỉ dạy về “Khổ” và về  “Con Đường Diệt Khổ”.

Tuyên ngôn này rút ra từ Bốn Chân Lý Thâm Diệu mà Ngài đã Chứng Ngộ, đó là :

– Thứ nhất là Chân Lý về Khổ (Khổ Đế)

– Thứ hai là Chân Lý về nguồn gốc của Khổ (Tập Đế)

– Thứ ba là Chân Lý về sự Diệt Khổ (Diệt Đế)

– Thứ tư là Chân Lý về Con Đường đưa đến sự Tận Diệt Khổ (Đạo Đế)

Bốn Chân Lý này tức là Tứ Diệu Đế  ( Đế nghĩa là Chân Lý).

Trong đó, Chân Lý thứ tư, Đạo Đế, là con đường Niết Bàn.

Vì từ ngữ Niết Bàn thường được thế gian dùng khi có tin buồn, chúng tôi xin nhắc lại rằng đó là điều hiểu lầm rất đáng tiếc.

Niết Bàn không phải là sự chết, mà là một trạng thái tâm thức đã hoàn toàn chấm dứt những ô nhiễm do Vô Minh mà duyên theo Tham Sân Si, tạo Nghiệp, chịu khổ, bị cuốn vào dòng đời sinh tử triền miên. Chứng ngộ Niết Bàn là tâm thức chuyển sang trạng thái khác, tạm nói là an lạc và giải thoát. Trạng thái này chỉ người đã Chứng Ngộ mới biết thực tế là thế nào, có thể dùng câu “như người uống nước, nóng hay lạnh ra sao, chỉ chính người đó tự biết” để nói lên tính cách không thể trình bày ra được. Các vị đã chứng Đạo thường dùng câu “như người câm muốn kể lại chuyện xảy ra trong giấc mộng” để mô tả tâm trạng của mình, muốn nói ra mà không có cách nào, vì nếu dùng thí dụ bằng những trạng thái tâm thức ở thế gian để mô tả thì không đúng, vì tất cả đều chỉ là những sự vui buồn trong điều kiện của đời sống quy ước,  không có niềm an lạc vô biên của người đã giải thoát khỏi những ràng buộc của Tham Sân Si.

Chân Lý Thâm Diệu thứ nhất, Khổ Đế, đức Phật chỉ rõ cho chúng ta nhận ra sự thực, rồi tới Tập Đế, Ngài chỉ cho chúng ta thấy nguyên nhân, Diệt Đế, Ngài chỉ con đường cho chúng ta tận Diệt nỗi Khổ và Đạo Đế, là con đường Niết Bàn, tức là Chứng Ngộ thực tại, Phật Tánh, Giác Tánh, Buddha Nature, True Nature vân vân…, mà đức Phật đã cho biết rằng tất cả chúng ta đều có khả năng khiến cho hiển lộ y như Ngài, trong lời tuyên bố ngay khi Ngài mới bừng tỉnh, rằng:

– “Lạ thay, tất cả chúng sanh đều có Trí Huệ Như Lai, mà để bị trôi giạt trong vòng Vô Minh, đến nỗi phải chịu biết bao thống khổ!”

Trí Huệ Như Lai cũng còn được gọi là Trí Huệ Phật, là Giác Tánh, Phật Tánh. Đức Phật dạy Bốn Chân Lý Thâm Diệu để cuối cùng, do sự “Tự tịnh kỳ ý” mà Trí Huệ Phật hiển lộ.

Đạo Phật không hề chủ trương rằng công trình tu chứng của Phật tử chỉ thành tựu sau khi chết. Một hành giả chứng ngộ Niết Bàn ngay trong đời sống hiện tiền, nghĩa là trong lúc còn mang thân ngũ uẩn, thì gọi là “Hữu Dư Niết Bàn”. Lúc đã chấm dứt đời sống của cơ thể vật lý thì gọi là “Vô Dư Niết Bàn”.

Như thế, Niết Bàn không phải là chết, mà là tâm thức chuyển qua một bình diện mới.

Để quý vị có thêm tài liệu về quan điểm của nhà Phật đối với Niết Bàn, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một bài pháp trích từ cuốn The Tree of Enlightenment, tác giả là tiến sĩ Peter Della Santina, do thượng tọa Thích Tâm Quang dịch ra Việt ngữ.

Tiến sĩ Peter Della Santina sinh quán tại Hoa Kỳ, tốt nghiệp cử nhân ngành tôn giáo tại Wesleyan University, tiểu bang Connecticut, và tiến sĩ Phật học tại University of Delhi, Ấn Độ.  Ông đã có một thời gian dài dạy về triết học và Phật học tại các miền Đông và Nam Á Châu. Đồng thời, ông còn tích cực tới nhiều trường đại học và các Phật Học Viện tại Âu Châu và Á Châu để diễn giảng về Phật giáo. Ông cũng viết nhiều sách luận giải đạo Phật, trong số đó có cuốn The Tree of Enlightenment dạy những điều căn bản, được rất nhiều độc giả hâm mộ.

Vốn không phải là một Phật tử theo truyền thống gia đình, nhưng từ khi khám phá ra viên kim cương Phật giáo, ông tích cực học hỏi và hành trì theo lời đức Phật dạy. Ông từng là đệ tử của ngài Sakya Trizin, thuộc truyền thống Phật giáo Tây Tạng trong 25 năm. Từ những điều hiểu biết do học và hành, ông tận tụy trình bày ra sách báo, đi diễn thuyết vân vân, để giảng giải lại cho mọi người.

Ông qua đời ngày 14 tháng 10 năm 2006, trong khi đang đứng trên bục giảng về Phật giáo Đại Thừa cho sinh viên làm luận án cao học Phật học tại trường International Buddhist College, Penang, Malaysia.

Sau  đây là luận giải của tác giả Peter Della Santina về Niết Bàn và Đạo Đế là con đường chấm dứt đau khổ, con đường Niết Bàn:

…”…Khi chúng ta nói về Niết Bàn, chúng ta gặp phải một số khó khăn trong việc diễn đạt vì bản chất xác thực của một kinh nghiệm không thể truyền đạt bằng cách nói về nó, đúng hơn là Niết Bàn phải được chứng nghiệm trực tiếp. Ðiều này rất đúng với tất cả kinh nghiệm, dù đó là kinh nghiệm về vị của muối, đường hay sô cô la hay lần đầu tiên bơi ở đại dương. Tất cả những kinh nghiệm ấy không thể diễn tả cho đúng được.

Ðể giải thích đầy đủ điểm này, thí dụ như tôi vừa tới Ðông Nam Á, và tôi được biết có một trái cây địa phương rất được ưa chuộng gọi là trái sầu riêng. Tôi có thể hỏi người dân trong vùng thường ăn và thích trái sầu riêng, nhưng làm sao họ có thể diễn tả thật đúng cho tôi hiểu, ăn trái đó giống như ăn gì? Ðơn giản là không có thể nào mô tả trung thực mùi vị của trái sầu riêng cho một người chưa bao giờ ăn trái đó.

Chúng ta cố gắng so sánh, tùy theo sự lựa chọn, hoặc phủ nhận; chẳng hạn chúng ta có thể nói rằng trái sầu riêng có chất như kem hay nó ngọt và chua, và có thể nói thêm nó cũng giống như trái mít và chưa hết nó không giống như trái táo tí nào. Nhưng vẫn không thể nào truyền đạt bản chất xác thực về điều đã kinh qua khi ăn trái sầu riêng. Chúng ta thấy mình cũng đương đầu với một vấn đề tương tự khi chúng ta cố gắng mô tả Niết Bàn.

Ðức Phật và các đạo sư Phật Giáo qua nhiều thời đại cũng dùng một phương sách tương tự để diễn tả Niết Bàn gọi là so sánh, và phủ nhận.

Ðức Phật nói rằng Niết Bàn là hạnh phúc, niềm an lạc tối thượng. Ngài nói Niết Bàn là bất tử, không có tạo tác, không hình tướng vượt ra ngoài đất nước gió lửa, mặt trời, mặt trăng, khó dò và không thể đo lường được.

Nơi đây chúng ta có thể thấy một số phương sách mà Phật Giáo dùng để miêu tả Niết Bàn, loại Niết Bàn giống như ta nếm trải trong thế giới này. Ðôi khi chúng ta đủ may mắn để nếm trải hạnh phúc to lớn kèm theo bởi niềm an lạc sâu xa trong tâm khảm, có thể tưởng tượng như chúng ta đang nếm trải một thoáng Niết Bàn.

Nhưng trái mít không thực sự giống trái sầu riêng, và Niết Bàn thực sự không giống một thứ gì trong thế giới này. Nó không giống như bất kỳ kinh nghiệm nào hàng ngày, vượt qua tất cả hình tướng và danh xưng chúng ta sử dụng để chỉ cái mà ta kinh nghiệm trên thế gian này.

Vấn đề là để hiểu Niết Bàn thực sự như thế nào, bạn phải tự mình nếm trải, giống như muốn biết trái sầu riêng như thế nào, bạn phải ăn nó. Không có một bài tiểu luận hay mô tả thi văn nào về trái sầu riêng có thể giống kinh nghiệm ăn nó.

Tương tự như vậy, chúng ta phải kinh qua việc chấm dứt khổ đau tự nơi chúng ta, đó là phương cách duy nhất để loại bỏ nguyên nhân của khổ đau – những tai họa của quyến luyến, chấp chặt, sân hận, và vô minh. Khi chúng ta loại bỏ được những nguyên nhân của khổ đau, chúng ta sẽ chứng nghiệm Niết Bàn cho chính mình.

Làm thế nào chúng ta có thể loại bỏ được những nguyên nhân của khổ đau ấy? Bằng những phương cách nào chúng ta có thể loại bỏ được những tai họa nguyên nhân của khổ đau? Ðó là con đường do Ðức Phật dạy, con đường Trung Ðạo, con đường tiết chế điều độ.

Các bạn sẽ nhớ ra rằng cuộc đời Ðức Phật trước khi giác ngộ được chia thành hai thời kỳ khác biệt. Thời gian trước khi từ bỏ trần tục của Ngài là thời gian mà Ngài vui hưởng cực kỳ xa hoa; thí dụ, những chuyện kể Ngài có ba lâu đài, mỗi lâu đài cho mỗi mùa, tràn đầy những nguồn vui không thể tưởng tượng nổi ở thời đó.

Theo sau thời gian vui hưởng này là sáu năm cực kỳ khổ hạnh và hành xác, khi ngài sống không tiện nghi căn bản của cuộc sống, màn trời chiếu đất, mặc quần áo thô sơ nhất, và nhịn ăn trong một thời gian dài. Thêm vào những sự thiếu thốn như vậy, Ngài hành hạ thân xác qua những sự tu tập như nằm ngủ trên giường gai và ngồi dưới cái nóng gay gắt như lửa của mặt trời lúc trưa hè.

Vì đã chứng nghiệm những xa hoa và thiếu thốn cực đoan này và vì đã tiến tới giới hạn của những cực đoan này, Đức Phật nhìn thấy sự phù phiếm của chúng và Ngài đã khám phá ra con đường Trung Ðạo, tránh cả nuông chiều cực đoan những dục lạc của giác quan và cực đoan hành hạ thân xác.

Nhờ có sự nhận thức bản chất của hai cực đoan này trong chính đời sống của Ngài mà Đức Phật đã có thể đi đến lý tưởng Trung Ðạo, con đường tránh cả hai cực đoan. Có nhiều giải thích đầy ý nghĩa và sâu xa về Trung Đạo, nhưng căn bản nhất là điều hòa lối sống và thái độ, đối với tất cả mọi sự vật.

Chúng ta có thể lấy thí dụ về ba sợi dây của một cây đàn để minh họa cho điều ta muốn nói về thái độ này. Ðức Phật có một người đệ tử tên là Sona tu tập thiền định rất hăng say nhưng không có kết quả gì mà lại còn gặp nhiều trở ngại. Sona bắt đầu có ý không giữ lời thệ nguyện và muốn từ bỏ đời sống của một thầy tu. Ðức Phật hiểu rõ vấn đề, liền nói với Sona rằng:

– ” Sona con, trước khi con trở thành nhà tu, con là một nhạc sĩ phải không?”

