Archives

Danh từ thầy chùa, thầy cúng

Một vị thính giả có câu hỏi như sau:

Thưa quý Ban Biên Tập, 
Tôi thường nghe danh từ “thầy chùa”, “thầy cúng” để chỉ các vị sư. Nay đọc sách thấy có từ “đạo sư”, thiền sư”. Vậy những chức vụ này có gì khác nhau? Nếu muốn nói đến các vị sư ở chùa thì nên dùng từ nào cho chính xác? 
Xin cảm ơn ban Biên tập, 
Ngô văn An

Thưa quý vị và đạo hữu Ngô văn An,

Trước nhất, chúng tôi xin minh xác là từ ngữ “thầy cúng” không có trong Phật giáo. Trong một kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã có trích dẫn lời dạy của hòa thượng Tịnh Không về vấn đề cúng lễ cầu siêu, xin trích lại như sau:

…“… Trong Phật pháp, nói Phật sự là giúp đỡ dậy dỗ tất cả chúng sinh phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui, những sự việc này đều gọi là Phật sự. Vậy còn hiện nay thì sao?

Hiện nay thì thời gian tiếp xúc với kinh điển cơ hồ ít hơn, nhìn thấy trong cửa Phật phần nhiều đều là lấy kinh sám “Phật sự siêu độ người chết”, cho rằng đây là Phật sự. Cho nên vừa nghe nói đến tiếng “Phật sự” là rất dễ sinh ra hiểu lầm. Những việc siêu độ vong linh này ở trong Phật giáo xuất hiện rất trễ …, rất trễ. Thời xưa ở Ấn Độ chẳng có. Khi Phật giáo được truyền đến Trung quốc, lúc ban đầu cũng chẳng có. …”… 

Thưa quý vị, 

Như lời HT Tịnh Không dạy, vốn chẳng có những việc như thế, nhưng vì là đạo từ bi, nhà Phật có câu “tùy duyên phương tiện hóa độ chúng sinh”, cho nên khi đạo Phật truyền tới nơi nào thì bèn dùng những phương tiện sẵn có để truyền bá giáo pháp, ngõ hầu không gây mâu thuẫn với dân chúng tại địa phương. Do đó, dù đạo Phật không chủ trương cúng bái, cầu xin, nhưng khi tới những quốc gia theo đa thần giáo thì cũng tùy thuận chúng sinh mà lễ bái cho dân chúng, rồi sẽ nhân đó mà giảng giáo lý nhà Phật, rất minh bạch rõ ràng, là nếu muốn thăng hoa cuộc đời trong thế giới hiện tượng tương đối, thì sống theo quy luật nhân quả, “không làm việc xấu ác, siêng làm việc tốt lành”. Nếu muốn giác ngộ bản thể Chân Tâm, giải thoát hoàn toàn như đức Phật Thích Ca Mâu Ni, thì tu tập các pháp môn để “thanh tịnh tâm ý ”, như Thiền Nguyên Thủy, Thiền Đại Thừa, Thiền Tông, Tịnh Độ Tông, Mật Tông vân vân. Người dạy các pháp môn tu đó gọi là Thiền Sư, hoặc Đạo Sư, là thầy dạy đường lối tu, nói tắt là Sư, nghĩa là Thầy.

Về từ ngữ “thầy cúng”, Tự Điển Việt Nam của soạn giả Lê Ngọc Trụ giải thích là “tiếng gọi một cách mỉa mai những thầy chùa chuyên làm đám ăn tiền chứ không thiết gì đến kinh kệ, giáo lý nhà Phật”. Còn từ ngữ “thầy chùa” thì đó là tiếng bình dân. Những từ ngữ này đã không chính xác lại thiếu tính cách tôn trọng bậc tu hành, chúng ta không nên dùng để chỉ quý vị đạo sư.

Nhân đây, chúng tôi xin lược trích phần nói về Đạo Sư, trong cuốn Taming The Mind, tác giả là Ni Sư Thubten Chodron, dịch giả là thầy Thích Minh Thành.

Ni Sư Thubten Chodron là một nữ tu sĩ Phật giáo Tây Tạng, gốc người Hoa Kỳ, đã từng tu tập tại Ấn Độ và Nepal từ năm 1975. Bà đi khắp thế giới để dạy Phật pháp qua những lớp thiền quán, bằng những lời giảng dạy giáo lý và cách thực hành rõ ràng trong sáng. Cuộc đời tu hành và thuyết giảng của bà được đức Dalai Lama rất khen ngợi, rằng vì sống tại cả Tây phương và Đông phương, nơi bà tu học và giảng dạy Phật pháp, bà đã được nhiều truyền thống Phật giáo khác nhau nhiệt liệt hoan nghênh vì đã hóa giải được những sự hiểu lầm đôi khi xảy ra giữa họ. Điển hình như cuốn Taming the Mind này, mà trong đó bà chỉ cách tu tập để đạt được an lạc nội tâm do ứng dụng lời dạy của đức Phật từ bi. Ngoài cuốn Taming the Mind, bà còn viết nhiều sách như Buddhism for Beginners, Working with Anger, Open Heart, Clear Mind, vân vân. 

Ý kiến của Ni Sư Thubten Chodron về nội dung từ ngữ Đạo Sư như sau: 

…”… Một vị đạo sư đang sống có thể làm được những điều mà một quyển sách không thể làm, như: 

– trả lời các câu hỏi của chúng ta; 

– nêu gương tinh tấn trong việc hành trì theo giáo pháp bằng chính đời sống cụ thể hằng ngày; 

– khích lệ và tạo hưng phấn cho chúng ta trên con đường đạo; 

– và điều chỉnh những lệch lạc trong hành vi và trong quan niệm của chúng ta. 

Sách vở có thể làm phong phú thêm và mở rộng ra những điều gì mà chúng ta đã học từ nơi vị đạo sư nhưng những mối quan hệ tâm linh giữa chúng ta với những bậc hiền trí trên con đường đạo thì sách vở không thể thay thế được.

Khi chúng ta mới tìm hiểu Phật giáo, có lẽ chúng ta không có một vị đạo sư tâm linh riêng biệt nào. Như vậy là tốt. Chúng ta có thể học hỏi từ những vị đạo sư khác nhau và theo đó mà thực hành. Những người thích theo Phật giáo một cách tổng quát thì có lẽ không cần phải chọn lựa một vị đạo sư. Tuy nhiên sau một thời gian tinh cần tu tập thì người ta sẽ cảm thấy cần xây dựng nên mối quan hệ thầy trò với một vị đạo sư tâm linh. Nhờ vậy, người ta có thể nhận được những lời dạy bảo tâm huyết hơn.

Ngày nay có tình trạng nhiều vị xưng là đạo sư quá, mỗi vị đều có thể dạy lý thuyết này, hay lý thuyết khác, và đều có bề ngoài phô diễn tốt với mục đích được nhiều người theo. Nhưng nếu chúng ta là những người thành tâm cầu đạo, chúng ta sẽ cảm thấy không có lý thú gì trong sự phô diễn mang tính hình thức ấy. Điều mà chúng ta tìm cầu là thực chất chớ không phải phô diễn.

Có thể chúng ta phải tốn thời gian trong việc tìm kiếm và xác định vị đạo sư của mình. Khởi sự, chúng ta có thể tham gia những buổi thuyết giảng và học hỏi nơi những vị giảng sư, nhưng khoan xem vị nào là đạo sư tâm linh của mình. Việc này giúp cho chúng ta có thể xem xét những phẩm chất của những vị ấy và cũng xem xét khả năng của chúng ta trong việc thiết lập mối quan hệ. 

Không có lợi thế gì khi chúng ta chọn một vị đạo sư tâm linh chỉ vì vị này có nhiều chức tước, ngồi trên những ghế cao, mặc những bộ y trang trọng và đội những cái mũ uy nghiêm gây ấn tượng, vì những thứ đó đều có thể mua được. Chúng ta không nên dựa vào những hình thức bên ngoài mà nên tìm kiếm những phẩm tính tốt đẹp. Chúng ta cũng không nên chọn một người nào đó làm thầy, chỉ vì người ấy đã là thầy của bạn chúng ta. Chúng ta phải tự mình chọn lấy, dựa theo những phẩm chất và những tiếp xúc trực tiếp của chúng ta.

Trong Đại Thừa Lăng-già kinh, ngài Di lặc đã phác thảo ra 10 phẩm tính của một vị đạo sư tâm linh tuyệt vời. Đó là:

1. Có đạo hạnh thanh khiết. Vị đạo sư là gương sáng để chúng ta nương theo tu tập. Vì chúng ta cần phải chuyển hóa những hành vi, lời nói và tâm ý sai quấy, nên chúng ta phải khôn ngoan chọn vị thầy nào đã có tự thân chuyển hóa rồi. Vị thầy này sẽ dạy cho chúng ta cách để cải thiện bản thân và sẽ làm gương tốt cho chúng ta theo.

2. Có kinh nghiệm trong việc thiền định.

3. Có hiểu biết thâm sâu về giáo nghĩa liên quan đến trí tuệ. Ba phẩm chất đầu tiên này cho thấy rằng đây là một vị đã khéo tu tập Ba Pháp Môn dẫn đến giải thoát là Giới, Định và Trí Tuệ.

4. Có kiến thức uyên bác và nhiều kinh nghiệm tu tập hơn chúng ta.

5. Có lòng nhiệt tâm bền bỉ trong việc dạy bảo và hướng dẫn đệ tử. Nếu chúng ta chọn một vị thầy không ưa việc dạy bảo hay lười nhác trong việc hướng dẫn thì chúng ta sẽ không học được bao nhiêu.

6. Là vị đạo sư đầy đủ tư cách, có kiến thức uyên thâm về Thánh điển và chỉ dạy chúng ta những điều phù hợp với nội dung tư tưởng trong Thánh điển. Những vị nào tự sáng tác ra giáo nghĩa riêng, đi lệch hay đi quá xa những lời Phật dạy thì không thể nào chỉ cho chúng ta con đường để chứng ngộ được.

7. Có nền tảng tư tưởng chín chắn hay có thiền chứng về tánh không.

8. Có kỹ năng diễn đạt giáo pháp một cách rõ ràng và dễ hiểu.

9. Có động cơ là lòng từ ái và lòng bi mẫn vô lượng. Đây là điểm vô cùng quan trọng. Chúng ta không thể đặt niềm tin vào một người lấy việc dạy đạo để được kính trọng và lợi dưỡng. Thật là nguy hiểm khi chúng ta bị người như vậy làm cho lầm đường lạc lối; chúng ta sẽ hoang phí thời gian và rất dễ bị vương vào những hoạt động không trong sáng. Vì vậy, thật là quan trọng trong việc chọn người thầy có chí nguyện chân thật và thanh tịnh, một người thầy muốn làm lợi ích cho học trò và dẫn dắt học trò trên con đường giải thoát giác ngộ.

10. Có tính kiên nhẫn và sẵn lòng chỉ dẫn cho những người cần cầu học đạo dù họ thuộc bất cứ trình độ nào. Vì chưa phải là người hoàn hảo và còn những tâm thái nhiễu loạn như tham chấp và sân giận nên chúng ta vẫn còn phạm phải sai lầm. Chúng ta cần những vị thầy không bao giờ có ý từ bỏ học trò, những vị đạo sư có tính nhẫn nại và khoan dung cho học trò. Hơn thế nữa, chúng ta cần những vị đạo sư không thối chí khi học trò không hiểu được điều thầy muốn dạy. 
Không dễ dàng gì có thể tìm được những vị thầy có tất cả những đức tính trên. 

Trong trường hợp này thì những đức tính quan trọng nhất mà người thầy cần nên có là:

1. Có nhiều phẩm tính tốt đẹp hơn là khuyết điểm.

2. Xem trọng việc tu tập đạo hạnh để đạt được hạnh phúc trong tương lai hơn là thụ hưởng những cuộc vui trong hiện tại.

3. Có tấm lòng quan tâm đến người khác hơn là bản thân của mình.

Để biết được những phẩm chất tốt đẹp của thầy, chúng ta cần xem xét hành xử của thầy, nhận thức về Phật pháp của thầy và cách thầy chỉ dạy học trò. Không phải là sáng suốt khi hỏi một vị thầy dạy giáo lý: “Thầy đã chứng ngộ chưa?” Vì ngay cả khi đã chứng ngộ thầy cũng sẽ không cho chúng ta biết. Đức Phật cấm đệ tử tuyên bố cho công chúng biết những gì mà mình đã chứng ngộ được. Đức Phật muốn đệ tử của Ngài khiêm tốn và chân thành. Người phàm tục ngược lại muốn phô trương những thành tích của bản thân. Con người tâm linh không nên giống như vậy: mục đích của con người tâm linh là chế ngự tự ngã chớ không phải là khuếch đại nó.

Chúng ta có thể có rất nhiều thầy, nhưng chỉ có một vị là đạo sư tâm linh quan trọng nhất. Đó chính là vị mà chúng ta kính tin nhất và có thể giãi bày tất cả những gút mắc nghiêm trọng trong tâm hồn. Đó chính là bổn sư của chúng ta. Bổn sư có thể là vị đầu tiên khai tâm cho chúng ta trên con đường đạo, đã đưa chúng ta vào con đường thăng tiến tâm linh. Bổn sư cũng có khi là vị mà chúng ta cảm thấy thân thiết nhất.

Sau khi chọn được thầy rồi chúng ta nên tận tâm nghe theo những lời thuyết giảng của vị thầy đó về Chánh pháp để tu tiến trên con đường đạo.

Chúng ta nên quan tâm đến những nhu cầu trong đời sống của thầy để phục vụ và cung cấp cho thầy. Khi chúng ta nhận ra tấm lòng của thầy trong việc định hướng cho tâm thức chúng ta trên con đường đi đến hạnh phúc thì chúng ta sẽ cảm thấy sung sướng khi được giúp thầy. Vì thầy của chúng ta hành đạo để đem lại lợi lạc cho mọi người và để hoằng dương Phật pháp nên những đóng góp của chúng ta cho thầy sẽ rất là hữu ích.

Thật ra, sự cúng dường thù thắng nhất của chúng ta cho thầy là công phu tu tập theo Chánh pháp. Nếu chúng ta có tài của và vật chất, năng lực và thời gian thì chúng ta cũng có thể cúng dường. Tuy nhiên chúng ta không nên xao lãng việc tu tập vì việc tu tập mới chính là mối quan tâm hàng đầu của vị thầy tâm linh đúng nghĩa. Khi chúng ta nghe theo những lời thầy dạy và gìn giữ những giới điều mà chúng ta đã thọ lãnh thì đó chính là điều mà thầy của chúng ta cảm thấy hạnh phúc nhất so với tất cả những thứ khác.

Chúng ta xây dựng nên mối quan hệ với thầy ngõ hầu thăng tiến trí tuệ và trách nhiệm tự thân. Không phải là sáng suốt khi nghe theo lời thầy một cách mù quáng chỉ vì “người đó là thầy của tôi vì vậy tất cả những gì người đó dạy là đều đúng cả”. 

Chúng ta cũng không nên muốn được thầy ưu ái bằng những lời nói ngọt ngào nhưng không thành thật. Vị thầy tâm linh muốn cho mọi người đều được hoan hỷ, và vì vậy nếu chúng ta lấn át hay cư xử tệ bạc với người khác thì chúng ta đã làm ngược lại những lời thầy dạy. Nếu chúng ta xem trọng thầy của mình và khinh thị những người khác có nghĩa là chúng ta đã không hiểu chân nghĩa của đạo Pháp. Để đạt được ý nguyện thăng tiến trên con đường đạo chúng ta phải hành xử với thầy và với mọi người với tâm thành kính.

Mục đích của việc tìm cầu một vị thầy không phải là để làm thỏa mãn tự ngã của chúng ta mà là để diệt trừ vô minh và vị kỷ qua việc tu tập theo Chánh pháp. Khi thầy chỉ ra được những lỗi lầm mà chúng ta đã mắc phải thì chúng ta nên vui mừng. Bởi vì có quan tâm đến chúng ta đúng mức thầy mới có thể làm được như vậy. Thầy đã tin rằng chúng ta sẽ đón nhận lời khuyên bảo chớ không cảm thấy bị xúc phạm. 

Theo dòng thời gian mối quan hệ giữa chúng ta và thầy sẽ dần dần phát triển tốt đẹp. Mối quan hệ này có thể trở nên rất là quý báu vì thầy cho ta những lời dạy bảo và chỉ dẫn chân tình đầy từ bi và trí tuệ. Nhờ đó chúng ta sẽ thăng hoa được những phẩm tính tốt đẹp và có thể tẩy sạch những cấu uế của bản thân. Mối thân tình giữa chúng ta với vị đạo sư tâm linh, tức là vị thầy thật sự quan tâm đến phước lạc và thăng tiến tâm linh của chúng ta khác xa với những mối quan hệ giữa chúng ta với mọi người. Thầy của chúng ta sẽ tiếp tục giúp đỡ chúng ta, dù chúng ta có thăng trầm vinh nhục gì gì đi nữa. Điều này không có ý cho phép chúng ta hành động cẩu thả bất kể hậu quả. Điều muốn nói ở đây là chúng ta không cần phải có tâm trạng lo âu rằng thầy sẽ cắt đứt mối quan hệ với chúng ta nếu chúng ta phạm phải những sai lầm. Vị thầy tâm linh thật sự sẽ có tánh khoan dung và lòng từ ái và vì vậy chúng ta có thể tin tưởng hoàn toàn.

Khi chúng ta càng hiểu biết sâu xa về con đường đưa đến giác ngộ thì mối quan hệ thầy trò cũng càng thâm trọng vì tâm hồn của chúng ta đã có nhiều điểm tương đồng với tâm hồn của thầy. Ý chí tìm cầu giải thoát của chúng ta càng trở nên khẳng quyết và tâm xả thân bố thí cũng trở nên dũng mãnh hơn thì chúng ta cảm thấy càng gần gũi với thầy vì cả hai cùng chí hướng, cùng mục đích. Hơn nữa, chúng ta tu luyện được trí tuệ về không tánh thì chúng ta đoạn trừ được cảm giác cách biệt ta người nói chung; cảm giác cách biệt ta người có ra là do chúng ta mê lầm về tính hữu thể của hiện tồn. Khi chúng ta đạt được đạo quả giác ngộ thì sự chứng đạt của chúng ta không khác với sự chứng đạt của thầy….”…

Trên đây là định nghĩa của Ni Sư Thubten Chodron về phẩm cách của một vị Đạo Sư .

Liên Hương (ĐPK)

Nguồn: Chương trình phát thanh Thư viện Hoa Sen

.

 

Tâm cảm Lễ Vu Lan – Mother’s Day


Trong một dịp tham dự lễ mừng Mother’s Day tại nhà một người bạn, chúng tôi nghe thấy một bà khách thì thào với bà bên cạnh, giọng dè bỉu:

– Ui da, người Tây Phương cả năm mới có một ngày Mother’s Day để nghĩ đến mẹ, người Việt mình một năm 365 ngày đều là Mother’s Day, đều lo cho cha mẹ, đâu phải chỉ có mỗi ngày hôm nay mà phải bày vẽ, bắt chước họ, rõ thật là “phú quý sinh lễ nghĩa”!

“365 ngày đều là Mother’s Day, đều lo cho cha mẹ”, có thật là như vậy không ạ?

Xin thưa rằng chuyện đối xử với cha mẹ ngày nào cũng đẹp như Mother’s Day là chuyện xảy ra vào thời xa xưa, những người ngàn thu cũ đã làm như thế, chứ còn thời nay thì quả là rất hiếm hoi rồi. Hiếm hoi không hẳn là vì người thời nay không có hiếu bằng người thời xưa, nhưng là vì những điều kiện khách quan nó không còn cho phép chúng ta dành nhiều thời giờ cho cha mẹ nữa.

Có một vị thính giả gửi thư tới chúng tôi, tâm sự rằng gia đình ông có mẹ già, hai vợ chồng và 1 đứa con 3 tuổi. Mẹ ông hiện đang ở trong nursing home. Cụ thì vẫn còn tỉnh táo, vẫn còn đọc báo, nghe radio được. Nhưng một chân cụ bị liệt, phải đi xe lăn. Hai vợ chồng ông đều đi làm, cháu bé gửi nhà trẻ. Cụ thì không thể ở nhà một mình, cho nên ông phải gửi cụ vào nhà dưỡng lão để có người săn sóc, vài ngày một lần, tan sở làm ông ghé qua thăm mẹ.

Nhưng từ khi cụ vào nhà dưỡng lão thì tinh thần cụ sa sút hẳn đi. Nhân viên ở đó cho ông biết rằng cụ rất ít nói, thường nằm quay mặt vào tường. Ngày nào thăm mẹ, ông cũng đều buồn bã ra về, vì cụ cứ muốn gặp cháu bé và than rằng nhớ con nhớ cháu. Mà nơi gửi cháu bé thì lại không tiện đường và giờ giấc để ông đón cháu trước khi đi thăm mẹ. Ông hỏi chúng tôi có cách nào để trọn vẹn mọi bề thì cố vấn cho ông.

Hiện nay, những chuyện đại gia đình phải gửi cha mẹ già vào nursing home xảy ra rất nhiều. Cũng là vì hoàn cảnh của đời sống, thường là hai vợ chồng đều phải đi làm. Những nhà có cha mẹ già thì khi các cụ còn khỏe mạnh, lại được các cụ giúp đỡ trông nom cháu bé, hoặc đưa đón cháu đi học, các cháu bé vừa được hưởng tình thương yêu âu yếm của ông bà, mà ông bà cũng không cảm thấy lẻ loi, cô đơn và vô dụng lúc tuổi già.

Thế nhưng khi các cụ không còn khả năng tự lo cho mình, thì thật là đáng buồn cho cả các cụ và con cái. Đưa cha mẹ vào nursing home là chuyện chẳng đặng đừng, những người con có hiếu như ông thính giả kể trên, trong lòng đầy ắp nỗi áy náy, buồn bã và thương xót cha mẹ già, mà các cụ thì lại càng đáng buồn hơn khi tuổi đã cao, bỗng nhiên mất hẳn chỗ dựa tinh thần là con cái, mất niềm vui nghe cháu bé cười nói bi bô, một mình cô đơn ở nơi xa lạ.

Cho nên, khi cha mẹ còn sống, nếu có dịp nào làm gì cho cha mẹ, thì chúng ta cứ làm, ngày giỗ, ngày Tết, ngày sinh nhật, ngày Vu Lan mùa Báo Hiếu, hay bất cứ dịp nào, cứ nên gặp gỡ, vui vẻ với cha mẹ. Tuổi già sẽ ập đến với các người, ngày cha mẹ trở nên lẫn lộn, nhìn con mà hỏi “Ông, bà là ai?” rồi cũng đến thôi. Ngày đó dù có muốn đem bình hoa tặng, thì cha mẹ cũng chẳng còn nhận ra mình là ai nữa.

Nhân đây, xin kính gửi tới quý vị bài pháp của thày tỳ kheo Thích Thiện Minh về lễ Vu Lan và lòng hiếu kính cha mẹ.

Thày dạy rằng:

…“…. Nói đến Vu Lan là phải nói đến mùa báo hiếu; mùa mà những người con nam nữ nhớ đến công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ và muốn làm việc gì đó để đền ơn đáp nghĩa. Bởi vì công ơn cha mẹ quả thật trên đời này không có gì thiêng liêng bằng. Công ơn ấy đã thấm trong ta từ thuở tượng hình, đến với ta qua hơi ấm, qua bàn tay trìu mến, qua dòng sữa bổ dưỡng và qua giọng hát ngọt ngào.

Cha mẹ là hình ảnh đầu tiên mà ta nhìn thấy khi ta mở mắt chào đời và cũng là người làm cho ta nhớ mãi nụ cười, ánh mắt và hương vị yêu thương của cha mẹ dành cho mình.

Hơn nữa, nói đến cha mẹ là phải nói đến sự hy sinh cho các con cả cuộc đời và cả tâm hồn lẫn thể xác. Chính vì tình thương và lòng hy sinh cao cả như thế, phận làm con chúng ta phải hiểu để đền ơn đáp nghĩa với đấng sinh thành dưỡng dục ta nên người.

Về phương diện đền ơn cha mẹ, Đức Phật có dạy: “Dù là tại gia hay xuất gia, dù là Thanh Văn hay chư Phật đều có bổn phận đền ơn cha mẹ. Vì tâm hiếu là tâm Phật”.

Do đó, theo quan điểm của Phật giáo Nam tông, không hẳn chỉ là ngày Rằm tháng 7 âm lịch mới là ngày mà những người con phải làm cái gì đó cho cha mẹ đã quá văng, mà bất cứ lúc nào, giờ nào, ngày tháng năm nào đều cũng có thể làm cha mẹ vui lòng hoặc làm việc tích đức để hồi hướmg cho họ ở bên kia thế giới.

Đối với người tại gia cư sĩ, trong một đoạn kinh, Đức Phật dạy cách báo hiếu cha mẹ có những đoạn như sau:

— Phụng dưỡng cha mẹ : Tức phải hết lòng cung kính cha mẹ, không làm cho cha mẹ buồn khổ, không nói lời vô lễ mà thể hiện sự phụ dưỡng bằng tinh thần như thăm viếng cha mẹ trong những khi họ cô đơn, bệnh hoạn xế chiều; hoặc là sự cung phụng bằng vật chất như vật thực, thuốc thang, chỗ ở, y phục…

— Làm việc thay thế cho cha mẹ : Là chúng ta phải gánh vác tất cả những việc gì mà trước đây cha mẹ đã vì ta mà gánh chịu. Đây cũng là lẽ thưòng tình của đời sống xã hội, không riêng gì Phật giáo. Đã là người con trưởng thành thì cần phải làm thay thế cho cha mẹ, để cho cha mẹ có thời gian thụ hưởng những ngày nhàn rỗi cuối cuộc đời.

— Gìn giữ gia phong tốt đẹp : Là gìn giữ gia phong đạo đức tốt đẹp; lược bỏ đi những phong tục cổ hủ vô bổ cho gia tộc cũng như cho xã hội. Chẳng những thế, cần phải làm phát huy thêm những truyền thống tốt đẹp để làm vang xa tiếng tốt của gia tộc.

— Tạo phước hồi hướng khi cha mẹ đã quá vãng: Theo Phật giáo, khi cha mẹ còn hiện tiền thì người con phải làm sao cho cha mẹ luôn sống trong niềm an lạc hạnh phúc. Và khi cha mẹ đã quá vãng thì người con cần phải tạo thật nhiều công đức để hồi hướng phần công đức đó đến cha mẹ

Về phía người xuất gia, Đức Phật cũng cho phép nuôi dưỡng cha mẹ. Có một vị Tỳ Kheo chuyên đi khất thực nuôi cha mẹ; câu chuyện được bạch lên Đức Phật. Sau khi phán hỏi sự tình, Đức Phật chẳng những không quở trách mà còn hết lời tán thán hiếu hạnh của vị Tỷ Kheo. Ngài kết luận “Người nào muốn đạt đến cứu cánh Phật đạo, người ấy phải tuyệt đối hiếu kính cha mẹ”.

Lịch sử chép rằng, Đại đức Xá Lợi Phất, trước khi Niết bàn, cũng chọn căn phòng ngày nào Ngài đã chào đời và tìm đủ mọi cách để giảng đạo độ mẫu thân– vốn là tín đồ của Bà La Môn giáo — quay về quy ngưỡng chánh pháp. Và sau đó bà đắc quả Tu Đà Hoàn. Còn Đại đức A Nan Đa thì chọn dòng sông Kohinì làm nơi tịch diệt và Xá lợi của Ngài lại được chia đôi như ý nguyện, một phần đưa về hữu ngạn nội tổ, phần còn lại đưa về tả ngạn ngoại tổ. Thật là một đời sống hiếu hạnh trọn vẹn.

Tiêu biểu nhất là Đức Phật của chúng ta. Sau khi thành đạo, hay tin phụ vương lâm trọng bệnh, Ngài vội vàng cùng với chúng Tăng đệ tử trở về hoàng cung, ngự tại vườn Thượng Uyển, mỗi ngày Đức Phật vào cung vấn an phụ hoàng ba lần trong suốt thời gian vua cha thọ bệnh. Cuối cùng vua cũng đắc quả vị A La Hán. Khi vua băng hà, chính tự thân Đức Phật đã tắm rửa phụ hoàng, thay đổi xiêm y, làm lễ nhập kim quan; luôn cả ngày trà tỳ, Ngài cũng đưa tiễn kim quan với sự tiếp tay của chư Thánh tăng. Sau lễ trà tỳ Ngài thu nhặt Xá lợi phụ vương đem về làm lễ nhập tháp.

Trên đây là bài pháp của thày Tỳ Kheo Thích Thiện Minh. Chúng tôi cũng xin gửi tới quý thính giả thêm một hình ảnh nữa về bà mẹ, qua bức thư của đạo hữu Viên Diệu gửi tới, như sau:



… “….Tình cờ, trong lúc soạn tủ sách, Viên Diệu lượm được bài này. Nhân mùa Vu Lan, Viên Diệu xin gửi tới quý đạo hữu, để cùng ngậm ngùi với tác giả.

Bài này phần trên là Anh ngữ, phần dưới là Việt ngữ. Viên Diệu không được biết rằng phải chăng tác giả là người Việt Nam viết luôn hai thứ tiếng, hay là nguyên bản tiếng Anh do người ngoại quốc viết và có người Việt Nam nào đó đã dịch ra Việt ngữ. Sau đây là phần tiếng Việt:

KHI MẸ ĐI RỒI, ĐỜI CÓ NGHĨA GÌ ĐÂU !

 

-Khi con mở mắt chào đời, Mẹ ôm con trong cánh tay .
-Con cảm ơn Mẹ bằng tiếng khóc lèo nhèo không dứt.

-Khi con 1 tuổi, Mẹ cho con ăn uống, tắm rửa cho con.
-Con cảm ơn Mẹ bằng những đêm dài khóc lóc triền miên

-Khi con 2 tuổi, Mẹ tập cho con những bước đầu đời .
-Con cảm ơn Mẹ bằng ngoảnh mặt chạy đi khi Mẹ gọi .

-Khi con 3 tuổi, Mẹ nấu nướng thức ăn cho con với cả tấm lòng.
-Con cảm ơn Mẹ bằng xô cả cái mâm xuống sàn nhà

-Khi con 4 tuổi, Mẹ cho con vài cây bút mầu .
-Con cảm ơn Mẹ bằng vẽ đầy lên mặt cái bàn đẹp

-Khi con 5 tuổi, Mẹ mặc cho con quần áo đẹp để con dự những ngày lễ hội .
-Con cảm ơn Mẹ bằng vẩy ngay bùn đất lên áo .

-Khi con 6 tuổi, mẹ đưa con đến trường.
-Con cảm ơn Mẹ bằng kêu khóc “Con không muốn đâu”

-Khi con 7 tuổi, Mẹ mua cho con quả banh.
-Con cảm ơn Mẹ bằng cách ném nó vào cửa sổ nhà hàng xóm

-Khi con 8 tuổi, Mẹ mua cho con cây cà-rem.
-Con cảm ơn Mẹ bằng cách trây đầy vạt áo .

-Khi con 9 tuổi, Mẹ trả tiền cho con học đàn dương cầm.
-Con cảm ơn Mẹ bằng cách chẳng thèm tập dượt.

-Khi con 10 tuổi, Mẹ lái xe suốt ngày đưa đón con từ sân banh đến phòng tập thể dục, từ cuộc họp bạn này đến cuộc họp bạn sinh nhật khác.
-Con cảm ơn Mẹ bằng cách nhẩy ào ra khỏi xe mà không ngoảnh mặt nhìn lại .

-Khi con 11 tuổi, Mẹ chở con và các bạn đi xem xi-nê .
-Con cảm ơn Mẹ bằng cách yêu cầu Mẹ ngồi ở băng ghế khác.

-Khi con 12 tuổi, Mẹ không muốn con coi một vài chương trình nơi truyền hình.
-Con cảm ơn Mẹ bằng cách chờ cho Mẹ rời khỏi nhà.

-Khi con 13 tuổi, Mẹ muốn con cắt tóc vừa với dáng dấp của con.
-Con cảm ơn Mẹ bằng câu: ” Mẹ quê quá!”

-Khi con 14 tuổi, Mẹ trả tiền cả một tháng trại hè cho con.
-Con cảm ơn Mẹ bằng cách không viết cho Mẹ được một lá thư .

-Khi con 15 tuổi, lúc Mẹ đi làm về, muốn ôm con vào lòng.
-Con cảm ơn Mẹ bằng cánh cửa phòng đóng lại .

-Khi con 16 tuổi, Mẹ dậy cho con lái xe .
-Con cảm ơn Mẹ bằng cách tận dụng mọi cơ hội để lái xe đi biệt.

-Khi con 17 tuổi, Mẹ đang chờ một điện thoại quan trọng.
-Con cảm ơn Mẹ bằng cách ôm điện thoại suốt đêm dài .

-Khi con 18 tuổi, Mẹ xúc động thấy con xong được Trung Học.
-Con cảm ơn Mẹ bằng cách theo bạn bè vui chơi cho đến hừng sáng.

-Khi con 19 tuổi, Mẹ trả tiền chi phí Đại Học, chở con đến trường, giúp con với những túi vật dụng.
-Con cảm ơn Mẹ bằng cách chào từ giã Mẹ phía ngoài cửa phòng vì con không muốn bối rối trước mặt bạn bè.

-Khi con 20 tuổi, Mẹ muốn biết con đã có bạn trai chưa .
-Con cảm ơn Mẹ bằng câu :” Không phải việc của Mẹ”

-Khi con 21 tuổi, Mẹ đưa ý kiến về việc tương lai của con.
-Con cảm ơn Mẹ bằng câu :” Con không muốn sẽ giống y như Mẹ”.

-Khi con 22 tuổi, Mẹ muốn ôm con trong ngày lễ ra trường của con.
-Con cảm ơn Mẹ bằng câu hỏi: ” Mẹ có cho tiền để con đi du lịch Âu Châu không?

-Khi con 23 tuổi, Mẹ cho con bàn ghế khi con dọn vào căn gia cư đầu tiên.
-Con cảm ơn mẹ bằng câu :” Chúng xấu xí quá!”

-Khi con 24 tuổi, gặp người yêu của con, Mẹ hỏi :” Cậu có ý nghĩ gì về tương lai?”
-Con cảm ơn Mẹ bằng sự giận dữ, gầm gừ :” Thôi đi Mẹ!”

-Khi con 25 tuổi, Mẹ đã giúp cho chi phí về đám cưới của con, vừa rơi lệ, vừa nói: ” Mẹ rất thương con”.
-Con cảm ơn Mẹ bằng cách dọn đi xa nửa vòng đất nước.

-Khi con 30 tuổi, Mẹ gọi điện thoại với một vài lời khuyên về cách nuôi cháu
-Con cảm ơn Mẹ bằng câu: “Thời buổi bây giờ đã khác rồi”.

-Khi con 40 tuổi, Mẹ nhắc nhớ con về ngày sinh nhật của các thân nhân.
-Con cảm ơn Mẹ bằng câu trả lời :” Con rất là bận”

-Khi con 50 tuổi, Mẹ trở bệnh, già, yếu, cần sự giúp đỡ của con.
-Con cảm ơn Mẹ bằng kể lể về gánh nặng cha mẹ già đối với con cái …

Và rồi một ngày kia, Mẹ lặng lẽ qua đời .
Tất cả những điều con chưa hề làm cho Mẹ xẹt qua tâm trí con như tiếng sấm rền.
Hãy ru con … Hãy ru con suốt đêm dài …
Bàn tay Mẹ ru thủa con còn nằm trong nôi có thể ru cả thế giới này …
… Mẹ ơi !

.

 

Bài 34 – Hủ tục Đốt Vàng Mã

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý khán, thính giả.

Thưa qu‎ý‎ thính giả,

Chúng tôi nhận được thư của một thính giả hỏi về vấn đề đốt vàng mã, xin trích ra như sau:

…”… Vào mùa lễ Vu Lan của đạo Phật, người Trung Hoa và Việt Nam thường đốt rất nhiều tiền vàng và đồ dùng làm bằng giấy, gọi là hàng mã, để gửi xuống âm phủ cho người chết. Xin hỏi rằng phải chăng tục lệ này từ đạo Phật sinh ra, hoặc do đức Khổng tử dạy, hay là do tôn giáo nào mang vào Việt Nam? 

Thưa qu‎ý‎ thính giả,

Tìm hiểu l‎ý lịch vấn đề đồ vàng mã, có lẽ chúng ta phải nhìn ngược lại từ thời mông muội xa xưa, thời mà sự suy nghĩ của con người còn đơn sơ, mới chỉ biết sống túm tụm trong những bộ lạc, đồ dùng thì chỉ có dăm ba món tối cần thiết thí dụ lọ chứa nước, nồi niêu bằng đất, khí giới bằng đá, áo quần bằng da thú, vân vân …. Tóm lại, toàn bộ của cải vật chất chỉ là mấy món đồ đơn giản đủ làm vật dụng sinh nhai hằng ngày và bảo vệ mạng sống trước thú dữ và kẻ thù mà thôi. Ngành khảo cổ đã phát giác ra những ngôi mộ từ thời rất xa xưa, tại đó, lẫn với xương cốt là những món đồ dùng hằng ngày như nồi niêu vò nước vân vân, chứng tỏ chúng đã được chôn theo người chết.

Sau này, theo với đà tiến hóa, lịch sử chôn của cải theo người chết cũng trải qua những bước thăng trầm, có những hồi cực thịnh lên tới mức tối dã man như khi chôn hoặc thiêu cả đến những người còn sống mà sinh thời được người quá cố thương yêu hoặc có những thời nhờ lương tâm thức tỉnh một phần, người ta dùng người giả thay cho người thật, gọi là “mộc nhân thế mạng” (hình người bằng gỗ) hoặc “hình nhân thế mạng” (hình người đan bằng tre dán giấy bên ngoài),và đồ giả gọi là hàng mã thay cho đồ thật để đốt theo người chết. Tuy vậy, cái tư‎ tưởng “thế mạng” vẫn gợi lên hình ảnh dã man về sự giết người, nên Khổng Tử và Mạnh Tử đã nặng lời thống trách rằng: “Kẻ nào sinh ra tục chôn người gỗ theo với người chết là bất nhân” và “Kẻ nào dùng người bù nhìn là tuyệt tự”.

Như thế, vấn đề đốt đồ giả là vàng mã này đã có chiều dài lịch sử gần dài bằng lịch sử loài người, duy không phải trước sau đồng nhất mà biến thiên theo từng thời gian, thoát thai từ chôn đồ dùng thật, chôn sống người thật hoặc hỏa thiêu cho chết theo, hoặc dùng mộc nhân thế mạng, hình nhân thế mạng, dùng đồ bằng giấy thay đồ thật đốt cho người chết, tựu trung cũng từ niềm tin mê muội cộng với lòng xót thương người thân yêu qua đời một cách mù quáng, muốn cho họ có những tiện nghi như khi còn sống mà thôi.

Hành động dã man hỏa thiêu người còn sống trong tang lễ này, lịch sử Việt Nam còn ghi lại câu chuyện đáng buồn xảy ra ở thế kỷ 13, là chuyện Huyền Trân Công Chúa nhà Trần, được gả cho vua Chiêm Thành để đổi lấy 2 châu Ô L‎ý. Chẳng bao lâu vua chết, theo phong tục thì bà phải lên giàn hỏa thiêu chết theo chồng. Nhưng tướng Trần Khắc Chung đã cứu thoát đem về quê hương Việt Nam.

Theo cuốn Champaka số 1 – 1999, người Champa (tức là Chiêm Thành) coi sự việc này là quốc nhục và các vua Champa kế tiếp đã từng dùng vũ lực, vào các năm 1311 – 1312 -1317 – 1318 – 1326 và 1353, để yêu cầu Đại Việt trao trả cho vương quốc này hai châu Ô Lý nhưng không thành.

Sử gia Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt Sử ký Toàn Thư phê phán rằng:

Ngày xưa Hán Cao Hoàng vì nước Hung Nô nhiều lần làm khổ biên cương, mới lấy con gái nhà dân làm công chúa gả cho thiền vu. Kết hôn với người không cùng giống nòi, các tiên nho đã từng chê trách, song dụng ý là muốn binh yên, dân nghỉ, thì còn có thể nói được. Hán Nguyên Đế thì vì chúa Hung Nô là Hô Hàn Tà sang chầu, xin làm rể nhà Hán, nên lấy Vương Tường mà ban cho, cũng là có cớ. Còn như Nhân Tông đem con gái gả cho chúa Chiêm Thành là nghĩa làm sao? Nói rằng nhân khi đi chơi đã trót hứa gả, sợ thất tín thì sao không đổi lại lệnh đó có được không? Vua giữ ngôi trời mà Thượng hoàng đã xuất gia rồi, vua đổi lại lệnh đó thì có khó gì, mà lại đem gả cho người xa không phải giống nòi để thực hiện lời hứa trước, rồi sau lại dùng mưu gian trá cướp về, thế thì Tín ở đâu?

Trong trong Việt Sử Toàn Thư, nhà sử học Phạm Văn Sơn viết:

Việc tướng Trần Khắc Chung lập mưu đưa Huyền Trân trở về nước sau khi Chiêm Vương qua đời, dù sao ta cũng phải nhận là một việc bất tín đối với Chiêm Thành. Vậy thì phản ứng của nước Chiêm là lẽ dĩ nhiên và chính đáng.

Thưa qu‎ý‎ thính giả,

Như thế, niềm tin chôn hoặc thiêu người còn sống, — mà sau này dần dần thay thế bằng đồ giả, gọi là hàng mã, — để tiếp tục làm bầu bạn hoặc hầu hạ người đã chết ở thế giới bên kia không phải là từ đạo Phật hoặc đạo Khổng, mà vốn có từ thời đại cổ xưa, khi sự suy nghĩ của con người còn quá đơn giản.

Để qu‎ý‎ thính giả thấu triệt vấn đề này, chúng tôi xin trích đăng bài giảng của hòa thượng Thích Tố Liên, một vị danh tăng của Phật giáo Việt Nam. Ngài là một trong những cột trụ của Phong Trào Chấn Hưng Phật Giáo ở miền Bắc, trong việc thành lập Tổng Hội Phật giáo Việt nam trên Toàn Quốc và trong công cuộc thành lập Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới vào những năm giữa thế kỷ 20. Ngài vốn dòng dõi Nho gia, đi tu từ trẻ, Phật học và Khổng học đều uyên thâm. Hòa thượng dạy rằng:

…”… Ở đời, cái gì cũng phải có nguyên nhân mới có kết quả, tục đốt vàng mã cũng vậy.

Đọc kinh Dịch nhà Nho, chúng ta thấy rằng tục chôn người chết của người Trung Hoa về đời thượng cổ, một khi có người chết cứ để thế đem chôn, không quan không ván, lại cũng không khoanh phần mộ gì cả.

Đến đời vua Hoàng đế (2679 trước Tây Lịch) mới cho rằng: “Con cháu đối với ông bà, cha mẹ trong việc mai táng cẩu thả như thế là thiếu bổn phận”, bèn mới sai ông Xích Xương sáng chế ra quan, quách để chôn cất. Trải qua đời Hoàng đế, đến đời Đường Ngu, tục lệ chôn cất người chết vẫn chỉ có thế.