Sona trả lời :

“Thưa đúng ạ”.

Ðức Phật hỏi tiếp,

“Là một nhạc sĩ con biết cách phải làm sao cho dây đàn tạo ra âm thanh hay và du dương, dây đàn phải thật căng phải không?

Sona trả lời:

– “Thưa không, dây căng quá sẽ tạo ra âm thanh không hay và sẽ bị đứt bất cứ lúc nào “.

Ðức Phật tiếp:

– ” Dây chùng quá thì sao?

Sona trả lời :

– “ Thưa không, dây chùng quá không tạo được âm thanh hay và du dương. Dây tạo được âm thanh hay và du dương phải không căng quá và cũng không chùng quá”.

Trong trường hợp này, sống buông thả và xa hoa thì quá phóng túng bừa bãi, vô kỷ luật hay không chuyên tâm, trái lại sống hành xác thì quá khắt khe, quá khắc nghiệt và căng thẳng có thể gây ra sự suy sụp của tâm và thân xác, giống như dây đàn quá căng có thể đứt bất cứ lúc nào.

Ðặc biệt hơn nữa, con đường đi tới mục tiêu chấm dứt khổ đau trong Phật giáo giống như một toa thuốc. Khi một vị bác sĩ giỏi chữa một bệnh nhân có bệnh nặng, toa thuốc của ông không chỉ chữa thể xác mà còn tâm lý. Nếu bạn đang đau đớn, chẳng hạn, về bệnh tim, bạn không những được cho thuốc men mà bạn còn được yêu cầu phải kiêng khem trong việc ăn uống và tránh tình trạng căng thẳng.

Nơi đây cũng vậy, nếu bạn nhìn vào những chỉ dẫn đặc biệt để theo con đường chấm dứt khổ đau của Phật Giáo, chúng ta thấy chúng không chỉ đề cập đến thân xác – hành động và lời nói – mà còn đề cập đến tư tưởng.

Nói một cách khác, Bát Chánh Ðạo cao quý, con đường dẫn đến chấm dứt khổ đau, là một con đường toàn diện, một phương pháp chữa trị tổng hợp. Nó được đặt ra để chữa lành chứng bệnh về khổ đau bằng cách loại bỏ nguyên nhân của nó, và cũng chữa trị áp dụng không chỉ cho thân xác mà còn cho cả tinh thần…”…

Trên đây là bài luận giải của tiến sĩ Peter Della Santina về nội dung của Niết Bàn. Niết Bàn là một cảnh giới tâm thức đã có nhiều người kinh nghiệm và sống trong cảnh giới đó, thí dụ đức Phật, sau khi đắc đạo, Ngài còn trụ thế gần 50 năm nữa và như các vị A La Hán, các thiền sư Kiến Tánh, các tu sĩ đã xong việc, nghĩa là đã hóa giải được các ô nhiễm Tham Sân Si.

Bài kệ tóm tắt con đường tu hành của Phật tử là:

Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành.

“Tự thanh tịnh tâm ý” chính là con đường Niết Bàn. Tâm ý con người luôn luôn hoạt động, dòng tư tưởng trôi chảy triền miên khiến cho trí óc luôn bị dính mắc với hết chuyện này tới chuyện khác, nhà Phật gọi là vọng tâm sinh diệt.

Tất cả các pháp môn tu hành của nhà Phật đều để đạt mục tiêu chấm dứt tâm viên ý mã, tức là tâm ý nhảy nhót lung tung, từ chuyện này qua chuyện khác  như con vượn con ngựa, không lúc nào yên. Chấm dứt được những trói buộc của sự suy nghĩ liên tục, vọng tâm sinh diệt, thì tâm hồn sẽ được giải thoát.

Có một câu chuyện Thiền như sau:

Một thiền sinh tới gặp vị thiền sư danh tiếng, xin làm đệ tử. Thiền sư liệng cái gối ngồi thiền ra ngoài hè rồi nói:

– Ông ra kia ngồi đi.

Thiền sinh hỏi:

– Ngồi rồi có làm gì nữa không ạ?

Thiền sư đáp:

– Không làm gì cả, có cái gì trong đầu thì ông xả bỏ đi.

Nhiều ngày trôi qua, một hôm thiền sinh bước vào gặp thiền sư:

– Bạch thày, con đã xả hết rồi.

Thiền sư nhẹ nhàng:

– Ông xả luôn cái ý nghĩ về xả đi.

Thiền sinh hỏi:

– Bạch thày, nếu con xả hết như thế thì con được gì ạ?

Thiền sư cười:

– Ông chẳng được gì cả, chỉ ra khỏi thùng rác thôi.

Thưa quý khán thính giả,

Nhà Phật coi những hoạt động của tâm ý thức, suy nghĩ triền miên là vọng tâm, không phải chân tâm. Nghĩ điều tốt là tạo ý nghiệp tốt, sẽ được hưởng thiện quả, nghĩ điều xấu thì tạo ý nghiệp xấu, sẽ lãnh quả báo xấu, đều trong vòng sinh diệt nhân quả của thế gian, thuộc về hai lời dạy của chư Phật là “Không làm những điều ác” và “Siêng làm những việc lành”.

Nhưng mục tiêu của hành giả tu thiền Phật giáo là ngộ Đạo, giải thoát khỏi mọi khổ não, cho nên phải giải quyết phần thứ ba là “Tự thanh tịnh tâm ý”. Đó là ý nghĩa câu “ra khỏi thùng rác” của vị thiền sư

Nơi kinh Viên Giác, đức Phật dạy:

– ….”…chúng sanh bổn lai thành Phật, sanh tử Niết Bàn đều như việc trong mộng.

Bồ tát Kim Cang Tạng thưa:

– Bạch Thế Tôn! Nếu các chúng sanh bổn lai thành Phật, tại sao lại có tất cả vô minh? Nếu chúng sanh bổn lai thành Phật, rồi sau mới khởi vô minh, vậy chư Như Lai đến lúc nào sẽ sanh khởi lại tất cả phiền não?

Phật dạy:

– “Như luyện quặng vàng, vàng chẳng phải do luyện mà có, mà trong quặng vốn đã có vàng. Sau khi đã thành vàng ròng thì dù trải qua vô lượng kiếp tánh vàng chẳng hoại, chẳng thể trở lại làm quặng nữa; vậy chẳng nên nói rằng vàng ròng vốn chẳng thành tựu, Viên Giác của Như Lai cũng như thế”.

Vàng quặng đã vốn có vàng, lọc bỏ tạp chất thì vàng ròng xuất hiện. Tâm ý thức của con người lăng xăng che mờ Giác Tánh, vì thế cần “thanh tịnh hóa” để Giác Tánh hiển lộ.

Khi thiền sinh xả bỏ được tất cả, là ông ta “thanh tịnh hóa tâm ý”. Cũng như vàng quặng lọc bỏ tạp chất sẽ xuất hiện vàng ròng. Hành giả ngưng dứt cuồng tâm bay nhẩy như vượn như ngựa, thì sẽ thể nghiệm được cảnh giới an lạc, giải thoát của Hữu Dư Niết Bàn.

Câu chuyện Thiền đã kết thúc chương trình phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.

Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 4 – Ngũ Uẩn Bản Chất Là Không

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã kính gửi tới quý thính giả một đoạn trong kinh Chuyển Pháp Luân, đức Phật mô tả nỗi khổ như sau:

“Hỡi các Tỳ Khưu, đây là Chân Lý Thâm Diệu về Khổ. Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sống chung với người mình không ưa thích là khổ, xa lìa người thân yêu là khổ, mong muốn mà không được là khổ. Tóm lại, bám níu vào ngũ uẩn là khổ.”

Vậy ngũ uẩn là gì?

Ngũ uẩn, còn gọi là ngũ ấm, nghĩa đen là năm nhóm ngăn che. Năm nhóm này bao hàm phần có hình tướng là thân và phần vô hình là tâm của con người, đồng thời cũng che mờ chân lý, khiến cho con người phải luân hồi sinh tử triền miên, gồm có:

Sắc uẩn, là phần hình hài vật chất, gồm bốn thành tố là:

Chất cứng, thuật ngữ nhà Phật gọi là Địa Đại, tạo thành thịt da xương cốt, vân vân..

Chất lỏng, nhà Phật gọi là Thủy Đại, tạo thành máu huyết, nước mắt, nước tiểu, vân vân…

Chất hơi, nhà Phật gọi là Phong Đại, tạo thành hơi thở, vân vân…

Chất nóng, nhà Phật gọi là Hỏa Đại, tạo thành sự ấm áp của cơ thể, vân vân…

Nói gọn thì phần cơ thể vật chất của con người gồm có bốn thành tố này hợp lại mà thành, nên nhà Phật thường nói “cái thân bốn Đại”. Sắc uẩn gồm tất cả những cơ quan như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể con người, còn gọi là Thân Căn.

Thọ uẩn, là phần cảm giác, vui buồn khi đối trước cảnh.

Tưởng uẩn, là nhận thức, tư tưởng.

Hành uẩn là phần tác ý, tạo nghiệp.

Thức uẩn, là môi trường nhận biết để cho Thân Căn và đối tượng có thể duyên sanh với nhau mà hoạt động, gọi là bộ ba Căn, Trần và Thức. Thí dụ khi một người nghe thấy tiếng trống, thì tai là Căn, tiếng trống là Trần và  duyên sanh giữa Căn và Trần khiến người đó nghe được là do sự xuất hiện của Thức.

Căn có Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý Căn, tức là Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân và Ý Căn.

Thức tùy duyên theo Căn nào thì đổi thành Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân và Ý Thức, chứ không phải là một thể cố định. Về điều này, đức Phật đã dạy rõ như sau:

– “ Thức do các duyên với điều kiện mà sinh khởi chứ không cố định. Nếu không có duyên thì không có Thức sinh khởi. Thức được gọi tên tùy thuộc vào điều kiện nó duyên theo, do con mắt và cảnh vật mà Nhãn Thức duyên, do tai nghe và tiếng động mà Nhĩ Thức duyên, vân vân. Thí dụ ngọn lửa được gọi tên theo nguyên liệu, lửa cháy bằng củi gọi là lửa củi, cháy bằng rơm gọi là lửa rơm. Thức cũng thế, tùy theo điều kiện tương ứng mà nó có tên, thí dụ ở mắt là Nhãn Thức, ở tai là Nhĩ Thức, ở mũi là Tỷ Thức, vân vân”.

Tóm lại, đó là ngũ uẩn. Cái mà ta gọi là một “linh hồn” hay “cá thể” hay “tôi”, chỉ là tên gọi cho sự nhóm họp của năm uẩn ấy. Tất cả chúng đều vô thường. Vô thường là luôn luôn biến đổi, luôn luôn sinh diệt, từng sát na đã có sinh và diệt, đã có sự thay đổi. Nếu không thấm nhuần chân lý này mà cứ bám níu, muốn có sự cố định, muốn mọi thứ đều vĩnh viễn thường còn, thì Khổ.

Trong việc học và hành theo đạo Phật, điều tối quan trọng là phải hiểu chân lý thứ nhất này một cách rõ ràng. Bởi vì, như đức Phật dạy: “Người nào thấy rõ được Khổ cũng thấy luôn nguyên nhân của Khổ, cũng thấy luôn sự diệt Khổ và cũng thấy luôn con đường đưa đến sự diệt Khổ”.

Để có thêm tài liệu về ngũ uẩn là vô thường, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một bài trầm tư của thượng tọa Thích Chơn Thiện, lược trích từ cuốn Phật Học Khái Luận, như sau:

“Sống ở đời, chúng ta cứ đinh ninh rằng, thân ngũ uẩn này là Ta, là của Ta. Thân vật lý này là Ta, là của Ta. Hiểu biết, tri thức này là Ta, của Ta. Tình cảm thương yêu này là Ta, của Ta. Ý chí sống này là Ta, của Ta.

Rồi chúng ta nỗ lực làm đẹp chúng, khát vọng tìm kiếm hạnh phúc qua chúng, qua sự nuôi dưỡng và phát triển chúng.

Chính trong hướng sống này chúng ta đã, đang và sẽ đối đầu với bao nhiêu khổ đau đến từ bao nhiêu trở lực.

Trở lực thứ nhất là thân thể, sức khỏe, tình cảm, tri thức và ý chí ấy, tự thân chúng biến đổi trong từng phút từng giây. Tất cả những biến đổi này ở ngoài sự kiểm soát của mình, do đó chúng gây ra các sầu muộn, khổ đau. Càng yêu tự ngã bao nhiêu, chúng ta càng chịu đau đớn bấy nhiêu.

Trở lực thứ hai là khi chúng ta nhận ra mình có mặt ở đời, thì đồng thời nhận ra thân ngũ uẩn này là nghiệp quả của nghiệp nhân quá khứ, ở ngoài ý muốn của mình trong hiện tại, không đáp ứng cái khát vọng của mình về mình.

Cái mũi, cái tai, gương mặt, cái tóc, màu da, trí não, tình cảm… bất như ý là cái gì để lại cho mình ngậm ngùi suốt đời. Đôi mắt lé, chiếc mũi hếch, đầu tóc quăn, giọng nói khàn… khiến mình cảm nhận như hạnh phúc của mình cũng bị héo úa, tàn tật. Kiến thức, dòng dõi khiêm tốn cũng ám ảnh hạnh phúc của đời mình.

Nhưng cả đến lúc mình có thân sắc đẹp, trí não thông sáng, nhiều tài năng thì cũng chỉ rơi vào kiếp bạc phận, như cụ Ôn Như Hầu, thi hào Nguyễn Du, và bà Đoàn Thị Điểm đã nói:

“Oán chi những khách tiêu phòng,

Mà xui phận bạc nằm trong má đào”.

 trong Cung Oán Ngâm, và:

“Trăm năm trong cõi người ta,

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.

Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Lạ gì bỉ sắc, tư phong,

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”.

trong Đoạn Trường Tân Thanh, hoặc:

“Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,

Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên”

trong Chinh Phụ Ngâm.

Trở lực thứ ba là chỉ một làn gió độc có thể chấm dứt mạng sống, hay có thể làm tê liệt cơ thể, và tê liệt cả những ước mơ, sự nghiệp và hạnh phúc của mình. Sự nghiệp nhân sinh đang được treo hờ hững ở đầu hơi thở.

Trở lực thứ tư là cuộc sống sẽ có một lần kết thúc bằng cái chết. Cái chết thì lại đến không có hẹn kỳ giữa khi ước mơ của mình muốn tồn tại lâu dài. Sự thực này trái ngược với ước mơ của mình, nên gây ra nỗi đau nhức tâm trí cho chính mình.

Trở lực thứ năm là lời khen và chê của đời về cái thân sắc này, về hiểu biết này, khiến mình cảm nhận như là mình bị khinh chê rồi buồn khổ.

– Khi bị một quả đấm vào thân xác, hay một quả đấm tình cảm, sự kiện chỉ xảy ra trong khoảnh khắc nhưng tư duy của mình về tự ngã khiến mình nghe đau đến trọn đời, chỉ do vì nghĩ tưởng rằng năm uẩn này là mình, là của mình.

Trở lực thứ sáu là các thành bại như thi rớt hay thất bại trong kinh doanh cũng gây một sức ép lớn trên tâm thức của mình. Có khi đẩy đưa đến quyết định xuôi tay.

Một số trở lực tiêu biểu vừa nêu thường quấy rối hạnh phúc con người chỉ vì ý niệm “tôi là”  Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức ấy. Do có ý niệm “tôi là” mà có lòng tham ái đối với năm uẩn, và do có lòng tham ái năm uẩn, mà có ý niệm “tôi là”. Đây là sự thật khổ đau, nhưng làm thế nào có thể sống mà không khát ái, không có ý niệm “tôi là”?

Là Phật tử, chúng ta cần ổn định nhận thức rằng chỉ có các tư duy đầy ngã tính, các tư duy mang ý niệm “tôi là” mới thực sự rỗng không, trống không, mới đun đẩy ta đến cảm giác trống rỗng. Rời khỏi lòng khát ái và tư duy “tôi là” ấy, chúng ta sẽ đi vào thực tại, xúc tiếp với thực tại an lạc, hạnh phúc và giải thoát. Thực tại ấy đang hiện hữu tràn đầy trước mắt chúng ta, trong ta, trong mọi người, và trong khắp xứ sở. Ở đó thì vắng mặt đau khổ.

Chúng ta cũng đã rõ rằng:

– Tất cả sự nghiệp nhân quá khứ đã dồn về chiếc thân ngũ uẩn mà đức Thế Tôn dạy đó là nghiệp cũ. Những gì chúng ta nhận thức và hành động trong hiện tại là nghiệp mới.

Mỗi người chúng ta đang là nhân chủ quyết định khổ đau hay hạnh phúc cho chính mình. Các nhân tố ngăn cách ta với hạnh phúc và chân lý đang nằm gọn ở nơi ta, đó là ý niệm “tôi là” và lòng tham ái.

Nỗ lực loại trừ nhân tố ngăn cách ấy là nuôi dưỡng và phát triển trí tuệ, giúp đỡ những người khác sống hạnh phúc, thoát ly các nhân tố khổ đau, nuôi dưỡng và phát triển lòng đại bi. Sứ mệnh phát triển đại trí và đại bi cho mình và cuộc đời là số mệnh của đạo Phật, điều mà chúng ta cần sống với”.

Bài pháp trên đây của thượng tọa Thích Chơn Thiện nhắc nhở chúng ta rằng ngũ uẩn là vô thường, để chúng ta nhìn rõ thực tế mà tránh bệnh tham ái.

Đức Phật dạy bốn Chân Lý Thâm Diệu từ Khổ cho tới Diệt Khổ, cũng như thày thuốc phát hiện ra bệnh, tìm lý do khiến bị mắc bệnh và điều trị đúng thuốc là Diệt hết bệnh Khổ. Nguyên nhân của bệnh ở đây là tham ái đến trở thành mù quáng, bám níu, chấp chặt vào “cái tôi” và “cái của tôi”, vốn chỉ là tập hợp của ngũ uẩn, luôn luôn thay đổi, vô thường.

Nhân đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện về “vô thường và không bám níu”, trích dịch từ cuốn The Power of  Now của Eckhart Tolle.

Nơi phần duyên khởi cuốn sách, tác giả Eckhart Tolle viết rằng, trong suốt 30 năm đầu của cuộc đời, ông luôn sống với trạng thái lo âu, có lúc u uất quá, còn muốn tự sát nữa. Ngày nay nhớ lại, ông có cảm giác đang nói về một kiếp quá khứ xa xôi, hoặc chuyện đời của người nào khác.

Một đêm kia, không lâu sau ngày sinh nhật thứ 29, ông choàng tỉnh trong cơn kinh hoàng. Đã nhiều lần ông thức giấc với nỗi sợ hãi, nhưng cảm giác kinh khiếp lần này lên đến tột độ, ông chưa từng trải qua bao giờ. Sự yên tịnh ban đêm, bóng dáng lờ mờ của bàn ghế trong căn phòng tối, tiếng xe lửa từ xa vọng về, tất cả thật là xa lạ, thật là đáng ghét và hoàn toàn vô nghĩa khiến ông cảm thấy kinh tởm cả cái thế giới này. Cái đáng kinh tởm nhất là sự tồn tại của bản thân. Ông tự hỏi, tại sao phải tiếp tục sống với cái gánh nặng đau khổ này, tại sao cứ phải theo đuổi cuộc tranh đấu khốn kiếp này? Lúc đó, ông cảm thấy một niềm mong mỏi thiết tha được chấm dứt cuộc đời nổi lên mãnh liệt hơn hẳn lòng ham muốn sống. Trong tâm ông liên tục hiện lên ý nghĩ “Tôi không thể sống với bản thân được nữa”.

Bất thình lình, một câu hỏi xuất hiện “Vậy tôi là một hay hai? Nếu tôi không thể sống với bản thân, thế thì tôi phải là hai, “cái tôi” và “cái bản thân mà tôi không thể sống với”. Hay là chỉ có một trong hai cái là thật”.

Rồi bỗng nhiên ông nhận thức một điều lạ lùng là tâm trí bẵng đi, ngưng bặt. Ông vẫn tỉnh táo nhưng không còn một tư tưởng nào trong óc. Rồi ông cảm thấy mình bị cuốn vào một lực xoáy, lúc đầu thì nhẹ sau cơn xoáy nhanh dần. Ông sợ lặng người và run bắn lên. Dường như từ trong ngực, một tiếng nói xuất hiện “Đừng chống cự”. Ông thấy như mình bị cuốn vào khoảng không, mà lại có vẻ như khoảng không đó chính là từ trong ông chứ không ở ngoài. Rồi bất thình lình, sự sợ hãi biến mất, ông đã lọt vào khoảng không. Sau đó, ký ức ông chẳng còn gì nữa.

Ông thức giấc khi nghe tiếng chim hót đầu ngày. Chưa từng bao giờ ông được nghe thấy tiếng hót hay đến thế. Chung quanh ông, tất cả đều đổi khác, đều đẹp tuyệt diệu,  khác hẳn với cảnh vật trước khi xảy ra hiện tượng vừa kể. Cảm giác của ông thay đổi hoàn toàn, ông kinh ngạc trước vẻ đẹp của tất cả mọi sự, mọi vật, một vẻ đẹp mà trước kia ông chưa từng thấy. Trong lòng ông tràn ngập một niềm an lạc, không còn nỗi sợ nào xuất hiện.

Một thời gian dài sau này, ông vẫn còn thấy niềm an vui ngây ngất của giây phút kinh nghiệm thực tại mà về sau, khi đọc những sách về tâm linh, ông mới nhận ra được phần nào ý nghĩa của những sự kiện mà ông đã trải qua.

Cho đến khi ông viết cuốn sách này, niềm ngây ngất khi xưa đã lắng xuống dần, còn lại là cảm giác an bình đồng thời sự sợ hãi đã hoàn toàn biến mất. Ông nhận thấy mình trở nên yêu cuộc đời, yêu con người và cảnh vật chung quanh. Ông cũng cảm nghiệm rằng tất cả những sự thay đổi của đời ông đều từ chính ông mà có, ông không nhận một ân huệ nào từ bên ngoài.

Ông tâm sự là rất thích câu nói của đức Phật về giác ngộ giải thoát, là “Sự chấm dứt Khổ”.

Mở đầu cuốn The Power of  Now, ông kể câu chuyện ẩn dụ sau đây:

“Một người hành khất ngồi bên lề đường đã hơn ba chục năm. Bữa kia, có một người khách lạ đi ngang qua. Như cái máy, người hành khất chìa chiếc mũ rách, lẩm bẩm:

– Cho xin chút tiền lẻ.

Người khách lạ trả lời:

– Tôi chẳng có gì cho ông.

Rồi ông ta hỏi lại người hành khất:

– Ông ngồi lên trên cái gì thế?

Người hành khất đáp:

– Chẳng có gì, chỉ là cái hộp cũ. Tôi đã ngồi lên nó mãi từ bao lâu nay rồi, chẳng nhớ nữa.

Khách lạ hỏi:

– Thế có bao giờ ông nhìn vào trong hộp không?

Người hành khất đáp:

– Không, mà nhìn vào làm gì? Chẳng có gì trong đó hết.

Khách lạ nài nỉ:

– Vậy thì hãy nhìn thử cái coi.

Người hành khất tìm cách nậy tung nắp hộp. Thì  ô  kìa, ông ta sững sờ kinh ngạc, không tin nổi mắt mình, trước mắt ông ta là một hộp đầy nhóc những vàng”.