Nối nhà Ngu là nhà Hạ (2205 trước Tây Lịch), người Trung Hoa mới bắt đầu dùng đất sét nặn làm mâm bát, dùng tre gỗ làm nhạc khí, như chuông khánh, đàn sáo v.v… để chôn theo người chết. Các đồ vật đó được gọi là minh khí, hoặc gọi là quý khí, tức là những đồ vật đem chôn theo cho thần hồn người chết dùng ở âm phủ, lễ nhạc đối với người chết bắt đầu có từ đấy.

Đã chế ra đồ dùng cho người chết, tất nhiên phải có kẻ hầu hạ người chết, thế là người ta lại chế ra người bù nhìn bằng gỗ đem chôn theo người chết. Đến đời nhà Ân (1765 tr.TL), lại không dùng mâm, bát, đồ đất và nhạc khí bằng tre, gỗ để chôn theo người chết nữa, họ dùng toàn đồ thật chôn theo.

Đến đời nhà Chu (1122 trước Tây Lịch), người Trung Hoa đã bắt đầu văn minh hơn; cố nhiên lễ nhạc đối với người chết cũng được ăn nhịp mà tiến bộ, đối với người chết, đã được người sống phân ra giai cấp sang, hèn trong việc thực hiện lễ nghi chôn cất. Từ vua cho đến các quan lớn khi chết đi, sẽ được dùng cả đồ vật giả theo lệ nhà Hạ và đồ vật thật theo lệ nhà Ân để chôn theo các vua chúa đã chết; còn từ hạng sĩ phu tới bình dân, khi chết chỉ được chôn theo độc nhất một thứ đồ giả thôi. Nếu người hèn hạ nào mà dùng lễ nghi ngang với người sang, tức khắc phải tội “tiếm lễ”.

Không những thế, dã man nhất, độc ác nhất là người ta còn bịa đặt ra những “tuẫn táng”; nghĩa là khi các vua và các quan lớn chết đi, từ vợ con đến bộ hạ của các vua, các quan lớn, đồ yêu quý của người chết khi còn sống, sẽ phải đem chôn sống để làm đồ dùng khi đã chết.

Sách Tả Truyện chép: “Đời vua Văn Công thứ sáu, vua Trần Mục Công tên là Hiếu Nhân chết, ba anh em họ Tứ Xa là Yểm Tục, Trọng Hành và Chàm Hổ đều bị chôn sống theo Mục Công. Người trong nước tỏ lòng thương tiếc ba anh em họ Tứ Xa là người hiền đức, mới làm ra thơ Hoàng Diệu để tỏ ý than vãn, mỉa mai. Trong thơ đại ý nói: “Ba anh em họ Tứ Xa đều là những người hiền đức gấp trăm nghìn người khác, trời đất ơi! Sao nỡ đem chôn sống để đi theo người đã tận số là Mục Công. Nếu ba trăm người như chúng tôi này được chết theo Mục Công để thế mạng cho ba người hiền đức ấy, chúng tôi rất vui lòng mà chết thay”.

Về sau người ta cũng nhận thấy đem người sống chôn theo với người chết là vô nhân đạo, mới chế ra người cỏ Sô Linh. Rồi vì người cỏ không được mỹ thuật, người ta lại dùng đồ gỗ “mộc ngẫu” như trước. Sách Trang Tử chép: “Đời vua Mục vương nhà Chu (1001 trước Tây Lịch) có người tên là Yến Sư chế ra người cỏ để chôn theo người chết. Đức Khổng Tử đọc đến chuyện này liền than rằng: “Kẻ nào sinh ra tục chôn người gỗ theo với người chết là bất nhân”. Thầy Mạnh Tử cũng đau buồn với tục hình nhân thế mạng mà nguyền một câu rằng: “Kẻ nào dùng người bù nhìn là tuyệt tự”.

Đến thời nhà Hán, giới trí thức Nho học cảm động trước lời cự tuyệt thống thiết của Khổng Tử và Mạnh Tử trong tục lệ dùng người sống chôn theo với người chết, mới bỏ tục lệ “tuẫn táng”, không dùng người sống chôn theo với người chết nữa mà làm nhà mồ để cho vợ, con, tôi, tớ người đã chết ra để săn sóc mộ. Còn các đồ ăn mặc của người chết kia, khi còn sống dùng những thứ gì, khi chết cũng đem chôn theo hết. Ngôi nhà mồ kia muốn cho thêm oai vệ, người ta lại đục phỗng đá, voi, ngựa đá để bài trí chung quanh phần mộ.

Từ đời Hán Hoa đến năm Nguyên Hưng nguyên niên (105), ông Thái Lĩnh bắt đầu lấy cỏ cây dó và vải rách, lưới rách đem chế ra giấy. Đã có giấy, ông Vương Dũ liền chế ra vàng bạc, quần áo v.v… đều bằng đồ giấy để cúng rồi đốt đi để thay thế cho vàng bạc và đồ dùng thật trong tang ma, tế lễ. Sách Thông Giám cương mục chép: “Vì vua Huyền Tôn mê thuật quỷ thần mới dùng ông Vương Dũ làm quan thái thường bác sỹ để coi việc chế vàng mã dùng trong khi nhà vua có tế lễ. Chúng ta có thể liệt Vương Dũ vào hàng thủy tổ nghề vàng mã được”.

Trong Phật giáo, đức Phật Thích Ca không hề dạy đốt vàng mã để cúng gia tiên. Thế thì tại sao ngày Rằm tháng Bảy là ngày lễ trọng thể của Phật giáo, mà một số tín đồ nhà Phật đốt rất nhiều vàng mã để kính biếu gia tiên?

Nguyên nhân đốt vàng mã vào ngày rằm tháng Bảy là thế này, vào thời vua Đạt Tôn nhà Đường (762 Tây Lịch) bên Trung Hoa, nhằm lúc Phật giáo cực thịnh, một vị sư tên là Đạo Tăng muốn cho dân chúng theo Phật giáo, bèn lợi dụng tục đốt vàng mã của người dân, vào tâu với nhà vua rằng: “Rằm tháng Bảy là ngày của Diêm Vương ở âm phủ xét tội phúc thăng trầm, nhà vua nên thông sức cho thiên hạ, trong việc lễ cúng gia tiên vào ngày Rằm tháng Bảy nên đốt nhiều vàng mã để cúng biếu các vong nhân dùng.

Vua Đạt Tôn đương muốn được lòng dân nên rất hợp ý với lời tâu của Đạo Tăng, liền hạ chiếu cho thiên hạ. Thế là nhân dân Trung Hoa lại được dịp thi nhau đốt vàng mã vào ngày Rằm tháng Bảy để kính biếu gia tiên. Nhưng chẳng bao lâu lại bị giới Tăng sĩ Phật giáo công kích bài trừ, vì cho rằng việc đốt vàng mã vào ngày lễ trọng của Phật giáo đã làm cho cái lệ ngày Rằm tháng Bảy không còn có chính nghĩa nữa.

Phần lớn dân chúng Trung Hoa hồi đó đã tỉnh ngộ, cùng nhau bỏ tục đốt vàng mã, làm cho các nhà chuyên sinh sống về nghề sản xuất vàng mã gần như bị thất nghiệp, nhất là người tên Vương Luân, dòng dõi của Vương Dũ, đã bịa đặt chế ra đồ vàng mã.

Thất nghiệp, Vương Luân mới bàn cùng với các bạn đồng nghiệp âm mưu phục hưng lại nghề nghiệp hàng mã. Một người giả cách ốm mấy hôm, rồi tin chết được loan ra, còn cái xác giả chết kia lập tức được khâm liệm vào quan tài, đã có lỗ hổng và sẵn sàng thức ăn, nước uống. Đương khi xóm làng đến thăm viếng đông đúc, Vương Luân với gia nhân và họ hàng của ông, đem hàng ngàn thứ đồ mã trong đó có cả hình nhân thế mạng ra cúng người chết. Họ bày đàn cúng các quan thiên phủ, địa phủ và nhân phủ.

Trong khi mọi người đang suýt xoa khấn khứa, bỗng trăm nghìn mắt như một, trông thấy hai năm rõ mười, cỗ quan tài rung động lên. Bấy giờ, Vương Luân đã đứng sẵn bên quan tài. Chàng giả chết kia cũng lò dò ngồi dậy, trông trước, trông sau, mới bước từ quan tài ra, với điệu bộ như người chết đi sống lại, rồi thuật chuyện với công chúng rằng:

– “Các thần thánh trong tam, tứ phủ vừa nhận được hình nhân thế mạng cho tôi, với tiền bạc và đồ mã, nên mới tha cho ba hồn bảy vía của tôi được phục sinh về nhân thế”.

Công chúng lúc đó ai cũng tưởng thật, cho rằng hình nhân có thể thế mạng được và thánh thần trong tam, tứ phủ cùng ăn lễ đồ mã, tăng phúc, giảm tội và cho tăng thêm tuổi thọ.

Từ đấy các nghề hàng mã lại được phục hưng một cách nhanh chóng vì không những linh hồn các gia tiên dùng vàng mã, mà đến cả thiên, địa, quỷ, thần trong tam, tứ phủ cũng dùng đồ giả, thì dĩ nhiên là vàng mã phải đắt hàng. Chuyện này còn chép rõ ràng ở sách Trực Ngôn Cảnh Giáo.

Như thế, chúng ta nên thẳng thắn nhìn nhận rằng: “Bịa đặt ra tục mê tín, dị đoan, làm hình nhân thế mạng vào lễ tam, tứ phủ để đầu độc mê tín đến ngày nay là bắt đầu từ Vương Luân”. Người Trung Hoa đã bị cái bả mê tín vàng mã do Vương Luân đầu độc đến nay đã được gần hai ngàn năm. Dân tộc Việt Nam chúng ta mê tín cũng chẳng kém, vì trước đây chúng ta bị họ đô hộ hơn 1.000 năm. Phong tục của người họ như thế nào, người mình cũng dập theo đúng khuôn khổ như vậy, bất luận hay, dở, phải, trái, tà, chính. Đó là do cái tính cẩu thả, phụ họa của người mình.

Nếu chúng ta đã thừa nhận tinh thần của dân tộc Việt Nam đều nhờ Phật giáo và Nho giáo đào tạo nên, vậy thì xin hỏi giới trí thức Việt Nam: “Hiện tại có ai tìm thấy Phật giáo và Nho giáo dạy về thuyết đốt vàng mã ở kinh sách nào? Nếu không tìm thấy tục đốt vàng mã do Phật giáo hay Nho giáo truyền dạy, tôi xin thiết tha yêu cầu người Việt Nam ta bỏ tục đốt vàng mã đi, và khuyên mọi người cùng bỏ tục ấy.”

Thưa qu‎ý thính giả,

Trên đây là lời giảng dạy tha thiết của hòa thượng Thích Tố Liên. Ngài là bậc uyên thâm Phật học và Nho học. Ngài đã nghiên cứu kỹ lưỡng và quả quyết rằng tục đốt vàng mã không do đạo Phật hoặc Khổng Tử bày ra, mà từ rất nhiều nguồn gốc, tựu trung đều do thói tật mê tín.

Theo sách Trung Dung của nhà Nho, đức Khổng Tử dạy: “Kính kỳ sở tồn, ái kỳ sở thân, sự tử như sự sanh, sự vong như sự tồn”, có nghĩa là “dù cha mẹ đã qua đời, người con có hiếu vẫn nhớ lời dạy bảo của cha mẹ như khi các người còn sống, thương kính những người mà khi còn sinh tiền cha mẹ đã thương kính”. Được hỏi về vấn đề con người sau khi chết, Khổng Tử dạy: “Bất tri sinh yên tri tử” có nghĩa là “chưa biết rõ về đời sống làm sao biết về việc sau khi chết”. Được hỏi về cách ứng xử với quỷ thần, Ngài dạy: “Kính quỷ thần nhi viễn chi” , có nghĩa là “kính trọng quỷ thần, nên tránh xa”. Điều đó nói lên quan điểm nhân bản và thực tế của Không Tử, muốn đời sống trở nên tốt đẹp, tạo dựng hạnh phúc cho kiếp người, không lan man về những điều huyền hoặc xa vời.

Thưa qu‎ý‎ thính giả,

Chúng tôi xin cảm ơn qu‎‎ý vị đã gửi câu hỏi cho chúng tôi và mong ước được quý vị tin cậy mà gửi các câu hỏi tiếp theo. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.

Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 33 – “Hoa” trong cuộc đời

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi nhận được thư của bà Hoàng Ngọc Mỹ hỏi về một vấn đề thiết thực trong đời sống, xin trình bày với qu‎ý‎ thính giả để chúng ta cùng nhau thảo luận.

Kính thưa qu‎ý‎ vị,

Trong thư, bà Hoàng Ngọc Mỹ hỏi như sau:

“Mẹ tôi hiện đang bệnh nặng nằm trong nhà thương, có thể sẽ ra đi bất cứ lúc nào. Chúng tôi có người bạn là một Phật tử thuần thành cho biết rằng nếu trong tang lễ mà chúng tôi nhận đồ phúng viếng thì mẹ tôi sẽ mang nghiệp nợ nần, có nhận của người ta thì phải trả người ta, chết rồi không trả được thì những kiếp sau tái sinh sẽ phải trả tất cả những món nợ đồ phúng viếng đó, từ tiền bạc nhang đèn cho tới vòng hoa viếng mẹ tôi. Vì thế gần đây có những đám tang người ta ghi là “Xin miễn phúng điếu kể cả vòng hoa” là để người chết khỏi vướng vào nghiệp nợ nần.

Xin giúp ý kiến sớm để chúng tôi biết nên ứng xử thế nào, nhất là gia đình tôi đông anh chị em, bạn bè, thông gia nhiều, phần lớn theo lối xưa, rất tôn trọng nghi lễ, chắc chắn sẽ phúng điếu ít nhất là vòng hoa. Ngoài ra, chúng tôi có nên đặt sẵn trên bàn thờ cái hộp để đựng tiền và tấm giấy ghi rõ “Tiền phúng điếu sẽ tặng các hội từ thiện” để khỏi mắc nợ chăng?

Kính thưa qu‎ý thính giả và bà Hoàng Ngọc Mỹ,

Kinh Tăng Nhất A Hàm dạy “Tác Ý là Nghiệp”. Như vậy, chúng ta có thể tóm tắt rằng theo giáo l‎‎ý nhà Phật về Nghiệp thì “khởi Tâm, tác Ý là tạo Nghiệp”, ngược lại, nếu “không khởi Tâm, tác Ý thì không tạo Nghiệp.

Trường hợp người đã qua đời không Tác ‎‎Ý trong việc những người khác đến phúng viếng thì không hề tạo ra nghiệp, không gieo nhân trả quả gì cả.

Để qu‎ý‎ thính giả thấu triệt vấn đề Nghiệp, chúng tôi xin lược trích lời giảng của ngài Narada Maha Thera viết trong cuốn The Buddha and His Teachings, do cư sĩ Phạm Kim Khánh dịch như sau:

“Karma, Nghiệp, theo đúng nghĩa của danh từ, là hành động, hay việc làm. Định nghĩa cùng tột của Nghiệp là Tác Ý. Tư tưởng, lời nói, việc làm, thường khởi xuất do “ý muốn làm” tạo động cơ. Phật Giáo gọi ý muốn làm ấy là Tác Ý. Tất cả những hành động có tác ý, dầu biểu hiện bằng thân, khẩu, hay ý , đều tạo Nghiệp. Tất cả những hành động có tác ý, thiện hay bất thiện, đều tạo Nghiệp.

Đức Phật dạy:

“Nầy hỡi các Tỳ Khưu, Như Lai xác nhận rằng chính Tác Ý là Nghiệp. Do có ý muốn mới có hành động, bằng thân, khẩu hay ý “.

Một vài hệ thống tín ngưỡng cũng nhìn nhận rằng mọi chênh lệch trong xã hội đều do Nghiệp, nhưng khi đề cập đến Nghiệp, lại chủ trương rằng mọi hành động, dù có tác ý hay không, đều tạo Nghiệp.

Theo chủ trương ấy, một người giết cha, giết mẹ dầu cố tâm hay vô ý, đều phạm trọng tội như nhau. Cũng như đối với lửa, dầu vô tình hay cố ý thọc tay vào lửa thì phải bị phỏng như nhau, không hơn không kém.

Lập luận như vậy dĩ nhiên sẽ đưa đến một định thức phi lý. Đứa bé trong bào thai vô tình làm cho mẹ đau đớn, hay bà mẹ do vô ý làm đau đứa con trong lòng mình, chẳng lẽ cũng tạo Nghiệp bất thiện chăng?

Trong sự báo ứng của Nghiệp, Tâm là yếu tố tối quan trọng. Tất cả những việc làm, lời nói và tư tưởng đều do Tâm ảnh hưởng. “Khi không điều phục được Tâm tức nhiên không thể kềm chế được việc làm, lời nói, và tư tưởng. Điều phục Tâm tức kềm chế thân, khẩu, ý.”

“Chính Tâm dẫn dắt thế gian, chính Tâm lôi kéo thế gian; và tất cả mọi người đều làm chủ cái Tâm.”

Kinh Pháp Cú có câu:

“Tâm dẫn đầu mọi hành động. Tâm là chủ. Tâm tạo tác tất cả. Nếu nói hay làm với tâm ác thì do đó, đau khổ sẽ theo liền với ta như bánh xe lăn theo dấu chân con bò kéo xe.”

Trên đây là lời giảng của ngài Narada Maha Thera.

Thưa qu‎ý‎ thính giả,

Như thế, qu‎‎ý vị hẳn đã thấy rõ là theo giáo l‎ý‎ nhà Phật, người chết không Tác ‎Ý‎ vào việc mua vòng hoa phúng viếng, cho nên không vay nợ ai, sẽ không phải trả nợ ai.

Nếu nói rằng mỗi khi tặng quà cho ai là gieo nợ cho người ta hoặc nhận quà của ai là mắc nợ người ta, chưa kịp trả mà chết bất tử thì sẽ phải trả trong những kiếp lai sinh, thì có lẽ cả cái xã hội loài người sẽ phải xét lại rất nhiều vấn đề.

Thí dụ về vấn đề lễ nghi trong đời sống, người Việt Nam chúng ta vẫn còn duy trì một số tập tục theo truyền thống văn hóa, thí dụ tặng quà lẫn nhau nhân dịp Tết, tặng thân bằng quyến thuộc trà bánh trong lễ hỏi, tiền mừng trong đám cưới, quà mừng mới sanh em bé, tặng hoa mừng khai trương, hoặc theo các phong tục của người Tây Phương như tặng cha mẹ anh chị em áo quần đồ dùng đặc biệt trong dịp mở quà lễ Giáng Sinh, tặng quà tặng hoa mừng sinh nhật, mừng kỷ niệm nhân dịp gì đó, tặng hoa chào đón khách từ xa mới tới, chàng rể tặng hoa cho cô dâu, mở tiệc rượu mừng thăng chức, mừng họp mặt, rất nhiều cơ hội để tiêu tiền, với những món tiền lớn, những chai rượu đắt giá, những áo quần giầy dép theo thời trang lên đến năm bảy trăm hoặc hàng ngàn dollars.

Tất cả những chi tiêu kể trên đều là những chuyện hằng ngày trong đời sống xã hội, nhất là tại những nơi có nền kinh tế tương đối ổn định. Cùng với những chi tiêu đó, người ta cũng thiết lập những hội từ thiện, những nhóm thiện nguyện để làm những việc giúp đỡ người nghèo khổ, tật nguyền, những trường hợp cần thiết, thiên tai, động đất, bão lụt.

Việc giúp đỡ lẫn nhau trong xã hội là bổn phận của mọi người, động lòng trắc ẩn trước những hoàn cảnh thương tâm, gửi tặng phẩm giúp đỡ là việc bình thường, chính những việc đó cùng với mọi sinh hoạt phải chi tiêu tạo thành đời sống xã hội. Cho nên chúng ta không thấy những lời kêu gọi ngưng chi tiêu vào các việc kể trên để dùng tiền làm việc thiện. Bởi vì mọi việc đều có những l‎ý‎ do để tồn tại.

Tuy nhiên, trong khi không có ai thắc mắc đề nghị gì về tất cả các loại chi tiêu, dù đôi khi có thể coi là hoang phí, nhưng lại nổi lên những lời kêu ca than vãn, nhân danh làm việc thiện để đòi ngưng phúng điếu người qua đời.

Vậy phúng điếu có ‎ý nghĩa như thế nào trong văn hóa Đông Phương?

Thưa qu‎ý‎ thính giả,

Phần lớn phong tục tập quán về nghi lễ của dân tộc chúng ta bắt nguồn từ Nho học. Sách Trung Dung của Khổng Tử dạy rằng: “Thờ kính cha mẹ lúc chết rồi cũng như lúc còn sống, kính trọng những người cha mẹ đã kính trọng, qu‎ý mến những người cha mẹ đã quý mến”. Cho nên tang lễ cha mẹ thường được con cái lo liệu rất tươm tất, gọi là báo hiếu công lao dưỡng dục lần cuối, thậm chí suốt 3 ngày sau khi hạ huyệt, con cháu còn dựng lều ở lại ngoài mộ cho vong hồn cha mẹ khỏi bơ vơ sợ hãi.

Mới chỉ khoảng năm, sáu chục năm trước thôi, tang lễ cha mẹ còn được con cái cử hành rất long trọng. Chúng tôi nhớ lại dịp tham dự một tang lễ mà hình ảnh vẫn còn bàng bạc trong tâm.

Đó là tang lễ mẹ thầy hiệu trường trường Tiểu Học mà chúng tôi đang theo học lớp Nhì. Đám học trò chúng tôi chia thành từng nhóm nhỏ bước vào chiếu lạy 2 lạy và 1 vái, theo lời thày giáo dặn. Trong khi chúng tôi xụp lạy thì thày hiệu trưởng và các con đứng ngay bên cạnh bàn thờ cụ thân mẫu cũng xụp xuống lạy chúng tôi 1 lạy. Sau này ra ngoài, chúng tôi được thày giáo giảng cho biết rằng:

– Chúng ta lễ cụ 2 lễ không phải là lễ cái xác mà là vinh danh công đức cụ nuôi dạy con nên người đóng góp công ích cho xã hội là thày hiệu trưởng.  Thày hiệu trưởng đáp lễ không phải là lạy chúng ta mà là để trả hiếu đối với mẹ, cảm tạ sự cung kính của chúng ta khi vinh danh mẹ thày.

Không chỉ thân nhân người quá cố mang khăn tang mà hàng xóm và bạn bè thân tại các làng quê còn theo truyền thống văn hóa cổ cũng để tang nhau 3 ngày, cho tới khi hạ huyệt xong xuôi rồi mới cởi bỏ.

Như thế, sự phúng điếu đối với nền văn hóa Đông Phương mang những ‎ ‎ý nghĩa rất sâu sắc, là biểu tượng của tấm chân tình gắn bó từ trong gia đình ra tới ngoài xã hội, chòm xóm.

Truyền thống phúng viếng tiền là những cách tương trợ lẫn nhau trong trường hợp tang chủ thanh bạch, hoặc phúng điếu đối, trướng là dịp để viết lên những lời ca ngợi vinh danh người qua đời.

Ngoài ra còn có những hình thức phúng tiền, nhưng thực tế không phải là phúng điếu, mà là góp tiền để làm việc ân nghĩa, thí dụ trong tang lễ thày học thời xưa, thày đối với trò như cha đối với con, khi thầy qua đời thì bổn phận tất cả các học trò, dù nay đã làm quan lớn, hay chỉ là một người nghèo, cũng phải tùy tâm đóng góp để tang lễ thày được chu đáo. Hoặc trong các nhóm bạn bè, nếu có ai gặp chuyện tang chế, cần tiền gấp, thì xúm nhau lại góp thành một món, đưa cho tang chủ, đó là tiền tương trợ lẫn nhau.

Dần dần, cùng với sự tiến bộ trong tổ chức xã hội, người ta thành lập các hội tương tế như hội Quảng Thiện Tương Tế, hội Hợp Thiện Tương Tế, hội Việt Nam Tương Tế vân vân. Từ đó, sự đóng góp để tương trợ có quy củ và tiện lợi, mọi người gia nhập hội và khi cần sẽ có hội góp trả lại khoản tiền trang trải cần thiết.

Còn một loại phúng điếu trong trường hợp người qua đời là thân nhân của quan lớn, thì các thuộc hạ cũng đóng góp những món tiền, gọi là phúng điếu, nhưng đích thực là một hình thức hối mại quyền thế, những quan chức tham nhũng nhìn vào phong bao tiền gọi là phúng điếu đó để nâng đỡ cất nhắc cho thuộc hạ. Chuyện này không xảy ra nơi các quan thanh liêm vì họ từ chối không nhận phúng điếu bằng tiền.

Sau này, chuyện phúng điếu bằng tiền ít dần, vì trường hợp cần hỗ trợ tiền đã giảm bớt. Phúng đối, trướng cũng hiếm vì chỉ còn lại rất ít người biết đọc và viết chữ Nho. Thay vào đó người ta dùng vòng hoa phúng điếu. Trên mỗi vòng hoa có quàng một băng vải viết tên người hoặc nhóm người chia buồn với tang gia và lời chúc lành cho hương linh người quá cố.

Có thể tạm coi như vòng hoa phúng điếu làm nhiệm vụ của những bức trướng, đối, nói lên sự liên hệ cuối cùng giữa người còn sống với người đã chấm dứt sự sống, đã vĩnh viễn ra đi  không bao giờ còn gặp lại.

Thưa qu‎ý‎ thính giả,

Những nhận định đúng, sai, hay, dở, trong thế gian đều không phải là chân l‎ý‎ tuyệt đối, đều chỉ là quy ước trong từng xã hội, từng thời đại. Điều xã hội này, dân tộc kia cho là đúng, là phải, chưa chắc đã được các dân tộc khác hoan nghênh. Có những bộ lạc thời xưa khi gả con gái, họ được nhà trai bồi thường con bò, con trâu, rất thực tế, hợp l‎ý. Mất một lao động thì có lao động khác bù vào. Tục lệ đó còn kéo dài cho mãi tới hằng ngàn năm, chuyển dần từ con vật sống thành con vật làm món ăn, thành con heo quay dẫn cưới sau này.

Dần dần, trải qua một thời gian dài, nền văn minh của nhân lọai đã chuyển nếp suy nghĩ của loài người từ thuần vật chất, miễn có miếng ăn để mà sống, có hang động chui vào tránh mưa nắng, che thân để khỏi chết rét, trốn hùm beo thú dữ, nay đã tiến lên thành ra những nền văn hóa ẩm thực, những nền văn minh kiến trúc, nền nghệ thuật thời trang, lấy ngon, lấy đẹp, lấy ấn tượng làm tiêu chuẩn.

Từ suy nghĩ đó, chúng ta nhìn vào vấn đề “có nên nhận sự phúng điếu tiền và vòng hoa chăng?”

Trước nhất, chúng ta bàn về cái hộp đựng tiền phúng điếu đặt trên bàn thờ hoặc bên cạnh bàn thờ với lời cáo bạch “Tiền phúng điếu sẽ tặng các hội từ thiện”

Về điều này, chúng tôi xin thưa rằng nếu tang gia muốn dùng tiền phúng điếu để tặng hội từ thiện thì khi khách đến viếng tang đưa ra bao thư, cứ thản nhiên nhận rồi sau khi tang lễ xong xuôi, sẽ dùng số tiền đó làm việc thiện.  Tiền người ta đã phúng tang lễ thì thuộc quyền sở hữu của tang gia, muốn tiêu vào đâu hoàn toàn tùy ‎ý, không cần phải thông báo cho mọi người biết rằng “chúng tôi không dùng tiền của qu‎ý‎ vị mà sẽ đem tiền này làm chuyện từ thiện”. Đó là cách nói lịch sự, nhưng thực tế có nghĩa là “chúng tôi không cần tiền của qu‎ý‎ vị mà sẽ đem tiền này cho kẻ khó”.

Như thế thì quả thật đã phụ lòng người tới phúng viếng, muốn tỏ chút tâm thành với người đã khuất biết là bao!

Có người lại cho rằng để sẵn cái hộp như thế sẽ khuyến khích người khác làm việc thiện. Nếu với ‎ý‎ nghĩ đó mà để cái hộp trên bàn thờ người quá vãng thì quả là thiếu tế nhị, là mặc nhiên coi như khách chưa biết làm việc thiện, cần được một bài học. Thực tế, ngày nay có rất nhiều người đang âm thầm làm nhiều việc thiện mà không khoe khoang nên mọi người không biết, đó là cách bố thí ba-la-mật, bố thí Tam Luân Thể Không của nhà Phật.

Trong xã hội tân tiến ngày nay, chúng ta có rất nhiều cuộc gây qũy để làm việc thiện, đều rất đáng được hoan nghênh. Tuy nhiên, tang lễ là một nghi lễ vô cùng quan trọng, thiêng liêng, là giây phút đau đớn tử biệt sinh ly, những người thân yêu sẽ xa cách nhau muôn đời, chúng ta nên giữ bầu không khí trang nghiêm, thanh tịnh, không nên coi như một cơ hội để gây quỹ, để kiếm tiền.

Cũng nên tránh cảnh ngỡ ngàng cho khách đi viếng tang không định đưa tiền, nay nhìn thấy cái hộp đâm ra sượng sùng với cảm giác như mọi con mắt chung quanh bàn thờ đang nhìn mình coi có bỏ tiền vào hộp chăng, mà bản thân lại có thói quen dùng thẻ tín dụng khi chi tiêu, nên không đem theo tiền mặt để có thể bỏ đại vào hộp tờ giấy bạc cho khỏi ngượng.

Thưa qu‎ý‎ thính giả và bà Hoàng Ngọc Mỹ,

Tóm lại, chúng tôi xin góp ‎‎ý rằng:

Về tiền, bà có thể thông báo dứt khoát là “Xin miễn phúng điếu tiền mặt”. Trường hợp lỡ có ai cứ đưa tiền mà gia đình không cần dùng tới thì cũng cảm ơn người ta và để riêng ra, sau tang lễ sẽ lặng lẽ đem số tiền đó đi tặng các cơ quan từ thiện, như thế là bố thí ba-la-mật, không phải là bố thí vì muốn khoe khoang sự cao cả của mình, nói gọn là khoe khoang cái Tôi, cái Bản Ngã.

Cũng xin thưa rằng sẽ không có ai, kể cả người qua đời, phải trả nợ Nghiệp vì qu‎ý‎ vị không Tác Ý đòi ai đưa tiền. Tuy nhiên, trong xã hội con người với nhau, có qua có lại, người ta đưa lễ khi nhà mình có tang thì khi nhà người ta có tang mình cũng đưa lễ theo phép xã giao, không phải là trả nợ.

Về hoa, chúng tôi thiết nghĩ trong bất cứ lễ nghi nào cũng đều trang hoàng bằng hoa và nghi thức cúng bái bằng hương, gọi là hương hoa. Có người nói rằng vì đám tang chỉ có vài ngày là liệng bỏ hoa nên phí. Nếu nói như thế thì trong thực tế, có nhiều trường hợp hoa chỉ được dùng một thời gian ngắn hơn, thí dụ bó hoa chú rể tặng cô dâu, chỉ vài giờ là liệng bỏ, những xe hoa đi diễn hành ngoài đường phố mà giá thành mỗi cái lên đến hàng trăm ngàn dollars, có khi tới vài trăm ngàn, cũng chỉ dùng trong một ngày, hoặc những buổi lễ lớn tổ chức nơi công cộng dùng hoa để trang trí cũng chỉ tồn tại một ngày là tối đa, qua hôm sau hoa sẽ bị vứt bỏ khi quét dọn.

Trường hợp hoa trong nhà quàn, hoa đã làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng của kiếp hoa, là tỏa hương thơm ngát để thay thế người đã nằm xuống tiếp đón những người thân tới thăm nhau lần cuối cùng, rồi từ nay xa cách muôn trùng. Còn đâu nữa chén trà thân ái đưa vào tận tay nhau, còn đâu nữa nụ cười cảm thông trìu mến, tất cả đã qua đi, đã trôi vào dĩ vãng, chỉ còn quanh quất đâu đây hình bóng nụ cười của người quá cố bàng bạc trong không gian mênh mông bát ngát hương thơm.

Chúng ta nỡ nào tước bỏ những bông hoa tiễn biệt cuối cùng đưa người về nơi vĩnh cửu, có chăng thần thức còn phảng phất trong làn khói hương quyện với mùi hoa thoang thoảng, trong tiếng cầu nguyện êm đềm nhè nhẹ bên những người thương yêu đã xa cách ngàn đời.

Thưa qu‎ý‎ thính giả,

Chúng tôi xin cảm ơn qu‎‎ý vị đã gửi câu hỏi cho chúng tôi và mong ước được quý vị tin cậy mà gửi các câu hỏi tiếp theo. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.

Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 32 – Tác hại của Tây Du Ký

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

 Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi nhận được thư của ông Phạm Ngọc Tuấn, trong thư có câu hỏi xin nêu ra sau đây để chúng ta cùng nhau thảo luận::

“Trong lễ Hồng Danh Sám Hối, chúng tôi niệm danh hiệu “Nam mô Đấu Chiến Thắng Phật”. Theo truyện Tây Du, sau khi cùng với Sư Phụ là thày Huyền Trang sang Tây Trúc thỉnh kinh, ngài Tôn Ngộ Không được phong là Đấu Chiên Thắng Phật. Vậy Đấu Chiến Thắng Phật Tôn Ngộ Không này có phải chính là vị Phật trong kinh Hồng Danh Sám Hối không?”

Kính thưa qu‎‎ý vị,

Lời đầu tiên, chúng tôi xin cảm ơn ông Tuấn, vị thính giả đã nêu ra một câu hỏi rất đặc biệt. Nhân câu hỏi này, chúng ta sẽ có dịp thảo luận về một đề tài gây nhiều hiểu lầm trải dài nhiều thế kỷ và lan rộng tại nhiều vùng địa danh trên thế giới.

Thật vậy, tác phẩm Tây Du Ký đã được dịch ra nhiều thứ tiếng như Việt ngữ, Nhật ngữ, Thái ngữ, Anh ngữ, Pháp ngữ vân vân … và đã được nhiều đạo diễn dựng thành kịch bản, thành phim điện ảnh, do đó, nội dung Tây Du K‎‎ý đã tạo dấu ấn vào tâm tư của nhiều thế hệ và nhiều tầng lớp người thưởng ngoạn. Vì thế, chúng ta rất nên tìm hiểu coi dấu ấn và ảnh hưởng của cuốn sách này tác động vào tâm tư độc giả là tốt hay xấu và có lợi hay có hại cho người đọc.

Vậy Tây Du Ký là gì?

Đó là tên cuốn truyện do tác giả Ngô Thừa Ân sáng tác, chỉ dựa vào một chi tiết có thật độc nhất là «Tam Tạng pháp sư Huyền Trang được vua nhà Đường nước Trung Hoa cử sang Tây Trúc (tức là Ấn Độ) thỉnh kinh ». Từ chi tiết có thật đó, tác giả đã viết ra một câu chuyện hoàn toàn bịa đặt, hoang đường, xúc phạm sự tôn nghiêm của đức Phật, hạ thấp phẩm cách chư đại đệ tử Phật và nhất là bôi nhọ pháp sư Huyền Trang, khiến cho độc giả mất thiện cảm với giới tu hành nhà Phật, cản trở con đường tìm hiểu và tu tập theo Phật pháp một cách nghiêm túc.

Nếu tác giả dùng thể tiểu thuyết để hư cấu một câu chuyện thì không có gì đáng nói vì độc giả sẽ coi như đó chỉ là cuốn tiểu thuyết giả tưởng để giải trí. Nhưng vì ông dùng thể ký sự và lạm dụng tên nhân vật chính cùng với câu chuyện có thật là “Đường Tam Tạng thỉnh kinh tại Tây Trúc” trong sáng tác của ông, nên đã tạo ấn tượng vào tâm trí độc giả rằng đây là chuyện đã thật sự xảy ra, khiến cho có những người đã dùng cuốn Tây Du K‎‎ý như tài liệu để học tập, thảo luận, thậm chí có người đã viết thành những cuốn sách bình luận, ca ngợi vai trò của những con khỉ Tôn, con heo Trư trong truyện Tây Du, cố tình gán ghép triết l‎‎ý kiểu «gọt chân cho vừa giầy», gán cho cuốn sách những tư tưởng cao siêu một cách hoang đường đề cao hành động của mấy con vật hư cấu trong khi xóa tan công đức cao cả vĩ đại của ngài Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang.

Cũng vì sự xuyên tạc này của cuốn Tây Du Ký và sự suy tôn cuốn sách một cách vô trách nhiệm của một số người khiến đã nảy sinh những hiểu lầm, đưa tới giảm thiểu sự tôn kính Phật tổ Như Lai và chư Đại Đệ Tử, đồng thời cũng hiểu lầm luôn cả giáo lý nhà Phật cùng với lịch sử Phật giáo.

Cũng xin thưa với quí khán, thính giả rằng từ ngữ “pháp sư” trong nhà Phật có nghĩa là thày dạy Phật pháp, Tam Tạng Pháp Sư là vị thày thông suốt ba kho sách nhà Phật là Kinh Tạng, Luật Tạng và Luận Tạng, không phải là ông thầy có pháp thuật, bày đàn bát quái cúng kiếng quỷ thần, hô gió gọi mưa.

Trước hết, chúng tôi xin tóm tắt nội dung cuộc thỉnh kinh trong thực tế, đã được Tam Tạng pháp sư Huyền Trang ghi lại thành bộ sách “Đại Đường Tây Vực Ký”. Bộ sách này được hòa thượng Thích Như Điển dịch ra Việt ngữ, với lời đề tựa như sau:

“Bộ Đại Đường Tây Vực Ký này sở dĩ chúng tôi dịch trước vì nghĩ rằng chính đây là tấm bản đồ đầy đủ nhất, chi ly nhất mà đương thời từ năm 628 đến năm 645 tại Ấn Độ và Trung Hoa chưa có một người nào viết được một bộ Sử Phật Giáo như thế. Đây là kết quả của 17 năm trường mà Ngài Huyền Trang đã ở tại Ấn Độ. Đi đến đâu Ngài cũng ghi lại từ khí hậu, phong thổ cho đến tập quán và nhất là những câu chuyện liên quan đến cuộc đời đức Phật cũng như chư vị Bồ Tát, A La Hán.

Số nước mà Ngài đã đi qua là 110, ngày nay chúng ta có thể gọi là những tiểu bang, vì ngày xưa mỗi một vùng có một ông Vua nhỏ, hoặc tù trưởng đứng đầu. Còn ngày nay, Ấn Độ chỉ còn một nước mà thôi. Chung quanh đó có một số nước, ngoài Ấn Độ như Ba Tư, Kasmir, Tân Cương v.v… là những nước lớn ta có thể kể riêng. Nhưng tựu chung chỉ đi bộ và dùng voi ngựa mà vượt qua được những chặng đường dài gần 50 ngàn dặm ấy thì quả thật thế gian nầy chỉ có một không hai.

Nhờ bản đồ hành hương của Ngài qua truyện Đại Đường Tây Vực Ký này mà những học giả, những nhà Khảo Cổ người Âu Châu mới tìm đến Ấn Độ để xác nhận, tìm kiếm những di tích ấy vào cuối thế kỷ thứ 18 và cho đến nay thì bốn Thánh Địa căn bản của đức Phật từ khi Đản Sinh cho đến khi Thành Đạo, Thuyết Pháp lần đầu tiên và thị tịch Đại Bát Niết Bàn đã rõ ràng. Bây giờ các nhà Khảo Cổ  người Nhật Bản vẫn còn đang tiếp tục tìm kiếm các di tích cũ ngày xưa cách đây trên 2500 năm về trước. Tất cả đều nhờ vào công đức của Ngài Huyền Trang đã vẽ cho chúng ta một tấm bản đồ cách đây 1375 năm. Đây là tấm bản đồ cũ nhất trong tất cả những tấm bản đồ của thế giới hiện nay”.

Trên đây là lời xác nhận của hòa thượng Thích Như Điển về công trình thỉnh kinh của ngài Đường Tam Tạng. Ngoài ra, trong cuốn “Con Ngựa Già của Đường Tam Tạng“, nhà khảo cổ Vương Hồng Sển cũng viết như sau:

“Thực sự, Tây Du diễn nghĩa là một bộ truyện thần thoại, hầu hết sự kiện, tình tiết đều là bịa đặt.  Nhưng chuyện thầy Trần Huyền Trang (Tam Tạng) đi từ Ðông Ðộ qua thỉnh kinh tại Tây Phương lại là chuyện lịch sử có thật. Trần Huyền Trang là một nhân vật có thật trong lịch sử nhà Ðường. Ông tên thật là Trần Vỹ, sanh vào năm thứ 16 đời Tùy Văn Ðế Dương Kiên (596 sau TL) tại huyện Câu Thi (hiện là Huyện Yêm Sư) Tỉnh Hà Nam. Và chuyện thỉnh kinh Tây Phương cũng là chuyện có thật, đã được chính Huyền Trang thuật lại rất cặn kẽ trong bộ “Ðại Ðường Tây Vực Ký”. Thầy chính là một nhân vật sống đã vào lịch sử một cách vinh quang. Thầy từng làm bề tôi cho vua Ðương Thái Tôn (Lý Thế Dân) là bậc minh quân đem lại hiển vinh cho lịch sử Trung Quốc.

Sự thực thầy Huyền Trang chỉ đi một mình, cỡi một con ngựa già làm chân. Ông đi và ở suốt 17 năm bên Tây phương, gồm 2 năm đi, 2 năm về và 13 năm ở lại du học tại Ấn Ðộ. Ði từ năm 629 mãi đến năm 645 (thế kỷ thứ 7 sau Tây Lịch) mới về đến thành Trường An (Trung Quốc). Tính ra Huyền Trang đã rời Ðại Ðường đến 17 năm, đi trên năm vạn dặm đường, qua 128 quốc gia lớn nhỏ. Khi về, ông đã mang về:

– 150 viên xá lợi (tinh cốt của Như Lai).
– 2 tượng Phật gỗ đàn tô ngân cao 4 thước (một thước ngày xưa dài 40 centimetres)
– 3 tượng Phật bằng đàn hương : cao 3 thước rưỡi, 2thước 9 và 2 thước 3.
– 657 bộ kinh
– cùng một số bảo vật khác nữa, phải dùng voi, lạc đà và 24 ngựa mới chở hết.

Trong thời gian mười ba năm lưu trú tại Ấn độ, thầy đi viếng hầu hết các di tích của đạo Phật, đặc biệt nhất là thầy ở lại chùa Na Lan Ðà, học đạo trong sáu năm. Tất cả những kinh điển của phái Ðại Thừa, Tiểu Thừa, Kinh Phệ đà (Veda), các sách thuốc, sách thiên văn, địa lý, kỹ thuật v v… đều tập trung tại chùa này. Chùa do pháp sư Giới Hiền chủ trì và pháp sư có đến trên mười ngàn tín đồ theo học đạo.