Tiếp theo câu chuyện, tác giả tâm tình với độc giả của ông:

– “Tôi cũng như người khách lạ trong chuyện, vốn chẳng có gì để tặng quý vị, chỉ xin quý vị hãy nhìn vào bên trong. Không phải bên trong của bất cứ cái hộp nào, giống như câu chuyện ẩn dụ, nhưng mà ở một nơi còn gần gũi hơn, đó chính là nhìn vào nội tâm của quý vị”.

Như quý vị đã thấy, trong câu chuyện ẩn dụ, tác giả Eckhart Tolle muốn nói với người đọc rằng chúng ta có một kho tàng ngay trong tầm tay, ngay trong tâm này, nhưng chúng ta đã quên nó, mà cứ chạy ra bên ngoài để tìm kiếm chút niềm vui nhỏ. Đó là thói quen từ nhiều đời rồi. Nay hãy xả bỏ thói quen đó, tự nhìn vào nội tâm, chúng ta sẽ phát hiện được kho tàng hạnh phúc, như câu chuyện người hành khất, ngồi trên thùng vàng đã trên ba chục năm mà không biết mình ngồi trên kho vàng. Cho đến khi có người thuyết phục mới chịu khám phá để phát hiện ra rằng nếu biết sớm thì mình đã không khổ.

Nhưng thế nào là “nhìn vào nội tâm”?

Có lẽ ít nhất là một lần trong đời, quý thính giả đã từng tụng hoặc nghe tụng bài Bát Nhã Tâm Kinh, mà bất cứ một thời kinh nào, dù là ở chùa hay tại tư gia, cũng đều có tụng bài này.

Ngay câu đầu của bài kinh là:

“Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm bát-nhã ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai Không, độ nhất thiết khổ ách …”…

Bát-nhã ba-la-mật-đa là phiên âm của tiếng Phạn prajna paramita, còn được gọi là “trí-tuệ bát-nhã”. Tiếng Phạn prajna có nghĩa là trí tuệ, paramita nghĩa là “rốt ráo”, “qua bờ kia”. Trí-tuệ bát-nhã là một thuật ngữ của nhà Phật có nghĩa là “trí-tuệ rốt ráo”. Trí tuệ này không do học nhiều hiểu rộng chuyện thế gian mà phát triển, nhưng từ công năng thiền quán thâm sâu mà trực ngộ.

Câu kinh trên được giải thích là “Bồ Tát Quán Tự Tại do thực hành thiền quán thâm sâu mà trực ngộ rằng ngũ uẩn (tức là toàn bộ thân và tâm) vốn chỉ duyên nhau mà xuất hiện, bản chất là “Không”, do đó, không còn bám víu, cho nên giải thoát khỏi tất cả mọi nỗi thống khổ”.

Câu chuyện ẩn dụ đã kết thúc chương trình phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.

Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 3 – Tứ Diệu Đế (Bốn Chân Lý Thâm Diệu)

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý khán thính giả.

Thưa quý khán thính giả,

Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày sơ lược với quý vị về Bốn Chân Lý Thâm Diệu mà đức Phật đã chứng ngộ là:

– Chân Lý về Khổ

– Chân Lý về Nguyên Nhân của Khổ

– Chân Lý về sự Diệt Khổ

– Chân Lý về Con Đường đưa đến sự Diệt Khổ.

Kỳ này, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về Bốn Chân Lý Thâm Diệu này.

Kính thưa quý vị,

Do quan sát thấy cuộc đời mỗi con ngưòi đều nhiều nỗi thống khổ quá, “nước mắt của chúng sinh nhiều bằng nước ngoài biển cả”, đức Phật quyết định đi tìm con đường cứu khổ cho nhân loại.

Sau một thời gian dài thiền định và quán tưởng thâm sâu, Ngài chứng ngộ được toàn bộ vấn đề của kiếp nhân sinh, đó là chứng ngộ Tứ Diệu Đế, tức là Bốn Chân Lý Thâm Diệu.

Bốn Chân Lý Thâm Diệu này là cốt tủy của đạo Phật mà tầm quan trọng đã được đức Phật xác định:

– “Xưa cũng như nay, Như Lai chỉ giải thích về Khổ và sự Diệt Khổ “

Để quý độc giả có thêm tài liệu về Bốn Chân Lý Thâm Diệu này, chúng tôi xin lược trích một đoạn trong cuốn The Buddha’s Ancient Path, tác giả là hòa thượng Piyadassi Thera, tỳ khưu Pháp Thông dịch ra Việt Ngữ.

Hòa thượng Piyadassi Thera sinh quán tại Tích Lan, là một học giả đồng thời là một diễn giả danh tiếng về Phật pháp trên các hệ thống truyền thanh  Tích Lan. Nhờ nghiên cứu sâu rộng Tam Tạng kinh điển và luận giải thuộc hệ Pali nguyên thủy, nên sự hiểu biết của ngài về đạo Phật rất uyên thâm và sâu sắc. Cũng nhờ thế mà các bài giảng của ngài luôn luôn có dẫn chứng bằng những câu chuyện thích hợp và những đoạn trích lời đức Phật đều giữ được sự trung thực.

Trong cuốn The Buddha’s Ancient Path, Hòa thượng Piyadassi Thera đã trình bày rành mạch Bốn Chân Lý Thâm Diệu về Khổ, vốn là bài học chính yếu, cốt tủy của đạo Phật, như sau:

“Tứ Diệu Ðế (nghĩa là Bốn Chân Lý Thâm Diệu) được chứng ngộ trong khi đức Phật ngồi thiền quán dưới cội Bồ Ðề tại Gàya. Tứ Diệu Ðế này đã hình thành chân lý trung tâm của đạo Phật. Toàn bộ bài pháp đầu tiên của đức Phật dành trọn vẹn để trình bày về bốn Diệu Ðế này, vì đó là cốt tủy của Phật giáo:

– “Ví như dấu chân của các loài đi trên đất, có thể được chứa đựng trong dấu chân Voi, được xem là lớn nhất về cỡ, giáo lý Tứ Diệu Ðế này cũng vậy, bao quát hết thảy mọi thiện pháp”

 Trong kinh điển Pàli nguyên thủy, đặc biệt là trong Tạng kinh, Tứ Diệu Ðế này được diễn giải chi tiết bằng nhiều cách khác nhau. Không có một nhận thức rõ ràng về Tứ Diệu Ðế, người ta khó có thể hiểu được Ðức Phật đã dạy những gì trong suốt 45 năm hoằng hóa.

Ðối với đức Phật thì toàn bộ lời dạy của Ngài chỉ nhằm để hiểu về Khổ, về tính chất bất toại nguyện của mọi hiện hữu duyên sanh, và biết được con đường giải thoát khỏi tình trạng bất toại nguyện này.

Ðức Phật xác định: “Xưa cũng như nay, Như Lai chỉ giải thích về Khổ và sự Diệt Khổ “

Hiểu được lời tuyên bố rõ ràng này, là hiểu được đạo Phật; vì toàn bộ lời dạy của Ðức Phật không gì khác hơn là sự ứng dụng nguyên tắc này.

Ðức Phật được xem là vị lương y tài đức vô song, một phẫu thuật sư tối ưu. Ngài thực sự là một vị Tối Thượng Y Vương.

Phương pháp trình bày của Ðức Phật về Tứ  Diệu Ðế  có thể so sánh với phương pháp của một vị lương y. Là một lương y, trước tiên ông ta bắt mạch chẩn bệnh, kế đó tìm xem đâu là nhân sanh bệnh, rồi mới tìm cách loại trừ bệnh và cuối cùng ứng dụng cách chữa bệnh.

Khổ là bệnh; Tham Ái là nguyên nhân hay sự phát sanh của bệnh; do sự đoạn trừ Tham Ái, bệnh được đoạn trừ.

Người bệnh cần phải biết được bệnh tình của mình, anh ta phải ghi nhận được diễn tiến của nó để khỏi trở nên trầm trọng, rồi anh ta phải nghĩ đến cách đoạn trừ nguyên nhân sanh ra bệnh; với kết luận như vậy anh ta đi đến vị lương y để chẩn bệnh và kê toa cho thuốc, nhờ hiệu quả của thuốc mà bệnh nhân hết bệnh, và đó là cách chữa.

Như vậy :

– Khổ, không thể không biết, mà cần phải biết rõ, vì đó là chứng bệnh tàn khốc nhất, Tham Ái là nguyên nhân sanh khổ, cần phải loại bỏ. Bát Chánh Ðạo cần phải được tu tập, thực hành, vì đó là cách chữa bệnh Khổ.

Với tri kiến hiểu biết về Khổ, với sự đoạn trừ Tham Ái qua việc thực hành Bát Chánh Ðạo, sự chứng đắc Niết Bàn là điều tất yếu.”

Kính thưa quý vị,

Trên đây là lời giảng của hòa thượng Piyadassi. Như thế, hẳn quý vị đã thấy tầm quan trọng của giáo lý Tứ Diệu Đế trong đạo Phật. Bản hoài của đức Phật là chỉ đường cho chúng ta chuyển hóa tâm thức để giải thoát khỏi mọi đau khổ, vì vậy, tất cả các pháp môn được thiết lập để tu tập đều hướng về mục tiêu ấy. Bốn Chân Lý Thâm Diệu là căn bản, là nền tảng để xây dựng tòa nhà Phật giáo.

Trong Tương Ưng Bộ Kinh, đức Phật cũng dạy:

– “Này các Tỳ kheo, nếu có ai nói rằng không cần xây dựng tầng dưới của ngôi nhà, ta sẽ xây tầng trên của ngôi nhà, sự kiện này không thể xảy ra. Cũng vậy, nếu có ai nói rằng không cần giác ngộ Tứ Diệu Đế, ta sẽ đoạn diệt khổ đau, sự kiện này cũng không thể xảy ra”

Kinh Di Giáo cho biết rằng trên bốn chục năm sau khi chứng ngộ Tứ Diệu Đế, vào lúc đã sắp nhập Niết Bàn, đức Phật vẫn còn dạy chư đệ tử vây quanh một lần cuối cùng:

– “Các thầy Tỳ kheo, đối với Tứ Diệu Đế, các thầy còn hoài nghi chỗ nào thì có thể chất vấn tức khắc, không nên giữ sự hoài nghi mà không cầu giải đáp”

Như thế, quý vị hẳn đã thấy tầm quan trọng của giáo lý Tứ Diệu Đế qua sự xác định của chính đức Phật.

Bây giờ chúng tôi xin đề cập đến Chân Lý Thâm Diệu thứ nhất, là Khổ Đế. Trong bài pháp đầu tiên, gọi là kinh Chuyển Pháp Luân, đức Phật mô tả cái khổ như sau:

“Hỡi các Tỳ Khưu, đây là Chân Lý Thâm Diệu về Khổ. Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sống chung với người mình không ưa thích là khổ, xa lìa người thân yêu là khổ, mong muốn mà không được là khổ. Tóm lại, bám níu vào ngũ uẩn là khổ.”

Trước hết, chúng ta nói về sự Khổ của Sanh. Trong chương Nhập Thai Tạng, kinh Đại Bảo Tích, đức Phật đã nói về sự khổ khi còn trong thai mẹ và lúc sinh ra, đại ý là: …”…lúc thai ở bụng mẹ như ở trong cái nồi, lúc mẹ ăn nhiều hay ăn ít, thai đều bị đau khổ, hoặc ăn quá lỏng, quá khô, quá lạnh, quá nóng, đứa con đều đau khổ cả. Hoặc mẹ đi gấp, chạy mau, ngồi lâu, nằm lâu, hay nhảy nhót, thai đều bị khổ. Lúc sơ sanh rơi vào tay người, hoặc trên khăn, chiếu v.v… hoặc trong nắng hay chỗ râm, hoặc trên xe, hoặc nơi giường, trong lòng người, tất cả mọi chỗ đều chịu sự đau đớn, khổ sở…”…

Khổ vì tuổi già (Lão), thì đó là lúc trí nhớ đã lu mờ, suy nghĩ lẫn lộn, không còn sáng suốt, cơ thể hao mòn, nhức nhối, đi đứng lập cập, ăn uống khó khăn. Già mà nghèo khó thì dĩ nhiên là khổ. Nhưng ngay cả đến người giầu có, sang trọng, cũng vẫn khổ vì tuổi già.