Sau sáu năm học tập, thày Huyền Trang trở nên một trong ba người học trò giỏi nhất của vị cao tăng Giới Hiền.

Chẳng những là một nhà sư đạo đức, thày Huyền Trang còn là một học giả uyên thâm, một nhà du thám kỳ tài, một nhà sử học uyên bác, một nhà địa lý học chơn tài, một nhà ngôn ngữ học xuất chúng, nhất là một nhà phiên dịch giỏi không ai bằng. Lúc còn ở Tây Trúc, đi đến đâu, thầy cũng nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình từng địa phương. Khi về Trường An, thầy viết lại thành bộ Ðại Ðường Tây Vực Ký, gồm 12 quyển, trong ấy ghi lại đầy đủ lịch sử, địa lý, phong tục, tập quán v.v. của những nước đã trải qua hoặc từng trú ngụ. Ngày nay, những tài liệu của thầy để lại vẫn còn giúp ích rất nhiều cho các chuyên gia khảo cổ Ấn Ðộ và bất kỳ ai ngày nay cũng công nhận những điều nghe thấy và ghi chép của thầy Huyền Trang rất là đích xác.

Từ ngày về Trường An, thầy Huyền Trang bắt tay vào công việc phiên dịch. Suốt mười chín năm ròng rã, từ năm 645 đến năm 664, thầy dịch được tất cả 75 bộ kinh, khoảng 1335 quyển từ tiếng Phạn dịch qua Hán tự, bộ Ðạo Đức Kinh và một bản dịch “Ðại Thừa Khởi Tín Luận” từ chữ Hán ra chữ Phạn, cùng để lại cho đời một bộ “Ðại Ðường Tây Vực ký” .

Trưa ngày mồng 5 tháng 2 năm 664, thầy Huyền Trang gác bút nghìn thu tại chùa Ngọc Hoa, thọ 69 tuổi. Ngày 14 tháng 4 thi hài thầy Huyền Trang được an táng tại Bạch Lộc Nguyên. Ngày cử hành tang lễ có đến một triệu người ở Trường An và các vùng lân cận đến để tiễn đưa thầy. Ðám táng xong, có đến ba vạn người cất lều cư tang gần mộ phần. Từ xưa đến nay chưa có vị đế vương nào được ngưỡng mộ sùng bái bằng vị Thánh Tăng có một không hai này”.

Trên đây là lời xác nhận của học giả Vương Hồng Sển, nhà khảo cổ danh tiếng của miền Nam Việt Nam.

Thưa qu‎ý khán, thính giả,

Như thế, câu chuyện ngài Tam Tạng pháp sư Huyền Trang sang Tây Trúc thỉnh kinh đã thật sự xảy ra vào thời đại nhà Đường. Duy chi tiết về công cuộc thỉnh kinh gian khổ thì hoàn toàn khác hẳn với những sự mô tả trong cuốn Tây Du K‎‎ý do Ngô Thừa Ân viết.

Vì vậy, để mọi sự được minh bạch, chúng tôi lần giở lại trang sử Phật giáo để kính gửi tới qu‎ý khán, thính giả nội dung chính xác về người thật việc thật, về nhân vật lịch sử Đường Tam Tạng, vị cao tăng đã một mình một ngựa từ kinh đô Tràng An nước Trung Hoa lặn lội vượt qua 50 ngàn dặm đường tới Ấn Độ thỉnh kinh. Sự việc được ghi lại rõ ràng trong cuốn Đại Đường Tây Vực K‎‎ý. Khi đó là vào thế kỷ thứ 7.

Gần một ngàn năm sau, vào khoảng cuối thế kỷ thứ 16, tác giả Ngô Thừa Ân sáng tác cuốn Tây Du K‎ý dựa vào một sự thật độc nhất là pháp sư Huyền Trang sang Ấn Độ thỉnh kinh, ngoài ra, tất cả các chi tiết thí dụ 3 đệ tử là Tôn hành giả, Bát Giới và Sa Tăng cùng các hành vi huyền bí bất thường của họ đều là do tác giả hư cấu.

Chúng tôi xin lược trích ‎‎ý kiến của thày Thích Nhật Từ, chủ biên thư viện điện tử Đạo Phật Ngày Nay như sau:

“… Theo Tây Du K‎ý‎‎ thì chính Phật Tổ Như Lai và Bồ-tát Quán Thế Âm đã bắt giam Tôn dưới chân núi Ngũ Hành ngót 500 năm dài và cũng chính Phật Tổ Như Lai và Bồ-tát Quán Thế Âm một lần nữa tạo ra 81 nạn cho 4 thầy trò Ðường Tăng, để rồi dẫn đến kết thúc của tác phẩm chẳng có nghĩa lý gì: “Như Lai là người chủ mưu cuộc hối lộ cái “bát vàng” trước khi giao chân kinh có chữ về Ðông Thổ”.

Trong truyện Tây Du K‎‎ý, Phật Tổ Như Lai chủ mưu cuộc hối lộ bằng cách “ném đá dấu tay,” ra lệnh cho hai tôn giả Ca-diếp và A-nan-đà, những vị thánh tăng hàng đầu trong hàng đệ tử Phật, đòi “quà thông cảm” với bốn thầy trò Ðường Tăng. Ðiều đó đã làm cho ba vị đồ đệ cương trực của Ðường Tăng bất bình. Nhưng vì thấy tôn giả Ca-diếp và A-nan-đà “xuống nước nhỏ” (nhưng thật chất là đánh lừa), cả ba vị đã hỷ xả mà không làm lớn chuyện! Bốn thầy trò tưởng mọi việc êm xuôi, hớn hở đem kinh về. Gần về đến Ðại Ðường thì bổng đâu chim Ðại Bàng của Phật Di-lặc cướp bay lên không, rồi sau đó bỏ xuống đất. Lúc đó, thầy trò Ðường Tăng mới vỡ lẽ ra là kinh mà họ khổ công mang về là “kinh vô tự.”

Cái gút “kinh vô tự và kinh hữu tự” mà tác giả dựng lên không mang dụng ý thiền học như nhiều người đã cố tình lý giải. Thật ra, nó nhằm tạo ra thái độ căm phẫn của độc giả đối với đức Phật và Bồ-tát, thông qua đó, bôi bác, xuyên tạc Phật giáo. Tôi cho rằng Ngô Thừa Ân đã xúc phạm một cách trịch thượng đến đức Phật, các vị Bồ-tát và các vị thánh tăng. Những điều gì mà đức Phật khuyên người ta nên từ bỏ, xa lìa thì Ngô Thừa Ân lại đem những cái đó gán lên đức Phật”.

Trên đây là ‎ ‎ý kiến của thày Thích Nhật Từ, chủ biên thư viện điện tử Đạo Phật Ngày Nay.                 

Kính thưa qu‎ý‎ vị,

Như chúng tôi đã từng thưa rằng đạo Phật xuất hiện trên đời khởi nguồn từ sự giác ngộ thực tại của đức Phật. Ngay sau khi bừng tỉnh, Ngài trực nhận ra rằng : “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và đều có khả năng giác ngộ như Ngài“. Từ đó cho tới suốt gần 50 năm, đến tận ngày cuối cùng trước khi nhập Niết Bàn, Ngài đã tận tụy đi khắp nơi để truyền dạy giáo pháp, với nguyện vọng là “Mọi chúng sinh đều được giác ngộ giải thoát, đều thành Phật như Ngài.”.

Tuy nhiên, kinh nghiệm chứng đắc của Ngài là do thực tập, không phải là l‎ý‎ thuyết suông mà đạt được, cho nên nếu ai chưa từng hành trì các pháp môn tu thì sẽ thấy rất khó hiểu.

Vì thế, nhà Phật tạm thời phân sự tu tập thành 2 giai đoạn, giai đoạn thứ nhất là “Không làm điều xấu ác” và ” Siêng làm đều tốt lành”. Giai đoạn tu này để chuyển hóa nghiệp xấu thành nghiệp tốt, cùng với các tôn giáo và các nền giáo dục tạo dựng một xã hội lành mạnh, bớt khổ đau, tạo cơ duyên lành cho sự tu giải thoát sau này.

Sau đó, qua giai đoạn thứ nhì là “Tự thanh tịnh tâm ‎‎ý”. Đây là lúc hành giả buông xả hết tất cả mọi bám víu vào thế gian để tiến tới giác ngộ giải thoát như đức Phật.

Hai giai đoạn tu này thuộc về hai chân l‎‎ý, là đối với chân l‎ý‎ quy ước, có phải trái, hay dở, tốt xấu tương đối với nhau thì chuyển hóa từ xấu thành tốt. Nhưng qua giai đoạn “Tự thanh tịnh tâm ‎ý‎” là giai đoạn vượt lên trên cả sự phân biệt tốt xấu, thánh phàm, hay dở, tiêu dung Tham Sân Si, gọi là cảnh giới Bất Nhị, tạm gọi là Chân L‎‎ý Tuyệt Đối, là giai đoạn tu xuất thế gian, mới chính là bản hoài của đức Phật mong mỏi cho chúng sinh đạt tới.

Như thế, hai giai đoạn tu hành rất rõ ràng. Tuy nhiên, nếu không đi sâu vào giáo l‎‎ý và hành trì của nhà Phật thì người ta có thể hiểu lầm, thí dụ cho rằng đạo Phật là “thế lưỡng phân”, hoặc cho là “đạo Phật thì phải phá chấp”. Truyền bá sự hiểu lầm như vậy sẽ gây hoang mang cho quần chúng độc giả, khiến cho có những người luôn luôn chép miệng phê phán “chấp quá, chấp quá”, cho là phải vứt bỏ những quy luật sống của xã hội thì mới là “sống thiền”. Đó là một sự lầm lẫn rất đáng tiếc.

Thực tế, hai giai đoạn tu này có những mục tiêu khác nhau và đường lối tu cũng khác nhau, tạm ví như người họa sĩ khi mới tập vẽ cũng phải dùng thước đo để tạo ra những hình ảnh đầu tiên. Nhưng khi đã qua giai đoạn sơ đẳng, họ phải buông thước, hoàn toàn phóng bút theo cảm quan, hai giai đoạn đó không thể lẫn lộn. Hoặc em bé chưa biết đi thì phải theo quy luật, dùng xe tập đi giúp em đứng vững, khi biết đi rồi thì bỏ xe. Chưa biết đi mà bỏ xe thì em bé sẽ té ngã.

Người tu hành trong giai đoạn chuyển xấu thành tốt thì phải nghiêm chỉnh tuân theo giới luật. Khi đã qua giai đoạn buông xả được mọi chấp trước Tham Sân Si thì mới có thể phá chấp, tự tại trong cảnh giới Bất Nhị. Đó là lúc vượt lên trên mọi quan điểm về Thánh Phàm, là lúc “Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt” (chấm dứt nói năng, nơi tâm suy nghĩ ngưng bặt).

Ở trên, chúng tôi đã nêu ra những lời minh xác của các bậc tôn túc về con người và hành trạng của vị cao tăng là Đường Tam Tạng, qu‎‎ý vị hẳn đã thấy rõ con người ấy hoàn toàn không giống chút nào với Đường Tam Tạng trong Tây Du K‎ý. Và trên thực tế, không hề có 3 đệ tử là Tôn hành giả, Bát Giới và Sa Tăng đi cùng, mà là ngài đi thỉnh kinh một mình.

Thế nhưng trong Tây Du K‎‎ý, Ngô Thừa Ân đã bôi nhọ hình ảnh vị cao tăng, thí dụ để cho tên đồ đệ hư cấu là con khỉ mắng vị Tam Tạng pháp sư (người thông suốt 3 kho Kinh, Luật và Luận)  rằng “ngay đến bài kinh Bát Nhã có 270 chữ nói rằng “vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ýmà thầy cũng không nhớ“, hoặc đưa ra hình ảnh Đường Tam Tạng rất tàn ác, đã dối trá để đánh lừa Tôn hành giả đội chiếc mũ có vòng kim cô rồi sau đó thường nghe lời gièm pha của Trư Bát Giới mà đọc “khẩn cô nhi chú” siết vòng kim cô vào đầu tên đệ tử tận tụy là Tôn hành giả khiến cho hắn đau đớn rên siết lăn lộn kinh hoàng… vân.. vân…

Thưa quý khán, thính giả và ông Phạm Ngọc Tuấn,

Đến đây, qu‎‎ý vị đã thấy tất cả câu chuyện Tây Du K‎ý và các nhân vật như Tôn hành giả, Bát Giới, Sa Tăng là hoàn toàn bịa đặt, hoang đường, không có trong thực tế.

Chúng tôi cũng xin thưa rằng câu “Nam Mô Đấu Chiến Thắng Phật” trong Hồng Danh Sám Hối là trích từ kinh Đại Bảo Tích, tôn xưng đức tu hành chân chính, chiến thắng được Tham Sân Si của bản thân, phá trừ được Ngã Chấp, thoát được mọi khổ não trong biển sinh tử, không liên hệ gì tới con khỉ trong câu chuyện bịa đặt Tây Du K‎ý do Ngô Thừa Ân sáng tác.

Nhà Phật không kêu gọi hành giả tu Phật chiến đấu với mọi người hoặc mọi thế lực bên ngoài mà phải luôn luôn thức tỉnh, tự thanh lọc tam độc Tham Sân Si, tự chiến đấu với bản thân để tiêu dung Bản Ngã, hóa giải lòng vị kỷ, sự thù hận và si mê. Hoàn tất quá trình tu chứng đó là trở thành Đấu Chiến Thắng Phật.

                                                                                                        Thưa qu‎ý‎ khán, thính giả,

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.

Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Tuệ Đăng (ĐPK)

Bài 31 – Ba lọai Bố Thí: Tài Thí, Pháp Thí và Vô Úy Thí

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Trong một kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình với quý vị rằng do thấu triệt Tứ Diệu Đế, đức Phật cũng phát hiện ra rằng Tham Lam và Ái Nhiễm là nguyên nhân của Khổ, là lý do chính đã nhận chìm con người trong vòng sanh tử luân hồi.

Tham lam và ái nhiễm đưa tới thói gom góp, tích lũy từ vật chất tới tình cảm, chỉ muốn mọi thứ là của riêng mình, của thân nhân mình, của bè đảng mình, của đất nước mình, vân vân. Thói tật này phát sinh từ niệm vô minh đầu tiên, mà thuốc chữa là xả bỏ, hoặc còn gọi là bố thí.

Vì thế, người nào muốn đi trên con đường sáng dưới Ánh Đạo Vàng thì phải thực hiện hạnh tu xả bỏ, từ xả bỏ những điều tương đối dễ xả bỏ như của cải vật chất, danh vọng, rồi tới điều khó xả bỏ hơn như tình cảm tinh thần.

Chỉ có xả bỏ thì tâm mới không bị ràng buộc loanh quanh trong thói quen thu thập, cất giữ.

Chỉ có xả bỏ thì tâm hồn mới được giải thoát khỏi sự kìm kẹp của sở hữu, Tham Sân Si, thảnh thơi bước trên con đường tự do, khai phóng tâm linh.

Trong Lục Độ ba-la-mật, nghĩa là sáu nhánh thực hành để đưa chúng sinh sang bờ bên kia, tức là thoát khỏi bờ sinh tử, sang được bờ Niết Bàn, thì Bố Thí là pháp môn tu đầu tiên. Bố Thí là cách tu tập để thực hiện hạnh xả bỏ.

Bố thí có 3 loại là:

– Tài Thí tức là bố thí tài vật,

– Pháp Thí tức là bố thí Phật pháp, nghĩa đen là dạy giáo lý nhà Phật cho người ta biết đường tu hành để giác ngộ giải thoát,

– Vô Úy Thí tức là giúp cho người ta qua khỏi sự sợ hãi.
Thưa quý thính giả,

Để thông suốt nội dung của ba loại bố thí này, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị bài pháp của hòa thượng Thích Thiện Hoa, trích trong bộ Phật Học Phổ Thông, khóa thứ Tư. Thày dạy rằng:

“Bố là cùng khắp: thí là cho, là trao tặng. Bố thí là cho cùng khắp, cho tất cả mọi người, mọi vật, mọi nơi.
Ba la mật nguyên âm tiếng Phạn là Paramita. Người Trung hoa dịch nghĩa là “Bỉ ngạn đáo”, nói theo tiếng Việt là “đến bờ bên kia”.

Bố thí Ba la mật, tức là một môn tu hành bằng phương pháp bố thí, co công năng như một chiếc thuyền, đưa mình và người từ bờ mê lầm của chúng sinh sang bờ giác ngộ của chư Phật.

Bố thí Ba la mật gồm các loại sau đây: Tài thí, Pháp thí và Vô úy thí. Dưới đây chúng ta lần lượt tìm hiểu ý nghĩa của các loại bố thí ấy:

Thứ nhất là tài thí. Tài thí tức là đem tiền bạc, của cải, vật thực của mình ra cho. Tài thí có hai loại là nội tài và ngoại tài.

Nội tài là những vật chí thân quí báu nhất của mình như thân mạng, đời sống của mình. Bố thí nội tài ở đây tức là hy sinh thân mạng để cứu vớt kẻ khác ra khỏi nguy nan. Trong các chuyện tiền thân của đức Phật Thích Ca, chúng ta đã thấy nhiều gương thí nội tài, như cấu chuyện Ngài lái buôn kia, trong khi đi biển bị thuyền chìm đã tự hy sinh thân mạng bằng cách buông tay khỏi cột buồm mà mình đang bám vào, để nhường chỗ cho những hành khách xấu số khác khỏi chết đuối.

Thí nội tài là một cử chỉ hy sinh cao đẹp nhất mà chỉ những người giàu lòng từ bi, bác ái mới làm được. Nếu còn xem thân mạng mình là quý, là trọng hơn thân mạng kẻ khác thì chắc chắn không bao giờ thực hiện được loại bố thí này.

Ngoại tài là những vật thường dùng của mình như thức ăn đồ mặc, tiền bạc, xe cộ, ruộng vườn, nhà cửa v.v…Ðem những vật ấy ra cho những người túng thiếu, nghèo khổ thì gọi là bố thí ngoại tài.

Thứ hai là pháp thí. Ðem lời hay, lẽ phải, những chân lý đúng đắn, những lời dạy quí báu của đức Phật để chỉ bày, khuyên bảo người khác. Hoặc y theo giới luật của Phật tu hành chân thật để làm khuôn mẫu cho người bắt chước, bỏ dữ theo lành, cải tà quy chánh đều là pháp thí.

Pháp thí có một giá trị rất lớn lao hơn cả tài thí, vì tài thí chỉ giúp người khác bớt túng thiếu về phương diện vật chất trong một thời gian, hay nhiều nhất là cứu giúp một đời người. Nhưng pháp thí giúp đỡ người rất nhiều về phương diện tinh thần, không riêng gì đối với người nghèo khó, mà cả người giàu sang, chức tước; không phải chỉ có ảnh hưởng tốt trong một giai đoạn, mà gieo nhân lành cho nhiều đời kiếp về sau.

Vì những lẽ đó, nên người Phật tử chân chính không bao giờ bỏ mất một dịp nào mà không làm pháp thí, cả về phương diện khẩu giáo nghĩa là dùng lời lẽ đúng Phật pháp để chỉ dạy lẫn phương diện thân giáo nghĩa là dùng đời sống chân chính hợp đạo để làm gương.

Thứ ba là vô úy thí. Vô úy nghĩa là không sợ. Vô úy thí là làm cho người khác không sợ, hết sợ. Phép thí này mới nghe thì tưởng như là không quan trọng gì cả. Nhưng nếu suy nghĩ một cách chín chắn, chúng ta sẽ thấy đức Phật thật vô cùng thâm thúy khi chế ra pháp thí này.

Chúng ta hãy nghĩ lại mà xem, có phải trong một đời người, cái sợ đã chiếm nửa cuộc đời rồi không?
Khi nhỏ chúng ta sợ la rầy, sợ đánh đập, sợ ma quỉ. Khi tráng niên sợ thiếu ăn, thiếu mặc, sợ thiếu công danh, sự nghiệp. Khi già sợ đau, sợ ốm, sợ chết…Chỉ toàn sợ và sợ.

Ðó là chưa nói đến gặp thời buổi loạn lạc, còn phải sợ sưu cao, thuế nặng, sợ quan lại tham nhũng, sợ trộm cướp, lưu manh, sợ tù tội, sợ chém giết…Bao nhiêu thứ sợ chồng chất lên đầu người, làm cho họ không dám ngửng lên, lưng họ còm xuống, đầu gối họ sắp quỵ.

Ðời sống đã khổ, lại càng khổ thêm vì sợ. Cho nên làm cho người hết sợ, chính là đã cứu cho họ bớt đi quá nửa khổ đau trong kiếp sống. Lòng từ bi của đức Phật không nỡ thấy chúng sinh khổ sở vì sợ, nên đã chế ra phép thí vô úy.

Muốn thực hành pháp môn này, hành giả trước tiên phải luyện cho mình một đức tính đừng sợ gì cả. Mà kẻ tu hành chân chính, hiểu rõ giáo lý của Phật, thì còn sợ nỗi gì? Tiền của, họ không tham lam cho nên không sợ mất; danh lợi, họ không màng, nên không sợ thiếu, sanh mạng, họ xem như giả tạm, nên không sợ chết.

Do cái tâm lý đó mà cõi lòng họ không xao động, nét mặt họ luôn luôn bình tĩnh trước mọi sự đổi thay, gian nan nguy hiểm. Người tu hạnh thí vô úy sẵn sàng nhảy xuống nước vớt người sắp chết chìm, nhảy vào lửa để cứu người sắp chết thiêu, xông vào đám cướp để cứu người lương thiện, đến gõ cửa công, để minh oan cho người vô tội…

Tóm lại, người tu hạnh thí vô úy thì đi đến đâu là đem đến đó một niềm an lạc, bình tĩnh vui vẻ cho mọi người và mọi vật.”

Trên đây là lời dạy của hòa thượng Thích Thiện Hoa.

Kính thưa quý vị,

Nếu chúng ta nghiên cứu kỹ ba loại bố thí này thì dường như Vô Úy Thí là loại chúng ta có nhiều cơ duyên để bố thí, dễ dàng thực hiện và nhiều hoàn cảnh để có thể bố thí nhất .

Về Tài Thí, trong những xã hội có hệ thống phúc lợi hoàn hảo, cũng không có nhiều dịp chúng ta phải mở túi tiền ra giúp, hoặc chia sẻ miếng cơm manh áo cho người khác. Cũng có những trường hợp thí dụ thiên tai, hỏa hoạn, chúng ta được kêu gọi giúp đỡ các nạn nhân đấy, nhưng không phải mỗi ngày chúng ta đều gặp. Hoặc ngay như trên thế giới hằng ngày đều có những nạn nhân cần trợ giúp, nhưng chính chúng ta cũng không thể luôn luôn móc túi lấy tiền làm chuyện cứu trợ được, dù trong lòng chúng ta rất muốn. Đó là lực bất tòng tâm.

Về Pháp Thí, ngày nay ngành truyền thông phát triển rất rộng rãi, sách báo truyền thanh truyền hình, các hệ thống điện tử toàn cầu với những thư viện điện tử, diễn đàn điện tử, lan rộng từ thành thị tới thôn quê, nên rất nhiều người đã tham dự được vào các loại tiện nghi này để đọc kinh sách, thảo luận, nghe giảng pháp. Nhờ thế, có một số người, nhất là giới trẻ, do tham cứu từ internet mà trình độ Phật học của họ khá thâm sâu, cho nên cơ hội để chúng ta thực hiện Pháp Thí cũng hiếm.

Trái lại, Vô Úy Thí là một hạnh bố thí rất cần thiết mà lại rất dễ thực hiện, không cần phải có nhiều tiền, thậm chí không tốn một xu, thì chúng ta lại ít lưu tâm tới.

Thưa qu‎í thính giả,

Ở trên, thày Thiện Hoa đã phân tích rõ ràng cho chúng ta thấy thế nào là Vô Úy Thí và sự cần thiết thực thi hạnh bố thí này. Qua lời thày giảng, quí vị đã thấy là đạo Phật rất quan tâm và coi trọng hạnh Bố Thí Vô Úy.

Không riêng đạo Phật, mà nhiều nhà tư tưởng lớn trên thế giới cũng rất quan tâm đến nỗi thống khổ của sự sợ hãi trong kiếp người và tìm cách giúp người ta tháo gỡ nỗi khổ này, điển hình là nhà tư tưởng J. Krishnamurti. Chúng tôi xin gửi tới quí thính giả một đoạn trích trong cuốn On Fear của ông, do Danny Việt dịch ra Việt ngữ, như sau:

“Để hiểu sợ hãi, ta phải nói về sự so sánh trước. Tại sao ta so sánh? Về mặt kỹ thuật, so sánh phát hiện sự tiến triển, tương quan với nhau. Năm chục năm trước chưa có bom nguyên tử, chưa có máy bay siêu âm, bây giờ chúng ta có những cái đó, và trong tương lai năm chục năm nữa, chúng ta sẽ có những cái mà hiện nay chúng ta không có. Cái đó được gọi là sự tiến bộ, luôn luôn so sánh, tương quan, và tâm trí chúng ta bị vướng mắc vào cái lối suy nghĩ kiểu đó.

Không phải chỉ từ ngoại cảnh, mà ngay từ trong nội tâm, trong cái cấu trúc về tâm lý của chúng ta, chúng ta suy nghĩ theo kiểu so sánh. Chúng ta nói :” Tôi thế này, trước kia tôi thế này, và tôi sẽ khá hơn trong tương lai”. Cái lối suy nghĩ kiểu so sánh như vậy, chúng ta gọi là sự tiến bộ, sự phát triển, và cuộc đời chúng ta, từ phẩm hạnh, đạo đức, tôn giáo cho đến làm ăn buôn bán, giao dịch trong xã hội, chúng ta đều dựa trên nền tảng đó. Chúng ta quan sát bản thân chúng ta một cách so sánh với cái xã hội vốn dĩ cũng thoát thai từ một sự phấn đấu trong so sánh như chính chúng ta.

So sánh sản sinh ra sợ hãi, bạn hãy tự quan sát sẽ thấy. Tôi muốn trở thành nhà văn viết hay hơn, hoặc trở thành người đẹp và thông minh hơn. Tôi muốn có nhiều kiến thức hơn mọi người. Tôi muốn thành công, muốn trở thành nhân vật quan trọng, muốn có danh tiếng trên thế giới. Thành công và danh tiếng là những điều so sánh rất căn bản về mặt tâm lý, mà do đó, chúng liên tục sản sinh ra sự lo sợ . Và sự so sánh cũng làm tăng thêm những mâu thuẫn, phấn đấu vốn được coi như những điều quan trọng.

Bạn nói rằng bạn phải cạnh tranh để sinh tồn trong cái thế giới này, do đó bạn so sánh và thi đua trong công việc làm ăn, trong gia đình và “cái-gọi-là” nội dung có tính cách tôn giáo . Bạn phải vào được thiên đường và ngồi ngay bên cạnh một đấng cứu độ đặc biệt nào đó của bạn. Sự so sánh về tâm linh phản ảnh trong việc một tu sĩ muốn được suy tôn lên cấp cao hơn và cuối cùng tiến lên tới giáo chủ.

Suốt đời, chúng ta mài miệt trau giồi cái loại tâm linh đó một cách siêng năng, cần mẫn, phấn đấu để khá hơn, hoặc đạt được vị trí cao hơn người khác. Cấu trúc của đời sống xã hội và đạo đức của chúng ta đặt nền tảng trên những cái đó.

Trong cuộc đời chúng ta, cái tình trạng so sánh, cạnh tranh và sự phấn đấu không ngừng nghỉ để trở thành một nhân vật, tôi cảm thấy rằng chính cái đó là cội rễ của toàn bộ sự sợ hãi, bởi vì chính nó đã sản sinh ra lòng thèm muốn, tật đố kị, thói ghen tị, căm thù.

Ở đâu có sự căm thù thì ở đó chắc chắn là không có tình thương yêu và sẽ càng ngày càng tăng thêm sự sợ hãi”.
Kính thưa quí‎ thính giả,

Trên đây là nhận định của nhà tư tưởng Jiddu Krishnamurti về tai hại của sự sợ hãi.

Có câu chuyện Thiền lưu truyền tại Nhật như sau:

“Trong một trận chiến đấu sinh tử mà quân lính của phe nhà đông hơn phe địch gấp bội. Tuy nhiên, tinh thần binh sĩ lại rất nao núng, chưa đánh mà chỉ muốn rút lui, vì họ nghe nói bên địch là đạo quân bách chiến bách thắng, rất tinh nhuệ trong kinh nghiệm chiến trường.

Tướng chỉ huy bèn tập họp ba quân trước một ngôi đền thờ Thần có tiếng là linh thiêng, rút trong túi ra đồng tiền giơ lên, dõng dạc tuyên bố:

– Chúng ta cầu nguyện rồi tôi sẽ tung đồng tiền này lên xin Thần cho biết số phận chúng ta trong trận quyết tử này. Nếu khi rớt xuống mà mặt ngửa lên có hình đầu người tức là chúng ta sẽ thắng. Nếu mặt không có đầu người ngửa lên thì chúng ta sẽ vâng theo số mệnh mà rút lui.

Quân sĩ nhắm mắt cầu nguyện, rồi vị tướng tung lên đồng tiền, khi rớt xuống, mặt ngửa lên có hình đầu người. Toàn quân reo hò, khí thế bốc lên ngùn ngụt, sự sợ hãi tan biến.

Khi đoàn quấn chiến thắng ca khúc khải hoàn trở về, viên phó tướng tâm tình với đại tướng:

– Thế mới biết không gì có thể thay đổi được số mệnh.

Đại tướng cười, móc túi lấy ra đồng tiền, thì ra cả hai mặt của đồng tiền đều là hình đầu người”.

Thưa quí thính giả,

Câu chuyện cho thấy rằng chúng ta có thể chế ngự được sự sợ hãi. Thí dụ sự sợ ma. Nếu hỏi những người rất sợ ma rằng họ gặp ma chưa thì phần đông đều trả lời rằng bản thân họ chưa gặp ma nhưng họ “nghe nói”. Mà những ngưởi kể chuyện ma cho người khác nghe thì cũng chưa chắc đã gặp ma, hay là cũng lại chỉ “nghe người ta kể lại”. Chuyện ma thì hấp dẫn, vì làm cho tâm tư‎ người nghe bị kích động.

Hồi trước tại Saigon, trong mục truyện dài của một tờ nhật báo có viết về chuyện con ma vú dài tại nhà tù Chí Hòa. Câu chuyện hoang đường nhưng rất hấp dẫn người đương thời, sau này dính liền tên vị chủ nhiệm báo, họ gọi ông là “chủ nhiệm vú dài”. Những tù nhân có đầu óc bình thường đã từng tạm trú tại nhà tù Chí Hòa, không ai gặp con ma vú dài nào cả.

Đã thấy rõ sự sợ hãi đem lại thống khổ cho con người, vậy chúng ta nên tận dụng mọi cơ hội để có thể Bố Thí Vô Úy. An ủi khi người có những mối lo hoặc tránh kể chuyện ma cho các cụ già sống cô đơn cũng là những cách Vô Úy Thí rất thực tế vậy.

Thưa quí‎ thính giả,

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới. Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 30 – Pháp môn Tịnh Độ

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả. 

Thưa quý khán, thính giả, 

Trong những kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình bày với quý vị bài kệ tóm tắt con đường tu hành của người Phật tử, như sau: 

“Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành”

 … trong đó, “Tự thanh tịnh tâm ý” thì mới chính là mục tiêu cốt tủy của đạo Phật.

 Kinh Phật dạy rằng: “Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu”, câu đó có nghĩa là khi tâm đã tịnh là đã bạch hóa được nghiệp chướng tích lũy từ vô lượng kiếp. Tội là những nghiệp ác. Tâm đã tịnh rồi thì cũng có nghĩa là tất cả nghiệp thiện và ác đều đã tiêu dung, không còn nghiệp nhân để tái sinh, là chấm dứt được dòng sinh tử, ra khỏi vòng luân hồi. Tóm lại, là hoàn tất được bước thứ tư trong bốn Chân Lý Thâm Diệu, là Diệt Khổ.

 — Vậy thì, làm thế nào để có  thể  “tự thanh tịnh tâm ý? 

Về phương diện này, nhà Phật có những pháp môn phương tiện để hành giả, là những người thực hành các pháp tu, đạt được kết quả cụ thể, thí dụ các môn phái Thiền, Tịnh hoặc Mật tông. Kỳ này, chúng tôi xin trình bày pháp môn Tịnh Độ.

 Thưa quý khán, thính giả, 

Đạo Phật là con đường chuyển hóa Tâm, không nhờ vào thần quyền, cho nên người Phật tử bước trên đường tu tập phải thông suốt hai phần là lý thuyết và thực hành, nhà Phật gọi là Lý và Sự, xong việc là “sự lý viên dung”. Toàn bộ giai đoạn tu tập này được gói trọn trong công thức Văn, Tư và Tu. Văn là nghe lời dạy từ kinh sách của Phật và chư Tổ là bước thứ nhất, Tư là suy nghĩ để hiểu cho rõ là bước thứ 2, rồi tới bước thứ 3 là thực hành các phương pháp Tu.

 Lại có câu “Tín Giải Hành Chứng”. “Tín” là tin rằng đạo Phật là con đường giải thoát, “Giải” là hiểu rõ phần lý thuyết của đạo Phật, “Hành” là hành trì các bước tu tập thì sẽ tới giai đoạn thứ tư là “Chứng Đạo”

  Cổ đức dạy rằng ”Tu mà không học là tu mù. Học mà không tu là túi đựng sách”. Tuy thế, hiểu được phần Lý thì chóng, gọi là giải ngộ. Nhưng tu tới Chứng Đạo thì phải tốn nhiều công phu hành trì, nên có câu “Lý tuy đốn ngộ nhưng Sự thì phải tiệm tu”, có nghĩa là phần lý thuyết thì hiểu nhanh, nhưng phần thanh lọc tâm ý thì phải mất nhiều công phu.

 Nếu chỉ qua đọc kinh sách mà hiểu được phần lý thuyết, nhưng không thực Tu thực Chứng thì tâm thức không chuyển hóa, đôi khi lại tăng trưởng lòng kiêu ngạo, chư Tổ gọi là “chưa tới tưởng đã tới”, trở thành tăng thượng mạn, uổng phí một đời được sinh ra trong nhà Phật.

 Như vậy, chúng ta sẽ tìm hiểu pháp môn Tịnh Độ về cả hai mặt lý thuyết và thực hành, trước nhất là phần lý thuyết.  

Kính thưa quý vị,

 A Di Đà Phật hoặc Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật còn gọi là Vô Lượng Quang Thọ Phật, có nghĩa là vị Phật chiếu sáng khắp không gian vô biên và thọ mạng dài vô tận. Phật là Giác. Cho nên A Di Đà Phật cũng chính là Phật Tánh, hoặc Giác Tánh của chúng sinh, vốn mênh mông cùng khắp không gian và thường hằng từ vô thủy tới vô chung, không có ngằn mé. Tánh Giác đó vốn sáng suốt mênh mông, nhưng vì một niệm bất giác vọng động, tâm ý thức trùng trùng duyên khởi chuyển thành chúng sinh, tạo nghiệp trả quả báo, trôi lăn trong vòng sinh tử luân hồi.

 Pháp môn Tịnh Độ là một trong những con đường mà đức Phật đã dạy cho chúng sinh biết cách thanh lọc ô nhiễm để Ngộ lại Giác Tánh.

 Thưa quý khán, thính giả,

 Để có thêm tài liệu về pháp môn Tịnh Độ và về Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị bài pháp của thiền sư Thiên Như Duy Tắc, trích từ Ngữ Lục của ngài: 

“Ngày nay, có một số người, tăng cũng như tục, mong nhờ Niệm Phật để được thác sinh cõi Tịnh độ và tự hỏi Niệm Phật có khác Thiền chăng. Theo ý tôi, họ không hề nhận ra Thiền và Niệm Phật không phải đồng mà là đồng; vì đích của Thiền là thấu hiểu ý nghĩa của sự sống, đích của Niệm Phật thì cũng vậy. Thiền chỉ thẳng lòng người, thấy tánh thành Phật; trong khi đó, Niệm Phật nhắm đi tới cõi Tịnh Độ vốn dĩ không chi khác hơn chính là tự tâm, và nhắm thấy rõ tự tính vốn dĩ chính là đức A-Di-Đà (Amitabha).

“Nếu thế, làm sao phân biệt Niệm Phật và Thiền?

Kinh nói, như đi vào một thành lớn mà khắp bốn phía đều có cửa; từ những nẻo khác nhau, người ta tìm thấy lối vào riêng biệt của mình vì cửa không chỉ có một. Nhưng, một khi vào rồi, họ cùng ở trong một thành như nhau. Thiền và Niệm Phật mỗi bên có một căn khí riêng; đấy là tất cả.

“Ở Niệm Phật, các người có thể phân biệt đằng nào linh nghiệm đằng nào không. Tại sao? Nếu việc tụng niệm của tín giả chỉ ở ngoài môi miệng còn tâm thì chẳng nghĩ tưởng chút gì đến Phật, thứ tụng niệm ấy không linh nghiệm. Trái lại, nếu miệng và tâm cùng chung hướng về Phật trong khi tụng đọc danh hiệu Ngài, khiến cho tâm với Phật không rời nhau từng bước một, Niệm Phật chắc chắn sẽ có kết quả. Giả dụ đây là một người tay cầm tràng hạt, miệng niệm danh hiệu Phật; nhưng nếu cứ vọng tưởng cuồng tâm, chạy xuôi chạy ngược, thì là một người chỉ tụng ở miệng chứ không ở tâm, luống công vô ích, nhọc mà chẳng được gì. Tốt hơn là nghĩ tưởng đến Phật trong tâm hồn dù môi không mấp máy, vì như thế mới là đồ đệ chân chính của Niệm Phật.

“Há không thấy Kinh nói rằng mười phương Như Lai thương nhớ chúng sinh như mẹ thương con; chúng sinh chìm đắm trong biển sinh tử như con trẻ lưu lạc nơi xứ lạ quê người. Phật như một bà mẹ từ ái thương nhớ chúng, và dù ngài không nói đến từ tâm của mình, tấm lòng của ngài vẫn luôn luôn nhớ tưởng những đứa con lạc mất không thôi. Nếu con cũng nhớ tưởng mẹ như thế, tại sao mẹ con không có ngày hội diện?

“Bởi vậy kinh nói nếu tấm lòng của chúng sinh nhớ tưởng đức Phật, chắc chắn sẽ thấy ngài trong hiện tại hay tương lai. Hiện tại là đời sống này, tương lai là đời sống sẽ đến. Nếu thế, kẻ nào hết sức mong mỏi Phật và nhớ tưởng ngài kẻ ấy nhất định sẽ đến trước mặt ngài. Vậy thì “thấy Phật” và “tham Thiền kiến tánh” khác nhau ở chỗ nào đâu? “

Kính thưa quý vị,

Kinh căn bản của pháp môn Tịnh Độ đã được dịch ra Việt ngữ là các kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ, kinh Niệm Phật Ba La Mật. Tuy nhiên, nơi kinh Lăng Nghiêm cũng có một chương nói về pháp Niệm Phật Tam Muội như sau:

“Đại Thế Chí Pháp Vương Tử cùng với 52 vị Bồ Tát đồng tu, liền đứng dậy, đảnh lễ bạch Phật rằng:

– Con nhớ hằng sa kiếp trước, có Phật Vô Lượng Quang ra đời, thuở đó, mười hai vị Như Lai kế nhau thành Phật trong một kiếp. Vị Phật sau cùng hiệu là Siêu Nhựt Nguyệt Quang, dạy con tu “Niệm Phật Tam Muội”, ví như có người thì chuyên nhớ, người thì chuyên quên, nếu hai người ấy nhớ nhau, không kể gặp hay chẳng gặp, thấy mặt hay chẳng thấy; cứ nhớ mãi sâu vào tâm niệm, cho đến đời này, đời khác, thì như hình với bóng, chẳng cách xa nhau.

 Mười phương Như Lai tưởng nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con, nếu con trốn tránh thì dù nhớ cũng chẳng làm gì được; nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con, thì đời đời mẹ con chẳng xa cách. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật, thì hiện nay hay về sau nhất định thấy Phật, cách Phật không xa, chẳng nhờ phương tiện, tâm tự khai ngộ, như người ướp hương thì thân có mùi thơm, ấy gọi là Hương Quang Trang Nghiêm.

Bản nhân của con là dùng tâm niệm Phật, đắc vô sanh nhẫn, nay ở cõi này tiếp dẫn người niệm Phật về cõi Tịnh Độ. Phật hỏi con về viên thông, con do “nhiếp cả lục căn, tịnh niệm tương tục” vào tam-ma-địa là hơn cả.”

Thưa quý khán, thính giả,

“Nhiếp cả lục căn tịnh niệm tương tục” có nghĩa là chuyên tâm niệm Phật liên tục, trong lúc niệm không quan tâm đến bất cứ chuyện gì khác.

Pháp môn Niệm Phật bị một số người nông cạn coi thường, cho là pháp môn của mấy bà già trầu hoặc người không đủ trình độ tu Thiền mới theo pháp dễ là Niệm Phật. Đó là một sai lầm rất đáng tiếc. Thực tế, con đường giải thoát của đức Phật chỉ dạy cho chúng sinh gồm nhiều lối đi, miễn là tới được mục tiêu phá trừ mê vọng là cứu cánh giải thoát.

Tham Thiền tới Kiến Tánh là mê vọng tan rã. Niệm Phật tới Ngộ được Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật mà đức Phật dùng phương tiện thiện xảo gọi là cõi Tây Phương Tịnh Độ thì cũng như Kiến Tánh vậy.  

Để quý thính giả thấu triệt quan điểm này, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị bài pháp của thiền sư Hám Sơn, một vị thiền sư Kiến Tánh ở thế kỷ thứ 16. Ngài được tôn xưng là một vị thánh tăng. Ngài để lại rất nhiều bài pháp cho nhiều tầng lớp Phật tử. Sau khi qua đời, nhục thân ngài không bị hư hoại, hiện còn thờ trong tháp bằng kính tại tổ đình Tào Khê chùa Nam Hoa tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, cùng với 2 nhục thân bất hoại của Lục Tổ Huệ Năng và thiền sư Đan Điền.

Sau đây là bài giảng của thiền sư Hám Sơn, lược trích trong cuốn Mộng Du Tập do sư cô Hạnh Huệ dịch:

“Cội gốc sanh tử tức là các thứ vọng tưởng hàng ngày của chúng ta, các thứ nghiệp phiền não thương ghét, tham lam, giận hờn của chúng ta, nếu còn một mảy may không dứt thì tức là còn gốc rễ sanh tử. Nay muốn tham thiền đốn ngộ liễu thoát sanh tử, hãy tự suy nghĩ xem có thể một niệm dứt ngay phiền não của nhiều kiếp như chặt đứt một cuộn chỉ hay chăng ? Nếu chẳng thể dứt sạch phiền não thì dẫu cho đốn ngộ, cũng thành nghiệp ma, đâu nên xem thường ? Các vị tổ xưa kia đốn ngộ, cũng nhiều đời tích lũy công phu tu tập dần dần (tiệm tu) mà được, cho nên “đốn ngộ” này nói thì dễ mà thật ra rất khó. Nếu không có hai, ba mươi năm hạ thủ công phu, thì làm sao có thể ở trong chốn phiền não lẫy lừng mà được một niệm đốn ngộ.