Có câu chuyện ẩn dụ về bà hoàng thái hậu, một hôm gặp một cô thiếu nữ trông có vẻ nghèo nàn nhưng trẻ trung nhanh nhẹn, bà ra lệnh ngừng xa giá để xuống trò truyện với cô ta. Cuối cùng bà hỏi:

– Con có muốn được sống giầu sang phú quý chăng? Nếu muốn, con hãy đổi thân xác cho ta, từ nay con là hoàng thái hậu, ta sẽ là cô bé nghèo.

Cô thiếu nữ nhìn lên gương mặt bà hoàng, với những nếp nhăn ngang dọc nét thời gian, tóc bạc, răng móm, cô sợ quá bèn ù té chạy một mạch mất biến.

Khổ vì già đã không chừa ngay cả đến bà mẹ của vua. Nếu biết sống một cách sáng suốt, hiểu được sự vận hành của thiên nhiên, theo với thời gian lá vàng phải rụng, để mầm nhánh vươn ra, thì sẽ bớt được sự khổ não khi mỗi buổi sáng nhìn vào gương, trông thấy những vết nhăn hằn sâu trên mặt, thấy mái tóc thêm bạc.

Thưa quý khán thính giả,

Như quý vị đã thấy, khổ vì Bệnh thì phần lớn chúng ta đều có kinh nghiệm. Tuy vậy, nếu bệnh qua loa thì đời sống còn chưa đến nỗi xáo trộn. Chẳng may mắc chứng nan y thì cuộc đời trở thành cơn ác mộng vì không còn sinh thú gì mà cứ phải chịu đau đớn triền miên.

Khổ vì Chết là nỗi khổ đáng sợ nhất vì không ai biết cái gì sẽ chờ đợi bên kia cửa tử. Người ta thường nghĩ rằng chết là hết, là chấm dứt tất cả mọi liên lạc với thân nhân, bè bạn, là ra đi một mình chẳng biết sẽ về đâu, là chia tay vĩnh viễn với tài sản danh vọng một đời thâu góp.

Khổ vì mong cầu mà không được thì hầu như luôn luôn xảy ra trong đời, học trò đi thi mong đậu nhưng nhìn bảng lại không có tên, yêu người mà người không đáp ứng, hoặc hai kẻ yêu nhau mà không được sống với nhau như cặp tình nhân huyền thoại Romeo và Juliette, đành tìm cái chết bên nhau.

Khổ vì thương yêu mà phải sinh ly tử biệt thì trong tình sử, có rất nhiều chuyện thương tâm. Thí dụ chuyện mối tình sắt son của hoàng đế Shah Jahan thuộc triều đại Mogul và lăng Taj Mahal vào thế kỷ thứ 17. Hoàng đế Shah Jahan ra lệnh xây lăng này để kỷ niệm hai mươi năm tình nghĩa mặn nồng với bà vợ yêu quý là hoàng hậu Mumtaz Mahal, đã qua đời trong lúc lâm bồn. Hoàng đế đau đớn tiếc thương nên quyết định xây cho vợ một lăng mộ đẹp nhất ngay trên bờ sông Yamuna. Với số lượng nhân công lớn đến trên hai chục ngàn người cùng toàn bộ công sức và nỗ lực, vậy mà cũng phải  mất 22 năm mới hoàn tất công trình, mà kinh phí lên tới 30 triệu ru-pi vào thời đó. Ngày nay khu lăng mộ này là một trong những địa điểm nổi tiếng, có sức thu hút rất đông du khách tới tham quan tại Ấn Độ

Như thế thì chúng ta đã thấy, ngay cả đến vị hoàng đế quyền khuynh thiên hạ, cũng không thể kéo sự sống lại cho người vợ mà mình thương yêu nhất trên đời, cũng đành bất lực nhìn người yêu nằm trong huyệt mộ, ngàn đời ly biệt, chỉ còn biết đau đớn trong lòng với những kỷ niệm cũ mà sống qua ngày thôi.

Khổ vì ghét nhau mà cứ phải gặp gỡ, liên hệ, vì những lý do ngoài ý muốn thì ai đã từng là nạn nhân của các cuộc tra tấn ắt hiểu ngay cảm giác “ghét mà cứ phải gặp” này, nhất là những tù nhân chính trị mà ban đêm nghe thấy gọi đến tên mình để “đi làm việc” (nghĩa là đi để chịu đòn tra tấn).

Khổ vì thể xác và tâm hồn luôn luôn thay đổi, lúc khỏe lúc yếu, lúc vui lúc buồn. Thân thể đang khỏe mạnh bỗng đứt gân máu, đứng tim, đang vui vẻ bỗng nghe tin người thân yêu bị tai nạn. Thế là mọi sự đều thay đổi. Vui buồn, đau yếu đều có thế bất thình lình xảy ra, vì cuộc đời vốn Vô Thường, không có gì là bền vững, nào ai biết được chuyện tương lai. Cho nên Vô Thường là Khổ.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi vừa giới thiệu với quý vị một số nỗi khổ điển hình, mà mọi người đều có thể gặp một cách bình đẳng, không đặc biệt miễn trừ ai vì bất cứ lý do nào, trích ra từ Chân Lý Thâm Diệu về Khổ, là một trong bốn Chân Lý Thâm Diệu mà đức Phật đã chứng ngộ dưới gốc cây Bồ Đề.

Mục tiêu cốt tủy của đức Phật có thể tóm gọn như sau:

– Thứ nhất là nêu ra cho mọi người nhớ rằng cuộc đời đầy dẫy những nỗi khổ để nhìn rõ thực tế mà sống tỉnh thức.

– Thứ hai là chỉ cho mọi người nhìn rõ nguyên nhân cấu thành những nỗi khổ, để tìm cách điều trị.

– Thứ ba là nói về sự thiết yếu phải chấm dứt và phương pháp chấm dứt đau khổ để được hưởng hạnh phúc và an lạc.

– Thứ tư là hành trì tu tập để chấm dứt khổ và giác ngộ Chân Lý, thấu suốt thực tướng của vạn hữu, thực chứng Hữu Dư Niết Bàn (là cảnh giới tâm thức an lạc của người ngộ Đạo).

Lời nói đầu tiên khi đức Phật vừa bừng tỉnh, giác ngộ thực tại là:

– “Lạ thay, tất cả chúng sinh đều có đầy đủ trí tuệ Như Lai, mà vì mê vọng nên phải chịu khổ trong luân hồi.”

Thưa quý thính giả,

Về trí tuệ Như Lai, chúng tôi xin gửi tới quý thính giả một câu chuyện Thiền, trích dịch từ ngữ lục “Mud and Water” của thiền sư Bassui Tokusho, được dịch giả Arthur Braverman dịch từ Nhật ngữ qua Anh ngữ. Câu chuyện mang tên là:

 “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự”

Một cư sĩ hỏi:

– Bạch thày, Thiền được mô tả là “Truyền ngoài kinh sách và không qua văn tự”, vậy mà lại có nhiều cuộc vấn đáp và tham hỏi về Đạo giữa các thiền sinh và thiền sư hơn cả giáo môn. Như thế thì làm sao có thể nói Thiền là pháp môn “truyền ngoài kinh sách?”? Xin thày giảng câu “ngoài kinh sách, không qua ngôn ngữ văn tự” nghĩa chân thực là thế nào?

Thiền sư  thốt lên tiếng gọi:

– Cư sĩ!

Ông ta đáp ngay lập tức:

– Dạ.

Thiền sư nói:

– Tiếng “dạ” đó đến từ pháp môn nào?

Ông cư sĩ cúi đầu vái thiền sư. Thiền sư tiếp:

– Khi ông dự định tới đây, là ông tự quyết định. Khi ông định hỏi, là ông tự làm công việc “hỏi” đó. Ông không nhờ đến ai và cũng không cần phải dùng đến giáo pháp của đức Phật để làm chuyện đó.

Chính cái “tâm” này chỉ đạo cho bản thân, chính nó là cốt tủy của “truyền ngoài kinh điển và không qua ngôn từ”.

Đó chính là tinh túy Thiền của Như Lai. Những lời hùng biện lanh lợi, văn chương lưu loát, phân biệt và hiểu biết cảm thông, đều không tới được bờ mé của Thiền này. Chỉ có người nào thâm quán nội tâm một cách sâu sắc, không sa vào cái bẫy của chữ nghĩa, cũng không bị những lời dậy của chư Phật, chư Tổ che phủ làm mờ chân tánh, người nào vượt qua con đường độc đạo tiến tới Giác Ngộ và không để cho sự lanh lợi khéo léo trở thành nguyên nhân suy sụp, người đó sẽ, lần đầu tiên trong đời, đạt Đạo.

Ngay từ khởi thủy, tất cả mọi chúng sinh đều vốn đã đầy đủ trọn vẹn và toàn hảo. Chư  Phật và người dân thường đều vốn bình đẳng là Như Lai tự bản chất.

Em nhỏ mới sanh vung tay khua chân cũng chính là hoạt dụng tuyệt vời của bản thể tự tánh.

Chim bay, thỏ chạy, mặt trời mọc, vầng trăng lặn, gió thổi, mây trôi, tất cả mọi sự vật hoán chuyển đổi thay đều từ hoạt dụng của guồng quay bản thể. Chúng không tùy thuộc vào lời dạy của người khác hoặc sức mạnh của ngôn ngữ.

Từ sự hoạt dụng của Giác Tánh, tức là bản thể của mỗi người, mà tôi đang nói chuyện đây và cũng vậy, các ông đang nghe tôi qua sự huyền diệu của Giác Tánh các ông đó.”

Trên đây là lời giảng của thiền sư Bassui Tokusho.

Đức Phật đã dạy “Tất cả chúng sinh đều có Phật Tánh”. Phật Tánh cũng là Giác Tánh, cũng là “Trí Tuệ Như Lai”.

Nếu chúng ta tu tập “Tự thanh tịnh tâm ý”, thì Giác Tánh sẽ hiển lộ, như đức Phật khi bừng tỉnh, chứng ngộ thực tại, chấm dứt tất cả Khổ.

Thưa quý khán thính giả,

Câu chuyện Thiền của thiền sư Bassui Tokusho đã kết thúc buổi phát thanh của chúng tôi. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.

Nếu quý khán thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý khán thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Tuệ Đăng

Bài 2 – Đức Phật đã dạy những gì ?

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý khán thính giả.

Thưa quý khán thính giả,

Như chúng tôi đã trình bày với quý vị trong kỳ trước, duyên khởi đạo Phật xuất hiện bắt nguồn từ sự bừng tỉnh, Chứng Ngộ Thực Tại của đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Do sự Chứng Ngộ này, Ngài đã trực nhận ra được rằng “Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, đều có thể tu hành để thành Phật như Ngài”. Từ sự thấu triệt đó, Ngài khởi tâm Đại Bi, dạy lại những kinh nghiệm hành trì và tu chứng của Ngài, để mọi chúng sinh đều có thể noi theo mà tu hành, tiến tới giác ngộ giải thoát.

Những lời dạy đó tích lũy thành tạng Kinh, là phần Giáo Pháp. Và như thế, đạo Phật xuất hiện trên đời.

Vậy đức Phật đã dạy những gì?

Kính thưa quý vị,

Suốt thời gian trên bốn chục năm ròng rã thân hành đi khắp gần xa để truyền dạy, những lời vàng ngọc của Ngài đã được chư đệ tử nhập tâm, các vị này lại truyền xuống cho đệ tử, rồi được tuyên đọc trong các kỳ kết tập kinh điển, tổng hợp thành tạng Kinh, là một trong Tam Tạng, thì nhiều vô số kể. Tuy nhiên, cốt tủy tất cả những lời dạy đó được đức Phật tóm tắt bằng tuyên ngôn:

– “Này chư Tỳ kheo, bây giờ cũng như trước đây, Như Lai chỉ dạy về “Khổ” và về  “Con Đường Diệt Khổ”.