Điều thiết yếu là phải tự biết căn khí mình như thế nào ? Đến như một môn niệm Phật, người đời không biết sự nhiệm mầu của nó, xem là thiển cận, kỳ thật mỗi bước thực hành cho đúng thì như thế nào ? Chúng ta từ khi có sanh tử đến nay, niệm niệm vọng tưởng phan duyên tạo nghiệp sanh tử, đâu từng có một niệm quay trở về soi lại tự tâm, đâu từng một niệm chịu đoạn dứt phiền não. Nay nếu có thể đem tâm vọng tưởng chuyển làm niệm Phật thì niệm niệm dứt phiền não. Nếu niệm niệm dứt được phiền não thì niệm niệm ra khỏi sanh tử.

Nếu một niệm niệm vững chắc không đổi dời nhất tâm bất loạn, so với tham thiền còn có kết quả hơn. Tóm lại, chỉ do một niệm thiết tha chân thực mà thôi. Nhưng tham thiền nhất định cần phải chết đi hết tâm thế tục không còn một niệm vọng tưởng, còn niệm Phật là lấy tưởng tịnh chuyển tưởng nhiễm, dùng tưởng trừ tưởng, là Pháp Hoán Chuyển, cho nên đối với căn khí của chúng ta ngày nay dễ thực hành hơn.

Phật là Giác, nếu niệm Phật không quên Phật, tức là niệm niệm minh giác. Tâm nếu quên Phật liền là Bất Giác. Nếu niệm đến trong mộng cũng niệm được tức là thường giác không mê muội ! Hiện tại nếu tâm này không mê muội thì lúc lâm chung tâm này không mê muội, ngay chỗ tâm này không mê muội tức là kết quả. Nay công việc bận rộn không thể tham thiền, duy có niệm Phật là tốt nhất, bất kể rỗi rảnh, bận rộn, chỗ nào cũng niệm được, chỉ cần một lòng không quên, không còn có pháp nào hay hơn !.

Niệm Phật tức là tham thiền, không phải hai pháp. Ngay lúc niệm Phật, trước tiên phải buông bỏ hết thảy các thứ vọng niệm, tạp loạn phiền não, tham, sân, si, buông bỏ đến chỗ không còn gì để buông bỏ, chỉ đề khởi một câu “A DI ĐÀ PHẬT”, rõ rành phân minh trong tâm không gián đoạn như sợi chỉ xỏ xâu chuỗi.

Nếu tâm tha thiết vì việc sanh tử niệm niệm như cứu lửa cháy đầu, chỉ e một phen mất thân người muôn kiếp khó được lại, cần phải cắn chặt lấy một câu danh hiệu Phật này, nhất định phải chiến thắng vọng tưởng, bất cứ chỗ nào cũng niệm niệm hiện tiền, chẳng vì vọng tưởng ngăn che. Hạ thủ công phu thiết tha như thế lâu ngày thuần thục tự nhiên tương ưng, chẳng cầu thành khối mà tự thành khối.

 Nếu gặp lúc tâm bất an do các cảnh giới nghịch thuận phiền não buồn vui quấy nhiễu, chỉ cần đề khởi một câu niệm Phật này lập tức thấy phiền não tiêu diệt. Vì niệm niệm phiền não là gốc khổ sanh tử, nay dùng niệm Phật tiêu diệt phiền não, ấy là Phật độ chỗ khổ sanh tử. Nếu niệm Phật tan được phiền não thì có thể thoát sanh tử. Nếu niệm Phật đến trình độ làm chủ được trên phiền não thì ở trong mộng làm được chủ. Nếu ở trong mộng làm được chủ thì ở trong lúc bệnh khổ làm được chủ, thì lúc lâm chung rõ ràng biết được chỗ đi. Việc này không khó làm, chỉ cần một niệm tâm tha thiết vì sanh tử, nắm chặt một câu Phật hiệu, không còn nghĩ ngợi gì khác, lâu ngày thuần thục, tự nhiên được đại an lạc, cái vui ngũ dục thế gian không thể sánh được. Ngoài pháp môn Tịnh Độ nầy, không còn có pháp môn nào thẳng tắt giản dị hơn.”

Thưa quý khán, thính giả, 

Trên đây là lời căn dặn của thiền sư Hám Sơn. Ngài là một thiền sư Kiến Tánh, từ Trí Tuệ Bát Nhã nói lên những lời tha thiết khuyên tu pháp Niệm Phật, chúng ta rất nên tôn trọng lời dạy vàng ngọc này.

 Có một câu hỏi rằng nên niệm sáu chữ Nam mô A Di Đà Phật hay 4 chữ A Di Đà Phật?

 Xin thưa rằng, niệm Phật cần nhuần nhuyễn, sao cho tiếng niệm Phật luôn luôn âm thầm hiện lên trong tâm thức. Phật hiệu hiện lên thì phiền não vọng tưởng không quấy nhiễu được, gọi là “niệm Phật thì không niệm chúng sinh”. Tổ Tịnh Độ thứ 13 là đại sư Ấn Quang chỉ dùng 4 chữ là A Di Đà Phật để âm thầm niệm, gọi là “mặc trì”, tức là niệm không thành tiếng. Ngài kinh nghiệm rằng niệm như vậy mau thành khối. Chúng tôi cũng được một số đạo hữu cho biết rằng do âm thầm niệm 4 tiếng mà Phật hiệu luôn trôi chảy hiện lên trong tâm thức, thay thế cho những suy nghĩ vọng động.

 Tuy nhiên, nếu quý vị muốn, hoặc đã quen với cách niệm 6 chữ là Nam mô A Di Đà Phật, thì cứ tiếp tục niệm như thế, cả hai cách niệm đều có kết quả. Điều cần thiết là phải chí thành khi niệm, không để tâm rong ruổi theo vọng tưởng phiền não thế gian.

 Kính thưa quý khán, thính giả,

 Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

 phatphaptuedang@yahoo.com

 Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý khán, thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

 Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 29 – Bài thuyết pháp về Tâm – Thiền sư Bassui

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Một trong những tuyên ngôn đầu tiên của đức Phật, ngay sau khi giác ngộ dưới gốc cây Bồ Đề, là:

“Tất cả chúng sinh đều có đủ đức tính trí tuệ Như Lai, chỉ vì vô minh che mờ Chân Tánh, khiến phải trôi lăn trong sinh tử”.

Trí tuệ Như Lai, Chân Tánh chính là Phật Tánh, Giác Tánh, là Tâm Bản Nhiên mà trong một kỳ phát thanh trước chúng ta đã đề cập tới.

Để quý thính giả có thêm tài liệu về Tâm Bản Nhiên, về vấn đề phá tan vô minh che mờ Chân Tánh, Giác Ngộ giải thoát trong đạo Phật, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị bài pháp của thiền sư Bassui “Dharma Talk On One Mind” do thiền sư Eido Shimano dịch từ Nhật ngữ qua Anh ngữ, Vy Khanh dịch ra Việt ngữ.

Trong bài pháp này, thiền sư Bassui, người đã thân chứng, đã phá tan vô minh, truyền lại cho chúng ta những kinh nghiệm và những giai đoạn tâm thức mà ngài đã kinh qua.

Thiền sư Bassui sinh năm 1327 tại thị trấn Kanagawa, Japan. Có tài liệu cho rằng do một thị kiến trong khi mang thai, bà mẹ tin rằng đứa bé sau này lớn lên sẽ trở thành quỷ mà giết cả cha mẹ, nên ngay sau khi sanh, đứa bé bị mẹ vứt bỏ. May nhờ có một gia nhân bí mật đem về nuôi nấng. Nhưng cũng có tài liệu cho rằng bà mẹ chỉ giả bộ vứt con đi thôi, vì ngay sau khi bà mẹ bỏ con, thì đã có gia nhân đến cứu, do bà mẹ sắp xếp trước, tin rằng làm như thế là đủ để thần linh ma quỷ cho là đứa bé không phải con mình, sau này quỷ sẽ không bắt làm những điều ác nữa.

Vào thời xa xưa mông muội, người ta sợ đủ loại thần thánh ma quỷ, từ thần núi, thần sông, thần cây đa, cây đề, thần ông bình vôi, ma thần trùng, ma xó, vân vân. Sự mê tín đã khiến nhiều loại ma quỷ xuất hiện trong đầu óc họ, cho nên để bảo vệ những em bé sơ sinh yếu đuối, họ dùng những mưu kế để lừa ma quỷ, cứu đứa bé.

Trường hợp như trong câu chuyện thiền sư Bassui, hoặc em bé bị bệnh tật liên miên, họ đem em bé ra bỏ ngoài chợ, hoặc ngã tư đường. Nhưng ngay sau đó bèn có một người đã được sắp xếp trước, bước tới làm bộ ngạc nhiên la lên: “Ô này, có đứa bé bị vứt bỏ, tôi nhặt đem về nuôi”. Và bế đứa bé về nhà mình. Sau đó, khi đem đứa bé trả cha mẹ, thì cha mẹ ruột bèn coi nó là người xa lạ, xưng hô với nó là “chú, thím”, hoặc “anh, chị”, mà không xưng là cha mẹ nữa, vì đứa bé nay đã là một người khác rồi. Đó là một trong những cách để cứu đứa nhỏ, theo niềm tin của họ mà thôi.

Niềm tin này là một trong những thói tật của nhiều người thời xưa, thời mà các loại mê tín ngự trị trong đầu óc của rất nhiều dân tộc, trong số đó có cả dân tộc Việt Nam. Không những thời xưa, mà ngay tới thế kỷ 20, một số bà mẹ Việt Nam vẫn còn nghĩ rằng đó là cách để cứu đứa bé, nếu nó cứ bệnh hoạn, hoặc cho là hai mẹ con kỵ tuổi nhau nên đứa bé khó sống sót nếu không giả bộ vứt bỏ nó đi.

Thưa quý thính giả,

Về thiền sư Bassui, ngay khi còn thơ ấu, mới bảy tuổi, trong đáng tang cha, cậu bé đã chỉ vào mâm thực phẩm lễ vật mà hỏi ông thày cúng:

– Những bánh trái xôi chè này để cho ai ăn đây?

Ông thày trả lời:

– Dĩ nhiên là để cho cha cậu ăn.

Cậu bé hỏi lại:

– Nhưng cha tôi không còn thân thể, chỉ có hộp tro kia, làm sao mà ăn?

Thày cúng trả lời:

– Dù không còn thân thể nhưng linh hồn cha cậu sẽ ăn.

Cậu bé thắc mắc:

– Nếu đã có cái gọi là linh hồn thì trong thân thể tôi cũng phải có một cái. Vậy hình dáng nó ra sao?

Chắc chắn những câu hỏi như thế không thường xảy ra đối với một đứa bé, dù là một đứa bé mẫn cảm. Nhưng tuổi thơ của thiền sư Bassui thì lại luôn luôn có những câu hỏi nổi lên trong tâm, thí dụ: ”Linh hồn là gì?”, “Ai là kẻ đang nghe, nhìn, hiểu biết đây?”. Chàng tuổi trẻ ấy cứ phải vật lộn với những câu hỏi như thế trong suốt phần đời niên thiếu. Một ngày kia, trong khi đang miên man với câu hỏi không có giải đáp, chàng trai trực nhận được rằng không thể nắm bắt được linh hồn vì bản chất của toàn thể vạn vật vốn là Tánh Không.

Sau này, suốt chiều dài cuộc đời, thiền sư Bassui tích cực hoằng truyền pháp thiền “Trực chỉ nhân tâm, Kiến Tánh thành Phật”, pháp thiền mà Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã từ Tây Trúc không quản khó nhọc, lặn lội sang phương Đông truyền dạy.

Cuối đời, vào tuổi 60, một hôm ngài ngồi kiết già giữa đám đông đệ tử, lên tiếng:

– Đừng bị lầm lạc! Nhìn thẳng! Cái gì đây?

Thiền sư Bassui lớn tiếng nhắc lại câu hỏi một lần nữa rồi lặng lẽ qua đời.

Sau đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả bản dịch bài “Dharma Talk on One Mind”.

“Nếu muốn tự giải thoát khỏi những nỗi thống khổ trong Lục Đạo Luân Hồi thì quý vị phải biết con đường trực ngộ thành Phật. Con đường này chẳng có gì khác hơn là nhận ra được Tâm của quý vị.

Vậy thì, Tâm này là gì?

Tâm này chính là bản chất chân thật tự nhiên vô hình của tất cả các loài sinh vật có tình cảm, nó vốn sẵn sàng, vốn hiện hữu ngay cả trước khi cha mẹ của quý vị được sinh ra, do đó, dĩ nhiên là nó đã có sẵn trước khi bản thân quý vị được sinh ra, nó vốn đã sẵn có đó, không thay đổi và không sinh diệt. Cho nên người ta còn gọi nó là “Bộ mặt trước khi cha mẹ được sinh ra”.

Bản chất của Tâm này hoàn toàn thanh tịnh. Không phải vì chúng ta ra đời mà Tâm này mới được sinh ra và khi chúng ta chết đi thì Tâm này cũng không bị hoại diệt. Tâm này không có sự khác biệt giữa đàn ông và đàn bà, không có mầu sắc của tốt hoặc xấu. Không thể so sánh Tâm này với bất cứ cái gì, cho nên được gọi là Tâm Bản Nhiên, Giác Tánh, Phật Tánh. Vô số lượng ý niệm đã khởi lên từ Tâm Bản Nhiên này như sóng nổi trên biển cả hoặc như hình ảnh phản chiếu trong gương vậy.

Nếu muốn nhận ra được Tâm này thì trước nhất quý vị phải nhìn vào ngọn nguồn mà từ đó các ý niệm khởi lên và trôi chảy. Dù khi ngủ hoặc làm việc, đi đứng hoặc nằm ngồi, phải tự tra vấn tận đáy lòng sâu thẳm: “Tâm của tôi là cái gì?” và thiết tha muốn có lời giải đáp. Đó gọi là “thực tập”, “hành trì”, “khát khao chân lý” hoặc “mong cầu giác ngộ”.

Cái gọi là tọa thiền thì cũng không có gì hơn là nhìn vào Tâm mình. Quán chiếu chính Tâm mình một cách tận lực còn tốt hơn là hằng ngày đọc nhiều vô số lượng kinh chú trong vô số lượng năm. Những loại cố gắng hình thức đó cũng tạo ra được một số phước báu, nhưng khi hưởng hết phước thì lại vẫn phải chịu sự đau khổ của Tam Ác Đạo. Bởi vì việc tìm tòi Tâm mình cuối cùng sẽ đưa tới giác ngộ cho nên cách hành trì này là điều kiện tiên quyết để trở thành Phật.

Dù đã từng phạm các tội Thập Ác hoặc Ngũ Nghịch, quý vị vẫn có thể chuyển hóa tâm thức và giác ngộ thành Phật ngay tức khắc. Nhưng đừng có phạm tội rồi mong đợi được cứu thoát nhờ sự giác ngộ bởi vì không có sự giác ngộ, hoặc Phật hay Tổ nào, có thể cứu kẻ tự lừa dối bản thân để lao mình xuống Ác Đạo.

Hãy tưởng tượng cảnh một đứa trẻ nằm ngủ cạnh cha mẹ, trong giấc mơ thấy bị đánh đập, hoặc bị bệnh nặng đau đớn. Cha mẹ nó không thể giúp dù nó đau khổ tới đâu, vì không ai có thể xen vào giấc mơ của người khác được. Nhưng nếu đứa trẻ thức dậy thì nó sẽ hết đau khổ ngay lập tức một cách tự động. Thì cũng như vậy, người nào nhận ra được Tâm mình chính là Phật thì ngay lập tức sẽ tự giải thoát khỏi mọi nỗi thống khổ của cảnh bị trôi lăn không ngừng trong dòng sông sinh tử. Nếu đức Phật có thể ngăn chặn được thì quý vị có nghĩ rằng Ngài lại để cho ngay cả đến một chúng sinh phải rơi vào địa ngục chăng? Nếu không Giác Ngộ, không ai có thể thấu triệt được những điều ấy.

Ngay lúc này, cái gì là chủ thể ngắm nhìn mầu sắc bằng mắt, nghe tiếng động bằng tai, giơ tay, nhấc chân. Chúng ta biết đó là những chức năng tâm ý thức của chính mình, nhưng không ai biết đích xác chúng đã được thực hiện như thế nào. Có thể khẳng định rằng không có thực thể nào đằng sau những hoạt động này, thế nhưng rõ ràng là chúng được thực hiện một cách tự phát đột khởi. Hoặc có thể khẳng định rằng quả thật đã có những hoạt dụng của thực thể nào đó, nhưng là thực thể vô hình.

Nếu coi như đây là một vấn đề khó hiểu, mọi suy luận để tìm câu trả lời đều ngưng bặt, ta sẽ hoang mang, không còn biết phải làm gì. Trong tình trạng thuận lợi này, nỗi niềm thống thiết mong lời giải đáp của ta càng lúc càng sâu sắc hơn một cách không mệt mỏi, lên đến cực độ.

Khi nỗi thắc mắc thâm nhập tới tận đáy lòng, sẽ xảy ra đột biến nơi tâm thức, hiển lộ chính Tâm này là Phật, là pháp giới Tánh Không.

Trong mộng, quý vị có thể quên đường về nhà. Quý vị nhờ ai đó chỉ lối hoặc cầu xin Trời Phật, nhưng cũng vẫn không về nhà được. Nhưng ngay khi tỉnh ngủ, ra khỏi giấc mơ, quý vị sẽ thấy mình đang nằm trên giường của chính mình và nhận chân được rằng chỉ có một con đường độc nhất để trở về là tự mình thức dậy, ra khỏi giấc mơ. Điều này gọi là “Trở về bản thể” hoặc “Tái sinh nơi an tịnh”. Đây là loại tỉnh thức nội tâm chỉ cần thực tập là người ta có thể đạt được. Hầu như tất cả những người hâm mộ tọa thiền và gắng sức trong hành trì thì dù là cư sĩ hay tu sĩ cũng đều có thể đạt được tới trình độ này. Nhưng dù chỉ tới trình độ này thôi, cũng không đạt được nếu không tọa thiền.

Dầu vậy, bạn sẽ mắc một sai lầm quan trọng nếu như mới tới đây mà bạn đã tưởng rằng mình Triệt Ngộ, không còn điều hoài nghi về bản chất của thực thể. Như thế thì bạn cũng giống như một kẻ tìm được mỏ đồng đã vội bỏ ước vọng tìm ra mỏ vàng.

Đến giai đoạn tỉnh giác này, hãy tự tra vấn sôi nổi hơn nữa với câu:

“Thân tôi như bóng ma, như bọt nổi trên dòng nước. Tâm tôi tự nhìn vào chính nó thì rõ ràng là vô hình, chỉ như khoảng không gian trống rỗng, vậy thì từ nơi đâu trong đây nhận ra được âm thanh? Ai đang nghe?”

Cứ tự hỏi như thế bằng tất cả sự tha thiết, không hề buông lơi lòng nhiệt thành thì cái đầu óc lý sự sẽ kiệt quệ, dần dần chỉ còn lại nỗi thắc mắc mênh mông về câu hỏi không có giải đáp. Cuối cùng, ý thức về thân của bạn sẽ mất luôn. Những khái niệm và tư tưởng từ bao lâu nay chất chứa trong tâm bạn sẽ biến mất sau khi sự tra vấn tiến đến mức cùng cực, như là tất cả những giọt nước biến mất khỏi cái bình vỡ đáy, ngay đó hiển lộ tình trạng Triệt Ngộ như hoa bất thình lình nở bung trên cành cây héo tàn.

Tới đây là quý vị đã đạt được sự giải thoát chân thật. Tuy nhiên, đến giai đoạn này là lúc mà quý vị phải liên tục xả bỏ những gì đã nhận thức, dẹp luôn khái niệm về nhận thức, dẹp luôn chủ thể nhận thức, nghĩa là quyết tâm thấu suốt tận đáy, Tự Tánh sẽ hiển lộ ngày càng bừng sáng hơn và trong suốt, trong khi những vọng niệm u mê tan biến như viên ngọc được chà bóng sáng choang, cuối cùng sẽ chiếu rực rỡ khắp cả vũ trụ.

Quý vị đừng nghi ngờ! Nếu trong đời hiện tại mà niềm khao khát giác ngộ của quý vị chưa đủ mạnh để đưa đến được trạng thái này, thì chắc chắn quý vị sẽ dễ dàng Tự Ngộ trong kiếp tới, với điều kiện là quý vị giữ được sự tra vấn miên mật cho tới khi lâm chung, y như là một việc đang làm dở dang hôm nay thì ngày mai sẽ dễ dàng hoàn tất.

Khi tọa thiền, nếu có niệm tưởng khởi lên, đừng coi thường cũng đừng trân trọng, chỉ tìm tâm mình, đó là ngọn nguồn của tất cả những tư tưởng và ý niệm. Phải hiểu rằng tất cả những gì xuất hiện trong ý thức hoặc trước mắt đều là ảo giác, không phải là thực thể bền vững. Vì thế không nên sợ hãi hoặc say mê những loại hiện tượng này. Nếu quý vị giữ được tâm mình trống rỗng như khoảng không gian, không bị ô nhiễm vì ngoại cảnh thì không ma quỷ nào có thể làm phiền, ngay cả trong giờ phút lâm chung.

Trong lúc tọa thiền, quý vị đừng giữ lại gì trong tâm, kể cả những lời khuyên này. Quý vị phải quyết liệt chỉ làm một việc là hỏi “Tâm này là gì?” hoặc “Cái gì đang nghe những âm thanh này?”

Khi Ngộ được Tâm này, quý vị sẽ biết chính nó là cội nguồn của chư Phật và của tất cả hữu tình chúng sinh. Bồ tát Quán Thế Âm có tên gọi như thế vì ngài đã chứng đắc Nhĩ Căn Viên Thông, thông suốt nguồn gốc âm thanh của tất cả thế gian.

Làm việc hoặc nghỉ ngơi, luôn cố gắng nhận ra ai đang nghe. Dù câu hỏi đã gần như chìm vào vô thức, quý vị cũng không thể tìm ra ai đang nghe và tất cả mọi cố gắng của quý vị sẽ chỉ là hư ảo. Ấy thế mà vẫn nghe thấy âm thanh, cho nên lại càng tự hỏi thâm sâu thêm nữa. Cuối cùng thì tất cả mọi dấu vết của tự thức đều tan biến và quý vị sẽ cảm thấy như bầu trời trong vắt không một sợi mây. Quý vị sẽ không còn thấy có cái “Tôi” đồng thời cũng không tìm ra được người đang nghe. Tâm này như khoảng không gian nhưng cũng không có một vết tích nào để có thể được gọi là trống rỗng.

Trạng thái này thường bị nhận lầm là Giác Ngộ. Nhưng hãy tiếp tục tự hỏi một cách kịch liệt hơn nữa “Bây giờ ai đang nghe?” Cứ tiếp tục như thế, thắc mắc càng lúc càng thống thiết hơn, chẳng còn để ý tới gì khác, thì ngay cả đến cái cảm giác trống rỗng cũng sẽ biến mất và quý vị sẽ không còn nhận thức về bất cứ điều gì, chỉ còn lại khoảng không gian đen tối mênh mông. Đừng ngưng tại đây, cứ tiếp tục tự hỏi bằng tất cả sức bình sinh “Ai đang nghe đây?”. Chỉ khi quý vị đã đẩy thắc mắc đến chỗ hoàn toàn kiệt quệ thì câu hỏi sẽ bùng vỡ, bạn sẽ cảm thấy như một người trở về từ cõi chết. Đó là Chân Ngộ. Bạn sẽ nhìn thấy tận mặt tất cả chư Phật trong pháp giới và tất cả chư Tổ từ thời quá khứ tới nay.

Đến đây, hãy tự trắc nghiệm bằng công án:

Một vị tăng hỏi Triệu Châu:

“Thế nào là ý của tổ sư Bồ Đề Đạt Ma từ Tây Trúc sang Trung Hoa?”

Triệu Châu trả lời:

“Cây bách trước sân”.

Nếu với công án này mà quý vị còn có một chút xíu thắc mắc, dù là nhỏ nhiệm, thì quý vị vẫn còn cần phải tiếp tục câu hỏi

“Ai đang nghe đây?”

Không giác ngộ ngay trong đời này thì quý vị còn chờ đến bao giờ? Chết mất rồi sẽ khó tránh phải chịu khổ lâu dài trong Tam Ác Đạo. Cái gì ngăn trở quý vị giác ngộ giải thoát. Không có gì ngăn trở ngoại trừ khát vọng nửa chừng của chính quý vị đối với chân lý.

Hãy suy tư và dành tất cả sức bình sinh vào điều này”.

Thưa quý thính giả,

Trên đây là bài thuyết pháp của thiền sư Bassui, nói với những người tu hành nghiêm túc, những người muốn đi tới tận mục tiêu cuối cùng mà đức Bổn Sư Thế Tôn đã mong mỏi chúng sinh đạt được. Chúng tôi nguyện ước quý vị thính giả đã có cơ duyên với nhà Phật, đã nghe được bài này, phát tâm bước lên con đường chân chính, đi thẳng tới đích Triệt Ngộ, giải thoát tất cả những nỗi thống khổ do nghiệp chướng từ vô lượng kiếp.

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới. Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 28 – Bản Tâm bất sinh bất diệt

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Trong những kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình bày với quý vị bài kệ tóm tắt con đường tu hành của người Phật tử, như sau:

“Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành”

“Không làm những điều ác” và “Siêng làm những việc lành” là phần đạo đức thế gian, không riêng đạo Phật, mà hầu hết các tôn giáo và các nền giáo dục trên khắp thế giới đều dạy. Duy câu “Tự thanh tịnh tâm ý” thì mới chính là đặc điểm riêng biệt của đạo Phật. Bởi vì, nội dung của “tự thanh tịnh tâm ý” có nghĩa là chấm dứt tất cả những lôi cuốn của Tham, Sân và Si, vốn là nguyên nhân của tất cả mọi nỗi thống khổ trên đời.

Kinh Phật nói: “Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu”, câu đó có nghĩa là khi tâm đã tịnh là đã bạch hóa được nghiệp chướng tích lũy từ vô lượng kiếp. Tội là những nghiệp ác. Tâm đã tịnh rồi thì cũng có nghĩa là tất cả nghiệp thiện và ác đều đã tiêu dung, không còn nghiệp nhân để tái sinh, là chấm dứt được dòng sinh tử, ra khỏi vòng luân hồi. Tóm lại, là hoàn tất được bước thứ tư trong bốn Chân Lý Thâm Diệu, là Diệt Khổ, là giác ngộ giải thoát, thành Phật.

Vậy thì, Tâm là gì?

Thưa quý thính giả,

Nơi kinh Surangama, phiên âm là kinh Thủ Lăng Nghiêm, qua lời giảng giải của đức Phật cho vua Prasenajit, Ngài đã khai mở tâm thức của ông ta, khiến cho ông nhận ra được Bản Tâm bất sanh bất diệt. Chúng tôi xin trích dịch đoạn kinh quan trọng này từ bản Anh ngữ của cư sĩ Charles Luk, như sau:

“Lúc đó, vua Prasenajit đứng dậy bạch Phật:

– Bạch đức Thế Tôn, trước khi được ngài chỉ dạy, đệ tử đã gặp hai người là Katyâyana và Vairatiputra, cả hai đều nói rằng thân này sau khi chết thì hoại diệt. Sự hoại diệt đó được gọi là Niết Bàn. Dù nay đệ tử đã được gặp đức Thế Tôn, nhưng vẫn chưa hiểu rõ điều này. Tất cả chúng đệ tử đây vẫn còn đang trong vòng luân hồi sinh tử, cầu mong làm thế nào để có thể nhận ra được cái Tâm vượt khỏi vòng sinh tử.

Đức Phật nói với vua Prasenajit rằng:

– Đại vương, nay ta hỏi về cái cơ thể máu thịt của nhà vua, nó vĩnh viễn hiện hữu, không thể phá hủy được như là kim cương, hay là nó thay đổi và hư hoại.

Nhà vua bạch rằng:

– Bạch đức Thế Tôn, cơ thể của đệ tử liên tục thay đổi và cuối cùng sẽ hoại diệt.

Đức Phật hỏi:

– Đại vương, ông chưa chết sao biết cơ thể sẽ hoại diệt?

Nhà vua bạch Phật:

– Bạch đức Thế Tôn, dù rằng cái cơ thể không vĩnh cửu mà luôn luôn đổi thay hư hoại này của đệ tử chưa chết, nhưng đệ tử quan sát thấy nó thay đổi và hoại diệt liên tục, không lúc nào ngưng, dù là một thoáng thời gian, âm thầm hoại diệt như lửa cháy tàn dần trở về hư vô.

Đức Phật hỏi:

– Đại vương, nay ông đã già, so sánh hình dáng hiện nay với hình dáng khi ông còn là cậu bé khác nhau ra sao?

Nhà vua trả lời:

– Bạch đức Thế Tôn, khi đệ tử còn nhỏ, da dẻ sáng mịn, đến khi thành niên khí lực sung mãn tràn đầy sức sống. Đến nay tuổi già sức yếu, thân hình còm cõi, thần khí chậm lụt, đầu tóc bạc trắng, da mặt nhăn nheo. Cho nên đệ tử biết rằng thời gian sống trên đời chẳng còn lâu dài gì nữa. Không thể đem cái cơ thể hao gầy của đệ tử ngày nay để so sánh với cơ thể sung mãn đầy sức sống, khi đệ tử còn trẻ được.

Đức Phật hỏi:

– Đại vương, hình dáng ông không phải là bỗng nhiên bị suy tàn, đúng không?

Vua Prasenajit bạch Phật:

– Bạch đức Thế Tôn, tuy nó âm thầm thay đổi liên tục một cách lặng lẽ khiến cho đệ tử không thể nhận ra một cách rõ ràng, nhưng cùng với bốn mùa đổi thay, dần dà hình dáng đệ tử thay đổi tàn tạ đi như ngày hôm nay.

Tại sao vậy?

Bạch đức Thế Tôn, khi đệ tử được 20 tuổi, tuy là còn trẻ trung, nhưng lúc đó đệ tử đã già hơn năm lên 10. Rồi khi 30 tuổi, lại già hơn năm 20. Cho đến ngày hôm nay, đệ tử được 62 tuổi, thì đã già yếu hơn khi mới năm chục tuổi. Bạch đức Thế Tôn, đấy là đệ tử nói về sự âm thầm thay đổi tính theo từng thập niên. Nhưng nếu quan sát kỹ, thì sự thay đổi xảy ra không phải là hằng năm, hằng tháng hoặc hằng ngày, mà nó xảy ra trong từng thoáng thời gian ngắn ngủi, từng sát na tâm thức sinh diệt. Do đó, đệ tử có thể thấy rõ một ngày kia thân này sẽ tàn tạ, sẽ chết.

Đức Phật dạy:

– Đại vương, ông quan sát sự thay đổi liên tục nơi thân ông và biết rằng ông sẽ chết. Nhưng ông có biết tại nơi ông, có cái gì không chết chăng?

Nhà vua chắp hai tay, bạch Phật:

– Bạch đức Thế Tôn, đệ tử thật là không biết.

Đức Phật dạy tiếp:

– Để ta sẽ chỉ ra cho ông thấy Tâm Bản Nhiên bất sanh bất diệt, ở ngoài vòng sinh tử. Đại vương, lần thứ nhất trong đời, ông thấy sông Hằng lúc được mấy tuổi?

Nhà vua bạch:

– Khi đệ tử 3 tuổi, được mẹ dẫn đi lễ thần Jiva. Khi qua sông, đệ tử biết đó là sông Hằng.

Đức Phật hỏi:

– Đại vương, ông mới nói rằng khi ông 20 tuổi, thì già hơn lên 10, cho đến khi 60, ngày qua tháng lại, năm tháng chồng chất, cơ thể ông âm thầm từng ý niệm đã đổi thay. Vậy năm ông lên 3, “tánh chất của sự thấy” có giống “tánh chất của sự thấy” năm ông 13 tuổi chăng?

Nhà vua bạch Phật:

– “Sự thấy” 3 tuổi cũng giống năm 13 tuổi, ngay cho tới nay đệ tử đã 62 tuổi, “sự thấy” cũng vẫn giống hồi đó.

Đức Phật dạy:

– Đại vương, ngày nay ông 62 tuổi, tóc bạc mặt nhăn, hiển nhiên là nhiều nếp nhăn hơn năm ông còn bé. Vậy ngày hôm nay ông thấy sông Hằng, ông có nhận ra rằng “tánh chất của sự thấy” hôm nay già hơn và “tánh chất của sự thấy” năm ông lên 3 trẻ hơn chăng?

Nhà vua bạch:

– Bạch đức Thế Tôn, “tánh chất của sự thấy” luôn luôn vẫn như nhau.

Đức Phật dạy:

– Đại vương, dù da mặt ông nhăn nheo, già đi, Tánh Thấy của ông vẫn trước sau như nhau, không già. Vậy thì, cái gì có già đi thì có thay đổi, cái gì không già đi thì không thay đổi. Sự thay đổi đi tới hoại diệt, sự không thay đổi thì bản chất vốn ngoài vòng sinh tử. Tại sao ông lại nói theo lời của bọn tà đạo Maskari cho là đời này sau khi chết trở thành hư vô.

Sau khi nghe lời dạy của đức Phật, vua Prasenajit nhận ra được rằng sau khi chết không phải là cõi hư vô, mà sẽ tái sinh vào đời sống mới. Nhà vua và toàn thể chư đệ tử đều rất vui mừng được nghe một bài pháp vô cùng quý giá về Tâm Bản Nhiên bất sanh bất diệt mà họ chưa từng được nghe.

Thưa quý thính giả,

Tâm Bản Nhiên ở đây chính là Bản Thể Tuyệt Đối, Phật Tâm, Phật Tánh, Giác Tánh, Giác Tri Kiến, Tri Kiến Phật, Chân Tâm, Tâm Chân Như, Trí Tuệ Bát Nhã (Prajna Paramita), Niết Bàn, Tánh Không, Buddha Nature, Buddha Mind, True Mind, True Nature, … vân vân …

Theo Luận Đại Thừa Khởi Tín của Luận Sư Mã Minh thì Tâm chúng sanh có hai phương diện là Tâm Chân Như và Tâm Sanh Diệt, còn gọi là Chân Tâm và Vọng Tâm. Nền tảng của “Tâm Sinh Diệt” là Tàng Thức, nghĩa là cái kho, còn gọi là Thức Thứ Tám trong Tâm Lý Học, mà thuật ngữ nhà Phật gọi là Duy Thức Học. Nhà Phật quan niệm rằng tất cả các hiện tượng trên thế gian đều do Tâm Thức biến hiện mà thành, cho nên gọi là Duy Thức.

Theo kinh Viên Giác của nhà Phật, thì “Tất cả chúng sinh vốn là Phật” cũng như vàng vốn sẵn là vàng, nhưng là vàng quặng, lẫn tạp chất, nên phải gạn lọc, xả bỏ tạp chất cho sạch để trở về bản chất vàng, chứ không phải dùng chất khác mà làm thành vàng được. Tu hành cũng vậy, chỉ là xả bỏ chất độc hại là Tham Sân Si, chấm dứt vọng tâm điên đảo, thanh tịnh hóa Tâm, là trở về Bản Thể Phật Tánh, mà Sơ Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma dùng chữ của thế gian cho dễ hiểu, gọi là “Kiến Tánh thành Phật”.

Theo quan điểm của nhà Phật thì dòng sinh mệnh khởi đi do một niệm vô minh bất giác bỗng nổi lên từ Biển Tâm mênh mông, cũng như người đang thức, chớp mắt đã lạc vào giấc ngủ. Trong mơ, thấy đủ thứ hiện ra, bị đánh cũng thấy đau, khóc cũng có nước mắt, sợ hãi cũng chạy trốn, vân vân … Nhưng thời gian của giấc ngủ bình thường chỉ lâu có một đêm, sáng dậy bèn biết ngay rằng chuyện xảy ra trong đêm là ngủ mơ, không thật.

Dòng sinh tử của con người kéo dài triền miên, từ cái niệm vô minh bất giác đó khởi đi, hết đời này tới kiếp khác, tạo nghiệp thiện, hoặc ác, tất cả đều chứa trong Tàng Thức (là cái kho), làm nhân cho những kiếp sau, tiếp tục trôi lăn trong mê vọng của sinh tử luân hồi, mãi đến khi nào thức tỉnh, trở lại được trạng thái Tâm Thanh Tịnh, thì mới hội nhập lại với Bản Thể Chân Tâm được, đó là Kiến Tánh thành Phật. Phật có nghĩa là người giác ngộ, không phải là thần linh.

Thưa quý thính giả,

Tất cả các con đường tu học của Phật giáo đều nhấn mạnh vào sự thanh tịnh hóa và luyện cho Tâm được an định. Tâm có an định thì mới có thể nhìn rõ sự việc trên thế gian, cũng như thùng nước có đứng lặng thì mới nhìn thấy cây kim dưới đáy. Do Tâm an định, đời sống tinh thần được an lạc, ứng xử sáng suốt, chuyển hóa nghiệp xấu trở thành tốt, tạo nền tảng cho sự tu hành rốt ráo đến kiến Tánh thành Phật, giải thoát khỏi tất cả nỗi thống khổ.

Để đạt được điều này, nhà Phật có những pháp môn tu, thí dụ Ngũ Đình Tâm Quán, Thiền Chỉ Quán, Thiền Tứ Niệm Xứ, Thiền Tông, Thiền Minh Sát, Tịnh Độ Tông, Mật Tông, vân vân… Hành trì theo đường lối của các pháp môn tu này sẽ giúp hành giả gỡ bỏ những vướng mắc Tham Sân Si vốn đã xuất hiện từ vô thủy.

Như thế, đạo Phật không bi quan, không lạc quan, chỉ phân tích rõ ràng thực tế vận chuyển của cuộc đời và dạy những pháp môn tu tập để mọi người được tỉnh thức thật sự, tiếp cận với đời sống ngay trong hiện tại một cách vững vàng, sáng suốt.

Thưa quý thính giả, 

Nhân đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện Thiền, trích dịch từ cuốn “Only Don’t Know, The Teaching Letters of  Zen Master  Seung Sahn”, câu chuyện như sau:

“Hồi đó, trên dẫy núi mênh mông có một con gấu đen to lớn, khỏe và đẹp, ngênh ngang tung hoành. Nó sống cuộc đời  đầy tự do và hạnh phúc. Ngoài những lúc lăn ra ngủ, nó dùng hầu hết thời giờ để đi kiếm thức ăn. Cũng có khi nó kiếm được ê hề, nhưng cũng có khi nó đi không rồi lại về không. Cuộc đời nó cứ thế mà trôi, tự do tự tại.

Thế rồi một ngày kia, có một đám người tới bắt nó đem về nhốt vào chiếc chuồng nhỏ của một gánh xiếc lớn. Chẳng mấy chốc nó đã được một nhà luyện thú dậy cho biết cách đóng trò trong gánh xiếc này. Mỗi lần con gấu biểu diễn đúng theo lời dậy thì nó được cho ăn no nê.

Ngoài giờ đóng trò, nó chỉ đi tới đi lui trong chuồng. Cái chuồng thì nhỏ, nên nó biết rõ đến nỗi thuộc làu từng chi tiết. Đồ ăn thì luôn luôn ê hề cho nên chẳng bao lâu nó đã quên biến mất quãng đời liệt oanh, khi mà nó một mình một giang sơn nơi rừng sâu núi thẳm.

Nhiều năm trôi qua, một đêm kia có mấy kẻ phá hoại lẻn vào gánh xiếc phá bung tất cả các chuồng để thả thú ra. Con gấu bỗng nhiên được tháo cũi xổ lồng, vội vã bỏ gánh xiếc chạy thục mạng một mạch về vùng núi xưa, nơi đã một thời là giang sơn của nó.

Nhưng dẫy núi xưa đó sao nay có vẻ xa lạ quá khiến cho nó không còn dễ dàng kiếm được đồ ăn như trước nữa. Thế là nó bèn quay ra biểu diễn vài màn nhào tới lộn lui, rồi lại nhào lui lộn tới.

Có mấy con gấu đi ngang qua dừng lại coi, rồi hỏi rằng nó đang làm gì, thì nó trả lời:

– Ồ, tao đang làm trò xiếc để sẽ được cho ăn  đấy mà.

Cả đám gấu khán giả lăn ra cười:

– Rõ thật là cái thằng ngốc! Mày đang ở trên núi. Ai sẽ đem thức ăn đến để thưởng công biểu diễn xiếc cho mày. Hãy tự đi mà kiếm ăn, thằng ngu kia!

Nhưng bây giờ thì con gấu đã trở nên quá gắn bó với cái chuồng của nó, khiến cho nó quên tuốt luốt tất cả mọi sinh hoạt của đời sống tự do tự tại.

Loài người thì cũng thế. Mỗi người đều có một cái lồng mà họ bị dính mắc vào — cái lồng của bác sĩ, cái lồng của luật sư, cái lồng của giáo sư, cái lồng của công việc, cái lồng của tình bằng hữu, cái lồng của tình gia đình.

Vì con người sống trong những cái lồng này cho nên họ không còn thật sự thấu hiểu thế nào là tự do nữa. Điều đó có nghĩa là họ không hiểu biết phần còn lại của vũ trụ. Họ chỉ thấu suốt được cái đời sống loanh quanh hẹp hòi, đóng khung trong cái lồng của họ.”

Thưa quý thính giả,

Cái lồng mà thiền sư Seong Sahn nói đó, áp dụng vào thực tế trong đời sống, chính là cái khung, cái khuôn khổ, nếp sống vật chất và tinh thần cứng ngắc mà mỗi người tự nhốt mình vào, tự mình làm mất tự do của chính mình.

Kính thưa qu‎‎ý vị,

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 27 – Tâm được tịnh rồi, tội liền tiêu

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Vào một buổi bình minh khi sao Mai xuất hiện trên bầu trời, thái tử Tất Đạt Đa bừng tỉnh cơn mê vọng từ vô lượng kiếp, Giác Ngộ triệt để, trở thành một vị Phật. Ngay khi đó, Ngài thấu suốt mọi sự việc, bèn than rằng: “Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có trí huệ đức tướng Như Lai, chỉ vì vọng tưởng chấp trước mà chẳng thể chứng đắc”!

Do thấu triệt sự thực đó, đức Phật khởi tâm từ bi, dùng tất cả thời giờ còn lại trên thế gian gấn năm chục năm, để dạy chúng sinh tu hành tới giác ngộ giải thoát, thành Phật như Ngài.

Tuy thời gian giáo hóa chúng sinh dài gần nửa thế kỷ, tựu trung, cốt tủy tất cả những lời dạy đó được đức Phật tóm tắt bằng tuyên ngôn:

– “Này chư Tỳ kheo, bây giờ cũng như trước đây, Như Lai chỉ dạy về “Khổ” và về “Con Đường Diệt Khổ”.