Tuyên ngôn này rút ra từ Bốn Chân Lý Thâm Diệu mà ngài đã Chứng Ngộ, đó là :

– Thứ nhất là Chân Lý về Khổ (Khổ Đế)

– Thứ hai là Chân Lý về nguồn gốc của Khổ (Tập Đế)

– Thứ ba là Chân Lý về sự Diệt Khổ (Diệt Đế)

– Thứ tư là Chân Lý về Con Đường đưa đến sự Tận Diệt Khổ (Đạo Đế)

Bốn Chân Lý này tức là Tứ Diệu Đế  ( Đế nghĩa là Chân Lý).

Có người mới nghe nửa câu nói của đức Phật “chỉ dạy về Khổ” thì cho là quan điểm của nhà Phật về cuộc đời rất bi quan, tiêu cực. Nhưng nếu nghe thêm phần sau Ngài nói “và dạy Con Đường Diệt Khổ”, thì sẽ thấy ngay rằng đức Phật rất tích cực muốn cải thiện đời sống để mọi người được hết khổ.

Có ngưòi lại cho rằng “Cuộc đời không hẳn là khổ, nó chỉ khổ với những người nghèo nàn, bất hạnh, còn như vua chúa, quan quyền, những người giầu có, muốn gì được nấy thì không khổ”.

Nhà Phật cho rằng có tám vấn đề trong cuộc đời là nguyên nhân tạo nên “bể khổ”. Tất cả mọi người đều bị tám vấn đề này chi phối, bất kể giầu nghèo sang hèn, không chừa một ai, vượt qua ý muốn của người quyền uy nhất, đó là:

Sinh,

Lão,

Bệnh,

Tử,

Mong cầu mà không được,

Thương yêu nhau mà phải chia ly,

Thù ghét nhau mà phải gặp gỡ,

Thân và tâm khi khỏe khi yếu, lúc vui lúc buồn.

Trên đây là những nỗi khổ đến với con người một cách rất bình đẳng. Những nỗi khổ này chính là chuyện xảy ra hằng ngày trong đời sống.

Về Bốn Chân Lý Thâm Diệu mà Đức Phật dạy chúng ta, thì ba bài đầu là phần lý thuyết, để chúng ta thâm nhập ý nghĩa sâu xa, hiểu thấu sự thật về kiếp người, về những lý do khiến chúng ta bị ràng buộc, trôi lăn trong dòng sông sinh tử. Sau khi đã thâm nhập phần lý thuyết, hiểu rõ ý nghĩa, chúng ta sẽ tiến vào Chân Lý thứ tư là Đạo Đế, Con Đường Diệt Khổ, ứng dụng bài học vào cuộc đời.

Để ứng dụng bài học Đạo Đế, người muốn bước trên con đường phải thực hiện ba nguyên tắc sống sau đây:

– Tuyệt đối không làm những điều xấu ác để chấm dứt dòng nghiệp ác.

– Siêng năng làm những điều lành thiện, chuyển hóa dòng nghiệp trở thành nghiệp lành, để tạo duyên tốt cho con đường tu hành.

– Hành trì theo một pháp môn tu của Phật giáo để thanh tịnh tâm ý, tiến tới giác ngộ giải thoát.

Ba nguyên tắc sống này được rút ra từ bài kệ:

Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành.

Có thể hình dung đạo Phật như con chim đại bàng có hai cánh, là Từ Bi và Trí Tuệ. Hai câu đầu, “không làm những điều ác” và “siêng làm những việc lành” thuộc về lãnh vực phát triển lòng Từ Bi. “Tự thanh tịnh tâm ý” thuộc về lãnh vực tu hành để thức tỉnh ra khỏi cơn mê vọng từ vô thủy, Chứng Ngộ Thực Tại như đức Phật, là phần Trí Tuệ.

Như thế, cả ba điều đều quan trọng, nhưng hai điều trên thì nhiều tôn giáo và trường học cũng đã dạy, duy “Tự thanh tịnh tâm ý” là điều cốt tủy của đạo Phật, là điều quan trọng nhất.

Tại sao vậy ?

Tại vì, nội dung của “tự thanh tịnh tâm ý” thâu gồm sự xả bỏ hết tất cả mọi vướng mắc của ba lãnh vực độc hại là Tham lam, Sân hận và Si mê, tiêu trừ ba sự độc hại này để chuyển tâm thành Giới hạnh, Định lực và Trí tuệ, rồi tới xả bỏ luôn tất cả mọi khái niệm, luôn cả khái niệm về sự xả bỏ, đi tới chỗ tâm hoàn toàn tịch tĩnh, chấm dứt mọi nguyên nhân cấu tạo thành kiếp sống mới. Đó là con đường Niết Bàn.

Thưa quý khán thính giả,

Đến đây, chúng tôi xin được trình bày sơ qua về từ ngữ Niết Bàn, vì từ ngữ này thường được dùng khi có tin buồn, khiến có thể làm cho người nghe cảm thấy ngần ngại.

Đó là điều hiểu lầm rất đáng tiếc. Niết Bàn không phải là sự chết, mà là một trạng thái tâm thức tạm nói là an lạc và giải thoát. Trạng thái này chỉ người đã Chứng Ngộ mới biết thực tế là thế nào, có thể dùng câu “như người uống nước, nóng hay lạnh tới đâu chỉ chính người đó tự biết” để nói lên tính cách không thể trình bày ra được. Các vị đã chứng đạo thường dùng câu “như người câm muốn nói chuyện mộng” để mô tả tâm trạng của mình, muốn nói ra mà không có cách nào, vì tất cả những trạng thái tâm thức ở thế gian đều không phải là Niết Bàn.

Chúng tôi xin lược trích ý kiến của hòa thượng Narada Maha Thera viết về vấn đề này trong cuốn The Buddha and His Teachings, do cư sĩ Phạm Kim Khánh dịch, như sau:

…”…Dầu người ta có thể viết đầy đủ và rõ ràng như thế nào, dầu người ta có dùng danh từ bóng bẩy đến đâu để cố gắng mô tả trạng thái vắng lặng của Niết Bàn, văn tự không thể giúp nhận thức thế nào là Niết Bàn. Niết Bàn không phải là cái gì có thể miêu tả bằng giấy trắng mực đen hay nhận thức bằng lý trí. Niết Bàn là pháp siêu thế, chỉ có thể chứng ngộ bằng tuệ giác.

Không thể có sự hiểu biết Niết Bàn bằng lý trí thuần túy, vì Niết Bàn không phải là một vấn đề có thể dùng luận lý để thấu đạt. Lời dạy của Đức Phật hoàn toàn hợp lý. Tri thức có thể lĩnh hội đầy đủ các Phật ngôn. Nhưng Niết Bàn, mục tiêu cứu cánh của Phật Giáo, vượt ra khỏi phạm vi luận lý…..

Ðạo quả Niết Bàn có thể thành tựu trong kiếp sống. Phật Giáo không hề chủ trương rằng mục tiêu cứu cánh của người Phật Tử chỉ thành tựu được sau khi chết.

Khi đạo quả Niết Bàn được thành tựu trong kiếp sống hiện tiền, nghĩa là trong lúc còn mang thân ngũ uẩn thì gọi là “Hữu Dư Niết Bàn”. Lúc bỏ xác thân mới gọi là “Vô Dư Niết Bàn”.

Một vị A La Hán hay một vị Phật lúc còn tại tiền gọi là đắc Hữu Dư Niết Bàn. Từ đó không còn tạo nghiệp mới nữa, nhưng những nhân lành hay dữ đã tạo trong dĩ vãng vẫn còn trổ quả cho tới lúc tâm thức và thân sắc tan rã.

Khi một vị A La Hán nhập Vô Dư Niết Bàn, nếu còn nghiệp cũ thì nghiệp ấy hết hiệu lực vì không còn biểu hiện nơi đâu được nữa”.

Thưa quý khán thính giả,

Như chúng tôi đã trình bày, đạo Phật không phải là một mớ lý thuyết suông, mà là một pháp thực hành để đem thân và tâm trở về với sự tỉnh thức, an lạc. Đó là phần Đạo Đế, Con Đường Diệt Khổ. Con đường này có tên gọi là Bát Chánh Đạo, là tám chi bao gồm ba nhóm học và hành trì là :

– Giới Học gồm:

Chánh Ngữ là nói lời chân thật, hoà nhã, không dối trá, không nói lời thô tục nhảm nhí, vu cáo, vân vân…

Chánh Nghiệp là hành động chân chính, giữ giới, không sát sanh, trộm cắp, tà dâm, để tạo nghiệp thiện

Chánh Mạng là hành nghề lương thiện, chân chính, không làm những việc xấu ác để kiếm tiền, thí dụ buôn bán cần sa ma túy, buôn bán thân xác phụ nữ, buôn lậu súng đạn để người ta giết nhau, vân vân…

– Định Học gồm :

Chánh Tinh Tấn là sự cố gắng tu tập để :

* tiêu trừ những ý niệm xấu ác đang hiện hành trong tâm,

* không buông thả tâm ý khiến cho các điều xấu ác có thể nảy nở

* hướng tâm về các điều lành thiện để tạo điều kiện cho chúng nảy nở

* trong tâm đang nghĩ về điều thiện thì khai triển ra để điều thiện nảy nở thêm.

Tóm lại, Chánh Tinh Tấn là luôn luôn tỉnh giác để tăng cường tính tốt và loại bỏ tính xấu.

Chánh Niệm là suy niệm chân chánh, đem tâm về con đường tu tập, thí dụ tu theo pháp môn Thiền thì liên tục chú tâm quán tưởng, hoặc theo dõi hơi thở, hoặc niệm Phật vân vân… để chuyển hóa tâm từ trạng thái hỗn loạn trở nên bình tĩnh.

Chánh Định là trụ vào một đề mục để giữ cho tâm được an định, là điều cần thiết để tâm được trong sáng mà quan sát sự vật, ngõ hầu thấu suốt thực tướng của vạn hữu.

– Tuệ Học gồm :

Chánh Kiến là hiểu biết rõ ràng, tường tận về Phật pháp để ứng dụng vào đời sống một cách sáng suốt. Thí dụ người có Chánh Kiến thì ứng xử theo chánh pháp, không bày trò lễ bái đốt vàng mã, sát sinh hại vật để hối lộ thần thánh, vân vân…

Chánh Tư Duy là sự suy tư đúng đắn đưa đến những quyết định cao thượng về giải thoát, về lòng trắc ẩn, tình thương yêu muôn loài, vân vân…

Thưa quý khán thính giả,

Có lẽ quý vị đã nhận thấy một điều là tất cả các con đường tu học của Phật giáo đều nhấn mạnh vào sự thanh tịnh hóa và luyện cho tâm được an định. Tâm có an định thì mới có thể nhìn rõ sự việc trên thế gian, cũng như thùng nước có đứng lặng thì mới nhìn thấy cây kim dưới đáy.

Để đạt được điều này, nhà Phật đã có những pháp môn tu, thí dụ Ngũ Đình Tâm Quán, Thiền Chỉ Quán, Thiền Tứ Niệm Xứ, Thiền Tông, Thiền Minh Sát, Tịnh Độ Tông, Mật Tông, vân vân… Hành trì theo đường lối tu của các pháp môn tu này sẽ giúp hành giả gỡ bỏ những vướng mắc Tham Sân Si vốn đã xuất hiện từ vô thủy.

Như thế, đạo Phật không bi quan, không lạc quan, chỉ phân tích rõ ràng thực tế vận chuyển của cuộc đời và dạy những pháp môn tu tập để mọi người được tỉnh thức thật sự, tiếp cận với đời sống ngay trong hiện tại một cách vững vàng, sáng suốt.

Sau đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một câu chuyện Thiền, nói lên tầm quan trọng của sự định tâm, của định lực, trích dịch từ cuốn “The Zen Way to the Martial Arts”, tác giả là thiền sư Taisen Deshimaru.

Thiền sư Taisen Deshimaru sinh năm 1914, tại Nhật Bản. Năm 16 tuổi, ông vào chùa xin làm đệ tử của thiền sư Kodo Sawaki, một trong số các thiền sư danh tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng trên khắp nước Nhật đương thời, đặc biệt nhấn mạnh vào sự quan trọng của phương pháp tọa thiền. Không giống phần lớn thiền sư khác, thiền sư Taisen Deshimaru sống đời cư sĩ cho mãi đến năm 51 tuổi mới thọ giới tu sĩ, chỉ một thời gian ngắn trước khi vị thày qua đời. Hai năm sau, 1967, ông qua Âu Châu, định cư tại Pháp để dạy Thiền. Ba năm sau, năm 1970, ông được giao phó những nhiệm vụ quan trọng, được Sư Trưởng chùa Vĩnh Bình Tự bên Nhật truyền tâm ấn và bổ nhiệm ông làm Trưởng môn phái Thiền Tào Động tại hải ngoại.

Ông đào tạo rất đông đệ tử và xây đắp nền móng vững chắc cho sự truyền bá Thiền Tào Động tại Âu Châu trước khi qua đời vào năm 1982, hưởng thọ 68 tuổi.

Sau đây là câu chuyện Thiền của thiền sư Taisen Deshimaru, có tên là “Con đường chân chính của Võ Đạo”

“Một ông vua thời xưa muốn có con gà chọi vô địch, nên sai viên quan cận thần huấn luyện cho ông ta một con. Người này khởi sự bằng cách dậy con gà tất cả mọi kỹ thuật để xung trận.

Sau mười ngày, ông vua hỏi:

– Trẫm đã có thể tổ chức cuộc đấu cho con gà này chưa?

Huấn luyện viên thưa:

– Tâu bệ hạ, chắc chắn là chưa được. Con gà khỏe thì có khỏe, nhưng là cái khỏe vô dụng, rỗng tuếch, nóng nẩy, lúc nào nó cũng chỉ muốn đánh nhau, cuồng nhiệt quá mức, không có sức chịu đựng.

Mười ngày sau ông vua lại hỏi:

– Thế bây giờ trẫm cho tổ chức cuộc đấu được chưa?

– Tâu bệ hạ, chưa, chưa! Chưa được ạ. Nó vẫn còn hung hãn quá, cả ngày nó chỉ tìm cơ hội để đánh nhau. Mỗi khi nghe thấy tiếng con gà trống khác gáy, dù là tiếng gáy từ làng bên, là nó điên tiết lên, muốn xông ra đánh nhau liền.

Lại mười ngày huấn luyện nữa trôi qua, ông vua hỏi tới lần thứ ba:

– Bây giờ thì có thể được chứ?

Nhà huấn luyện trả lời:

– Dạ, bây giờ thì nó không còn nộ khí xung thiên lên như trước nữa, nó giữ sự lặng lẽ khi nghe tiếng con gà khác gáy. Dáng điệu của nó vững vàng và nó có nhiều nội lực dự trữ. Nó không còn luôn luôn mất bình tĩnh. Nhìn nó, bệ hạ không nhận ra được sinh lực và sức mạnh của nó đâu.

Ông vua hỏi:

– Vậy thì chúng ta có thể tiến hành cuộc thi đấu được chưa?

Huấn luyện viên trả lời:

– Tâu bệ hạ, có thể.

Thế là nhà vua truyền lệnh cho qui tụ đám gà chọi lại và cuộc đấu bắt đầu. Nhưng  không một con gà nào dám xáp lại gần con gà kia. Tất cả đàn gà đều sợ mất hồn, chạy tán loạn, thành ra con gà của vua chẳng cần phải đấu.

Con gà chọi này đã trở thành như là con gà bằng gỗ. Nó đã vượt qua giai đoạn huấn luyện kỹ thuật. Bây giờ nó sở hữu một nguồn nội lực thâm hậu tiềm ẩn, không bao giờ phô ra. Với cách đó, sức mạnh tụ lại trong cơ thể, và đối phương không còn cách nào khác hơn là vái chào trước sự im lặng sấm sét và nội lực tiềm tàng nơi nó.

Nếu bạn thường xuyên hành trì tọa thiền thì bạn có thể am hiểu được điều bí mật của võ đạo một cách thẩm thấu vào vô thức, tự nhiên và tự động. Từ đó, sẽ có thể không cần dùng tới kỹ thuật, không cần luyện nhu đạo, hiệp khí đạo, không thủ đạo hoặc kiếm đạo. Người khác sẽ tránh kiếm chuyện với bạn và thế là không còn cần tới đánh nhau.

Con đường chân chính của Võ đạo không xuyên qua sự tranh tài hoặc xung đột mà nó vượt qua chuyện sinh và tử, chuyện thắng và thua.“

Thưa quý khán thính giả,

Câu chuyện Thiền của thiền sư Taisen Deshimaru đã kết thúc buổi phát thanh của chúng tôi hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.

Nếu quý khán thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý khán thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Tuệ Đăng

Bài 1 – Tại sao đạo Phật xuất hiện ?

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý khán thính giả.

Thưa quý khán thính giả,

Có câu hỏi :

– Tại sao đạo Phật xuất hiện?

–  Đạo Phật xuất hiện vì mục đích gì? 

Do thắc mắc rằng nếu chỉ dạy “làm lành, lánh dữ” thì các tôn giáo khác, ngay trong thời thái tử Tất Đạt Đa chưa ra đời, họ cũng đã dạy, đức Phật thiết lập thêm một tôn giáo nữa làm chi, chẳng lẽ để cạnh tranh với các tôn giáo đương thời?

Còn như nếu chỉ dạy sống vui, sống khỏe, thì những thầy giáo làng ở chốn quê mùa hẻo lánh cũng đã dạy hàng ngàn năm trước rồi. Cao hơn nữa thì có những môn triết học, tâm lý, không cần phải chờ tới khi có một bậc Đại Giác ra đời, thiết lập hẳn một tôn giáo để dạy.

Trả lời những câu hỏi này, chúng tôi xin thưa rằng:

– Duyên khởi sự xuất hiện của đạo Phật bắt nguồn từ sự bừng tỉnh, Chứng Ngộ Thực Tại của đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Vài trong số những Phật ngôn đầu tiên sau khi Ngài vừa mới bừng tỉnh là:

“Xuyên qua nhiều kiếp sống trong vòng luân hồi, Như Lai thênh thang đi, đi mãi.
Như Lai mãi đi tìm mà không gặp, Như Lai đi tìm người thợ cất cái nhà này.
Lặp đi lặp lại đời sống quả thật là phiền muộn.
Này hỡi người thợ làm nhà,
Như Lai đã tìm được ngươi.
Từ đây ngươi không còn cất nhà cho Như Lai nữa.
Tất cả sườn nhà đều gãy,
Cây đòn dong của ngươi dựng lên cũng bị phá tan.
Như Lai đã chứng nghiệm Quả Vô Sanh Bất Diệt và Như Lai đã tận diệt mọi Ái Dục”.

và:

“… Tri kiến và nhãn quan đã phát sanh đến ta. Tâm siêu thoát của ta không thể lay chuyển. Ðây là kiếp sống cuối cùng của ta. Từ đây ta sẽ không còn trở thành, không còn tái sanh.” — (kinh Trung A-Hàm).

Từ sự Chứng Ngộ, đức Phật phát hiện được một thực tế là  “Tất cả chúng sinh đều có Giác Tánh như Ngài, và có thể thanh lọc ô nhiễm để chuyển hóa thành Phật như Ngài”.

Do phát hiện đó, khởi tâm Đại Bi, Ngài dùng suốt quãng thời gian còn lại của đời sống trên thế gian trên bốn chục năm, tận tụy đi rao giảng những kinh nghiệm hành trì và tu chứng của Ngài để mọi chúng sinh đều có thể Giác Ngộ Giải Thoát như Ngài. Những lời dạy đó tích lũy thành tạng Kinh, là phần Giáo Pháp. Và như thế , đạo Phật xuất hiện trên đời.

Tuy nhiên, đức Phật đã dạy trong kinh Trung A Hàm::

“Giáo Pháp mà Như Lai đã chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm vi luận lý, tế nhị, chỉ có bậc thiện trí mới thấu hiểu.”

Thật vậy, Giáo Pháp của Ngài quả là sâu sắc, uyên áo, khó hiểu, khiến cho các vị Luận Sư phải dùng tới hàng nhiều ngàn trang giấy để viết lên những bộ Luận Giải, mong giúp người đọc dễ nhập môn. Vì thế, có người tưởng đạo Phật là một mớ triết lý, cứ việc đem ra cùng nhau bàn thảo, giống như những vấn đề triết học, vốn không đòi hỏi sự tu hành, là đã uống xong ly nước Cam Lồ của đạo Phật.

Hiểu như thế là sai lầm, là làm phí uổng bản hoài của đức Phật mong cứu chúng sinh, trôi qua mất một kiếp ở trong nhà Phật.

Giáo lý nhà  Phật không phải là một mớ lý thuyết suông, mà là tổng kết quá trình hành trì dẫn tới Chứng Ngộ của đức Phật. Từ kinh nghiệm Chứng Ngộ này, đức Phật dạy lại cho chúng sinh, để tất cả đều có cơ hội Chứng Ngộ như Ngài.

Hòa thượng Narada Maha Thera đã viết về công phu hành trì và tu chứng của đức Phật trong cuốn “The Buddha and His Teachings”, cư sĩ Phạm Kim Khánh dịch ra tiếng Việt như sau:

“Sau cuộc chiến đấu kỳ diệu phi thường kéo dài sáu năm đằng đẵng, không có sự hỗ trợ từ bên ngoài và không được sự hướng dẫn của một năng lực siêu phàm nào, đơn độc một mình và chỉ nương nhờ nơi nỗ lực của chính mình, đạo sĩ Gotama, lúc ấy ba mươi lăm tuổi, tận diệt mọi ô nhiễm, chấm dứt mọi tiến trình tham ái và Chứng Ngộ Thực Tướng của vạn pháp, đã trở thành một vị Phật (Buddha), Đấng Chánh Biến Tri, bậc Toàn Giác.

Không phải khi sanh ra Ngài đã là Phật, mà Ngài trở thành Phật do sự nỗ lực của mình. Phạn ngữ Buddha xuất nguyên từ căn “Budh”, là Hiểu Biết hay Thức Tỉnh. Gọi là Buddha  vì Ngài hiểu biết đầy đủ Bốn Chân Lý Thâm Diệu Cao Quý (là Tứ Diệu Đế), và từ giấc mơ vô minh Ngài đã thức tỉnh.

Đức Phật cũng không bao giờ tự nhận là có quyền năng cứu vớt kẻ khác bằng  sự cứu rỗi của mình. Ngài thiết tha kêu gọi những ai hoan hỷ bước theo dấu chân Ngài không nên ỷ lại nơi người khác mà phải tự mình giải thoát lấy mình, bởi vì cả hai, trong sạch và bợn nhơ, cũng đều tùy thuộc nơi chính mình. Ta không thể trực tiếp làm cho ai trong sạch hay ô nhiễm.

Để minh định rõ ràng mối tương quan của Ngài đối với hàng môn đệ và để nhấn mạnh tầm quan trọng của sự kiện tự mình nhận lãnh trọn vẹn trách nhiệm và tự mình nỗ lực kiên trì, Đức Phật minh bạch dạy rằng:

– “Các con phải tự mình nỗ lực. Các đấng Như Lai chỉ là đạo sư.” 

Đức Phật chỉ vạch cho ta con đường và phương pháp mà ta có thể nương theo đó để tự giải thoát ra khỏi mọi khổ đau của vòng sanh tử và thành tựu mục tiêu cứu cánh. Đi trên con đường và theo đúng phương pháp hay không, là phần của người đệ tử chân thành muốn thoát khỏi những bất hạnh của đời sống.

– “Ỷ lại nơi kẻ khác để giải thoát cho mình là tiêu cực. Nhưng đảm đang lãnh lấy trách nhiệm, chỉ tùy thuộc nơi mình để tự giải thoát, quả thật là tích cực.”

Tùy thuộc nơi người khác là đem tất cả cố gắng của chúng ta ra quy hàng.

– “Hãy tự xem con là hải đảo của con. Hãy tự xem con là nương tựa của con. Không nên tìm nương tựa nơi ai khác!”