Có người cho rằng đức Phật nói đời là bể khổ, nghĩa là không có niềm vui nào ở thế gian, nên phải tu hành để sau khi chết sẽ được vào Niết Bàn mới hết khổ.

Nói như thế là đã hiểu lầm rất lớn lời dạy của Đức Phật.

Đức Phật cũng nói đến hạnh phúc, nhưng ngài dạy rằng vì tất cả mọi sự trên thế gian đều không vĩnh viễn, đều vô thường, vì thế, hạnh phúc trên thế gian dĩ nhiên là có, nhưng vì không vĩnh viễn, nên khi nó chấm dứt thì khổ.

Nơi kinh Hạnh Phúc, trong khi các vị Trời và người suy tư và mong mỏi được hạnh phúc, mới bạch lên đức Phật, xin giải nghĩa thế nào là chân hạnh phúc?

Đức Phật dạy đại ý như sau:

– “ Muốn có hạnh phúc chân thật thì phải:

* Biết kính trọng và gần gũi các bậc hiền đức, đáng kính và tránh những kẻ si mê.

* Nên ở khu dân cư hiền hòa, giữ gìn sự ngay thẳng và các giới luật.

*Trong giao tiếp với tha nhân cần phải hòa ái.

* Phải phụng dưỡng cha mẹ và thương yêu gia đình vợ chồng con cái, không gây nên những chuyện vương vấn phiền hà.

* Đối với thân nhân chòm xóm cần phải khiêm cung, cảm thông và giúp đỡ lẫn nhau, mang ơn ai thì nên nhớ.

* Tránh xa rượu chè và các tệ nạn, nên sống theo đạo đức.

* Thường viếng thăm các bậc tu hành đạo cao đức trọng để thảo luận.

* Gìn giữ sự trong sạch thân và tâm, siêng năng tu tỉnh để thông suốt chân lý mới có được niềm vui thanh tao an tịnh.

* Trong giao tiếp với thế gian, gìn giữ để không bị sa ngã, buồn phiền.

Nếu giữ được thân tâm an bình thanh thản như vậy thì đó chính là chân hạnh phúc”.

Thưa quý thính giả,

Trong bộ luận Trung Quán, Luận Sư Long Thọ (Nagarjuna) đã viết rằng chư Phật nói pháp nương theo hai chân lý, là chân lý quy ước và chân lý tuyệt đối. Nếu người học Phật mà không phân biệt được hai chân lý này thì không thể tiến được tới đích là Niết Bàn.

Thật vậy, trong đời sống hằng ngày, chúng ta phải tuân theo chân lý quy ước, do đó, cũng có những hạnh phúc trong vòng quy ước.

Nhưng nếu tu hành thanh tịnh hóa tâm, Thực Chứng được Bản Thể Chân Tâm, thì chúng ta đạt được hạnh phúc Niết Bàn, hạnh phúc đó vượt lên trên những hạnh phúc nhỏ bé trong đời thường.

Để có thêm tài liệu về sự cần thiết tập giữ cho tâm tĩnh lặng, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị bài pháp của đức Đạt Lai Lạt Ma, trích dịch từ cuốn The Art of Happiness, a Handbook of Living, nội dung gồm những cuộc đối thoại giữa đức Đạt Lai Lạt Ma và bác sĩ Howard Cutler về các vấn đề liên quan đến hạnh phúc của kiếp người.

Đề cập đến vấn đề làm thế nào để có hạnh phúc trong đời sống, ngài Đạt Lai Lạt Ma giải thích rằng:

– …”… Dù có thể đạt được đấy, nhưng hạnh phúc không phải là  chuyện giản dị. Có nhiều mức độ của hạnh phúc. Lấy thí dụ như trong đạo Phật, người ta thường đề cập đến 4 yếu tố đem lại sự thỏa mãn, tạm gọi là hạnh phúc, gồm có giầu có, danh vang thế giới, sự thông tuệ và minh triết. Tổng hợp những điều này lại, là tiêu chuẩn của hạnh phúc mà một người có thể đạt được.

Hãy tạm gác qua một bên những điều cao xa về tâm linh như sự thanh tịnh toàn hảo, sự giác ngộ triệt để. Chúng ta hãy bàn về những niềm vui và hạnh phúc đời thường.

Trong đời sống hằng ngày, cũng có những yếu tố then chốt mà chúng ta thừa nhận là đã mang lại niềm vui và hạnh phúc. Thí dụ như khỏe mạnh, không bệnh tật, cũng là một trong những điều cần thiết phải có của một cuộc sống hạnh phúc. Hoặc sự phong phú về của cải vật chất, tiền bạc tích lũy, cũng được coi là những yếu tố tạo dựng hạnh phúc. Rồi thì tình bạn hoặc tình tri kỷ, tri âm. Chúng ta đều công nhận rằng muốn có một cuộc sống phong phú, mãn nguyện, chúng ta cần có một số bạn bè cảm thông với chúng ta và chúng ta có thể tin cậy được.

Bây giờ chúng ta thấy rằng tất cả những yếu tố kể trên là nguồn mang hạnh phúc lại cho chúng ta. Thế nhưng, để mỗi người có thể ứng dụng triệt để vào mục tiêu tận hưởng hạnh phúc của cuộc đời thì trạng thái tinh thần mới chính là yếu tố quyết định.

Nếu chúng ta đem những lợi điểm của chúng ta , thí dụ sức khỏe hoặc tiền bạc phong phú dùng vào những lãnh vực tích cực như giúp đỡ tha nhân thì đúng là chúng sẽ mang lại cho chúng ta cuộc sống hạnh phúc.  Và chắc chắn là chúng ta cũng sẽ tận hưởng được hương vị của cuộc sống vật chất đầy đủ và thành công này.

Nhưng nếu không có cuộc sống tích cực, lành mạnh, không quan tâm đến yếu tố tinh thần, thì những lợi điểm mà chúng ta có như tiền bạc, sức khỏe, cũng sẽ chỉ ảnh hưởng rất ít vào niềm hạnh phúc trường cửu của chúng ta.

Thí dụ, nếu bạn giữ lại những ý tưởng ghét bỏ, căm hờn trong đáy lòng, thì những tâm niệm đó sẽ tàn phá sức khỏe của bạn, thế là chúng đã làm mất đi một trong những yếu tố mang lại hạnh phúc.

Cũng thế, nếu trong lòng bạn đầy phiền não, bất mãn, thì dù thể chất bạn có mạnh đến đâu cũng không thể gỡ rối cho tâm hồn.

Mặt khác, nếu bạn giữ được sự an tịnh trong nội tâm thì bạn có thể là một người rất hạnh phúc, dù bạn có thể chất yếu đuối đi nữa. Hoặc ngay như bạn có những vật sở hữu quý giá, trong lúc nổi giận, bạn cũng thấy như là muốn liệng bỏ, đập phá tất cả. Trong cơn giận dữ, những vật sở hữu, của cải, chẳng còn có ý nghĩa gì.

Ngày nay, có những xã hội phát triển mà đời sống tiện nghi vật chất lên rất cao, nhưng cũng chính ở những xã hội đó, lại có rất nhiều người không cảm thấy hạnh phúc. Ngay dưới lớp mặt tiền đẹp đẽ của sự sung túc, là những mỏi mệt của tâm hồn, đưa đến thất vọng, đến những sự tranh cãi vớ vẩn, những lệ thuộc vào chất kích thích, hoặc say sưa rượu chè. Đôi khi còn xảy ra những trường hợp thê thảm hơn, là tự sát.

Cho nên không thể bảo đảm rằng chỉ cần lắm bạc nhiều tiền là đã có thể đem lại niềm vui hoặc sự mãn nguyện, điều mà người ta đang đi tìm.

Trong tình bạn cũng thế, khi bạn đang nổi trận lôi đình, thì dù ngay đến người bạn chí thân của bạn, cũng hiện lên trong tâm trí bạn với cảm giác băng giá, lạnh nhạt, xa cách và khó chịu.

Tất cả những điều trên đây nói lên tầm ảnh hưởng sâu rộng của yếu tố tinh thần mà chúng ta đã có kinh nghiệm trong đời sống hằng ngày, cho nên, chúng ta cần phải rất quan tâm.

Vậy thì hãy tạm để vấn đề tu tập về tâm linh qua một bên, ngay như chỉ với những việc thông thường, chỉ là vấn đề vui thú trong đời sống hằng ngày mà thôi, nếu chúng ta càng giữ được sự tĩnh lặng trong tâm hồn bao nhiêu thì chúng ta càng đạt được niềm hoan hỉ, hạnh phúc bấy nhiêu.”

Ngừng một lát như muốn cho lời giải thích đủ thời gian thấm vào lòng người nghe, ngài Đạt Lai Lạt Ma tiếp:

– Tôi cần phải xác định rõ là khi chúng ta nói về trạng thái tâm hồn an tịnh, hoặc tâm hồn bình ổn, chúng ta đừng lầm lẫn với tình trạng lãnh đạm, vô cảm. Một tâm hồn tĩnh lặng không phải là một đầu óc rỗng tuếch hoặc hoàn toàn trống vắng. Tâm hồn an tịnh hoặc trạng thái bình tĩnh bắt nguồn từ tình thương yêu và lòng trắc ẩn rất sâu đậm, là mức độ cao của sự mẫn cảm.”

Để kết thúc, ngài Đạt Lai Lạt Ma nói:

-“Thiếu sự rèn luyện để có một trạng thái tĩnh lặng trong tâm hồn thì bất kể bạn có bao nhiêu của cải hoặc có những điều kiện sống tốt như thế nào, chúng cũng không thể mang lại cho bạn cảm giác an lạc và hạnh phúc, là những điều bạn đang tìm kiếm.

Mặt khác, nếu bạn có được sự an bình nội tâm, thì dù có thể là bạn đang thiếu những của cải vật chất mà bạn thường tưởng rằng chúng là những điều cần thiết để mang lại hạnh phúc, bạn vẫn có thể sống một cuộc đời rất vui vẻ và hạnh phúc.”

Trên đây là bài pháp của đức Đạt Lai Lạt Ma nói về hạnh phúc trong đời sống hằng ngày.

Thưa quý thính giả,

Về vấn đề tội lỗi, nhà Phật quan niệm rằng nguyên nhân vì vô minh, khởi những tâm niệm xấu ác, di chuyển trong vòng nhân quả, tạo nghiệp nhân, thọ quả báo, tánh của tội lỗi vốn không cố định, cũng ví như căn nhà không có đèn thì tối, nếu bật đèn lên thì bóng tối biến mất, căn nhà sáng trưng, căn nhà không cố định phải tối mãi mãi.

Tâm con người cũng chuyển hóa như thế, lúc nhiều vọng tưởng, tâm viên ý mã thì dễ tạo nghiệp, khi tâm đã thanh tịnh thì nghiệp cũng chuyển hóa thành không.

Có bài kệ như sau:

Tội từ tâm khởi đem tâm sám
Tâm được tịnh rồi, tội liền tiêu
Tội tiêu, tâm tịnh, thảy đều không
Thế mới thật là tâm sám hối.

Yếu tố quyết định của công cuộc xây dựng hạnh phúc trong đời sống, hoặc tu tập tới đạt đạo trong nhà Phật vẫn là chuyển hóa tâm thức.

Thưa quý thính giả,

Nhân đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện Thiền, trích dịch từ cuốnCollection of Stone and Sand”, do thiền sư Muju viết bằng Nhật ngữ, Paul Reps dịch sang Anh Ngữ. Câu chuyện nói về sự chuyển hóa tâm thức của một người say sưa hư hỏng trở thành một vị đạo sư cao quý, như sau:

“Thiền sư Gudo là thày của hoàng đế  đương triều. Dầu vậy, ông thường đi lang thang một mình như tên ăn mày không nơi trú ngụ.

Một lần trên đường đến thủ phủ Edo, trung tâm văn hóa và chính trị của thời đại Tướng Quân, ông tiến về phía làng Takenaka. Lúc đó trời đã về chiều và mưa rơi nặng hạt, cả người thiền sư Gudo ướt sũng, đôi dép rơm bở ra thành từng mảnh. Ông bỗng nhìn thấy 4, 5 đôi dép trên thành cửa sổ của một nông trại ngay gần làng, liền tiến lại định mua một đôi khô ráo.

Nhưng bà chủ nhà không bán mà biếu ông một đôi, đồng thời mời ông ở lại qua đêm tại nông trại vì cả người ông đã ướt sũng nước. Thiền sư Gudo nhận lời ở lại và cảm ơn bà ta. Ông tiến đến trước bàn thờ và tụng một bài kinh. Sau thời kinh, bà chủ giới thiệu mẹ và bầy con của bà ta với vị khách quý.

Thấy mọi người trong gia đình đều có vẻ buồn bã, không vui, thiền sư bèn hỏi lý do. Bà chủ nhà tiết lộ:

– Chồng tôi là một người ham mê cờ bạc, rượu chè. Nếu ông ta đánh thắng, thì ông ta đem tiền đi nhậu say sưa, rồi về đánh đập vợ con. Khi thua thì ông ta mượn tiền mọi người. Hôm nào say quá, ông ta vắng nhà qua đêm luôn, không về. Tôi còn có thể làm gì bây giờ?

Thiền sư trả lời:

– Vậy tôi sẽ giúp ông ta. Bà cầm chút tiền này đi mua một vò rượu và đồ nhắm ngon để sẵn đây rồi cứ việc đi nghỉ. Tôi sẽ tọa thiền trước bàn thờ là được rồi.

Khoảng nửa đêm, ông chủ nhà ngất ngưởng trở về, giọng lè nhè gầm gừ:

– Này con mụ vợ, ta đã về đây, có gì cho ta bỏ vào bụng không?

Thiền sư Gudo lên tiếng:

– Có đây, tôi có đồ ăn cho ông đây. Tôi mắc mưa bất thình lình nên bị ướt hết. Vợ ông đã có lòng tốt cho tôi tá túc đêm nay. Cảm tạ sự tử tế của bà ấy, tôi đã mua vò rượu và cá, ông có thể nhắm nháp.

Ông chủ nhà vui vẻ xách vò rượu lên tu một hơi, rồi đổ kềnh xuống sàn nhà, thiếp đi. Thiền sư Gudo tọa thiền ngay bên cạnh ông ta.

Sáng hôm sau khi thức giấc, ông chủ nhà đã quên mất tiêu mọi chuyện xảy ra đêm qua. Nhìn thấy thiền sư Gudo đang tọa thiền ngay bên cạnh, ông cất tiếng hỏi:

– Ông là ai, từ đâu tới?

Thiền sư trả lời:

– Tôi là Gudo ở Kyoto đang trên đường đến Edo.

Ông chủ nhà cảm thấy quá sượng sùng, thiết tha xin lỗi vị thiền sư đồng thời cũng là thày của hoàng đế.

Thiền sư cười, an ủi:

– Ông à, tất cả mọi sự trên đời này đều vô thường, không vĩnh viễn tồn tại. Cuộc đời rất ngắn ngủi. Nếu ông cứ cờ bạc rượu chè thì sẽ không còn thời giờ để hoàn tất việc gì, ngoài ra, ông còn làm cho cả gia đình đều khổ.

Người chồng bỗng như chợt tỉnh mộng thốt lên:

– Ngài nói đúng. Làm sao tôi có thể trả cái ơn ngài đã dạy tôi bài học tuyệt vời này. Để tôi mang đồ của ngài và tiễn ngài một đoạn đường.

Thiền sư chấp nhận lời thỉnh cầu:

– Nếu ông muốn thì tốt thôi.

Hai người lên đường. Đi được khoảng ba dặm, thiền sư bảo người đàn ông trở về. Nhưng ông ta năn nỉ:

– Để tôi đi 5 dặm nữa thôi.

Rồi họ tiếp tục đi. Một lát sau, thiền sư dục người đàn ông:

– Bây giờ thì trở về nhé.

Ông ta trả lời:

– Để tôi đi thêm 10 dặm.

Một thời gian phỏng chừng đã đi được quá mười dặm, thiền sư lên tiếng:

– Thôi về đi ông.

Nhưng người đàn ông dõng dạc trả lời:

– Thưa ngài, tôi sẽ đi theo ngài suốt cuộc đời này.

Ngày nay, có một dòng thiền rất phát triển tại Nhật, truyền thừa từ một bậc thày danh tiếng vốn là truyền nhân của đại sư Gudo. Tên của bậc thày đó là Mu-nan, có nghĩa là “người không bao giờ quay lại”.

Thưa quý thính giả,

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 

Bài 26 – Sống đạo trong gia đình

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Như quý vị đã biết, nội dung tu tập của đạo Phật có thể tóm gọn lại trong bốn câu kệ:

Không làm điều xấu, ác

Siêng làm điều tốt, lành

Thanh tịnh hóa tâm ý

Lời chư Phật dạy rành

Trong đó, hai câu đầu “Không làm điều xấu ác” và “Siêng làm điều tốt lành” là phần tu hành để chuyển hóa tâm niệm và hành động từ xấu trở thành tốt, ta thường gọi là Tu Phước, là giữ gìn 5 Giới và làm 10 điều Thiện.

Câu thứ 3, “Thanh tịnh hóa tâm ý”, là mục tiêu cốt tủy của đạo Phật, là Tu Huệ. Giai đoạn tu Huệ này mà hành trì tích cực thì có thể Ngộ Đạo, giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, kiến Tánh thành Phật, như đức Phật.

Như thế, những Phật tử dù đang sống trong gia đình, thậm chí trong đại gia đình có đông người, nếu muốn áp dụng đạo Phật vào đời sống hằng ngày, vẫn có những hướng dẫn chi tiết, tỉ mỉ, do đức Phật và các vị đạo sư thiết lập, để Phật tử cư sĩ có thể thực hiện ngay trong tầm tay, mà không cần phải vào chùa hoặc lên núi tu hành mới có thể áp dụng được lời Phật dạy.

Thưa quý thính giả,

Ðạo Phật đã bị hiểu lầm rất nhiều, người thì cho rằng Tăng Ni nhà Phật chỉ lo cúng đám làm chay cho người chết, kẻ lại nghĩ rằng đạo Phật chỉ thích hợp với các bậc tu sĩ ở ẩn.

Với mục đích trình bày minh bạch sự trong sáng của đạo Phật, đồng thời cũng để quý vị có một bài pháp rất chi tiết để áp dụng hằng ngày, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một bài giảng, trích từ cuốn What the Buddha Taught, tác giả là hòa thượng Walpola Rahula, do đạo hữu Vy Khanh dịch ra Việt ngữ.

Hòa thượng dạy rằng:

…”… Có một số người cho là đạo Phật quá cao siêu, một đường lối tu quá nghiêm túc, khắc khổ, khiến cho những người dân bình thường sống trong thế giới ngày nay không thể kham nổi. Như thế, nếu muốn thực hành giáo pháp, muốn làm một Phật tử chân chính, người ta phải rút lui vào các tu viện, hoặc những nơi vắng vẻ.

Rõ ràng đây là một sự hiểu lầm rất đáng tiếc, do thiếu hiểu biết về giáo lý nhà Phật. Người ta thường vội vã có những kết luận sai lầm như thế, sau khi nghe một vài mẩu chuyện, hoặc tình cờ đọc một cuốn sách, mà vì thiếu sự tìm hiểu rộng rãi, tác giả đã viết về đạo Phật một cách phiến diện.

Giáo lý của nhà Phật không phải chỉ dành riêng cho giới tu sĩ trong tu viện, mà là của tất cả mọi người, kể cả những nam nữ cư sĩ sống trong gia đình. Tuân theo Bát Chánh Ðạo là sống trong tinh thần Phật giáo. Dù là tu sĩ hay cư sĩ, mọi người đều có thể áp dụng nguyên tác này vào cuộc đời, không phân biệt.

Ðại đa số dân chúng trên thế giới không thể trở thành tu sĩ, hay rút lui vào các hang động hoặc rừng sâu núi thẳm để ẩn tu. Vậy nếu những người này mà không ứng dụng được lời dạy của đức Phật vào đời sống hằng ngày của họ thì dù những lời dạy ấy có cao siêu, tinh khiết đến đâu đi nữa, đối với họ cũng là vô dụng. Tuy nhiên, nếu bạn hiểu đúng tinh thần của giáo pháp, — không phải chỉ hiểu theo từ ngữ  —  thì chắc chắn bạn có thể thực hành Phật pháp trong khi vẫn sống cuộc đời bình thường.

Có thể có một số người cảm thấy nếu ở ẩn tại một nơi xa xôi vắng vẻ, chấm dứt các hoạt động xã hội, thì sự hành trì Phật pháp sẽ dễ dàng và thoải mái hơn. Nhưng lại cũng có thể có người thấy rằng đời sống ẩn dật đó thật là tẻ nhạt, khiến cho cả tâm hồn và thể xác của họ đều uể oải, không thể giúp cho cuộc sống tinh thần và nội tâm của họ được thăng hoa.

Sự ẩn dật chân chính không có nghĩa là phải xa lánh hẳn thế gian. Tôn giả Sariputta, một đại đệ tử của Phật nói rằng, một người có thể tu khổ hạnh trong rừng nhưng tâm vẫn đầy những tư tưởng ô nhiễm, bất tịnh, trong khi một người khác có thể sống trong làng mạc hay thành thị, không thực hành khổ hạnh, mà tâm lại thanh tịnh, trong sáng. Ngài nói, so sánh giữa hai người ấy, thì người sống cuộc đời thanh tịnh nơi làng mạc, thành thị, lại cao cả và giá trị hơn người kia rất nhiều.

Dường như đối với một số người thì sự lui về ẩn tu trong một nơi vắng vẻ, không bị quấy nhiễu phiền phức, sẽ cảm thấy thoải mái. Nhưng nếu có thể thực hành Phật pháp tại nơi ồn náo, sống giữa đồng loại để giúp đỡ và phục vụ họ, thì lại càng can đảm và đáng khuyến khích hơn. Trong vài trường hợp, người ta có thể sống ẩn dật để tịnh tu một thời gian cho đời sống nội tâm thêm sâu sắc, đạo lực thêm bền chắc, ngõ hầu trau giồi cho nhân cách tăng trưởng, thêm khả năng để sau này giúp đỡ mọi người.

Mặc dầu vậy, nếu có người nào mà lại đem cả cuộc đời dành cho sự sống trong cô độc, chỉ nghĩ đến hạnh phúc và “cứu rỗi” cho riêng mình, không quan tâm đến đồng loại, thì điều này chắc chắn không phù hợp với lời dạy của đức Phật, vốn đặt nền tảng trên tình thương, lòng trắc ẩn và sự phục vụ tha nhân.

Kinh Sigala-Sutta đã nói lên sự quan tâm sâu sắc của đức Phật đối với cách hành xử của người cư sĩ tu tại gia, trong những mối dây liên hệ với gia đình và thân bằng quyến thuộc, như sau:

Có một chàng thanh niên tên Sigala, vâng theo lời dặn dò của người cha trước khi qua đời, hằng ngày thường quay mặt về sáu Phương là Ðông, Nam, Tây, Bắc, Trên, Dưới, để sì sụp lễ lạy.

Ðức Phật bảo anh ta rằng theo Phật pháp, sáu Phương có nghĩa khác. Phật pháp dạy rằng Phương Ðông là cha mẹ, Phương Nam là thầy dạy, Phương Tây là vợ con, Phương Bắc là bạn bè, quyến thuộc, láng giềng, Phương Dưới là người làm công và thợ thuyền, Phương Trên là tu sĩ và đạo sư. Ngài dạy Sigala phải tôn kính sáu Phương này. Ở đây chữ  tôn kính có ý nghĩa rất đặc biệt, vì người ta chỉ tôn kính cái gì thiêng liêng, cao quý, đáng kính. Ðạo Phật coi sáu nhóm người này như là những điều thiêng liêng, xứng đáng được tôn kính.

Nhưng làm thế nào để tỏ lòng tôn kính?

Ðức Phật dạy rằng chỉ có thể tỏ lòng tôn kính chân thành bằng cách làm tròn bổn phận đối với họ. Những bổn phận này được đức Phật giảng giải rõ ràng cho Sigala như sau:

– Thứ nhất: cha mẹ là thiêng liêng đối với con cái. Cha mẹ là Trời. Từ ngữ “Trời” để biểu tượng sự cao quý và thiêng liêng nhất, theo tư tưởng Ấn Ðộ. Cho nên ngay tại thời đại này, trong những gia đình theo đạo Phật thuần thành, sáng chiều hằng ngày, con cái vẫn có những hành động để tỏ lòng tôn kính cha mẹ. Họ phải làm một số bổn phận đối với cha mẹ theo giáo lý nhà Phật: Săn sóc khi cha mẹ già yếu, làm những điều cần thiết để giúp đỡ cha mẹ, giữ gìn danh dự và truyền thống gia đình, bảo vệ tài sản cha mẹ để lại, và khi cha mẹ qua đời thì cử hành các nghi thức trong tang lễ của cha mẹ.

Về phần cha mẹ, họ cũng có những bổn phận đối với con cái, phải giữ gìn, dạy bảo cho con cái tránh xa những đường tà, khuyến khích con cái làm những việc tốt lành và ích lợi, cho con cái được hưởng một nền giáo dục chu đáo, tìm những gia đình lương thiện cho con cái kết hôn và khi con cái đã trưởng thành thì chia gia tài cho họ.

– Thứ hai: liên hệ giữa thầy và trò. Người học trò phải kính trọng và vâng lời thầy, phải chú ý đến những sự cần thiết của thầy, nếu thầy cần, phải chăm lo học hành. Về phía thầy, phải tận tâm dạy bảo học trò một cách chu đáo, giới thiệu bạn tốt cho trò và khi trò tốt nghiệp thì cố gắng tìm việc làm để bảo đảm kế sinh nhai cho trò.

– Thứ ba: liên hệ giữa chồng và vợ. Tình yêu giữa vợ chồng được coi gần như một nếp sống đạo, có tính cách thiêng liêng. Giữa vợ và chồng phải có sự tin cậy, kính trọng, hy sinh, và có những bổn phận đối với nhau. Chồng phải luôn luôn tôn trọng vợ, không được thiếu sự kính nể đối với vợ, phải thương yêu và chung thủy đối với vợ, phải bảo đảm vị trí và tiện nghi của vợ, và nên làm vui lòng vợ bằng cách tặng nàng y phục và nữ trang. (Sự kiện đức Phật không quên đề cập đến việc tặng quà cho vợ khiến chúng ta thấy được sự mẫn cảm và tế nhị đầy nhân bản của Ngài đối với niềm cảm xúc của những con người bình thường). Về phía người vợ, phải tề gia nội trợ chu đáo, làm vui lòng khách khứa, bạn bè, thân nhân và người làm công. Vợ phải yêu thương và chung thủy với chồng, phải biết giữ gìn gia sản, phải khôn khéo và hoạt bát trong công việc.

– Thứ tư: liên hệ giữa bạn bè, bà con, hàng xóm láng giềng: Mọi người phải niềm nở và tử tế đối với nhau, nói năng vui vẻ, hòa nhã, phải làm việc có lợi ích cho nhau và đối xử bình đẳng với nhau, không cãi cọ mà giúp đỡ lẫn nhau khi cần và đừng bỏ rơi khi người ta gặp hoàn cảnh khó khăn.

– Thứ năm: liên hệ giữa chủ và người làm công: người chủ có nhiều bổn phận đối với người giúp việc hoặc người làm công, phải lượng sức của người ta để mà giao việc phù hợp, tiền lương phải tương xứng, phải cung cấp thuốc men và thỉnh thoảng tặng thưởng cho người ta. Về phía người làm công thì phải chăm chỉ làm lụng, không lười biếng, phải lương thiện và vâng lời chủ, không ăn gian nói dối và phải tận tụy trong công việc

– Thứ sáu: liên hệ giữa tu sĩ và cư sĩ: với niềm kính quý, người cư sĩ phải quan tâm đến những nhu cầu vật chất của tu sĩ,người tu sĩ phải truyền bá sự hiểu biết cho cư sĩ với tấm lòng từ bi, lân mẫn và hướng dẫn họ đi trên chánh đạo, không lọt vào tà đạo.

Như vậy, chúng ta đã thấy rõ rằng dù là một người dân bình thường sống trong gia đình, tham dự những sinh hoạt ngoài xã hội, họ vẫn được thụ hưởng sự giáo hóa của đức Thế Tôn, vẫn có thể tu tập, tạo sự an lạc trong nếp sống của một người Phật tử …”…

Trên đây là lời dạy của hòa thượng Walpola Rahula.

Thưa quý thính giả,

Đệ tử Phật không phải là chỉ có Tăng Ni, mà là có tứ chúng, nghĩa là 4 nhóm, gồm Tăng, Ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ. Như thế, quý vị hẳn đã thấy rõ, rằng sự học hỏi và hành trì Phật pháp không phải là việc riêng của Tăng Ni, mà tất cả Phật tử trong 4 nhóm kể trên đều có nhiệm vụ phải tìm hiểu để học hỏi và thực hành giáo pháp, áp dụng vào cuộc sống với thân nhân, bè bạn của mình.

Có một câu chuyện Thiền kể rằng, gia đình kia có hai mẹ con. Người con hâm mộ chuyện tu hành quá, một hôm bỏ nhà lên đường tầm đạo.

Sau rất nhiều ngày dầm mưa giãi nắng trong rừng, anh ta gặp một ông già, ông hỏi:

– Anh đi tìm gì mà vào tận đây?

Anh chàng trả lời:

– Con đi tìm Phật.

Ông cụ bảo:

– Vậy anh hãy đi ngược lại con đường cũ, khi nào thấy có người đi đôi dép ngược, khoác chiếc mền rách, thì đó chính là Phật.

Anh ta quay trở về, lại mất một thời gian. Cho đến lúc đã quá mệt mỏi, anh ghé vào một căn nhà bên đường, bỗng nhận ra chính là nhà mình, bèn lên tiếng gọi:

– Mẹ ơi, mở cửa cho con.

Bà mẹ sau bao nhiêu ngày mong nhớ con đến phát bệnh, đang nằm trên giường, nghe tiếng con gọi, mừng quá quơ vội cái mền khoác lên người, hai chân xỏ vội vào đôi dép, không kịp thấy là đã đi dép ngược, lẹp xẹp chạy ra mở cửa cho con.

Cửa mở, người con nhìn thấy hình ảnh vị Phật mà ông già mô tả, khoác chiếc mền rách, đi đôi dép ngược, chính là mẹ mình đang đứng trước mặt.

Nhà Phật rất tôn trọng sự tu tập từ trong gia đình, thờ cha kính mẹ. Câu chuyện tôn giả Mục Kiền Liên tìm mẹ mà mỗi năm cứ đến ngày lễ Vu Lan, trong dân gian lại làm lễ kỷ niệm, đã nói lên sự tôn trọng đức hiếu của đạo Phật.

Sau đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện Thiền, nói về sự tập trung tinh thần, trích dịch từ loạt bài  “Zen Stories To Tell Your Neighbors” do soạn giả John Suler gửi lên Internet, như sau:

“Sau nhiều cuộc thi bắn cung đại thắng, kẻ thắng cuộc trẻ tuổi kiêu ngạo bèn thách đấu với vị thiền sư già, vốn là một cung thủ danh tiếng trong vùng.

Chàng trai trình diễn kỹ thuật nhuần nhuyễn của anh ta bằng cách đứng từ xa bắn mũi tên thứ nhất vào tâm điểm, rồi tiếp theo là mũi tên thứ hai chẻ dọc xuyên suốt từ đuôi cánh tên thứ nhất, rồi khinh khỉnh hỏi vị thiền sư:

– Đấy, ông già nhìn đi, liệu có dám so tài không?

Với vẻ thản nhiên, vị thiền sư  không rút mũi tên của mình ra khỏi bao, thay vào đó, ông ra hiệu cho chàng trai theo ông đi lên núi.

Chàng trai nổi lòng tò mò, muốn biết ý định của ông già, bèn bước theo ông leo tuốt lên núi cao, cho tới một khe vực sâu hun hút, được bắc cầu để qua bờ bên kia bằng một tấm ván mỏng.

Lặng lẽ bước vào giữa chiếc cầu ván mong manh và rung rinh, vị thiền sư nhắm một cành cây thật xa, rút mũi tên ra khỏi bao và bắn tới một cách thật gọn gàng, trúng đích.

Với vẻ phong nhã, vị thiền sư bước trở lui vào bờ vực và nói với cậu trai:

– Bây giờ đến phiên anh.

Vẻ mặt đầy nét kinh hãi, chàng trai nhìn trừng trừng xuống vực thẳm, trông như là không có đáy. Cậu ta không dám cả gan bước chân lên chiếc cầu gập ghềnh và cũng không còn nghĩ tới chuyện rút tên ra để tranh tài.

Cảm nhận tình cảnh nan giải của đối thủ,vị thiền sư ôn tồn:

– Anh rất giỏi về kỹ thuật bắn cung, nhưng anh chưa đủ khả năng tập trung tinh thần để có thể buông mũi tên ra”.

Thưa quý thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay.  Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 

Bài 25 – Ăn mặc khi đến chùa

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi nhận được thư của vị nữ thính giả, hỏi về vấn đề có lẽ cũng là thắc mắc chung của một số người, nên xin phép được nêu ra đây để chúng ta cùng nhau thảo luận. Thư có đoạn như sau:

…”…   gần sở tôi có một ngôi chùa của người Việt Nam. Có những hôm bỗng nhiên nhớ mẹ, nhớ quê hương, tôi muốn ghé qua chùa, vào thắp nén nhang, ngồi nhìn tượng Phật nhớ thời thơ ấu, có quê, có đại gia đình, ông bà cha mẹ.

Nhưng tôi rất ngại vì có một lần tôi đã tới vào buổi chiều, sau giờ tan sở. Hôm đó chùa cũng hơi đông, hầu hết đều mặc áo thụng mầu xám, dường như có buổi lễ gì đó. Họ nhìn tôi với ánh mắt hơi lạ. Rồi một cụ già đưa cho tôi một áo thụng và bảo tôi mặc rồi hãy vào lễ Phật kẻo mặc đồ hở hang, phải tội, lễ xong trả lại vì áo đó của chung để cho ai cần thì mượn.

Tôi rất ngạc nhiên và cảm thấy bị xúc phạm, vì tôi mặc quần jean với áo cộc tay. Tuy tay áo cộc nhưng tôi không nghĩ rằng như thế là hở hang.

Về nhà, tôi nói lại cho mấy người bà con nghe thì họ cười ầm lên, chế giễu:

–        Không phải sợ tội đâu. Các cụ sợ cô giống câu ca dao:

 “Ba cô đội gạo lên chùa

Một cô yếm thắm bỏ bùa cho Sư”,

đó mà.

Xin chỉ dẫn giúp phải mặc đồ như thế nào khi đi chùa thì mới hợp lệ.

Nguyễn Mai Quế

Thưa quý thính giả và cô Mai Quế,

Trong giới tu pháp môn Niệm Phật bên Nhật, có truyền tụng câu chuyện về anh chàng kia, mỗi khi tới chùa là anh nằm lăn ra chánh điện một cách rất thoải mái. Có người trách anh rằng nằm như thế mất trang nghiêm đi, thì anh bèn trợn mắt lên cự lại:

– Tôi về nhà cha mẹ tôi mà, vì anh không nhận ra được đây là nhà cha mẹ, nên anh mới cư xử như đến nhà người lạ.

Nơi kinh Lăng Nghiêm, bồ tát Đại Thế Chí bạch Phật rằng:

– “ Mười phương Như Lai tưởng nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con, nếu con trốn tránh thì dù nhớ cũng chẳng làm gì được; nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con, thì đời đời mẹ con chẳng xa cách. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật, thì hiện nay hay về sau nhất định thấy Phật, cách Phật không xa, chẳng nhờ phương tiện, tâm tự khai ngộ, như người ướp hương thì thân có mùi thơm, ấy gọi là Hương Quang Trang Nghiêm. Nhân địa căn bản của con là dùng tâm niệm Phật, đắc vô sanh nhẫn, nay ở cõi này tiếp dẫn người niệm Phật về cõi Tịnh Độ. Phật hỏi con về viên thông, con do Nhiếp Cả Lục Căn, Tịnh Niệm Tương Tục vào Tam Ma Địa là hơn cả.”.

Bồ tát Đại Thế Chí là biểu tượng của pháp môn tu Niệm Phật Tam Muội. Tam Muội hoặc Tam Ma Địa, Tam Ma Đề, là phiên âm từ chữ Phạn Samadhi, nghĩa là thiền định. Pháp môn tu này do nhớ Phật, niệm Phật tương tục mà Tâm khai ngộ, đắc vô sanh pháp nhẫn, nghĩa là trực nhận được Bản Thể Tự Tánh vốn thường hằng khắp không gian và miên viễn khắp thời gian, không sanh không diệt, cũng chính là Phật Tánh, cũng chính là Pháp Thân Phật, cho nên còn gọi là Như Lai.

Nếu quý thính giả từng đi chùa, tụng kinh, thì đã thấy ngay nơi phần đầu mỗi thời kinh, đều có tụng bài Tán Phật, trong đó có câu:

Thiên nhân chi đạo sư

Tứ sanh chi từ phụ…

nghĩa là:

…”…Thày dạy khắp Trời, người,

Cha lành chung bốn loài…”…

Vì đức Phật là Thày, là cha lành của tất cả các loài như thế, cho nên nếu có Phật tử nào coi đức Phật là Thày, là cha mẹ, khi tới chùa cảm thấy thân thiết như về nhà cha mẹ thì thật là điều đáng quý, quá quý, không nên để cho Phật tử cảm thấy xa cách với nhà Phật. Nếu Phật tử mà xa cách với nhà Phật thì các Trưởng Tử Như Lai, tức là các vị tu sĩ cũng không thể làm tròn được ý nguyện hoằng pháp lợi sanh, là lời nguyện khi mới bước vào đường tu. Thuật ngữ của đạo Phật có từ “gieo duyên”, nghĩa là tạo cơ hội cho người ta tiếp cận với các sinh hoạt của nhà Phật, thí dụ nghe một tiếng niệm Phật, nhìn thấy cuốn kinh, tượng ảnh Phật, nhìn hình ảnh người tu hành thanh tịnh, thăm viếng cảnh chùa, cũng là đã gieo vào tàng thức của người ta những chủng tử có liên quan đến đạo Phật, sẽ trổ thành quả tu hành theo Phật pháp trong tương lai.

Cho nên chúng ta cũng cần quan tâm về cách ứng xử, sao cho mọi người đều thấy thân thiết với sự về chùa, có cảm giác thoải mái như về nhà cha mẹ, lâu không về thì nhớ, mới đúng với bản hoài của “mười phương Như Lai”

Thưa quý thính giả và cô Mai Quế,

Như chúng ta đã biết, đức Phật là một vị đạo sư chứ không phải là Thần Linh. Lại càng không thể nghĩ rằng Phật là một vị Thần Linh sẽ thưởng cho người này được lên Trời và phạt người kia phải xuống Địa Ngục. Quan điểm này đã được hòa thượng Narada Maha Thera trình bày trong cuốn The Buddha and His Teachings. Chúng tôi xin gửi tới quý thính giả bài pháp trích trong cuốn này, do cư sĩ Phạm Kim Khánh dịch ra Việt ngữ.

Hòa thượng dạy:

“Để minh định rõ ràng mối tương quan của đức Phật đối với hàng môn đệ và để nhấn mạnh tầm quan trọng của sự kiện tự mình nhận lãnh trọn vẹn trách nhiệm và tự mình nỗ lực kiên trì, Đức Phật minh bạch dạy rằng:

“Các con phải tự mình nỗ lực. Các đấng Như Lai chỉ là đạo sư.” Đức Phật chỉ vạch cho ta con đường và phương pháp mà ta có thể nương theo đó để tự giải thoát ra khỏi mọi khổ đau của vòng sanh tử và thành tựu mục tiêu cứu cánh. Đi trên con đường và theo đúng phương pháp cùng không, là phần của người đệ tử chân thành muốn thoát khỏi những bất hạnh của đời sống.

“Ỷ lại nơi kẻ khác để giải thoát cho mình là tiêu cực. Nhưng đảm đang lãnh lấy trách nhiệm, chỉ tùy thuộc nơi mình để tự giải thoát, quả thật là tích cực.”

“Hãy tự xem con là hải đảo của con. Hãy tự xem con là nương tựa của con. Không nên tìm nương tựa nơi ai khác!”

Các lời lẽ có rất nhiều ý nghĩa kia mà đức Phật đã dạy trong những ngày sau cùng của Ngài quả thật mạnh mẽ, nổi bật và cảm kích. Điều này chứng tỏ rằng cố gắng cá nhân là yếu tố tối cần để thành tựu mục tiêu. Tìm sự cứu rỗi nơi những nhân vật hảo tâm có quyền năng cứu thế và khát khao ham muốn hạnh phúc ảo huyền xuyên qua những lời van vái nguyện cầu vô hiệu quả và nghi thức cúng tế vô nghĩa lý, quả thật là thiển bạc và vô ích.

Đức Phật là một người như chúng ta. Ngài sanh ra là một người, sống như một người, và từ giã cõi đời như một người. Mặc dầu là người, Ngài trở thành một người phi thường, một bậc siêu nhân, do những cá tính đặc biệt duy nhất của Ngài.

Trong thời Ngài còn tại thế, đức Phật chắc chắn được hàng tín đồ hết lòng tôn kính, nhưng không bao giờ Ngài tự xưng là Thần Linh.

Thưa quý thính giả,

Như quý vị đã thấy, chính đức Phật đã xác nhận rằng Ngài không phải là Thần Linh, không ban phúc giáng họa cho ai. Ngài là Đạo Sư, chỉ cho chúng sinh con đường Giải Thoát, mọi người phải tự mình thắp đuốc lên mà đi, tự mình làm thuyền bè, làm hải đảo cho chính mình. Nếu theo lời Ngài dạy mà tự tu tự độ thì sẽ thành đạo quả, thành người Giác Ngộ, thành Phật như Ngài. Muốn biết đường tu, tất nhiên là phải cần đến đạo sư. Chùa chiền chính là nơi những người muốn tu tập tìm về nương tựa.

Thế nhưng bây giờ tại một vài nơi, do vô tình mà người ta đang cản trở con đường của chúng sinh muốn về nhà Phật. Một nơi kia, bà nữ tu sĩ có trách nhiệm dạy mấy cô thiếu nữ rằng:

– Các cô phải cột chặt hai ông quần khi lên chánh điện, kẻo mà có gì ô uế rớt xuống thì cửa Địa Ngục mở sẵn.

Mấy cô sợ quá thì thầm với nhau “không đến chùa thì chẳng bị xuống địa ngục, đến chùa mà mặc skirt, làm sao mà cột được đây”. Thế là từ đó họ đâm ra ngần ngại. Họ bảo nhau:

– Tôi sợ đến chùa thất thố gì lại phải tội, chẳng thà không đến thì chẳng sao. Chỉ Tết nhất hay có đám cầu siêu cầu an mới đến chùa mà thôi.