Phật giáo không đòi hỏi nơi tín đồ một đức tin mù quáng. Do đó một niềm tin tưởng suông không thể có chỗ đứng. Thay vào đó là lòng tín nhiệm căn cứ trên sự hiểu biết.

Niềm tin mà người Phật tử đặt nơi Đức Phật cũng giống như niềm tin mà bệnh nhân đặt nơi một lương y trứ danh hay của trò đặt nơi thầy. Mặc dầu tìm nương tựa nơi Đức Phật và tôn trọng Ngài là vị hướng đạo vô thượng, là thầy dắt dẫn trên Con Đường Trong Sạch, người Phật Tử không quy phục mù quáng như kẻ nô lệ, không tin rằng chỉ quy y Tam Bảo hay chỉ có đức tin suông nơi Tam Bảo mà mình có thể trở nên trong sạch.

Không ai, dầu là Đức Phật đi nữa, có đủ quyền lực để gội rửa bợn nhơ của người khác. Nói một cách chính xác, không ai có thể rửa sạch, cũng không ai có thể làm hoen ố người khác.

Đức Phật là vị Tôn Sư có thể giúp đỡ bằng cách vạch ra con đường, nhưng chính ta phải lãnh lấy nhiệm vụ gội rửa thân tâm của chúng ta.

Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:

– “Chỉ có ta làm điều tội lỗi, chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm.
Chỉ có ta tránh điều tội lỗi, chỉ có ta gội rửa cho ta.
Trong sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta.
Không ai có thể làm cho người khác trở nên trong sạch”. (Câu 145)

Người Phật tử không làm nô lệ cho một quyển sách hay một cá nhân, cũng không hy sinh tự do tư tưởng của mình khi bước theo dấu chân của Đức Phật. Người Phật tử hoàn toàn tự do thực hiện ý chí, mở mang kiến thức và phát triển trí tuệ cho đến ngày chính mình đắc Quả vị Phật, bởi vì khả năng trở thành Phật nằm bên trong tất cả mọi chúng sanh.

Đức Phật dạy:

– “Người nào thấy Giáo Pháp (Dhamma) là thấy Như Lai”.

Một đặc điểm khác nên được ghi nhận trong nghi lễ tụng niệm Phật Giáo, đó là, câu kinh không phải là lời thỉnh nguyện, cũng không phải là lời cầu xin chuyển đạt một nguyện vọng. Dầu ta có bỏ hết thì giờ để cầu xin cũng không được gì.

Đức Phật không khi nào và không thể nào ban bố những ân huệ cho người cầu nguyện. Để được cứu rỗi, người Phật tử không nên cầu nguyện mà phải nhận lãnh trách nhiệm, cố gắng trau giồi đức hạnh, kiên trì tu tập để tự thanh lọc và thành tựu giải thoát. Không nên lệ thuộc người khác mà phải nương nhờ nơi mình, tự mình cố gắng.

Đức Phật dạy:

– “Các con phải cố gắng, các đấng Như Lai chỉ là những vị thầy” 

Chẳng những cầu nguyện, van xin, là vô ích mà đó còn là thái độ nô lệ tinh thần. Thay vì đọc kinh cầu nguyện, Đức Phật khuyên nên cố gắng hành thiền để ghép mình vào kỷ luật, tự kiểm soát, tự thanh lọc tâm, và giác ngộ. Thiền tập là liều thuốc bổ cho cả tâm lẫn trí.

Trong Phật Giáo không có Thần Linh vạn năng, bắt buộc tín đồ phải sợ hãi cúi đầu vâng lệnh. Phật Giáo phủ nhận sự hiện hữu của một oai lực siêu thế, quan niệm như một thực thể toàn năng, hay có năng lực vô cùng tận. Không có tánh cách thần khải, không có người truyền đạt tin tức và những lời sấm của một Thần Linh từ đâu trên cao ban xuống đến cho con người. Do đó người Phật tử không quỵ lụy phục tùng một oai lực siêu nhiên cầm quyền thưởng phạt và kiểm soát định mạng.

Bởi vì không tin nơi thiên khải Thần Linh, Phật giáo không đòi hỏi độc quyền nắm chân lý và không bài xích bất cứ tôn giáo nào khác. “Tánh thiên chấp là kẻ thù tệ hại nhất của tôn giáo”.

Với đức tánh rộng lượng khoan dung của Ngài, Đức Phật hằng khuyên hàng môn đệ không nên giận dữ, bất mãn, hay không vui lòng, nếu có ai nói xấu Ngài, Giáo Pháp của Ngài, hay Giáo Hội mà Ngài sáng lập. Đức Phật dạy:

– “Nếu các con giận dữ, bất mãn, hay không vui lòng, chẳng những các con tự đặt mình vào chỗ hiểm nguy có thể mất cả nền tảng đạo đức tinh thần, mà các con còn không thể xét đoán đúng mức lời chỉ trích có giá trị hay không”.

Các lời lẽ có rất nhiều ý nghĩa kia mà Đức Phật đã dạy trong những ngày sau cùng của Ngài quả thật mạnh mẽ, nổi bật và cảm kích. Điều này chứng tỏ rằng cố gắng cá nhân là yếu tố tối cần để thành tựu mục tiêu. Tìm sự cứu rỗi nơi những nhân vật hảo tâm có quyền năng cứu thế và khát khao ham muốn hạnh phúc ảo huyền xuyên qua những lời van vái nguyện cầu vô hiệu quả và nghi thức cúng tế vô nghĩa lý, quả thật là vô ích.

Đức Phật là một người như chúng ta. Ngài sanh ra là một người, sống như một người, và từ giã cõi đời như một người. Mặc dầu là người, Ngài trở thành một người phi thường, một bậc siêu nhân, do những cá tính đặc biệt duy nhất của Ngài. Đức Phật đã ân cần nhắc nhở nhiều lần như vậy và không có điểm nào trong đời sống hoặc trong lời dạy của Ngài để chúng ta lầm hiểu rằng Ngài là một nhân vật vô sanh bất diệt.

Có lời phê bình rằng trong lịch sử nhân loại, “không hề có vị giáo chủ nào phi thần linh hơn Đức Phật, tuy nhiên, cũng không có vị nào có đặc tánh thần linh hơn Đức Phật”

Trong thời Ngài còn tại thế, Đức Phật chắc chắn được hàng tín đồ hết lòng tôn kính, nhưng không bao giờ Ngài tự xưng là Thần Linh.”

Hòa thượng W. Rahula cũng viết trong cuốn “What the Buddha Taught”, ni sư Trí Hải dịch như sau:

…“… Theo giáo lý của đức Phật, quan niệm bản ngã là một tín ngưỡng ảo tưởng sai lầm không đi đôi với thực tế và tạo ra tư tưởng có hại, cho là “ta” hay “của ta” như tham đắm, ích kỷ, dục vọng, luyến ái, thù hận, ác ý, tự kiêu, ngạo mạn, vị kỷ và các tật đố hoen ố khác, nhơ bẩn và rắc rối. Ðó là nguồn gốc của các phiền não trên thế giới từ những mâu thuẫn cá nhân đến chiến tranh giữa các nước. Tóm lại, vì quan điểm sai lầm nầy mà tất cả những tội lỗi trên thế giới đã xảy ra. “

Và :

…”…Sự khác biệt của tử và sanh chỉ là giây phút cuối cùng của tư tưởng: lúc tư tưởng cuối cùng của đời sống này tạo thành điều kiện cho tư tưởng đầu tiên trong cái gọi là đời sống kế tiếp, mà nói cho đúng ra, chỉ là sự tiếp nối một loạt như vậy. Trong chính đời sống của nó, cũng vậy, giây phút tối hậu của tư tưởng tạo điều kiện cho tư tưởng kế tiếp. Cho nên từ quan điểm của người Phật tử, câu hỏi về đời sống sau khi chết không phải là một huyền bí to lớn, và người Phật tử không bao giờ lo lắng về vấn đề này”.

 Thưa quý khán thánh giả,

Tóm lại, đạo Phật ra đời là do tâm Đại Bi của đức Phật, người đã bừng tỉnh khỏi cơn mê, đã Chứng Ngộ Thực Tại, đã biết được con đường ra khỏi mê vọng để trở thành bậc Toàn Giác, nên đã giơ cao ngọn đuốc Ánh Đạo Vàng cho chúng sinh noi theo mà cũng ra khỏi được cơn mê từ vô thủy, được giác ngộ giải thoát.

Sự giải thoát này hoàn toàn do sức mình, tự tu tự độ, không hề có sự cầu xin nào trong quan điểm của nhà Phật vào thời đó.

Khoảng năm trăm năm sau khi đức Phật nhập diệt, do một số bất đồng tư tưởng, và do nhu cầu phát triển, bộ phái Đại Thừa xuất hiện. Bộ phái này truyền bá qua các nước Tây Tạng, Trung Hoa, Triều Tiên, Việt Nam, là những dân tộc vốn đã có nền văn hóa thờ rất nhiều thần linh, nào là Sơn thần, Thủy thần, Thổ thần, thần sông Hà Bá, thần cây cổ thụ, thần gốc đa, ông bà Táo Quân, thần rắn, thần ba ba thuồng luồng, thần ông bình vôi, vân vân…

Vì nhà Phật đi tới đâu cũng dùng tinh thần hòa hoãn, uyển chuyển, tùy thuận chúng sinh, nên cũng tạm thời hòa nhập với dân địa phương mà cùng với họ tham dự những lễ lạc mà họ đã có từ lâu đời, rồi theo thời gian sẽ dùng giáo pháp để chuyển hóa họ một cách nhẹ nhàng. Có sinh hoạt chung với người dân địa phương thì các Sư Phật giáo mới có cơ hội soi rọi Ánh Đạo Vàng của nhà Phật cho họ.

Nơi nào mà có các bậc đạo sư chân chính thì càng ngày người dân càng tỉnh ngộ, những chuyện cúng sao giải hạn hoặc mê tín quàng xiên từ từ giảm bớt. Thức tỉnh được dân hay không là tùy theo sự sáng suốt, tinh thần tích cực và đức độ tu hành chân chính của vị Sư Phật giáo trong những ngôi chùa địa phương mà thôi.

Có một vài câu hỏi cũng thường được nêu ra trong những lúc thảo luận về đời sống tu trì của các tu sĩ Phật giáo, rằng:

– Tại sao có Sư ăn chay, có Sư ăn thịt cá?

Xin thưa rằng, vào thời Phật tại thế, tất cả các Sư đều chỉ đi khất thực, (tức là đến từng nhà dân chúng để nhận cơm của thí chủ cúng dường, gọi là trì bình), để ăn một bữa cơm vào lúc giữa trưa, gọi là Ngọ Trai. Thí chủ cúng gì thì các Sư ăn nấy, tuyệt đối không chọn lựa. Trong khi ăn không để tâm chạy theo sự ham thích hay chán ngán, không thưởng thức món ăn ngon hoặc dở, chỉ coi sự ăn uống là để đáp ứng nhu cầu cần thiết vừa đủ của cơ thể, ngõ hầu đủ sống mà tu hành cho tới đạt được quả vị Giác Ngộ. Như thế thực phẩm gồm những món gì, các Sư không quan tâm, trong bát có gì thì ăn nấy, không chọn lựa, và ăn luôn cả thịt cá, nếu trong bát có. Khi ăn giữ tâm tĩnh lặng, không biết tới mùi vị của món ăn là đúng pháp rồi. Nếp sống ấy vẫn còn được các nước tu theo Nam Tông duy trì.

Việt Nam chúng ta gồm có cả các chùa Bắc Tông (tức là Đại Thừa) và Nam Tông. Chùa Đại Thừa có bếp, các Sư đều tự nấu và ăn chay trường.

Trên đây, chúng tôi vừa trình bày sơ qua vài vấn đề căn bản của đạo Phật.

Nếu quý khán thính giả có điều thắc mắc, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com 

Thưa quý khán thính giả,

Vì thời giờ phát thanh có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý khán thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Tuệ Đăng