Than ôi! Một trường học dạy người giác ngộ giải thoát, khai phóng tâm linh, lại đến nỗi trở thành địa điểm mà dân chúng chỉ tới khi có tang ma thì đáng buồn biết bao.

Truyền thống đạo Phật là mở rộng cửa chùa để cứu nhân độ thế. Kẻ lỡ độ đường, người đói khát đều được nhà chùa cưu mang. Những người đó khi đến chùa, hẳn là không thể ăn mặc chỉnh tề, quần manh áo rách cũng được nhà chùa mở lòng cứu giúp.

Có người nói rằng vì trong chùa có những tu sĩ trẻ, người khác phái tới ăn mặc hở hang có thể làm cho tâm người tu bị chao đảo.

Xin thưa rằng, nói như thế là coi thường các pháp môn tu trì của nhà Phật rồi. Thực tế, nếu tu sĩ có hành trì thiền quán, niệm Phật, trì chú, vân vân, thì sẽ tăng trưởng Định Lực, tâm hồn không đến nỗi bị chao đảo khi nhìn thấy người khác phái đâu. Còn nếu không hành trì, để tâm buông lung bay nhẩy, không có Định Lực, mà chỉ giữ Giới qua sự đè nén thì khi gặp cảnh duyên, sẽ nảy sinh những tình huống bất ngờ, do sức bật của sự đè nén tung lên.

Có câu chuyện huyền thoại trong nhà Thiền, rằng tại một tu viện trong rừng kia, có hai thày trò. Ông thày chủ trương cách ly người đệ tử với trần thế để khỏi bị ô nhiễm, nên từ nhỏ đến lớn, ông không cho cậu đệ tử tới nơi phố xá, chợ búa.

Năm đó người đệ tử được 18 tuổi, đến tuổi trưởng thành, ông mới dắt học trò ra nơi thị tứ.

Trên đường, cậu học trò nhìn cái gì cũng thấy lạ, từ con trâu đang cày ruộng, con bò kéo xe, con gà vừa chạy vừa kêu quác quác, đều hỏi thầy để biết tên, ông thầy đều dạy cẩn thận. Đến khi xuống chợ, cậu ta gặp một thiếu nữ, bèn hỏi:

– Bạch thày, đây là con gì?

Thày dạy:

– Đấy là con cọp chợ, nó dữ lắm, đừng tới gần.

Cậu học trò cứ lấm lét nhìn hoài. Trên đường về, cậu đệ tử lặng lẽ âm thầm đi. Nhưng từ đó, cậu ta cứ buồn buồn. Một hôm thày hỏi:

– Sao dạo này con rầu rĩ vậy, con muốn gì?

Cậu đệ tử rụt rè:

– Bạch thầy, con muốn gặp con cọp chợ.

Vậy câu chuyện nói lên cái gì? Xin thưa rằng chỉ là một câu chuyện huyền thoại thôi, nhưng nó nói lên rằng tu hành là phải chuyển hóa từ trong nội tâm. Nếu chỉ tìm cách tránh né tức là một hình thức lấy đá đè cỏ. Cỏ vẫn còn sống và sẽ vươn lên rất mạnh khi nhắc hòn đá ra. Người tu hành nào mà có tu tập theo lời dạy của chư Phật và chư Tổ thì sẽ không có “cô yếm thắm” nào có thể bỏ bùa.

Thưa quý thính giả,

Sau đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một câu chuyện Thiền, trích dịch từ cuốn Collection of Stone and Sand, tác giả là thiền sư  Muju ở thế kỷ 13, Paul Reps dịch sang tiếng Anh. Câu chuyện như sau:

“Vào những kỳ đả thiền thất do thiền sư Bankei chủ trì, có rất đông thiền sinh từ nhiều miền trên nước Nhật về tham dự.

Tại một trong những kỳ thiền thất như thế, có một đệ tử bị bắt về tội ăn cắp. Sự việc được trình lên thiền sư Bankei với lời đề nghị kẻ phạm pháp phải bị tống xuất. Nhưng thiền sư Bankei bỏ qua. Sau đó, người đệ tử lại tái phạm và bị bắt, và cũng như lần trước, thiền sư Bankei lại bỏ qua.

Sự việc này chọc giận đám đệ tử, khiến cho họ phải làm thỉnh nguyện thư, xin đuổi tên ăn cắp, nếu không cả nhóm sẽ bỏ đi.

Sau khi đọc xong thỉnh nguyện thư, thiền sư Bankei gọi tất cả học trò đến trước mặt mà bảo rằng:

– Quí vị là những sư huynh sáng suốt nên quí vị biết phân biệt đúng và sai. Nếu muốn, quí vị có thể đi nơi khác để tham thiền học đạo. Nhưng người sư đệ đáng thương này thì ngay đến thế nào là đúng, là sai, cũng còn không biết. Nếu tôi không dạy hắn thì ai sẽ dạy? Cho nên tôi sẽ cho hắn ở đây dù tất cả quí vị ra đi.

Trên gương mặt của người sư đệ tội lỗi, nước mắt tuôn ra như thác đổ. Lòng ham muốn trộm cắp trong khoảnh khắc tiêu tan hoàn toàn”.

Thưa quý thính giả,

Thiền sư Bankei là một bậc thầy chân chính, xứng đáng là đạo sư của nhà Phật. Là bậc thày cao quý, ngài đã hạ bàn tay nhân từ xuống để cứu vớt người lầm lạc, mở lối thoát cho người đệ tử tội lỗi có cơ hội chuyển tâm.

Kinh Hoa Nghiêm nói:

Nếu người muốn biết rõ

Tất cả Phật ba thời

Phải quán pháp giới tính

Tất cả do tâm tạo.

 Ba thời là quá khứ, hiện tại và tương lai. “Tất cả do tâm tạo”, mà tâm thì vô thường, không cố định. Cho nên đối với nhà Phật, dù người xấu tới đâu, hoặc ngay đến cả kẻ cướp, nếu chịu buông dao xuống mà nhất tâm tu hành, thì cũng thành Phật.

Chỉ có tấm lòng rộng mở mới chuyển hóa được con người. Nếu cửa chùa luôn rộng mở, không xét nét cách ăn mặc và những chuyện lặt vặt, miễn sao tác phong người đến chùa cũng tương đương với về nhà cha mẹ họ, thì họ nên được hoan nghênh để mọi người cảm thấy thoải mái khi về chùa.

Nếu không có sự hài hòa trong giao tế thì thế hệ sau, khi các cụ không còn nữa, con cháu không còn phải vì nể nang cha mẹ mà tới chùa, e rằng cửa chùa sẽ vắng vẻ. Lúc đó chúng ta nghĩ tới câu “bản hoài của mười phương Như Lai thương nhớ chúng sinh như mẹ nhớ con”, sẽ cảm thấy chua xót biết bao.

Thưa quý thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay.  Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Mời xem youtube bài này:

http://www.youtube.com/watch?v=AbFQErjDpnc&feature=youtu.be

Bài 24 – Phát Bồ Đề Tâm nghĩa là gì ?

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi nhận được một câu hỏi của quý thính giả gửi về như sau:

– Tôi đi lễ chùa thường thấy các Phật tử nói câu “phát Bồ Đề Tâm”, thí dụ “Bà phát Bồ Đề Tâm lấy cho tôi con dao” hoặc “”Ông phát tâm Bồ Đề khiêng giúp cái bàn này ra sân”, vân vân. Những chữ như tâm thiện, tâm ác, tâm từ bi, vân vân, thì tôi đã biết nhưng tâm Bồ Đề thì tôi không hiểu là gì, xin giải đáp giùm.

Nguyễn văn Dũng.

Thưa quý thính giả và ông Dũng,

Cụm từ Phát Bồ Đề Tâm là để chỉ một một tâm nguyện vô cùng thiêng liêng cao quý, là niệm khởi đầu tiên trên con đường tu hành của người Phật tử để chuyển hóa tâm thức từ trạng thái mê vọng trôi lăn trong vòng sinh diệt triền miên trở thành giác ngộ Trí Tuệ Bát Nhã.

Tâm Bồ Đề là Tâm Giác Ngộ, là Phật Tánh. Phát Bồ Đề Tâm là “Khởi lên tâm nguyện tu hành thành Phật để cứu độ chúng sinh”. Nếu chúng ta tưởng rằng Phát Bồ Đề Tâm là làm những việc thiện tạo phước trong vòng tương đối như “lấy giúp con dao”, “khiêng hộ cái bàn”, là vô tình chúng ta đã làm mất đi ý nghĩa của một tâm nguyện cao thượng về công đức tu hành, mục tiêu cốt tủy của đạo Phật.

Chúng tôi xin nhắc lại cuộc đối thoại của Sơ Tổ thiền tông Bồ Đề Đạt Ma và Lương Võ Đế về vấn đề công đức và phước đức mà chúng tôi đã trình với quý thính giả, như sau:

Lương Võ Đế hỏi:

–  Từ khi lên ngôi, trẫm đã xây chùa, chép kinh, độ tăng nhiều vô số kể, vậy có công đức gì không?

Ngài Ðạt Ma đáp:
– Ðều không có công đức.

Vua hỏi lại :
– Tại sao không có công đức?

Ngài đáp:
– Xây chùa, chép kinh, độ tăng là tạo nhân hữu lậu, chỉ được hưởng thiện quả nơi cõi Trời, cõi người, quả theo nhân như bóng theo hình, là phước đức, không phải công đức. Công đức là do tu hành, trí rỗng rang, tâm sáng suốt, từ nơi bản tánh, không do nơi công nghiệp thế gian.

Như thế, làm việc thiện là phước đức, là tạo nhân lành, sẽ trổ thành quả phước trong vòng sinh tử. Phát Bồ Đề Tâm là công đức do tu hành, có công năng giải thoát kiếp người ra khỏi dòng nghiệp lực triền miên sinh tử luân hồi.

Nơi kinh Hoa Nghiêm, đức Phật đã dạy: “Nầy thiện nam tử! Bậc Bồ Tát phát Bồ Đề Tâm là khởi Tâm Đại Bi cứu độ tất cả chúng sanh”.

Phát Bồ Đề Tâm như trên đã nói, có thể tóm tắt trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện:

“Chúng sanh vô biên, thệ nguyện độ,

Phiền não vô tận, thệ nguyện đoạn,

Pháp môn vô lượng, thệ nguyện học

Phật đạo vô thượng, thệ nguyện thành”.

Trong cuốn Niệm Phật Thập Yếu, hòa thượng Thích Thiền Tâm căn dặn rằng “Không phải chỉ nói suông “Tôi phát Bồ Đề Tâm” là đã phát tâm, hay mỗi ngày tuyên đọc Tứ Hoằng Thệ Nguyện, gọi là đã phát Bồ Đề Tâm. Muốn phát Bồ Đề Tâm hành giả cần phải phát tâm một cách thiết thực, và hành động đúng theo tâm nguyện ấy trong đời tu của mình”.

Đại sư Thật Hiền, một vị cao tăng đã thiết tha kêu gọi mọi người Phát Bồ Đề Tâm như sau:

– …Tôi từng nghe, cửa chính yếu để nhập đạo thì sự phát Tâm đứng đầu, việc khẩn cấp để tu hành thì sự lập nguyện đứng trước. Nguyện lập thì chúng sanh độ nổi, Tâm phát thì Phật đạo thành được. Cái tâm quảng đại không phát, cái nguyện kiên cố chẳng lập, thì dẫu trải qua đời kiếp nhiều như cát bụi, cũng y nhiên vẫn ở trong phạm vi luân hồi. Tu hành dẫu có, cũng toàn là lao nhọc, khổ sở một cách vô ích. Do đó mà kinh Hoa Nghiêm đã nói, quên mất Tâm Bồ Đề mà tu hành các thiện pháp thì gọi là hành động theo ma vương. Quên mất còn thế, huống chi chưa phát. Nên muốn học Như Lai thừa thì trước phải phát Bồ Đề nguyện, không thể chậm trễ”.

Trong những kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình bày với quý vị bài kệ tóm tắt con đường tu hành của người Phật tử, như sau:

“Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành”

“Không làm những điều ác” và “Siêng làm những việc lành” là phần đạo đức thế gian, không riêng đạo Phật, mà hầu hết các tôn giáo và các nền giáo dục trên khắp thế giới đều dạy. Phật giáo thực hiện lãnh vực này bằng Ngũ Giới, dạy hàng Phật tử phải tin sâu quy luật Nhân Quả, ở hiền gặp lành, vân vân.

Duy câu “Tự thanh tịnh tâm ý” thì mới chính là đặc điểm riêng biệt của đạo Phật. Bởi vì, nội dung của “tự thanh tịnh tâm ý” có nghĩa là chấm dứt tất cả những lôi cuốn của Tham, Sân và Si, vốn là nguyên nhân của tất cả mọi nỗi thống khổ trên đời.

Kinh Phật nói: “Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu”, câu đó có nghĩa là khi tâm đã tịnh là đã bạch hóa được nghiệp chướng tích lũy từ vô lượng kiếp. Tội là những nghiệp ác. Tâm đã tịnh rồi thì cũng có nghĩa là tất cả nghiệp thiện và ác đều đã tiêu dung, không còn nghiệp nhân để tái sinh, là chấm dứt được dòng sinh tử, ra khỏi vòng luân hồi. Tóm lại, là hoàn tất được bước cuối cùng trong bốn Chân Lý Thâm Diệu, là Con Đường Diệt Khổ.

Thực hiện đường tu “Tự thanh tịnh tâm ý” chính là thực hiện toàn bộ nội dung của “Phát Bồ Đề Tâm”

Để thấu triệt sự quan trọng của hạnh nguyện “Phát Bồ Đề Tâm”, chúng tôi xin trích dịch để kính gửi tới quý thính giả bài pháp của đạo sư Chagdud Tulku, một vị đạo sư Phật giáo thuộc truyền thống Tây Tạng.

Đạo sư Chagdud Tulku là một thiền sư danh tiếng đồng thời là một nhà nghệ sĩ và cũng là y sĩ của Tây Tạng, sinh năm 1930 tại miền Đông nước này. Theo truyền thống Tây Tạng, thày được xác nhận là tái sinh của vị sư trụ trì Chagdud Gonpa. Thày được sự rèn luyện của nhiều đại hành giả về phương diện triết học và hành thiền theo môn phái Phật giáo Kim Cang Thừa. Vào năm 1959, khi Trung Quốc xâm lăng Tây Tạng, theo lời khuyên của đại sư Dudjom, thày rời khỏi Tây Tạng để sang thiết lập một số trại tỵ nạn tại Ấn Độ và Nepal.

Vào năm 1979, do lòng nhiệt thành của nhiều sinh viên Mỹ, thày tới Hoa Kỳ. Từ đó, xuyên qua hội Chagdud Gonpa, thày thiết lập nhiều trung tâm tu thiền Kim Cang Thừa tại nhiều nơi trong nước Mỹ, Canada, Âu Châu và Brazil.

Bài giảng của đạo sư Chagdud Tulku về Phát Bồ Đề Tâm, trích dịch từ cuốn Gates to Buddhist Practice, như sau:

“Để đi vào con đường tâm linh, chúng ta cần phải có mục tiêu để hướng tới, cũng như mũi tên cần có đích nhắm. Với Bồ Đề Tâm, cánh cửa tiếp theo để thực hành trong truyền thống Đại Thừa và Kim Cang Thừa của Phật giáo, chúng ta tiến đến thành quả là sự giác ngộ vì lợi ích chúng sinh trong từng giây phút. Đó là mục tiêu cao quý nhất.

Bồ Đề Tâm là nền tảng của tất cả mọi công việc chúng ta làm, giống như rễ một cây thuốc có cành, lá và hoa, tất cả đều tạo ra những chất dinh dưỡng. Phẩm chất và sự thanh tịnh trong hành trì của chúng ta tùy thuộc vào Bồ Đề Tâm Nguyện thẩm thấu trong mỗi phương pháp tu tập. Có Tâm Bồ Đề thì mọi việc đều hoàn tất mỹ mãn. Không có tâm nguyện này thì mọi sự đều không đi tới đâu.

Đó chính là lý do ngay từ bài học đầu tiên, chúng ta đã được dạy rằng chúng ta phải đặt mục tiêu của sự tu hành là để giải thoát cho tất cả chúng sinh. Chúng ta phải chuyển hóa động lực rèn luyện tâm linh từ lợi ích cho bản thân sang vì lợi ích cho toàn thể chúng sinh.

Bồ Đề Tâm gồm ba yếu tố:

– Thứ nhất là niềm trắc ẩn trước sự đau khổ của chúng sinh

– Thứ hai là nguyện tu tập tới giác ngộ vì lợi ích của chúng sinh, đó là Bồ Đề Tâm Nguyện.

– Thứ ba là thực hiện Bồ Đề Tâm Nguyện, đó tức là Bồ Đề Tâm Hành. …”…

Thưa quý thính giả,

Trên đây là bài pháp của đạo sư Chagdud Tulku, nói về Phát Bồ Đề Tâm và tu Bồ Tát Hạnh. Trong thực tế, con đường tu hành của người Phật tử được các bậc đạo sư chỉ dạy rất cặn kẽ và chi tiết. Chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một bài pháp của hòa thượng Thích Tịnh Không dạy về cách ứng dụng pháp môn tu Bồ Tát Hạnh trong đời sống hằng ngày. Sau đây là lời dạy của thày:

Gương mẫu tu học của Ðại Thừa là năm mươi ba lần tham vấn trong kinh Hoa Nghiêm.  Năm mươi ba lần tham vấn này gồm có mọi người trong các ngành nghề, nam nữ già trẻ, thế gian và xuất thế gian, hết thảy đều tu Bồ Tát hạnh, vả lại còn là Bồ Tát cao cấp — Phổ Hiền hạnh.  Thế thì chúng ta rốt cuộc có học được hay chưa?  Trong sanh hoạt mỗi ngày từ sáng đến tối có phải chúng ta đang tu Bồ Tát hạnh hay không?  Có tu hạnh Phổ Hiền không?  Nếu có thì mới hy vọng thành Phật, nếu không thì vẫn phải chịu sanh tử luân hồi.

Phải tu học như thế nào?  Dùng những điểm chính yếu để nói thì là làm thế nào áp dụng Lục Ðộ vào trong đời sống hằng ngày.  Làm được Lục Ðộ trong sanh hoạt thì bạn sẽ là Bồ Tát, nếu làm được mười nguyện trong sanh hoạt thì bạn sẽ là Phổ Hiền Bồ Tát rồi đó.  Nên biết cội gốc của Ðại Thừa là phát Bồ Ðề Tâm, Bồ Ðề Tâm là gì?  Tức là độ hết thảy chúng sanh.  Dùng ngôn ngữ ngày nay thì độ hết thảy chúng sanh nghĩa là dốc toàn tâm, dốc hết sức để giúp đỡ hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ, Tâm ấy là Tâm Bồ Ðề.

Làm thế nào để thực hiện?  Lục Ðộ và thập nguyện là phương pháp.  Phải thực hiện Lục Ðộ và thập nguyện trong đời sống, sự nghiệp, đó tức là hành Bồ Tát đạo.  Lục Ðộ tức là Bồ Tát đạo, thập nguyện tức là Phổ Hiền Bồ Tát đạo.  Việc hành Phổ Hiền hạnh nói trong kinh Vô Lượng Thọ nghĩa là tu thập nguyện vương.

‘Bố thí’ nói theo ngôn ngữ hiện nay tức là ‘hy sinh, cống hiến’.  Tự mình chịu hy sinh, chịu cống hiến cho đại chúng, chịu cống hiến cho đoàn thể.

‘Trì giới’ tức là tuân giữ pháp luật, tuân giữ luật lệ, quy củ.

‘Nhẫn nhục’ tức là nhẫn nại.  Phải biết nhẫn nại trong công việc, đặc biệt là những sự việc liên quan đến người khác; chúng sanh có phiền não, ân oán, bất bình tích lũy từ vô lượng kiếp đến nay.  Chúng ta bất kỳ lúc nào cũng có thể gặp được nên phải nhẫn nhịn; đối với hoàn cảnh tự nhiên cũng phải biết nhẫn nhịn.

‘Tinh tấn’ tức là cầu tiến bộ.  Không thể nào ‘dậm chân tại chỗ’ hoài, lưu lại trong một phạm vi, một giới hạn hoài. Chúng ta phải suy nghĩ từ phương diện này – trong sanh hoạt thường ngày làm thế nào để cầu Giác, cầu Huệ, tu Lục Ðộ, Thập nguyện.

‘Thiền định’  tức là tự mình làm chủ được mình, có cách nhìn của mình, chẳng bị ngoại cảnh lay động, đó là thiền định.

‘Trí huệ’ tức là đối với hết thảy những điều thiệt – giả, tà – chánh, thị – phi, thiện – ác của người, sự, vật đều hiểu rõ ràng, minh bạch, chẳng mê hoặc, chẳng điên đảo.  Như vậy chính là trí huệ.

Thế nên nếu có thể thực hiện Lục Ðộ, Thập Nguyện trong đời sống của mình thì bạn sẽ vui vẻ. Bất luận làm công việc gì thì cũng là tu Bồ Tát hạnh, hành Bồ Tát đạo.  Người hành Bồ Tát đạo này sẽ tràn đầy pháp hỷ, đây tức là chuyển phiền não thành Bồ Ðề, chuyển mê hoặc thành giác ngộ.

Phàm phu thế gian nếu cảm thấy bị áp lực trong công việc làm của mình thì sẽ khổ chẳng thể nói nổi, luôn luôn than phiền, có tâm trạng ấy thì nhất định phải luân hồi trong lục đạo.  Pháp Bồ Tát Ðại Thừa cao minh, vừa chuyển biến tâm niệm thì đã thành Bồ Tát.  Họ biết làm việc cần cù là để kết pháp duyên với hết thảy chúng sanh, là để thành tựu Bố Thí Ba la mật cho mình.  Cho nên khi tâm niệm vừa chuyển thì khoái lạc vô cùng, hạnh phúc vui vẻ, liền được thoát khổ.

Giới luật trong Phật pháp được dùng để yêu cầu chính mình chứ chẳng phải yêu cầu kẻ khác, đây là một cách rất cao minh, chẳng giống với pháp luật thế gian dùng để kềm chế đại chúng.  Thế nên phải học Lục Tổ Huệ Năng đại sư, phải ‘thường nhìn thấy lỗi của mình, chẳng thấy lỗi của thế gian’, được vậy thì tâm sẽ chuyển biến thực sự, hướng vào trong và quán chiếu.

Căn bịnh lớn của chúng sanh là ‘chẳng thấy lỗi của mình, chuyên thấy lỗi của kẻ khác’.  Chuyên thấy lỗi của kẻ khác thì sẽ tăng trưởng phiền não, sẽ chẳng có cách chi để hướng vào trong mà quán chiếu.  Nếu chúng ta chỉ lo hướng vào trong mà quán chiếu, chẳng đếm xỉa đến sự dụ hoặc của ngoại cảnh, ‘chiếu’ như vậy là trí huệ, có thể hoá giải hết phiền não, tập khí. »

Thưa quý thính giả,

Trên đây là lời dạy của hòa thượng Thích Tịnh Không.

Như quý vị đã biết, đạo Phật là một con đường tu tập để chuyển hóa tâm, từ xấu trở thành tốt, rồi từ tốt trở thành thanh tịnh, giải thoát. Đức Phật không đề cao phép lạ, mà Ngài dạy Phật tử phải tự tu tự độ, tự mình thắp đuốc lên mà đi, tin sâu nhân quả, gieo nhân thiện thì lãnh quả thiện, giao nhân thanh tịnh thì đắc quả giác ngộ giải thoát, ai ăn thì người đó no, không ai có thể ăn giùm cho người khác no được.

Chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện Thiền nói lên ý đó, được trích dịch từ cuốn Zen Fables for Today, Stories Inspired by the Zen Masters, soạn giả là Richard McLean. Câu chuyện như sau:

“Có một vị sư sống trong một khu đầm lầy, nơi được coi là rất nguy hiểm khi mùa mưa tới, nước có thể tràn ngập. Mặc cho những lời cảnh cáo liên tục, đồng thời nước cũng đang dâng lên, vị sư vẫn từ chối, không chịu rời cái cốc nhỏ của ông ta. Ông giải thích với các đội cấp cứu rằng:

-Trong giấc mơ, tôi đã được một vị thần hứa rằng ông ấy sẽ bảo vệ tôi.

Thế rồi hàng xóm của ông lũ lượt kéo nhau bỏ đi.

Rồi tới nhân viên hành chính ra đi với cái xe.

Cuối cùng tới phiên đội cấp cứu ra đi với cái ghe.

Ông vẫn nói chắc nịch:

– Vị thần đã hứa với tôi.

Khi ông sư bị chết đuối, người đầu tiên ông gặp chính là vị thần trong mộng của ông.

Vị thần hỏi:

– Ông làm gì ở đây?

Ông sư trả lời:

– Ngài đã hứa với tôi …

Vị thần điềm nhiên:

– Ông già đần độn ơi, tôi vẫn giữ lời hứa đấy chứ. Tôi gửi đến cho ông nào là hàng xóm này, xe cấp cứu này, ghe cấp cứu này…”

Ông tu sĩ nghệt mặt ra:

– Trời ơi …

Một đời tu mà ông sư đã không hiểu giáo lý, nhà Phật dạy rằng phải tự tu tự độ. Tiếc rằng ông sư đã không dùng những phương tiện có sẵn để tự mình thoát khỏi nơi nguy hiểm.

Thưa quý thính giả,

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

 

 

Bài 23 – Sơ Tổ Thiền Tông Bồ Đề Đạt Ma

 Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Trong một kỳ phát thanh trước, chúng tôi có đề cập tới một tuyên ngôn của Sơ Tổ Thiền tông Bồ Đề Đạt Ma, được giới Phật học cho là “tuyên ngôn sấm sét”, đó là:

Bất lập văn tự

Giáo ngoại biệt truyền

Trực chỉ nhân tâm

Kiến Tánh thành Phật.

nghĩa là :

Không lập văn tự

Truyền ngoài giáo lý,

Chỉ thẳng tâm ngưòi

Thấy Tánh thành Phật.

Tại sao lại gọi là “Tuyên ngôn sấm sét”?

Bởi vì tuyên ngôn đó đưa ra một quan điểm hoàn toàn xa lạ đối với các nhà trí thức Phật giáo đương thời, vốn là những học giả không những học rộng hiểu nhiều về thế học, uyên bác về các nguồn tư tưởng Đông Phương, mà hiện đang say sưa thảo luận về kinh điển nhà Phật.

Vậy Bồ Đề Đạt Ma là ai mà lại có hành tung đặc biệt như thế?

Chúng tôi sẽ xin lần dở trang Phật giáo sử để trình với quý thính giả.

Kính thưa quý vị,

Vào thời vua Hán Minh Đế nước Trung Hoa, khoảng giữa thế kỷ thứ nhất Dương lịch, Phật giáo từ Ấn Độ đã lan truyền đến Trung Quốc. Tính từ đó tới ngày ngài Bồ Đề Đạt Ma đặt chân lên nước Lương năm 520 Dương lịch, là đã được khoảng 500 năm rồi.

Sau năm trăm năm thâu thập kinh sách và tài liệu rồi phiên dịch từ tiếng Phạn ra tiếng Hán, nay đã tới lúc các học giả Phật giáo say sưa nghiên cứu, chia môn lập phái, tìm tòi nghĩa lý ẩn tàng trong ngón tay mà không để ý tới phần thực hành để đạt được mặt trăng, theo như lời căn dặn của nhà Phật “kinh sách là ngón tay chỉ Chân Lý là mặt trăng, thấy mặt trăng rồi thì buông ngón tay xuống mà tu hành để đạt tới Chân Lý”.

Là những học giả của một dân tộc hâm mộ từ chương, giới trí thức Trung Hoa thời đó rất say sưa nghiên cứu phần lý thuyết có tính chất triết học của nhà Phật, đàm luận về những sự huyền diệu, thâm sâu, uyên áo, chẻ sợi tóc ra làm tư, coi Phật giáo như một triết thuyết, phí bỏ mất phần cốt tủy của đạo Phật, là phần tu chứng với mục tiêu giải thoát được kiếp người ra khỏi những phiền não ràng buộc, giác ngộ lại Bản Thể, chấm dứt mọi đau khổ triền miên trong dòng sinh tử.

Vào thời gian đó, tại vương quốc miền Nam Ấn kia, có một vĩ nhân ra đời. Đó là vương tử thứ ba của quốc vương, tên là Bồ Đề Đa La. Nhân một dịp quốc vương thỉnh Tổ Thiền tông thứ 27 là Bát Nhã Đa La vào cung để cúng dường trai tăng, vương tử Bồ Đề Đa La gặp được Tổ và sau khi đàm luận về Đạo Học, vương tử bái Tổ tôn ngài lên làm thày.

Sau khi vua cha tạ thế, vương tử Bồ Đề Đa La xuống tóc đi tu. Thấy học trò tinh tường Phật pháp, Tổ Bát Nhã Đa La đổi tên vương tử là Bồ Đề Đạt Ma. Trước khi qua đời, Tổ Bát Nhã Đa La căn dặn học trò sau này phải qua Trung Hoa để giúp cho những người học Phật tại đó đi đúng con đường đức Phật dạy để đạt được kết quả của sự tu hành, tiến tới giác ngộ giải thoát. Nhưng Tổ cũng dặn là hiện nay chưa thể đi ngay, phải chờ vài chục năm nữa mới lên đường.

Sau khi Tổ tịch rồi, ngài Bồ Đề Đạt Ma còn ở lại quê hương hoằng pháp một thời gian. Nhiều chục năm trôi qua, một hôm nhớ lời sư phụ dặn dò, ngài vào từ biệt quốc vương là cháu của ngài để lên đường sang Trung Hoa, đem ánh sáng giác ngộ chiếu vào miền đất vốn thấm nhuần tư tưởng Lão Trang, lại được giáo lý nhà Phật khai tâm, nhưng quá ham mê phần lý thuyết mà không thực hành, nay cần sự chỉ dẫn để có thể tự tu tự độ.

Quốc vương hạ lệnh sửa soạn thuyền và thủy thủ rồi tiễn ngài lên đường.

Sau ba năm lênh đênh trên sông nước, vùng đất Trung Hoa đầu tiên mà ngài đặt chân lên thuộc tỉnh Quảng Châu, đó là vào năm 520, đời nhà Lương. Quan tỉnh dâng sớ về triều tâu bày sự việc.

Vị vua đương thời là Lương Võ Ðế, một nhà Phật học uyên thâm, thường khoác áo cà sa ra ngoài ngự bào để giảng kinh thuyết pháp. Nhà vua cũng là một đại thí chủ đương thời.

Con trai lớn của Lương Võ Ðế là thái tử Chiêu Minh cũng là một học giả Phật giáo, thường cùng với pháp sư Lâu Ước, đại sĩ Ðạo Phó và Lương Võ Ðế bàn luận về “thánh đế đệ nhất” (là chân lý tuyệt đối) và “tục đế” (là chân lý quy ước).

Thái tử Chiêu Minh cũng nghiên cứu kinh Kim Cang rất sâu sắc, đã thiết lập một đài bằng đá để ghi dấu công cuộc phân chia kinh Kim Cang ra làm 32 chương của ông. Sau này có một người Việt Nam là nhà thơ Nguyễn Du nhân đi sứ sang Tầu có đến thăm đài và làm một bài “Vịnh đài đá phân kinh của Luơng Chiêu Minh thái tử”, có ý chê thái tử không hiểu phần cốt tủy thâm áo của kinh nên mới làm công việc huênh hoang hình tướng này.

Được tin có ngài Bồ Ðề Ðạt Ma tới nước mình, Lương Võ Đế sai sứ đi đón, rước vào kinh. Trong buổi tiếp kiến, nhà vua hỏi:

–  Từ khi lên ngôi, trẫm đã xây chùa, chép kinh, độ tăng nhiều vô số kể, vậy có công đức gì không?

Ngài Ðạt Ma đáp:
– Ðều không có công đức.

Vua hỏi lại :
– Tại sao không có công đức?

Ngài đáp:
– Xây chùa, chép kinh, độ tăng là tạo nhân hữu lậu, chỉ được hưởng thiện quả nơi cõi Trời, cõi người, quả theo nhân như bóng theo hình, là phước đức, không phải công đức. Công đức là do tu hành, trí rỗng rang, tâm sáng suốt, từ nơi bản tánh, không do nơi công nghiệp thế gian.

Vua hỏi lại:
– Thế nào là thánh đế đệ nhất nghĩa? (ý Võ Đế muốn hỏi về chân lý tuyệt đối)

Tổ đáp:
– Quách nhiên vô thánh (ý ngài Đạt Ma muốn trả lời là người giác ngộ thì tâm trí rỗng rang, sáng suốt, vượt lên trên khái niệm về thánh, phàm)

Vua gặng thêm:
– Ai đang đối diện với trẫm?

Tổ đáp:
– Không biết !

Lương Võ Ðế sai người tiễn khách. Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma băng qua sông Giang Bắc, thẳng đường qua nước Ngụy, lên núi Tung Sơn ngồi quay mặt vào vách đá chùa Thiếu Lâm chín năm, người đương thời gọi ngài là Bích quán  Bà La Môn, nghĩa là ông Bà La Môn nhìn vách.

Tương truyền, sau khi ngài Bồ Ðề Ðạt Ma ra đi, Lương Võ Ðế gặp hòa thượng Chí Công, bèn kể lại câu chuyện. Hòa thượng Chí Công hỏi:

– Bây giờ bệ hạ đã biết người ấy là ai chưa?

Võ Ðế đáp:
– Không biết.

Hòa thượng nói:
– Ðó là đại sĩ Quan Âm tới truyền tâm ấn Phật.

Võ Ðế hối tiếc, sai sứ đi thỉnh, nhưng ngài Bồ Ðề Ðạt Ma không quay trở lại. Sau này hồi tưởng chuyện cũ, Lương Võ Ðế tự soạn văn bia như sau:

Hỡi ôi!
Thấy như chẳng thấy
Gặp như chẳng gặp
Ðối mặt như chẳng đối mặt
Xưa đâu nay đâu
Oán bấy hận bấy . . .

Tại sao mà đến nỗi vua Lương Võ Ðế mang hận như vậy?

Ðó là vì nhà vua không phân biệt được giữa phước đức hữu lậu do làm việc thiện sẽ được hưởng phước báo trong vòng nhân quả tương đối và công đức vô lậu do tu hành có công năng vượt qua được dòng sông sinh tử. Vì sự hiểu lầm này mà nhà vua coi trọng vấn đề bố thí làm phước, tưởng như thế là đã đủ trên con đường tu hành, mà không quan tâm đến vấn đề tu chứng.

Về phần ngài Bồ Đề Đạt Ma, ngài là một thiền sư đắc đạo, ngài dạy cái cốt tủy, thuộc về Phật thừa. Ngài dạy người tu để giác ngộ thành Phật. Cho nên Lương Võ Đế không hiểu được ngài.

Thưa quý thính giả,

Bây giờ chúng ta cùng nhau thảo luận về câu kệ nổi tiếng là “sấm sét” của ngài:

“Không lập văn tự

Truyền ngoài giáo lý,

Chỉ thẳng tâm ngưòi

Thấy Tánh thành Phật.”

Muốn tìm lý do nảy sinh câu kệ này, chúng ta phải đi ngược lại từ thời đức Phật tại thế.

Một hôm, trên pháp hội Linh Sơn, đức Phật giơ cành hoa lên. Cả pháp hội đều ngơ ngác nhìn, duy có tôn giả Ma Ha Ca Diếp mỉm cười. Đức Phật nói: “Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn Diệu Tâm, Thực Tướng Vô Tướng, pháp môn vi diệu, nay trao lại cho Ma Ha Ca Diếp.”

Đó là mệnh lệnh truyền thừa từ đức Phật sang qua tôn giả Ca Diếp, tôn giả trở thành đệ nhất Tổ Thiền Tông. Sự truyền thừa này được gọi là “truyền Tâm ấn”.

Đức Phật giơ cành hoa, tôn giả Ca Diếp mỉm cười, vậy khi đức Phật nói là trao lại cho Ma Ha Ca Diếp “chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn Diệu Tâm, Thực Tướng Vô Tướng, pháp môn vi diệu”, câu đó có nghĩa gì?

Trong câu của ngài Bồ Đề Đạt Ma “Không lập văn tự, Truyền ngoài giáo lý, Chỉ thẳng tâm người, Thấy Tánh thành Phật”, và “trí rỗng rang, tâm sáng suốt, từ nơi bản tánh”, những câu đó có nghĩa gì?

Sau này, khi Lục Tổ Huệ Năng ở nơi Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, làm bài kệ:

Bồ-đề vốn không cây,

Gương sáng chẳng phải đài,

Xưa nay không một vật,

Chỗ nào dính bụi nhơ

Lục Tổ còn dạy trong phẩm Bát Nhã:

“Phải biết đối với kẻ ngu, người trí, Phật tánh không có sai khác, chỉ do mê ngộ bất đồng, vì thế có ngu , có trí. ……..

Phàm phu tức là Phật, phiền não tức là Bồ-đề.

Niệm trước mê tức là phàm phu, niệm sau ngộ tức là Phật.

Niệm trước chấp cảnh tức là phiền não, niệm sau lìa cảnh tức là bồ-đề. ……..”

Thưa quý thính giả,

Niết Bàn Diệu Tâm, Tâm Bồ Đề cũng chính là Phật Tánh, Giác Tánh.

Tổ Lâm Tế là một vị Tổ Sư của rất nhiều Tăng Ni Việt Nam. Có thể đôi khi quý thính giả tham dự tang lễ chư vị Tăng Ni, nghe thấy những câu “Lâm Tế chính tông…” trong tiểu sử người qua đời, câu đó có nghĩa là vị sư này xuất gia với bổn sư thuộc dòng thiền Lâm Tế.

Tổ Lâm Tế nói:

“Sơn tăng chẳng có một pháp cho người, chỉ là trị bệnh mở trói”.

“Nếu các ngươi thôi nghỉ cái tâm niệm niệm tìm cầu thì với chư Tổ chư Phật chẳng khác. Các ông muốn nhận biết chư Tổ, chư Phật chăng ? Chính là ngươi đang nghe pháp trước mắt đây.

“Chư đạo hữu ! Các ông phải biết, Tâm pháp vô hình thông suốt mười phương, ở mắt gọi là thấy, ở tai gọi là nghe, ở mũi gọi là ngửi, ở miệng gọi là nói bàn, ở tay gọi là nắm bắt, ở chân gọi là chạy nhảy, vốn là một cái tinh minh, phân thành sáu hòa hợp. Một tâm đã không thì mọi nơi đều giải thoát”.

“Tâm pháp vô hình thông suốt mười phương” cũng chính là Diệu Tâm, Giác Tánh…

Như quý vị đã thấy, điều chung trong các câu của đức Phật và ba vị Tổ Sư đều nói về Tâm. Đức Phật nói Diệu Tâm, chính là Giác Tánh, là Tánh. Ngài Bồ Đề Đạt Ma dùng chữ Tánh, Lục Tổ Huệ Năng dùng chữ Tâm Bồ Đề, cũng tức là Giác Tánh.

Đặc biệt Tổ Lâm Tế còn nói rõ hoạt dụng của Diệu Tâm như sau:

“Tâm pháp vô hình thông suốt mười phương, ở mắt gọi là thấy, ở tai gọi là nghe, ở mũi gọi là ngửi, ở miệng gọi là nói bàn, ở tay gọi là nắm bắt, ở chân gọi là chạy nhảy, vốn là một cái tinh minh, phân thành sáu hòa hợp”.

Trong Luận Đại Thừa Khởi Tín, luận sư Mã Minh dạy:

“Cái tâm này (tâm chúng sanh) có hai phần:

Một là Tâm Chân Như,

Hai là Tâm sanh diệt.

Hai tâm này không rời nhau và đều bao trùm tất cả pháp”.

HT Thích Thiện Hoa giảng rằng:

“Chân Như là “Thể”, còn Sanh diệt là “Tướng” và “Dụng”. Tướng và Dụng không rời Thể, Thể không rời Tướng và Dụng; cũng như nước không rời sóng, sóng không rời nước. Bởi Thể, Tướng và Dụng không rời nhau, nên mỗi một phần đều bao hàm được tất cả pháp.

Nếu người nào lìa các vọng niệm, thì người ấy nhập được Chân Như. Nghĩa là “Vọng” hết, thì “Chân” hiện. Đoạn này đồng một ý nghĩa với bốn chữ “bất tuỳ phân biệt” trong Kinh Lăng Nghiêm”.

Thưa quý thính giả,

Vọng niệm nổi lên trong tâm con người ta luôn luôn liên tục từ sát na này tiếp nối sát na khác như là dòng suối, nên còn gọi là dòng suối ý thức. Nếu có thể bất thình lình nguồn tư tưởng triền miên đó ngưng một sát na thì dòng suối đứt đoạn, gọi là “lìa vọng chứng chân”, đương sự bừng tỉnh cơn mê, trong một thoáng thấy lại được Bản Tánh, cũng là Giác Tánh, Diệu Tâm, vân vân. Sự kiện này là “kiến tánh”, thiền Nhật Bản gọi là Satori.

Đức Phật giơ cành hoa lên là phương tiện thiện xảo của Ngài, tâm tôn giả Ca Diếp lúc đó đã lắng đọng, cho nên chỉ một hành động của đức Phật, nhà Thiền gọi là cơ xảo, tâm tôn giả Ca Diếp chợt bừng tỉnh. Cơ xảo giơ cành hoa của đức Phật như thế, Thiền tông gọi là “tháo đinh nhổ chốt”, Tổ Lâm tế gọi là “trị bệnh mở trói”, đều là gỡ cái nút thắt trong tâm của hành giả tu Thiền, khiến cho Tâm hành giả bừng tỉnh mà thôi.

Tâm trò bừng tỉnh thì thông suốt với tâm rỗng rang của Thày, nên gọi là “Tâm ấn Tâm”, và sự truyền thừa đó gọi là “Truyền Tâm Ấn”.

Ở đây chỉ có Tâm rỗng rang của hai thày trò thông suốt nhau, không có gì được truyền từ thày sang trò, vì thế nhà Phật đã có câu “dĩ tâm ấn tâm, dĩ không môn vi pháp môn”, nghĩa là “tâm thông suốt với tâm, cửa không là cửa pháp”. Nếu trong tâm lại còn có bất cứ cái gì để mà có thể truyền từ tâm thày sang trò thì tâm còn ô nhiễm, sao gọi là Phật như câu “Năng lễ sở lễ tánh không tịch” được.

Pháp môn này gọi là “Trực chỉ nhân tâm kiến Tánh thành Phật”, và phương tiện thiện xảo đó là “chỉ thẳng tâm người”.

Như vậy, nhiệm vụ ngài Bồ Đề Đạt Ma tới Trung Hoa là để chỉ thẳng cho các học giả Phật giáo thấy mục tiêu cốt tủy của đạo Phật không phải là nghiên cứu ngón tay chỉ mặt trăng là phần lý thuyết, mà phải thực hành để đạt được mặt trăng là “kiến Tánh thành Phật”.

Kính thưa quý vị,

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 22 – Quy Y Tam Bảo – Pháp Danh

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi nhận được thư của ông Phạm thế Hiếu hỏi về vấn đề pháp danh trong đạo Phật. Nhận thấy câu hỏi này có thể cũng là thắc mắc của một số thính giả nên chúng tôi xin phép được trình với quý vị một đoạn trong thư, trước khi có lời giải đáp, như sau:

…”… Một người bạn Mỹ trong sở một hôm hỏi tôi theo tôn giáo nào, tôi nói tôi theo đạo Phật, anh ta bèn khoe anh ta cũng theo đạo Phật có dharma name và hỏi dharma name của tôi. Tôi không biết dharma name là gì nên phải nói đại là quên mất rồi.

Sự thực thì tuy gia đình tôi theo đạo Phật nhưng chúng tôi rất ít khi đến chùa, cũng không hề biết kinh sách gì cả, chỉ Tết mới đi lễ xin lộc Phật, hoặc những ngày giỗ hay có tang ma của người thân thuộc thì mới đến chùa tụng kinh cầu siêu, cho nên sự hiểu đạo của gia đình chúng tôi rất hạn hẹp.

Nay gặp câu hỏi khó nên viết thư này xin quý vị chỉ dẫn để tôi có thể trả lời người bạn trong sở tôi về vấn đề dharma name….”…

Thưa quý thính giả và ông Hiếu,

Theo chỗ chúng tôi được biết thì trường hợp hiểu đạo một cách hạn hẹp như ông Hiếu rất phổ biến trong cộng đồng Phật giáo chúng ta. Đối với một số tôn giáo, ngay khi còn là em bé, đứa nhỏ đã phải trải qua một số nghi lễ để xác nhận tôn giáo mà em sẽ mang theo sau này. Rồi sau đó, khi hiểu biết đôi chút, các em bắt đầu học giáo lý theo tôn giáo của các em

Nhưng đạo Phật thì khác, do chủ trương mọi việc làm đều phải được quyết định trong sự tỉnh thức, cho nên một em nhỏ trong gia đình theo đạo Phật cứ việc sống tự nhiên cho tới khi bắt đầu hiểu biết, khi đó có thể là do cha mẹ dạy hoặc cho các em gia nhập các gia đình Phật tử, hoặc tự các em tìm hiểu đạo Phật qua sách báo, trong thư viện, hoặc nghe những buổi thuyết pháp của đạo Phật, cảm thấy muốn đi sâu vào con đường tu tập của đạo Từ Bi, họ mới tới chùa xin Quy Y Tam Bảo để chính thức là một Phật tử.

Người tự nguyện quy y như thế có nghĩa là chấp nhận sự hướng dẫn của Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo. Phật Bảo là chư Phật, Pháp Bảo là giáo pháp, cụ thể là Tam Tạng Kinh Điển, Tăng Bảo là chư Tăng Ni tu hành thanh tịnh, hiện đang đại diện Chư Hiền Thánh Tăng để hướng dẫn Phật tử trên con đường giác ngộ giải thoát.

Và chỉ sau khi Quy Y Tam Bảo, có nghĩa là đương sự đã quyết tâm nương tựa tinh thần vào Tam Bảo để tu tập, thì người đó mới được vị Tăng đại diện đặt cho một pháp danh, thí dụ Diệu Tâm, Chân Tịnh, vân vân…. Pháp danh dịch sang Anh Ngữ là dharma name

Như thế, trên thực tế, nếu một người không Quy Y Tam Bảo, không đọc kinh sách nhà Phật để ứng dụng vào cuộc sống cho được thăng hoa, giảm bớt nỗi thống khổ, mà chỉ đi chùa cúng bái cầu siêu, một việc vốn không phải là Phật sự chính của đạo Phật, mà do  các Sư thực hiện như một phương tiện tùy thuận chúng sinh, thì có lẽ nên gọi là theo đạo thờ cúng Tổ Tiên, mà trong dân gian gọi là “đạo Ông Bà” mới đúng danh nghĩa.

Tất cả Phật tử đều thờ cúng Tổ Tiên, không có nghĩa rằng những người chỉ thờ cúng Tổ Tiên, không hề biết đến và nương theo giáo lý của đạo Từ Bi để chuyển hóa tâm đều là Phật tử. Chỉ sau khi đã Quy Y Tam Bảo, đã ứng dụng giáo lý nhà Phật trong cuộc sống, thì mới là một Phật tử thực sự.

Có người nói rằng :” Tôi chỉ quy y “Nhị Bảo” là Phật và Pháp thôi, còn Tăng thì cũng như tôi, không cần quy y”.

Nói như thế là sai lầm. Tăng hiện đang sống, đứng trước mặt chúng ta là phàm tăng. Nhưng các vị ấy đại diện tất cả Tăng Bảo của ba thời là quá khứ, hiện tại và vị lai. Chúng ta quy y như thế là quy y tất cả Chư Hiền Thánh Tăng của ba thời do các phàm tăng đại diện.

Tăng Bảo, dù là phàm tăng, cũng có công duy trì và hoằng dương Phật pháp ở đời. Nhờ có Tăng Bảo, đạo Phật mới có thể hiện diện trên thế gian một cách sống động và hữu ích thiết thực, qua những lời dạy của chư Tăng và do chính đời sống gương mẫu của chư vị ấy mà Phật tử noi theo, điều đó gọi là thân giáo.

Nếu có cá nhân Tăng Ni nào vi phạm Giới Cấm, hành xử sai lầm, chúng ta cũng hiểu rằng đó là trường hợp cá biệt, không vì thế mà có sự nhận định sai lầm tới danh dự của tất cả chư Tăng Ni.

Khi quy y Tam Bảo là chúng ta quy y chư Phật, chư Pháp và chư Tăng. Chư Tăng là “tất cả các Tăng”. Cho nên đã quy y Thầy A rồi, khi thấy Thầy B danh tiếng lừng lẫy hơn, bằng cấp cao hơn, ta lại quy y thêm Thầy B là dư thừa, vì khi quy y Thầy A, ta đã đồng thời quy y Thầy B.

Để quý thính giả có thêm tài liệu về Quy Y Tam Bảo, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một phần bài pháp của hòa thượng Thích Thanh Từ dạy về đề tài này.

Hòa thượng nói:

…”… Tam Quy nói đủ là Quy Y Tam Bảo. Tam Bảo là Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo. Phật là chỉ đức Phật Thích Ca Mâu Ni, do trước kia ngài tu hành giác ngộ thành Phật. Pháp Bảo là giáo pháp do Đức Phật nói ra chỉ dạy đường lối tu hành. Tăng Bảo là những vị tu hành theo giới luật và chánh pháp của đức Phật.

Tại sao gọi là Phật Bảo?

Từ một kẻ phàm phu như chúng ta tu hành thành Phật thực là chuyện ít có trên nhơn gian nầy. Thế nên trong kinh thường nói Phật ra đời khó gặp, như hoa Ưu Đàm một ngàn năm mới trổ một lần. Bởi ít có, khó gặp, nên nói là Báu. Hơn nữa, tự bản thân Ngài đã thoát khỏi sanh tử luân hồi và giác ngộ thành Phật, rồi đem chỗ giác ngộ ấy dạy lại cho mọi người cùng ra khỏi sanh tử, là điều cao cả nhất trần gian nên gọi là Báu, tức là Bảo.

Thế nào gọi là Pháp Bảo?

Chánh pháp xuất thế hy hữu do Đức Phật dạy lại, người nghe rất khó hiểu, khó thấu đáo được. Nhưng một khi đã hiểu, ứng dụng tu hành có thể chuyển đời phàm phu trở thành thánh nhân, pháp như vậy còn gì quý báu bằng. Pháp của Phật dạy là chân lý, dù trải qua bao thời gian chân lý ấy vẫn rạng ngời như hòn ngọc báu. Những kẻ đang lạc lầm trong đêm đen, bất thần gặp được ngọn đuốc, vui mừng quý tiếc thế nào, người học đạo gặp được chánh pháp cũng như thế. Người đang bị chìm đắm ngoài biển cả, trông thấy một con thuyền đến vớt, vui mừng sung sướng quý mến thế nào, người học đạo gặp được chánh pháp cũng như thế. Cho nên nói “Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm gặp.”

Thế nào gọi là Tăng Bảo?

Tăng là chỉ cho một nhóm tu sĩ học theo Phật, sống chung nhau đúng tinh thần Lục Hòa. Sống đúng tinh thần Lục Hòa là việc ít có trên nhân gian nầy. Bởi vì người thế gian sống trong đua đòi giành giật hơn thua với nhau, không bao giờ hòa thuận được. Lục hòa là:

Thân hòa cùng ở,
Miệng hòa không tranh cãi,
Ý hòa đồng vui,
Giới luật hòa đồng giữ,
Hiểu biết hòa cùng giải,
Lợi hòa chia đồng.

Sáu điều này là tinh thần của Tăng. Nếu có người đầu tròn áo vuông mà không sống theo tinh thần Lục Hòa cũng không gọi là tăng. Ở trong tập thể từ bốn người trở lên, ai cũng hòa thuận chung sống đúng tinh thần Lục Hòa là một việc rất khó làm. Vì thế, người tu sĩ sống theo tinh thần Lục Hòa, là một điều quí báu trên nhơn gian. Hơn nữa, trên sự tu hành, các vị ấy đã vơi đi phiền não và đạt được phần nào của an ổn thanh tịnh, rồi hướng dẫn mọi người cùng đến chổ an ổn thanh tịnh ấy. Vì thế cho nên gọi là Tăng Bảo.

Thế nào là Quy y?

Quy là trở về, Y là nương tựa. Trở về nương tựa với Phật, Pháp và Tăng gọi là Quy Y Tam Bảo. Từ lâu chúng ta mãi chạy theo dục lạc, tạo nghiệp đau khổ, nay hồi tâm thức tỉnh, nhất định trở về nương tựa với Tam Bảo. Lấy Tam Bảo làm chổ cứu cánh, để không còn tạo thêm nghiệp đau khổ, rồi từ đó đem lại cho chúng ta sự an lạc trong cuộc sống. Đây là sự hồi tâm tỉnh giác, phát nguyện trở về của chúng ta. Sự tỉnh giác nầy là nền tảng của lâu đài trí tuệ, nó là bước đầu trên con đường về quê hương giác ngộ. Đặt nền tảng nầy vững chắc thì lâu đài trí tuệ mới được lâu dài. Đó là sự hệ trọng của tinh thần Quy Y….”…

Phật Pháp Tăng là đối tượng để chúng ta Quy Y. Nguyện noi theo con đường Đức Phật đã đi là Quy Y Phật. Quyết thực hành những lời chỉ dạy của Ngài còn ghi trong kinh điển là Quy Y Pháp. Thuận theo sự hướng dẫn tu hành của chúng tăng là Quy Y Tăng. Tăng là tập đoàn Tăng lữ sống đúng tinh thần Lục Hòa, không phải tính cách cá nhân. Nếu một vị sư đứng ra làm lễ Quy Y cho Phật tử, chính vị ấy đại diện cho tập đoàn. Quy Y Tăng là quy y với những vị sư sống đúng tinh thần Lục Hòa, không phải chỉ quy y riêng vị sư truyền Tam Quy cho mình. Khi quy y một vị Tăng tức là đã quy y tất cả chư Tăng. Được vậy mới đúng tinh thần Quy y Tam Bảo bên ngoài.

Phật pháp bao giờ cũng phải đủ hai mặt, Tam Bảo bên ngoài là đối tượng, Tam Bảo tự tâm là bản chất. Nương Tam Bảo bên ngoài, chúng ta phát triển Tam Bảo của tự tâm. Trong ngoài hỗ tương để viên mãn công phu tu hành, là mục tiêu chính yếu của Đạo Phật.

Về Tam Bảo tự tâm thì Tánh Giác sẵn có nơi chúng ta là Phật Bảo. Lòng từ bi thương xót cứu giúp chúng sanh là Pháp Bảo. Tâm hòa hợp với mọi người là Tăng Bảo.

Tam Bảo bên ngoài là điều kiện tốt thiết yếu với người Phật tử, nhưng có được giác ngộ giải thoát chính là khả năng của Tam Bảo Tự Tâm.

Trên đây là bài pháp của hòa thượng Thích Thanh Từ.

Thưa quý thính giả,

Trong các thời tụng kinh, vào giai đoạn cuối, chúng ta thấy có ba đoạn tụng như sau:

Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng. 

Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh, thấu rõ Kinh Tạng, trí tuệ như biển. 

Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại.

Ba lời nguyện này chính là Quy Y Tam Bảo Tự Tâm, còn gọi là Tự Tánh. Sơ Tổ thiền tông Bồ Đề Đạt Ma ra một tuyên ngôn sấm sét khi bước chân lên đất Trung Hoa rằng:

Bất lập văn tự,

 Giáo ngoại biệt truyền,

 Trực chỉ nhân tâm,

 Kiến Tánh thành Phật.”

Chữ “Tánh” trong câu này chính là “Tự Tánh”, cũng chính là Giác Tánh của mỗi người.

Tự Tâm Quy Y có nghĩa là quay vào nội tâm để tự thanh lọc cho tới khi Giác Ngộ.

Về Quy Y Tam Bảo Tự Tâm, hòa thượng Thích Thiện Hoa dạy như sau:

…”…Quy Y Tam Bảo Tự Tâm nghĩa là quy y Tam Bảo trong tâm chúng ta. Nếu chúng ta chỉ quy y Tam Bảo bên ngoài, mà quên Tam Bảo bên trong tâm chúng ta, thì chúng ta chưa thực hành đúng nghĩa Tam Quy. Thật thế, bên trong tâm chúng ta cũng có đủ Tam Bảo. Chúng ta cần thực hành Tam Tự Quy Y: Tự Quy Y Phật, Tự Quy Y Pháp và Tự Quy Y Tăng.

 Tự quy y Phật nghĩa là mình tự trở về với Phật tánh sáng suốt của tâm mình. Mỗi người đều có Phật tánh, và đều có thể thành Phật. Đó là lời Phật Thích Ca đã dạy. Nhưng Phật tánh ấy bị mê lầm, vọng tưởng che lấp. Vọng tưởng như mây mờ, Phật tánh như trăng. Mây mờ có thể che khuất, chứ không thể tiêu diệt được trăng sáng.

Phật tánh của chúng ta dù bị vọng tưởng, vô minh che lấp sâu kín đến đâu cũng vẫn thường còn. Vậy thì sao chúng ta lại bỏ quên Phật tánh của chúng ta, mà chỉ chạy theo cầu khẩn Phật bên ngoài; như đứa con nghèo có viên ngọc quý, cha mẹ đã giấu sẵn trong chéo áo mà nó không biết, lại đi xin ăn cùng khắp mọi nơi.

Tự Quy Y Pháp là vâng theo Pháp tánh của mình. Trong tâm có đủ pháp Từ Bi, Trí Tuệ, Bình Đẳng, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn…Chúng ta cần phát huy những đức tánh ấy và hành động theo chúng, tuân theo chúng; như thế là Tự Quy Y Pháp.

Tự quy y Tăng là vâng theo thầy trong tâm mình. Thầy trong tâm mình là đức tánh thanh tịnh hòa hợp của mình, cũng như Tăng già là hiện thân của sự hòa hợp thanh tịnh bên ngoài. Bấy lâu vì mình bị mê muội, không nhận thấy được ông thầy trong tâm, nay nhờ Phật chỉ dạy, mình nhận thấy được ông thầy thanh tịnh ấy, thì mình phải quy y thầy của mình trước đã chứ!

Nói tóm lại, mình phải nương tựa, quay về với Phật trong tâm là tánh sáng suốt; với Pháp của mình là các đức tánh Từ Bi, Hỷ Xả v.v…; với Tăng của mình là sự hòa hợp, thanh tịnh của bản thân. Như thế là Tam Tự Quy Y….”…

Trên đây là lời dạy của hòa thượng Thích Thiện Hoa.

Thưa quý thính giả,

Các pháp môn tu hành của nhà Phật đều chủ yếu là luyện cho tâm được bình tĩnh, thanh tịnh, để nhìn thấu suốt được sự việc xảy ra đúng như thực tế.

Trong quá trình tu tập, các thiền giả đang đi trên đường, dù chưa đắc đạo, cũng có những thành tựu nhỏ như là giữ được sự bình thản trước những nỗi kinh hoàng của cuộc đời, không bị lôi cuốn vào cơn sợ hãi.

Chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện Thiền nói về sự bình tĩnh, trích dịch từ loạt bài  “Zen Stories To Tell Your Neighbors” do soạn giả John Suler gửi lên Internet, như sau:

…”… Trong cuộc nội chiến dưới triều đại phong kiến bên Nhật, có đoàn quân xâm lăng tràn vào thành phố cướp chính quyền.

Tại một làng đặc biệt kia, trong khi mọi người vội vã bồng bế nhau chạy thoát thân trước khi quân giặc tràn tới, thì có một vị thiền sư vẫn điềm nhiên tĩnh tọa.

Nổi cơn tò mò, viên tướng giặc muốn nhìn tận mắt coi ông thiền sư già này thuộc loại gan cóc tía nào mà dám ngang nhiên như thế, bèn thân hành tới tận chùa. Thấy mình không được thiền sư tiếp đón một cách cung kính, tôn trọng, điều mà hắn đã quen được hưởng, viên tướng bèn nổi trận lôi đình, vừa rút gươm ra vừa thét:

– Nhà người điên à? Bộ không biết rằng nhà ngươi đang đứng trước mặt một người có thể đâm ngươi một đường gươm lút cán mà không hề chớp mắt sao?

Vẫn bình thản dường như là bất động, vị thiền sư điềm tĩnh trả lời:

– Thế ông không nhận ra rằng ông đang đứng trước một người có thể bị đâm một đường gươm lút cán mà không hề chớp mắt sao?

Thưa quý thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay.  Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 21 – Giới Cấm uống rượu và men say, ma túy

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Trong nhiều kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình với quý vị bài kệ tóm tắt con đường tu hành của người Phật tử, như sau:

“Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành”

Chúng tôi cũng đã thưa rằng trong ba lời dạy cốt tủy đó, thì lời dạy thứ ba, “Tự thanh tịnh tâm ý”, mới chính là điều tối quan trọng, chỉ khi nào thực hiện điều đó, hành giả đạo Phật mới hoàn tất con đường tu chứng của mình, bởi vì nội dung của “tự thanh tịnh tâm ý” có nghĩa là chấm dứt những lôi cuốn của Tham, Sân và Si, vốn là nguyên nhân của tất cả mọi vướng mắc dây dưa trong vòng luân hồi sinh tử.

Tuy vậy, hai điều trước đó, “không làm những điều ác” và “siêng làm những việc lành” cũng rất quan trọng. Vì đó là phần đạo đức học của Phật giáo, mục đích đào luyện những phần tử tốt lành, những người hiền thiện trong xã hội, đồng thời chuyển dòng nghiệp của họ từ xấu sang tốt, làm nhân tố tốt cho giai đoạn “Tự thanh tịnh tâm ý”.

Để thực hiện điều này, nhà Phật có Ngũ Giới, là năm điều ngăn ngừa, mà mỗi Phật tử đều có phát lời nguyện sẽ tuân thủ, hoặc cả 5 Giới, hoặc nếu cảm thấy chưa đủ khả năng giữ được trọn vẹn cả 5, thì có thể thọ tùy theo nhiều hay ít giới, để tập cho quen từ từ, cuối cùng đạt được mục đích tuân thủ cả Năm Giới.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi xin kính gửi tới quý vị nội dung câu hỏi “Thế nào là Ngũ Giới của cư sĩ tại gia?” và câu trả lời của hòa thượng Thích Duy Lực, như sau:

– Giới thứ nhất là cấm sát sanh. Đã muốn thọ giới của Phật thì trước tiên là cấm sát sanh, bất sứ sinh vật gì thuộc hữu tình đều cấm giết hại.

– Giới thứ nhì là cấm trộm cắp. Đồ vật của người khác, nếu muốn lấy sử dụng phải được sự đồng ý của chủ nó, nếu không được sự đồng ý mà lén lấy thì gọi là trộm cắp. Dĩ nhiên các đồ vật trong gia đình giữa cha mẹ anh chị em thường dùng qua lại lẫn nhau là không phạm, nhưng cái nào cũng có sự giới hạn, ví như con cái ăn cắp tiền của cha mẹ cũng phạm giới trộm cắp.

– Giới thứ ba là cấm tà dâm. Thế nào là tà dâm? Người tại gia thường có gia đình, quan hệ vợ chồng chính thức là chánh, ngoài vợ chồng chính thức ra đều thuộc tà dâm, phải cấm, còn người xuất gia thì bất cứ hành động dâm dục nào cũng đều bị cấm.

– Giới thứ tư là cấm vọng ngữ, gồm bốn thứ: Vọng ngôn, ỷ ngữ, ác khẩu, lưỡng thiệt.

Vọng ngôn là nói dối, tức nói có thành không, nói không thành có;

Ỷ ngữ là lời nói thêu dệt;

Ác khẩu là chửi mắng người khác;

Lưỡng thiệt là thị phi hai đầu, làm cho hai bên bất hòa, khiến thù oán nhau.

– Giới thứ năm là cấm uống rượu, vì uống rượu rồi có thể phạm phải bốn giới trước nên cấm.

Giới nhà Phật có khai, giá, trì, phạm, ví như mình có bệnh, y sĩ nói phải dùng thuốc có pha rượu, tự mình công khai nói ra thì có thể uống. Lại nữa, có trường hợp vì không biết đó là rượu mà uống phải thì chẳng phạm; hoặc trong lúc nấu nướng cần bỏ rượu vào để chế biến cũng chẳng phạm. Ngoài ra, một số thực phẩm có men rượu nhưng ăn vào không bị say như cơm rượu, vân vân, cũng dùng được.

Ngũ Giới này là của cư sĩ tại gia, đã thọ rồi thì phải suốt đời giữ theo giới, nếu sơ ý phạm phải thì sám hối với một người cư sĩ đã thọ Ngũ Giới rằng: “Xin ông hãy chứng minh cho tôi đã lỡ phạm Giới này, từ nay về sau tôi sẽ không phạm nữa”. Vậy là hết tội phá giới, còn tội nhân quả thì chẳng thể sám hối được, giết một mạng phải trả một mạng.

Có người nói: “Thế thì chẳng thà không thọ giới, không phải mắc đến hai tội, vừa tội nhân quả vừa tội phá giới; nếu không thọ giới thì chỉ mắc một tội nhân quả mà thôi”.

Sự thật là nếu không thọ giới thì dễ phạm nhiều tội nhân quả, mắc nợ nhiều; còn thọ giới rồi sẽ cẩn thận hơn, ít phạm tội nhân quả, ít mắc nợ, cho nên có thọ giới vẫn tốt hơn”.

Trên đây là bài giảng về Ngũ Giới  của hòa thượng Thích Duy Lực.

Thưa quý thính giả,

Trong các Giới Cấm kể trên, Giới Cấm uống rượu là gây nhiều thắc mắc nhất. Có người nói rằng “Uống rượu thì có gì là hại, còn bổ máu, dễ tiêu hóa nữa kìa, các cụ dạy thế và cả bác sĩ cũng bảo vậy, sao Phật lại cấm?”

Do đó, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một đoạn trong bài pháp của hòa thượng Thích Thiện Hoa, phần nói về Giới Cấm uống rượu.

Hòa thượng dạy rằng :

“Phật cấm uống rượu vì muốn ngăn ngừa những nguyên nhân sanh ra tội lỗi.

Uống rượu chính nó không phải là một tội lỗi như sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nhưng nó có thể làm nhân cho những tội lỗi kia sanh ra. Khi đã uống rượu say sưa, thì tội nào cũng có thể phạm được. Dưới đây là một câu chuyện để chứng minh điều đó:

Một anh nông phu kia đang cày ruộng giữa đồng, bỗng thấy hiện ra sừng sững trước mặt mình một hung thần to lớn, kỳ dị, hăm giết anh. Anh kinh sợ, khóc lóc xin tha mạng. Vị hung thần bảo:

– Nếu ngươi làm được một trong ba việc này thì ta tha chết cho: hoặc là giết cha ngươi, hoặc là đánh mẹ ngươi hay uống hết lít rượu để trên bàn nhà ngươi.

Anh nông phu suy nghĩ một hồi rồi trả lời:

– Xin Ngài cho con được uống lít rượu.

Ác thần nghe xong, có vẻ hài lòng, rồi biến mất.

Trưa hôm ấy, anh nông phu về nhà, thấy lít rượu mà ông thân sinh mua để đãi khách, vì nhà sắp có giỗ, anh ta vội vàng chụp lấy, nốc cạn một hơi. Cha anh thấy đứa con hỗn láo, nắm gậy xông lại đánh mắng con. Ma men đã thấm, anh ta không còn biết phải trái, giựt gậy của cha, đánh ông một cây chết tốt ! Bà mẹ chạy đến ôm con la làng. Anh ta chưa hả cơn giận, đánh mẹ túi bụi. Làng xóm chạy lại bắt anh dẫn lên quan vì tội giết cha đánh mẹ. Tỉnh lại anh mới biết uống rượu là tội nặng nhất trong 3 điều mà hung thần đã bắt anh làm”.

Kính thưa quý vị,

Hòa thượng Thích Thiện Hoa kể câu chuyện ẩn dụ trên để gây ấn tượng về sự nguy hiểm sẽ phát sinh ra do rượu. Vì uống rượu thì sẽ say sưa, lý trí bị lu mờ, hành động trở thành mê muội, mất sáng suốt.

Vào thời đức Phật chế Giới Cấm, chỉ mới có rượu là chất làm cho tinh thần bị mê mụ, mất sáng suốt. Cho nên để giữ cho tinh thần minh mẫn, mới có Giới Cấm uống rượu.

Nhưng ngày nay nhân loại còn có những chất say độc hại, làm mê mụ tinh thần con người ta hơn cả rượu, thí dụ cần sa, ma túy. Các chất này vốn cũng được dùng trong y dược khoa để điều chế các loại thuốc giảm đau, gây mê, vân vân, với liều lượng rất nhỏ và do sự tinh luyện của những nhà chuyên môn để tránh độc hại.

Nhưng nó lại trở nên vô cùng độc hại khi bị lạm dụng với những liều lượng lớn và cơ thể có thói quen phải dùng liên tục vì tính chất các loại thuốc này là làm cho người ta trở thành nghiện.

Hiện tượng lạm dụng các loại cần sa ma túy phổ biến ở Tây Phương vào khoảng đầu thập niên 60, khi phong trào hippie lan tràn, gây ảnh hưởng sâu xa vào nền văn hóa của nhân loại. Điển hình của một hippie là quần áo  xốc xếch mầu sắc sặc sỡ, tóc dài dù là con trai, biểu dương quan niệm sống tự do buông thả trong nếp suy tư tình cảm và bác bỏ những giá trị văn hóa truyền thống. Họ tìm cảm giác bằng cách hút cần sa, ma túy.

Phong trào lan nhanh trên thế giới do nếp sống đồi trụy buông thả dễ lôi cuốn con người vào con đường sa ngã, và từ thời gian đó, nhân loại rơi vào một hiểm họa là nạn nghiện cần sa, ma túy.

Sự nguy hiểm của nghiện ma túy là khi đã lậm, liều lượng sẽ phải tăng dần để thỏa mãn nhu cầu đạt được sảng khoái của kẻ nghiện. Đồng thời, đã nghiện ma túy rồi thì sự từ bỏ rất là khó khăn, trừ trường hợp nạn nhân có ý chí thật là mãnh liệt.

Nhưng chuyện có ý chí từ bỏ này rất hiếm xảy ra vì bản chất của ma túy là nó tác hại vào tinh thần kẻ nghiện, khiến cho nạn nhân trở thành trì trệ, lười biếng, lừ đừ. Và người nghiện trở nên hung dữ khi cơn ghiền đến mà không có thuốc. Khi đó, họ có thể làm những hành động vô cùng tàn nhẫn ngay cả đối với người thân như cha mẹ anh chị em hoặc bạn bè để có tiền mua thuốc, thậm chí trở thành kẻ bất lương, cướp bóc nữa.

Kết quả tai hại của nạn nghiện ma túy này rất là tàn khốc, cho chính người lạm dụng, cho những người thân của đương sự và cho xã hội nữa.

Từ đó suy ra, chúng ta thấy Giới Cấm uống rượu này bao gồm tất cả “các chất làm say sưa, mất sáng suốt”. Như thế, các loại cần sa, ma túy, vân vân …, cũng phải được cho vào danh sách những chất bị Giới Cấm uống rượu chi phối.

Thưa quý thính giả,

Nhân nói về Giới Cấm uống rượu, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị câu chuyện thương tâm, hậu quả của một tai nạn do say rượu lái xe, được đăng trên Internet, do bà V.A. Bailey kể lại, đạo hữu Vy Khanh dịch ra Việt ngữ, như sau:

“Tôi vội vã chạy tới một cửa hàng bách hóa để quơ đại vài món quà Giáng Sinh vào giờ cửa tiệm sắp đóng. Nhìn đám người ùn lên phía trước, tôi vừa bực bội với sự trễ nải của mình vừa cố gắng xấn xổ vượt qua được đám đông chen chúc trong cái gian hàng đồ chơi trẻ con này. Giá mà tôi lăn kềnh được ra đây, ngủ thiếp đi, tỉnh dậy để phát hiện ra rằng ngày Lễ Giáng Sinh đã qua rồi thì hay biết mấy!

Bỗng nhiên, tôi  nhận ra tiếng của chính tôi đang lẩm bẩm đọc giá tiền những món đồ chơi bày trên kệ và tưởng tượng cảnh mấy đứa cháu được ôm những món đồ chơi đó trong lòng. Thuận chân, tôi tiến về khu bán búp bê. Phía xéo với tầm mắt, tôi thấy một em bé trai trạc 5 tuổi đang ôm một con búp bê xinh xắn. Đứa bé nâng niu món đồ chơi trong vòng tay, còn tay kia thì cứ vuốt mãi lên mái tóc mềm như tơ của con búp bê. Tôi không thể dời mắt khỏi quang cảnh đó mà cứ chăm chú nhìn cậu bé, trong lòng thắc mắc không biết cậu ta giữ con búp bê đó cho ai vậy. Rồi tôi thấy cậu ta quay qua phía một phụ nữ đứng bên cạnh mà hỏi:

– Cô có chắc là số tiền của cháu không đủ để mua con búp bê này không?

Người cô trả lời, giọng có vẻ sốt ruột:

– Cháu biết là cháu không đủ tiền mua nó mà.

Rồi cô ta dặn cháu đừng đi đâu cả, phải đứng tại đó chờ cô ta đi mua mấy món đồ, sẽ trở lại trong vòng vài phút. Nói rồi cô đi khuất khỏi tầm mắt chúng tôi.

Cậu bé vẫn đứng đó tay ôm con búp bê. Ngập ngừng một chút, tôi cất tiếng hỏi cậu bé rằng cậu định mua con búp bê cho ai. Cậu bé trả lời:

– Đây là con búp bê mà em cháu thích được tặng vào dịp Giáng Sinh này lắm. Em cháu biết chắc là Santa Claus sẽ mang tới cho em.

Tôi bảo cậu bé:

– Có lẽ Santa Claus sẽ mang tới cho em cháu thật đấy.

Cậu bé lắc đầu:

– Không, Santa sẽ không thể tới được nơi mà em cháu hiện nay đang ở. Cháu phải đưa con búp bê cho mẹ cháu để mẹ mang tới cho em.

Tôi hỏi:

– Vậy em cháu ở đâu?

Cậu bé nhìn tôi bằng cặp mắt thê thảm nhất, trả lời:

– Em cháu đã về với Chúa. Bố cháu nói rằng mẹ cháu cũng sắp phải đi với em rồi.

Tim tôi thót lại. Cậu bé nói tiếp:

– Cháu dặn bố cháu nói với mẹ là mẹ đừng đi vội. Cháu dặn bố cháu nói với mẹ là hãy chờ cháu từ tiệm trở về.

Rồi cậu bé hỏi tôi có muốn coi hình của cậu ta không. Tôi nói rằng tôi rất muốn. Cậu ta lôi ra mấy tấm hình mà cậu mới chụp ở ngoài cửa tiệm, nói:

– Cháu muốn mẹ cháu đem theo mấy tấm hình này để mẹ không bao giờ quên cháu. Cháu yêu mẹ cháu lắm. Cháu ước gì mẹ cháu sẽ không phải rời bỏ cháu. Nhưng bố cháu nói rằng mẹ cháu cần phải đi với em cháu.

Tới đây, cậu bé lặng lẽ cúi gục đầu xuống. Trong khi cậu ấy không nhìn thấy, tôi thò tay vào ví lôi ra một nắm tiền giấy cuộn trong lòng bàn tay rồi đề nghị:

– Này, hay là chúng mình đếm lại tiền của cháu một lần nữa coi sao?

Cậu bé có vẻ phấn khởi:

– Dạ, cháu biết chắc là phải đủ mà.

Thế là tôi nhẹ nhàng tuồn nắm tiền trong lòng bàn tay tôi nhập vào với tiền của cậu bé và bắt đầu đếm. Dĩ nhiên là bây giờ thì số tiền dư sức để mua con búp bê. Cậu bé nhìn lên cao, cất tiếng nhẹ nhàng:

– Xin cảm ơn Chúa đã cho con đủ tiền mua búp bê.

Rồi cậu nói với tôi:

– Cháu vừa mới cầu xin Chúa cho cháu đủ tiền mua con búp bê này để mẹ cháu có thể đem theo cho em cháu. Chúa đã nghe thấy lời cầu xin của cháu. Cháu đã muốn xin đủ tiền để mua được hoa hồng bạch cho mẹ cháu nữa mà cháu lại không hỏi. Vậy mà Chúa lại cũng cho cháu đủ tiền để mua được cả búp bê cho em cháu và hoa hồng cho mẹ cháu nè. Mẹ cháu thích hoa hồng bạch lắm, cô à.

Người cô của cậu ta đã trở lại. Tôi cũng đẩy xe đồ của tôi đi luôn. Đầu óc tôi cứ bận bịu với hình ảnh cậu bé trong khi tôi tiếp tục mua sắm, nhưng tinh thần tôi bây giờ không giống như trước khi tôi gặp cậu ta.

Tôi bỗng nhớ tới một câu chuyện đăng trên báo mấy ngày trước đây, câu chuyện về một người say rượu lái xe, tông vào xe kia làm cho một cô bé chết ngay và mẹ cô ta bị thương nặng. Gia đình người bị nạn đang bối rối trước quyết định có nên tháo bộ máy trợ sinh ra khỏi cơ thể bà ta chăng. Nhưng dĩ nhiên là cậu bé này chẳng liên quan gì đến câu chuyện đó cả, tôi tự nhủ thế.

Hai ngày sau tôi đọc báo thì biết được rằng gia đình người đàn bà trong tai nạn xe hơi đã quyết định tháo máy trợ sinh và bà ta đã chết. Tôi vẫn chưa quên câu chuyện cậu bé và cứ thắc mắc không biết hai chuyện có liên quan gì đến nhau không.

Chiều hôm đó, không nhịn được nữa, tôi đi mua mấy bông hoa hồng trắng và đến nơi quàn xác người đàn bà.

Thì ô kìa, nằm lặng lẽ trong bộ áo cuối cùng của cuộc đời, người đàn bà trẻ ôm trong tay một bông hoa hồng bạch cạnh con búp bê xinh xắn và trên ngực là tấm hình cậu bé chụp trước cửa tiệm bách hóa.

Tôi ra về với đôi mắt đẫm lệ, cuộc đời tôi thay đổi từ lúc đó. Tình yêu mà cậu bé thơ ngây dành cho em nhỏ và mẹ cậu ta mới thiêng liêng sâu sắc làm sao! Một tình yêu bao la như thế, đằm thắm như thế, mà chỉ trong thoáng chốc, một người say rượu, lái xe trong tình trạng tâm trí không sáng suốt, đã xé tan nát trái tim cậu bé ra thành từng mảnh.

Thưa quý thính giả,

Câu chuyện buồn về say rượu lái xe đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 20 – Tôn trọng các Tôn Giáo khác

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Trong thời gian qua, chúng tôi nhận được một số câu hỏi liên quan đến những vấn đề rất thực tế, đồng thời cũng rất nhậy cảm, xảy ra trong đời sống hằng ngày. Đó là những câu hỏi như:

– “Tôi thấy đạo Phật hay quá nên muốn rủ bà con và bạn hữu đang theo đạo khác đổi sang đạo Phật”,

hoặc

– “Phải làm gì khi những người trong gia đình không theo đạo Phật chống đối lại ta?”.

Những câu hỏi này thuộc về những vấn đề rất tế nhị, cũng như vấn đề tình yêu, chính trị, vân vân, để trong lòng thì thắc mắc, mà nói ra thì dễ đụng chạm vào niềm tin của nhau. Nhưng đó chính là những chuyện xảy ra trong đời sống hằng ngày, nên chúng ta cũng nên đem ra thảo luận hơn là tránh né.

Kính thưa quý vị,

Bình thường, mọi người đều thích làm việc phước thiện, nhất là làm việc phước thiện mà lại không tốn kém gì, chỉ mất công nói, nghĩ rằng có thể giúp người khác, mình lại được phước, thì rất nên nói. Cho nên đã có nhận xét rằng: “Trong mỗi người Việt Nam có 2 thày thuốc, một bác sĩ Tây y và một Đông y sĩ”. Điều này quả có đúng phần nào, vì mỗi khi thấy ai có vẻ gầy yếu, xanh xao, là lập tức có lời mách giúp về các loại thuốc nào đó, có khi cả Đông và Tây y.

Mách thuốc một cách thoải mái như thế, là vì người nói không biết tình trạng thực tế về sức khỏe của người nghe. Người nói có những kinh nghiệm về cơ thể của riêng họ và thuốc đó giúp cho họ khỏe. Nhưng khi mách cho người khác, họ không hề biết cơ thể người khác cần những chất gì. Cho nên, điều mình cho là tốt, chưa chắc đã phù hợp với người khác. Chuyện tôn giáo cũng vậy, những tôn giáo khác cũng có những điều phù hợp với tâm hồn tín đồ của họ. Nếu mình không thâm hiểu sâu xa tôn giáo của người khác, mà tích cực rủ rê họ đổi qua tôn giáo của mình, thì đó là điều thiếu sáng suốt.

Kính thưa quý vị,

Nay xin trở lại câu hỏi: “Tôi thấy đạo Phật hay quá nên muốn rủ bà con và bạn hữu đang theo đạo khác đổi sang đạo Phật”.

Về câu hỏi này, chúng tôi xin trích lời dạy của đức Đạt Lai Lạt Ma trong cuốn Beyond Dogma, khi được hỏi về vấn đề có nên khuyến khích người khác đổi từ đạo này qua đạo khác, Ngài đã trả lời như sau:

– Trong lúc chúng tôi trò truyện riêng, một tín hữu Thiên Chúa Giáo đã nêu lên lời khắc trên trụ đá của vua A Dục là:

“Sự không khoan dung đối với các tôn giáo khác đã tàn phá chính tôn giáo của mình và lòng kính trọng các tôn giáo khác có liên quan đến sự phong phú của một tôn giáo”.

Câu nói của vua A Dục đã biểu lộ sâu xa tinh thần bình đẳng, hiếu hòa, đức khiêm tốn và sự tôn trọng người khác của Phật giáo, vốn rất cần thiết trong đời sống đa chủng tộc, đa văn hóa trên thế giới. Sự kiện có nhiều tôn giáo khác nhau trên một thế giới đa dạng gồm trên 5 tỷ người, nó cũng phong phú và hữu ích như trong một dược phòng có nhiều loại thuốc khác nhau. Người bị đau bụng không thể dùng thuốc trị nhức đầu mà khỏi bệnh được.

Có người cho là đạo Phật không tích cực truyền bá, khiến cho Phật tử rơi rụng dần trước làn sóng hăm hở của một số nhà truyền giáo của đạo khác. Điều đó không hẳn là đúng. Đạo Phật không chủ trương bành trướng, mà đặt trọng tâm vào sự chuyển hóa con người về phương diện tinh thần để loại trừ Tham Lam, Sân Hận và Si Mê. Người Phật tử rất ca ngợi bất cứ ai theo bất cứ tôn giáo nào mà là người tốt, siêng làm việc thiện, không làm việc ác, không làm nô lệ cho ba điều độc hại kể trên. Đạo Phật không đòi hỏi tất cả mọi người đều phải là Phật tử.

Đức Phật đã dạy: “Mọi người đều có Phật tánh” và “ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”, chúng sinh đây gồm tất cả mọi loài sinh vật có giác tánh, không ngoại trừ bất cứ ai.

Do tin sâu nhân quả, người Phật tử tin rằng những người tốt lành, dù theo tôn giáo nào, hoặc không theo tôn giáo, mà không làm điều xấu ác, siêng làm việc lành thiện, gây nghiệp nhân thiện, thì sẽ được hưởng quả thiện trong đời sống. Thiện quả đó sẽ là nhân tốt, tạo thành duyên lành trên con đường thành Phật trong tương lai của họ.

Chúng ta thấy trong đời sống, có những nhà chính trị cho rằng lý thuyết về cải tạo xã hội của họ là đúng, đã dùng bạo lực để cưỡng bách nhiều dân tộc phải đi theo đường lối của họ, khiến cho cả triệu người tan nát gia đình, nước mất nhà tan. Không kính trọng và tìm hiểu tôn giáo khác, mà chỉ biết tự tôn về tôn giáo của mình, về những cái gì thuộc về mình, là mù quáng, sản phẩm của vô minh, có thể gây nên những va chạm, thù ghét lẫn nhau.

Kính thưa quý vị,

Để có thêm ý kiến của đạo sư Phật giáo, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một bài pháp của ni sư Thubten Chodron, trích dịch trong cuốn Buddhism for Beginners, liên quan đến đề tài này.

Ni Sư  Thubten Chodron sinh năm 1950, là người Hoa Kỳ, trưởng thành tại miền Nam tiểu bang California, tốt nghiệp trườngUniversity of California at Los Angeles về  bộ môn Lịch Sử và từng là một cô giáo dạy tại học khu Los Angeles.

Vào năm 1975, ni sư Thobten Chodron, lúc đó còn đang là cô giáo, có dịp tham dự một khóa thiền do hai vị sư Tây Tạng hướng dẫn. Do cơ duyên này, khi hai vị thày rời Hoa Kỳ, cô giáo cũng lên đường tới tu viện của hai vị tại Nepal để tiếp tục hành thiền. Tại đó, cô giáo được thọ giới Sa Di, và tới năm 1986 thì cô Sa Di được thọ giới Tỳ Kheo Ni tại Đài Loan.

Ni sư Thubten Chodron tu học Phật pháp theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng một thời gian dài tại Ấn Độ và Nepal dưới sự dạy bảo của đức Đạt Lai Lạt Ma và các bậc cao tăng Tây Tạng.

Sau thời gian tu học, ni sư đã từng đi nhiều nơi để giảng dạy Phật pháp như tại Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Do Thái, Ý, Pháp, Tân Gia Ba, Mã Lai Á và viết nhiều sách như Open Heart & Clear Mind, How to Free Your Mind, Taming the Monkey Mind, Cultivating a Compassionate Heart, Blossoms of the Dharma, vân vân….

Nhận thấy sự cần thiết phải có một nơi để người Tây Phương thường trú tu tập Phật pháp, ni sư đã thiết lập tu viện Sravasti, tọa lạc tại một vùng rừng gần tỉnh Newport, tiểu bang Washington. Tu viện rộng 240 acres. Nếu quý thính giả muốn tìm nơi để tu học hoặc tĩnh tâm một thời gian thì có thể vào website:

www.sravasti.org

để tìm hiểu chi tiết. Chủ trương của tu viện là cung cấp cho mọi người một nơi để tu tập, hành thiền, không chú trọng tới lợi nhuận, cho nên ai đến tu chỉ cần tôn trọng kỷ luật, chuyên cần tu hành. Tu viện không đòi hỏi tiền bạc, nhưng theo truyền thống Phật giáo, chúng ta có thể thực hành bố thí bằng cách cúng dường vào quỹ chung một số tiền tùy tâm, tùy theo sức mình, để chi tiêu điện nước và các thứ linh tinh, duy trì mức sống thanh đạm cần thiết. Tu viện không đặt trọng tâm vào lợi nhuận, chỉ quan tâm đến vấn đề tu học.

Thưa quý thính giả,

Sau đây, chúng tôi xin trích dịch mấy câu hỏi được ni sư Thubten Chodron trả lời trong cuốn Buddhism for Beginners. Cuốn này đã được đức Đạt Lai Lạt Ma giới thiệu như sau:

“Cuốn Buddhism for Beginners được viết cho người muốn tìm hiểu những điều căn bản nhất của đạo Phật, và cách ứng dụng những điều căn bản đó vào đời sống hằng ngày. Nó sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho độc giả”.

Hỏi:

– Làm thế nào để nói chuyện với thân nhân bè bạn thuộc các tôn giáo khác về đạo Phật? 

Ni sư  Thubten Chodron trả  lời:

– Vào thời gian đầu mới tiếp cận, chúng ta chưa có niềm tự tin về khả năng nhận xét và sự hiểu biết đủ để thẩm định giá trị của đạo Phật, đồng thời cũng chưa cảm thấy có niềm tin vào giáo pháp, cho nên chúng ta rất nhậy cảm với những ý kiến của mọi người về con đường tâm linh mà chúng ta mới bước vào.

Theo với thời gian, khi chúng ta thâm nhập sâu sắc hơn, cảm thấy thoải mái và gần gũi với Phật pháp hơn, thì lúc đó chúng ta cảm thấy dễ dàng hơn khi nói về đạo Phật với gia đình, bè bạn và thân thuộc. Dĩ nhiên là chúng ta không nên trở thành kẻ truyền giáo, không nên dùng những thuật ngữ khó hiểu để gây ấn tượng với mọi người. Tốt hơn, chúng ta nên dùng cách đơn giản để trả lời những câu hỏi sao cho dễ hiểu và hợp lý đối với họ. Có nhiều cách để nói về đạo Phật mà không cần phải dùng tới những thuật ngữ nhà Phật. Tóm lại về căn bản, đạo Phật là một đường lối sống hợp lý trong cuộc đời bình thường.

Khi bạn bè tâm sự với chúng ta về những vấn đề khó khăn trong đời sống của họ, chúng ta thảo luận với họ những cách hóa giải giận dữ, ghen tuông, níu kéo, ràng buộc, quyến luyến, vốn làm khổ mình, mà không nên dùng ngay cả đến chỉ một từ thôi, là từ “Phật giáo”. Nói nhiều quá sự người khác muốn nghe là thiếu khôn khéo. Cho nên chúng ta cần chú ý nghe câu hỏi, rồi trả lời chính xác, tránh lạc đề, hoặc nói lan man sang những đề tài, có thể là mình thích nhưng chưa chắc mọi người đều thích.

Khi thảo luận với những người khác tôn giáo, chúng ta có thể nói về những đặc điểm chung mà đạo Phật và các tôn giáo khác cũng có giống nhau, thí dụ tất cả các tôn giáo đều tôn trọng đạo đức, tình thương yêu, lòng trắc ẩn, vân vân, trước khi đi sâu và những điểm thâm áo của đạo Phật. Đừng bắt đầu câu chuyện bằng những vấn đề như tái sinh, nghiệp quả, đức Phật, giáo pháp, tăng đoàn, hoặc những từ ngữ và quan điểm xa lạ. Đồng thời, chúng ta cũng nhấn mạnh với họ rằng, theo quan điểm của nhà Phật, sự đa dạng trong tôn giáo trên thế giới là điều tốt, vì như thế, mọi người có thể tùy theo khuynh hướng của mình mà chọn lựa đường lối tư tưởng và phương pháp hành trì thích hợp. Đạo Phật không đòi mọi người đều phải là Phật tử.

Phát biểu tư tưởng theo lối này sẽ khiến cho những người khác tôn giáo đang đối thoại với mình cảm thấy thoải mái, vì họ thấy rằng mình tôn trọng đức tin của họ và không tìm cách cố gắng đòi họ bỏ đạo của họ để theo mình.

Những người có bạn đời khác tôn giáo có thể mời họ đến thăm đạo sư hoặc  bạn đạo của mình, nếu họ thích.

Có một số người bỏ bê gia đình vì họ cảm thấy say sưa trong mục đích lớn lao là cứu giúp tất cả chúng sinh và trở thành một vị Phật. Họ thực tập nhẫn nhục với tất cả chúng sinh nhưng lại bỏ rơi gia đình, hy vọng mọi người trong nhà phải làm tất cả những việc linh tinh trong khi họ lặng lẽ tọa thiền. Như thế là không thích hợp.

Trong khi thực tập Phật pháp, hành giả muốn giảm thiểu những dính mắc, vướng víu của gia đình, nhưng họ không nên bỏ rơi gia đình. Phật pháp gồm có sự phát triển tình thương yêu và lòng trắc ẩn đối với tất cả mọi người mà chúng ta tiếp cận hằng ngày, chứ không phải chỉ đối với tất cả mọi chúng sinh trên khắp hành tinh xa xôi mà chúng ta chẳng bao giờ nhìn thấy.

Hỏi:

– Chúng ta phải làm gì nếu thân nhân và bạn bè không ủng hộ, thậm chí còn  chống đối sự hâm mộ đạo Phật của chúng ta?

Ni sư Thobten Chodron đáp:

– Trước nhất, chúng ta hãy chấp nhận sự khác biệt giữa mọi người mà đừng nổi giận. Nếu tỏ thái độ khó chịu với họ thì chỉ làm cho tình thế thêm căng thẳng mà thôi. Tuy vậy, chúng ta cũng không vì áp lực của gia đình mà phải từ bỏ niềm tin hoặc chấm dứt tu tập. Tỏ thái độ chống đối bằng cách bầy biện nghênh ngang chuyện tu tập của mình là một thái độ thiếu tế nhị, nhưng cũng không vì sợ hãi mà phải giấu giếm.

Chúng ta phải tùy thuận với ngoại cảnh trong khi vẫn giữ được tính cách liên tục và sống động của sự thực tập giáo pháp và an tịnh nội tâm. Thí dụ, nếu gia đình không cảm thấy thoải mái với bàn thờ và tượng ảnh đức Phật thì chúng ta hãy để những hình ảnh đó trong kinh sách và chỉ khi nào tọa thiền hãy mang ra.

Trong nhiều trường hợp, chính nhân cách và hành động của mình nói lên giá trị của tôn giáo mình. Khi nào những người thân của mình nhận ra rằng chúng ta kiên nhẫn, khoan dung hơn, họ sẽ tò mò tìm hiểu coi chúng ta đã làm gì để có những sự đổi thay ấy.

Nếu khi đến thăm cha mẹ, chúng ta giúp dọn dẹp nhà cửa, liệng bỏ rác rưởi, có thể khiến cho cha mẹ cảm thấy hoan hỉ mà nghĩ : ”Ui da, đã bốn chục năm rồi, hôm nay tôi mới thấy con trai tôi giúp đỡ công việc trong nhà. Đạo Phật chuyển hóa con người hay thật!”

Đã lâu lắm rồi, người vợ không theo Phật giáo của một học trò tôi đã giúp đỡ và khuyến khích chồng cô ta tham dự khóa thiền 9 ngày hằng năm. Tại sao vậy? Bởi vì sau mỗi kỳ tham dự khóa thiền tĩnh tâm trở về, chồng cô ta ôn hòa hơn, trò chuyện thân mật, cảm thông và thương yêu mọi người trong gia đình hơn.

Dự đoán người nào trong gia đình hoặc bằng hữu của mình sẽ thích thú với đạo Phật thì khó lắm. Có thể chúng ta cho rằng người bạn rất thân sẽ hâm mộ, nhưng không phải vậy. Cũng thế, chúng ta có thể cho là một người thân của ta không thích thảo luận về đạo nhưng rồi lại phát hiện ra rằng cô ta là người dễ tiếp thu.

Cho nên, nếu cứ chỉ muốn nói về những đề tài mà mình thích thì sẽ khiến cho mọi người xa cách, chi bằng nói với họ những đề tài phù hợp với khả năng thưởng ngoạn của họ, như thế sẽ dễ dàng cảm thông và gần gũi nhau hơn.”

Thưa quý thính giả,

Trên đây là những ý kiến của ni sư Thobten Chodron, đã trình bày cho chúng ta thấy quan điểm của nhà Phật trong vấn đề giao tế giữa mọi tôn giáo với nhau, đó là, nên kính trọng tôn giáo của nhau mà đừng làm cho bằng hữu hoặc thân nhân khác tôn giáo cảm thấy xa lạ với mình.

Sau đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một câu chuyện thiền, trích dịch từ loạt bài mang tên là “Zen Stories To Tell Your Neighbors” do soạn giả John Suler gửi lên Internet, như sau:

“Có một vị đạo sư danh tiếng dừng chân trước cổng cung điện của nhà vua. Do danh tiếng của ông nên không có một người lính ngự lâm nào cản ông lại , mà họ còn hộ tống ông đến trước bệ rồng vua đang ngự.

Nhà vua nhận ngay ra đây là vị đạo sư danh tiếng, bèn hỏi:

– Ông muốn gì?

Vị đạo sư trả lời:

– Tôi muốn một chỗ trong cái quán trọ này để ngả lưng đêm nay.

Vua ngạc nhiên:

– Nhưng đây là cung điện của trẫm, không phải là cái quán trọ.

Vị đạo sư mỉm cười:

– Xin bệ hạ cho biết ai là chủ nhân của nơi này trước bệ hạ?

Vua trả lời:

– Là phụ hoàng của trẫm, nhưng ngài đã băng hà.

Vị đạo sư lại hỏi:

– Tâu bệ hạ, thế trước phụ hoàng của ngài thì ai là chủ nơi này?

Vua đáp:

– Thì ông nội của trẫm, ngài cũng băng hà rồi.

Vị đạo sư hỏi lại:

– Tâu bệ hạ, vậy thì đây là nơi người ta chỉ ở có một thời gian ngắn rồi ra đi, vậy có đúng là tôi đã nghe ngài nói rằng nó không phải là quán trọ không vậy?

Thưa quý thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 19 – Năm Giới Cấm của cư sĩ

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Trong nhiều kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình với quý vị bài kệ tóm tắt con đường tu hành của người Phật tử, như sau:

“Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành”

Chúng tôi cũng đã thưa rằng trong ba lời dạy cốt tủy đó, thì lời dạy thứ ba, “Tự thanh tịnh tâm ý”, mới chính là điều tối quan trọng, chỉ từ thực hành điều đó, hành giả đạo Phật mới hoàn tất con đường tu chứng của mình, bởi vì nội dung của “tự thanh tịnh tâm ý” có nghĩa là chấm dứt tất cả những lôi cuốn của Tham, Sân và Si, vốn là nguyên nhân của tất cả mọi nỗi vướng mắc dây dưa trong vòng luân hồi sinh tử.

Tuy vậy, hai điều trước đó, “không làm những điều ác” và “siêng làm những việc lành” cũng rất quan trọng. Vì đó là phần đạo đức học của Phật giáo, mục đích đào luyện những phần tử tốt lành, những người hiền thiện trong xã hội.

Để thực hiện điều này, nhà Phật có Ngũ Giới, là năm điều ngăn ngừa, mà mỗi Phật tử đều có phát lời nguyện sẽ tuân thủ, hoặc cả 5 Giới, hoặc nếu cảm thấy chưa đủ khả năng giữ được trọn vẹn cả 5, thì có thể thọ tùy theo nhiều hay ít giới, để tập cho quen từ từ, cuối cùng đạt được mục đích tuân thủ cả Năm Giới.

Kính thưa quý vị,

Hôm nay chúng tôi xin kính gửi đến quý thính giả một bài pháp nói về Ngũ Giới. Bài này được trích dịch từ cuốn Loving and Dying, tác giả là thày Visuddhacara.

Thày Visuddhacara sinh năm 1953, nguyên quán tại Mã Lai Á. Năm 1982, thày bắt đầu học Phật pháp và hành trì thiền Vipassana. Sau đó, vào năm 1983, thày xin từ chức phóng viên nhà báo mà thày đã theo đuổi 12 năm, để thọ giới Sa Di, y chỉ thày bổn sư là tỳ kheo Sujiva tại Kota Tinggi, Mã Lai Á, theo truyền thống Phật giáo Nam Tông.

Bốn năm sau, thày qua Miến Điện và được truyền đại giới bởi hoà thượng thiền sư Sayadaw U Pandita tại Mahasi Meditation Centre, Rangoon vào năm 1987.

Thày đã hướng dẫn nhiều khóa thiền Vipassana tại các nước như Mã Lai, Singapore, Hong Kong, Úc, Ý, Tiệp Khắc, Tích Lan và là tác giả nhiều sách luận giải Phật giáo, về quan điểm của nhà Phật trong đời sống và về thiền quán như “Curbing Anger Spreading Love”; “Drinking Tea — Living Life”; “Loving and Dying”; “Hello with Love and Other Meditations”, “Metta — the Practice of Loving-kindness for a Happier Life”.

Sau 16 năm trong vị trí tỳ kheo, vào năm 2003, cảm thấy không đủ duyên duy trì đời sống tu sĩ, thày thẳng thắn xin xả giới để trở lại cuộc sống của một cư sĩ bình thường.

Sau đây là bài pháp của thày Visuddhacara nói về Ngũ Giới:

“Giới thứ nhất, như chúng ta đã biết, là không sát sinh, không chấm dứt mạng sống của mọi loài chúng sinh, dù là con vật nhỏ bé. Đây là một giới tuyệt vời. Nó có nghĩa là chúng ta tôn trọng đời sống. Không những tôn trọng đời sống, mà chúng ta còn thương yêu, trìu mến. Đối với tất cả muôn loài, sự sống đáng quý trọng nhất. Cứu giúp một sinh vật được sống, là chúng ta tặng món quà cao quý nhất. Nếu giữ gìn chu đáo giới này, chúng ta sẽ càng ngày càng trở nên từ bi hơn, không chỉ là giảm bớt sự giết chóc, mà chúng ta còn  giảm thiểu sự làm tổn thương đến bất kỳ sinh vật nào.

Thực tế là trong cái thế giới bất hoàn hảo này, kẻ mạnh ăn hiếp kẻ yếu, sự giết chóc lan tràn khắp nơi. Chúng ta có thể thấy điều này ngay trong thế giới loài vật, con cọp ngốn con nai ra sao, con rắn nuốt con ếch cách nào, rồi thì con ếch đớp con ruồi, con chim mổ con sâu, cá lớn nuốt cá bé. Và con người thì tàn sát loài vật, tôm cá, thậm chí giết hại lẫn nhau.

Nhưng chúng ta không ngồi đây mà lên án hoặc chỉ trích. Chúng ta hiểu những khiếm khuyết của con người và sự bất toàn trong bản chất của đời sống. Đức Phật cũng hiểu như vậy. Ngài dạy rằng chỉ khi nào ta có thể thanh tịnh hóa được tâm mình và chứng ngộ Niết Bàn thì khi đó chúng ta mới có thể tự chấm dứt được sự lôi cuốn vào đời sống bất như ý được gọi là vòng luân hồi Sinh Tử này. Đó là điều chỉ có bản thân chúng ta biết rằng có thể làm được hay chăng mà thôi.

Khi tâm chúng ta đã hóa giải được Tham Sân Si thì chúng ta mới có thể trực ngộ được lời dạy của đức Phật. Vậy thì trước khi trực ngộ, chúng ta có niềm tin, tốt hơn hết hãy noi theo con đường đức Phật đã đi mà tích cực thanh tịnh hóa tâm. Chúng ta hãy cố gắng giữ gìn Giới Thứ Nhất với tất cả khả năng có thể, không giết hại mà phóng sinh, cứu giúp sự sống và vun bồi cho sự sống.

Giới thứ hai là không trộm cắp và gian lận, không lấy vật gì một cách bất lương. Chúng ta phải kiếm sống bằng con đường lương thiện. Có người nói rằng sống lương thiện thì không thành công hoặc giầu có. Tôi không đồng ý với quan điểm đó. Tôi bảo đảm là có nhiều người sống rất đàng hoàng, lương thiện và đã thành công. Hơn thế nữa, họ được thụ hưởng một cuộc sống an vui hạnh phúc với lương tâm trong sạch.

Mặt khác, những kẻ bất lương thường kéo dài đời sống trong nỗi trống trải và cuối cùng sẽ bị trừng phạt. Dù họ có thoát khỏi được pháp luật, nhưng họ vẫn luôn luôn sợ hãi rằng tội lỗi sẽ bị phát hiện, lương tâm luôn bị cắn rứt và khi đối diện giây phút cuối của cuộc đời, họ lo sợ chờ đợi quả báo trong tương lai.

Như thế, một cuộc sống lương thiện luôn luôn là con đường tươi sáng nhất. Đừng nghe những ý kiến khác. Sống lương thiện sẽ tốt hơn. Dù chúng ta có gặp những trở ngại trên cuộc đời, chúng ta cũng không nên dùng những thủ đoạn bất lương để đạt mục đích. Chẳng thà nghèo mà lương thiện còn hơn dùng thủ đoạn bất chính để làm giầu. Chúng ta sẽ sống hạnh phúc với lương tâm trong sạch, an vui cho tới ngày cuối cùng của cuộc đời.

Giới Thứ Ba là phải có tinh thần trách nhiệm trong vấn đề tình dục. Nếu đôi bạn thật sự tôn trọng cuộc sống lứa đôi, thương yêu và tin cậy nhau, thì tình yêu của họ sẽ bền chặt, kẻ thứ ba không thể chen vào. Trong vấn đề tình dục, tinh thần trách nhiệm rất quan trọng. Chính vì sự vô trách nhiệm mà các vấn nạn xảy ra. Bọn ma cô tàn phá cuộc đời những cô gái trẻ người non dạ và những người đàn ông không kiềm chế được lòng ham muốn thú vui xác thịt trở thành đồng lõa với những hành vi đồi bại.

Nhưng chúng ta không ngồi đây để lên án họ, mà chúng ta khuyến khích tình yêu chân thật và sự tử tế. Thật ra, nếu chúng ta thanh tịnh hóa được tâm mình và kiềm chế được dục vọng, thì trên thế giới sẽ giảm thiểu những sự tàn bạo và đau khổ. Như thế, căn bệnh AIDS kinh hoàng, mà nay đã trở thành mối đe dọa cho cả thế giới, cũng có thể bị ngăn chặn lại.

Giới Thư Tư là không nói dối mà nói sự thực. Một lần nữa xin nhắc rằng đừng nghe những kẻ nói là nếu không dối trá hoặc huênh hoang khoác lác về mình thì sẽ không thành công. Chân thực là 1 trong 10 đức hạnh cao quý của một người tu bồ tát đạo. Tất cả Phật tử đều phải triển khai những đức hạnh này nếu họ muốn giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Đức Phật muốn chúng ta nghiêm túc gìn giữ Giới hạnh này, không dối trá dù trong lúc đùa bỡn. Cho nên chúng ta cần cố gắng tối đa gìn giữ Giới Không Dối Trá.

Ngoài ra, dù có thể không phải là mục tiêu chính của chúng ta, tiếng tốt về một người thành thật sẽ lan ra xa khiến cho ngay đến một kẻ chuyên môn phỉ báng, gièm pha, cũng phải thừa nhận và tôn trọng.

Giới Thứ Năm là không uống rượu và không dùng các chất ma túy, vì chúng có thể làm cho trí óc bị mê mụ, đồng thời cơ thể cũng bị suy nhược.

Có người cho rằng Giới này có thể cho phép uống rượu trong giao tế, nhưng tôi không nghĩ như thế. Đức Phật không muốn chúng ta mất sự tỉnh thức mà vì thế sẽ làm hại đến sự giữ gìn các giới luật khác. Ngoài ra, rượu làm hại sức khỏe. Đối với các chất ma túy độc hại thí dụ bạch phiến, thì tất cả chúng ta đều đồng ý là phải cấm ngặt. Nhưng một số người lại cho rằng thuốc lá không thuộc vào lãnh vực bị Giới cấm. Vào thời Phật tại thế, người ta chưa phát minh ra thuốc lá.

Dầu vậy, dưới ánh sáng của khoa học ngày nay, rất nhiều chứng liệu y khoa cho thấy sự tai hại của thuốc là và nhiều quốc gia trên thế giới đã ban hành những lệnh cấm hoặc hạn chế sử dụng, cho nên chúng ta có thể chắc chắn rằng nếu đức Phật xuất hiện vào thời nay, thì Ngài cũng sẽ nghiêm khắc yêu cầu chúng ta tránh xa, vì Ngài không muốn chúng ta tự làm tổn hại sức khỏe, đồng thời cũng không muốn chúng ta nghiện ngập một loại mê thảo, tuy thuộc loại nhẹ, nhưng đã được chứng minh là độc hại.

Khi chúng ta giữ gìn cẩn thận Năm Giới quan trọng này, là chúng ta đã giúp cho mọi người chung quanh cảm thấy an toàn và hạnh phúc.

Tại sao vậy?

Vì họ không còn phải sợ hãi chúng ta, họ sẽ cảm thấy thoải mái khi gần gũi chúng ta. Họ được bảo đảm là chúng ta không làm hại, không trộm cắp hoặc gian lận đối với họ. Chúng ta sẽ không tà dâm với người hôn phối của họ, không dối trá, và hơn thế, chúng ta sẽ không say sưa bét nhè hoặc dùng ma túy. Họ không còn phải lo ngại rằng con cái họ sẽ bắt chức thói quen xấu rượu chè hút xách, cũng không lo ngại sẽ bị nguy hiểm cho sức khỏe của bản thân vì hít phải khói thuốc do chúng ta thải ra. Họ cảm thấy tin cậy chúng ta vì thấy ngay đến rượu chúng ta cũng không sa vào. Chúng ta là những người có đời sống tâm linh và giữ gìn giới hạnh một cách nghiêm túc. Chúng ta không làm hại ai. Những người có đời sống tham dục có thể nghĩ rằng sống như chúng ta thì rất đáng chán và chúng ta là những người dại dột. Nhưng chẳng sao cả, chúng ta sống hạnh phúc trong niềm an lạc.

Như vậy, giữ Năm Giới là điều rất tốt. Ngoài ra, chúng ta thực tập những đức tính như lòng quảng đại và sự tử tế. Chúng ta quan tâm và chia sẻ trong khả năng của chúng ta. Chúng ta cũng thực tập sống tỉnh thức như lời đức Phật dạy. Chúng ta thực hành thiền tập để thâm hiểu sự hiện hữu, về Vô Thường, Khổ và Vô Ngã.

Thành tựu những mục tiêu trên là chúng ta đã sống một cuộc đời đáng sống, như thế, chúng ta không có gì phải lo sợ về sự chết. Chúng ta không còn phải hối tiếc điều gì”.

Thưa quý thính giả,

Trên đây là bài pháp của thày Visuddhacara nói về Năm Giới của Phật tử cư sĩ.

Có người thắc mắc:

– Đồng ý rằng sát nhân, trộm cắp, tà dâm là những trọng tội. Nhưng rượu thì có gì là hại đâu, người ta còn dùng nó để giao dịch nữa kìa.

Về điều này, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện ẩn dụ, như sau:

“Vào thời kỳ đức Cổ Phật Ca Diếp xa xưa, có một cư sĩ thọ trì Ngũ Giới, giữ gìn rất nghiêm túc. Một hôm, từ tỉnh xa trở về nhà, đang lúc quá khát, khô cả miệng, nhìn thấy trên bàn có một chén đầy lóng lánh, ông tưởng là nước, vội bưng lên uống thẳng một hơi, uống rồi ông mới biết là rượu,

— thế là ông phạm giới uống rượu.

Uống xong, ông ta lăn ra ngủ. Lát sau rượu ngấm, men rượu bốc lên bừng bừng, ông vùng dậy nhìn ra ngoài sân. Lúc đó có con gà nhà hàng xóm chạy qua, ông bèn chụp bắt,

— thế là ông phạm thêm giới trộm cắp.

Trong tay có con gà rồi, ông chạy vào nhà bếp cắt cổ vặt lông nó, tính nấu cháo ăn,

— thế là ông phạm thêm giới sát sinh.

Bà hàng xóm mất gà chạy sang tìm. Hơi men đang bốc, ông ôm ngay bà vào lòng tính chuyện hành lạc,

— thế là ông phạm thêm giới tà dâm.

Chòm xóm xúm lại bắt ông lên công đường nhờ quan xét xử. Ông bèn chối bay,

— thế là ông phạm thêm giới vọng ngữ.

Chỉ vì một chén rượu mà ma men làm hại đến nỗi ông ta phạm liên tục một hơi đủ 5 giới răn của nhà Phật.

Thưa quý thính giả,

Dù câu chuyện trên không thực sự xảy ra, chỉ là ẩn dụ thôi, nhưng điều câu chuyện muốn gửi gấm là gợi cho chúng ta một hình ảnh rõ ràng về tai hại của chất men rượu, làm mê mụ tâm trí, ảnh hưởng vào cuộc đời người dùng nó.

Vì thế, đức Phật dạy nên tránh uống rượu để tâm trí luôn luôn được tỉnh thức.

Thưa quý thính giả,

Sau đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một câu chuyện Thiền nói về Tử và Sinh, trích dịch từ cuốn Zen Fables for Today, Stories Inspired by the Zen Masters, soạn giả là Richard McLean. Câu chuyện như sau:

“Hai thai nhi sinh đôi nằm trong bụng mẹ thảo luận về tâm linh. Thai nhi A phát biểu:

– Này, tường bị thu hẹp lại hay là cậu to phồng ra đấy?

Thai nhi B trả lời:

– Chẳng biết nữa, nhưng chắc chắn là chật chội quá rồi.

A chán nản:

– Đời buồn tẻ thật!

B an ủi:

– Ồ, cũng không tệ lắm đâu. Chúng mình không phải ăn, thở gì hết ráo.Tối ngày chỉ trôi nổi bồng bềnh trong nước ấm thôi mà.

A bực dọc:

– Bộ ý nghĩa của sự hiện hữu trên đời chỉ có thế sao?

B hòa hoãn:

– Thôi mà, đừng có suy nghĩ lung tung quá.

A tiết lộ:

– Ta nghe nói có một cái gì đó tên gọi là Sinh.

B gạt ngang:

– Ui da, tin đồn nhảm. Nè, nhích cái cẳng ra và im mồm lại cho tớ ngủ một tí.

Sáng sớm hôm sau, cơn chuyển bụng của bà mẹ đánh thức hai thai nhi. Một đứa kêu thất thanh:

– Trời ơi, động đất!

Đứa kia la lớn:

– Nhà đang xập!

Đứa nọ hét:

– Tôi đang bị trôi …

Đứa kia hỏi:

– Trôi đi đâu?

Đứa nọ rên rỉ:

– Không biết, cứu tôi với!

Đứa kia hoảng hốt:

– Tôi không thể cứu cậu.

Đứa nọ thổn thức:

– Vĩnh biệt người anh em, tôi sẽ… tôi sẽ …

Âm thanh tắc nghẽn, tiếp theo là tiếng thét kinh hoàng của đứa còn lại khi nó cảm thấy chính nó cũng đang bị trôi đi:

– Ôi da, kinh khủng quá. Chắc chắn là chết, tận thế mất rồi !”.

Phần dịch câu chuyện Thiền đến đây là hết, vì soạn giả chỉ viết đến đây. Nhưng cũng chắc chắn là quý thính giả có thể tưởng tượng ra cảnh tiếp theo, đó là tiếng khóc inh ỏi của hai trẻ sơ sinh mạnh khỏe, vang lên giữa tiếng reo vui tưng bừng náo nhiệt của mọi người đang nóng lòng chờ đón hai cháu bé mới ra đời.

 Thưa quý thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 18 – Bố Thí Chân Chính

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Như chúng tôi đã trình với quý vị trong những kỳ trước, đạo Phật xuất hiện trên đời bắt nguồn từ sự Giác Ngộ của đức Phật. Do công năng tu chứng, đức Phật thấu triệt được Bốn Chân Lý Thâm Diệu, còn gọi là Tứ Diệu Đế, gồm:

Chân lý thứ nhất là  Khổ Đế, cho rằng mọi hình thái tồn tại đều mang sẵn mầm mống của khổ não, bất như ý.  Sinh, già, bệnh, chết, mong cầu mà không toại nguyện, ưa thích mà phải rời xa, ghét bỏ mà phải gần gũi và cái thân ngũ uẩn thì chợt vui, chợt buồn, khi khỏe, khi đau, đều là khổ.

Chân lý thứ hai là Tập Đế, tức nguồn gốc hay nguyên nhân dẫn đến thực trạng đau khổ. Nguyên nhân của khổ là lòng ham muốn, tham lam, ái nhiễm, tìm cầu sự thoả mãn dục vọng. Các loại ham muốn này đều là nguồn gốc của khổ đau và nghiệp chướng, dẫn tới luân hồi

Chân lý thứ ba là Diệt Đế, sự chấm dứt khổ đau. Nếu lòng tham lam ái nhiễm được tận diệt thì sự khổ cũng được tận diệt.

Chân lý thứ tư là Đạo Đế, con đường hay phương pháp thực hành dẫn đến chấm dứt khổ đau. Phương pháp này là con đường diệt khổ tám nhánh, là  Bát Chánh Đạo.

Như thế, do giác ngộ Tứ Diệu Đế, Ngài cũng phát hiện ra rằng Tham Lam và Ái Nhiễm là nguyên nhân của Khổ, là lý do chính đã nhận chìm con người trong dòng sanh tử luân hồi.

Tham lam và ái nhiễm đưa tới thói gom góp, tích lũy từ vật chất tới tình cảm, chỉ muốn mọi thứ là của riêng mình, của thân nhân mình, của bè đảng mình, của đất nước mình, vân vân. Thói tật này phát sinh từ niệm vô minh đầu tiên, mà thuốc chữa là xả bỏ, hoặc còn gọi là bố thí.

Vì thế, người nào muốn đi trên con đường sáng của Ánh Đạo Vàng thì phải thực hiện hạnh tu xả bỏ, từ xả bỏ những điều tương đối dễ xả bỏ như của cải vật chất, danh vọng, rồi tới điều khó xả bỏ hơn như tình cảm tinh thần. Chỉ có xả bỏ thì tâm mới không bị ràng buộc loanh quanh trong thói quen thu thập, cất giữ.  Chỉ có xả bỏ thì tâm hồn mới được giải thoát khỏi sự kìm kẹp của sở hữu, tham sân si, thảnh thơi bước trên con đường tự do, khai phóng tâm linh.

Trong Lục Độ ba-la-mật, nghĩa là sáu nhánh thực hành để đưa chúng sinh sang bờ bên kia, tức là thoát khỏi bờ sinh tử sang được bờ Niết Bàn, thì Bố Thí là pháp môn tu đầu tiên. Bố Thí là cách tu tập để thực hiện hạnh xả bỏ.

Bố thí có 3 loại là Tài Thí tức là bố thí tài vật, Pháp Thí tức là bố thí Phật pháp, nghĩa đen là dạy giáo lý nhà Phật cho người ta biết đường tu hành để giác ngộ giải thoát và Vô Úy Thí tức là giúp cho người ta qua khỏi sự  sợ hãi.

Bố thí tài vật thì bất cứ ai cũng có thể làm được.

Bố thí Pháp bảo thì khi xưa chỉ có chư vị Tăng Ni là thâm hiểu giáo lý nhà Phật, nên mới làm được. Ngày nay có nhiều cư sĩ rất uyên thâm Phật học, lại kiêm luôn thực hành các pháp môn tu, nhất là tu Thiền và Niệm Phật, nên ngoài chư vị Tăng Ni, giới cư sĩ cũng đóng góp vào lãnh vực bố thí Pháp một cách tích cực.

Bố thí vô úy là đem lại sự không sợ hãi cho người khác. Có nhiều cách để thực hiện vô úy thí, như:

— Bản thân mình không giết hại, gây nên nỗi kinh hoàng cho các sinh vật có cảm giác.

— Thuyết phục những người đam mê sát sinh giảm bớt những hành động tàn nhẫn, gây đau thương cho chúng sinh

— An ủi, chia sẻ nỗi đau buồn của những người hoạn nạn, lâm nguy, giúp người ta vượt thoát nỗi sợ hãi  … vân vân ….

Bố thí cao quý nhất là bố thí theo pháp “Tam luân không tịch”, nghĩa là không khởi tâm chấp rằng có mình là người bố thí, có người thọ nhận vật được bố thí và có vật để bố thí.

Tại sao bố thí  “Tam luân không tịch” lại cao quý nhất?

Thưa quý thính giả,

Bố thí “Tam luân không tịch” cao quý nhất là vì:

— Bố thí mà không nghĩ rằng “có ta bố thí”, thì tâm sẽ không  nổi lên sự tự đắc về hành vi thiện của mình,

— Bố thí mà không nghĩ rằng ”có kẻ kia đang thọ nhận cái ta cho”, thì tâm sẽ không nổi lên sự tự kiêu của kẻ ban ơn,

— Bố thí mà không nghĩ rằng “có vật được ta đem cho”, thì tâm không nổi lên niềm tự mãn về hành động hào hiệp của mình.

Giải thoát ra khỏi những kiến chấp về hành động có nghĩa là cuồng tâm sinh diệt ngưng hoạt động. Có câu “cuồng tâm ngưng nghỉ tức là Bồ Đề”. Bồ Đề là giác ngộ. Cuồng tâm ngưng nghỉ là giác ngộ, giải thoát.

Nơi kinh Kim Cang, Phật dạy:

“Tu Bồ Đề ! Bồ Tát khi bố thí hay làm các việc lợi ích cho tất cả chúng sanh, không nên sanh tâm trụ chấp các tướng. Tu Bồ Đề ! Như Lai nói các tướng không phải thật mà chỉ giả gọi là các tướng. Như Lai nói chúng sanh, không phải thật chúng sanh, chỉ giả gọi chúng sanh”.

Hòa thượng Thích Thiện Hoa lược giải như sau:

…”…Hành giả khi làm lợi ích cho các chúng sanh, mà tâm còn trụ chấp các tướng, nghĩa là còn thấy mình bố thí, người thọ thí và vật bố thí, tất nhiên hành giả còn chấp ngã (nghĩa là thấy có mình, có người), chấp pháp (nghĩa là thấy có vật bố thí), thì hành giả chỉ được phước hữu lậu nhiễm ô, nên không phải là bố thí Ba-la-mật (nghĩa là bố thí rốt ráo).

Bởi thế nên Phật dạy, các vị Bồ Tát, khi bố thí, hay làm lợi ích cho chúng sanh, phải nhập Kim Cang Bát Nhã mà làm; nghĩa là không còn chấp các tướng: ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, thì được phước đức vô lậu thanh tịnh. Bố thí như vậy, mới phải là bố thí Ba-la-mật (bố thí rốt ráo)”.

Kính thưa quý vị,

Có người nói rằng:

– Tôi cũng muốn bố thí, nhưng nghèo quá lấy gì mà cho?

Thực tế, dù nghèo tới đâu mà khởi tâm muốn bố thí, vẫn có thể thi hành. Thí dụ có tù nhân kia, mỗi bữa vẫn dành lại vài hột cơm để bố thí cho con gián bò loanh quanh trong phòng giam ông ta.

Trong cuốn Hoa Sen Trên Tuyết, dịch giả Nguyên Phong viết về chuyến đi của bác sĩ Alan Havey và một người bạn tên Dennis tới Lamayuru, một thị trấn nhỏ ở phía Bắc xứ Ấn Độ, giáp ranh với Tây Tạng, kể lại câu chuyện về bố thí như sau:

…” …Chúng tôi đi dọc theo con đường chính duy nhất của thành phố, con đường vắng tanh không một bóng người.  Mọi nhà đều đóng cửa im ỉm, thỉnh thoảng có vài con chó hoang gầy ốm chạy rong.

Chúng tôi nhìn thấy một bà lão hành khất, thân hình còm cõi chỉ còn da bọc xương đang lê lết trên vỉa hè, tôi bèn dúi cho bà 5 rupee nhưng bà vẫn dơ tay ra trước mặt như muốn xin thêm một cái gì.  Dennis rút ổ bánh mì đựng trong chiếc túi đeo trên vai đưa ra, bà lạo mừng rỡ chụp lấy ăn ngay, thì ra bà lão quá đói.

Trong lúc bà đang ăn ngấu nghiến thì một con chó hoang ở đâu chạy đến.  Trước cặp mắt kinh ngạc của chúng tôi bà lão bẻ đôi ổ bánh mì chia cho con chó.

Cảnh tượng một bà lão không có một thứ gì ngoài bộ quần áo rách tơi tả, đang lả đi vì đói lại thản nhiên chia sẻ nửa phần ăn của mình cho một con chó hoang đã làm chúng tôi xúc động.  Bà lão hành động một cách tự nhiên, không ngại ngùng hay suy nghĩ hình như bà không hề phân biệt giữa mình và con chó.

Trong lúc tôi đang ngơ ngác về cảnh tượng này thì Dennis bất chợt run bắn người rồi thốt lên:

– “Đó mới thật là tình thương tuyệt đối”.

Hắn quỳ xuống trút tất cả mọi thứ trong chiếc túi ra cho bà lão hành khất.  Hành động bất ngờ của Dennis làm tôi ngạc nhiên nên trên đường về tôi đã hỏi:

– “Tại sao bạn cho rằng đó là một thứ tình thương tuyệt đối?”

Hắn trả lời ngay không do dự:

– “Khi cho mà không suy nghĩ, không đòi hỏi gì trả lại, không hối tiếc hay phân biệt một cái gì đó mới thật là tuyệt đối”.

Tôi đã suy nghĩ về vấn đề này rất lâu và không biết có người nào thực sự bố thí một cách tuyệt đối như vậy không?  Tôi đã đi khắp nơi và chỉ thấy bất cứ cái gì cho ra cũng đều hy vọng một điều gì trả lại, đ ôi lúc điều muốn đạt được lại nhiều hơn điều người ta cho ra là đàng khác… Sự ích kỷ được che đậy khéo léo và nguỵ tạo dưới nhiều danh nghĩa tốt đẹp nhưng tựu chung vẫn là một hình thức ích kỷ”….”…

Thưa quý thính giả,

Thời xưa, giới tu sĩ nhà Phật sống rất thanh bạch, mỗi vị chỉ sở hữu 3 tấm y  và một bình bát. Ấy vậy mà hằng ngày quý vị tu sĩ vẫn thực hiện được hạnh bố thí bằng cách trước khi thọ thực, quý vị lấy từ bát của mình ra 7 hạt cơm, gửi vào đó những lời thành tâm chú nguyện, rồi tung ra ngoài không gian để bố thí cho các loài chúng sinh vô hình mà mắt người không nhìn thấy.

Nhà Phật có câu “Tác ý là Nghiệp”. Khi tâm đã khởi lên một ý, thì tùy theo ý tốt hay xấu mà Nghiệp đã được tạo. Chỉ cần khởi lên một ý tốt, muốn giúp đỡ người, dù cho hoàn cảnh không làm được, ý nghiệp thiện cũng đã thành hình. Trong sự bố thí cũng vậy, khởi lên ý muốn bố thí, là Nghiệp tốt đã hình thành, không căn cứ vào sự bố thí nhiều hay ít.

Trong lễ Vu Lan, Phật tử vì lòng hiếu thảo với cha mẹ, thân nhân, mà dâng lễ cúng dường trai tăng, tạo duyên lành với nhà Phật, mở lòng ra thực hiện hạnh xả bỏ là điều rất đáng quý. Mặt khác, nhờ người Phật tử cúng dường những nhu cầu cần thiết mà chư Tăng Ni có thể an tâm tu hành cho tới giác ngộ để cứu độ chúng sinh bằng phương tiện bố thí Pháp, giữ cho ngọn tuệ đăng luôn luôn chiếu sáng con đường giải thoát trên thế gian.

Như thế, người Phật tử cúng dường cũng là thực hiện hạnh tu xả bỏ, có đà rồi, sẽ tiếp tục đi thêm những bước trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ…. vân vân…

Có một thắc mắc được nêu lên rằng:

– Nếu nhờ lễ Vu Lan cúng dường trai tăng mà thân nhân thoát khỏi địa ngục, thì đó có phải là một hình thức hối lộ không?

Kính thưa quý vị,

Đạo Phật quan niệm rằng tất cả pháp giới đều chỉ do tâm tạo.  Thế thì địa ngục cũng do tâm tạo.  Tâm tham lam, bủn xỉn, độc ác thì tạo thành cảnh giới địa ngục.  Tâm chuyển thì cảnh giới địa ngục tan rã.

Theo đúng giới luật, khi chư vị Tăng Ni thọ thực thì không được “tán tâm tạp thoại”, nghĩa là nghĩ vẩn vơ, nói chuyện lăng nhăng, bởi vì nếu phạm giới này thì “tín thí nan tiêu”, nghĩa là phẩm vật dâng cúng mà mình thụ hưởng sẽ khó mà tiêu hóa được.

Cho nên, chính là lúc thụ trai đó, chư vị Tăng Ni lặng lẽ không nghĩ thiện, ác, một hình thức thiền định, là lúc tâm lực mạnh nhất. Như câu “Cuồng tâm ngưng nghỉ tức là Bồ Đề”, khi tâm tất cả mọi người đều lặng lẽ, không suy nghĩ, thì sức tâm thanh tịnh đó tỏa ra, ảnh hưởng vào pháp giới, chuyển hóa được những tâm tham lam, keo kiệt, bủn xỉn đang trong cảnh giới địa ngục kia. Và ngay chính sát-na tâm chuyển đó, địa ngục tự tan rã, chứ không phải là do chư Tăng Ni “ăn hối lộ rồi xin xỏ” cho thân nhân gia chủ được ra khỏi địa ngục. Vì thế mới có câu:  “Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu”.

Vậy thì, là Phật tử, nhân lễ Vu Lan, rất nên cúng dường trai tăng để giúp chư vị Tăng Ni khỏi lo lắng về phần vật chất, an tâm tu hành đến giải thoát.  Phẩm vật cúng dường ít nhiều không khác gì nhau. Chỉ có cái niệm tâm lúc cúng dường, kính trọng người tu hành, mong cho chư vị đạt đạo để Phật pháp trường tồn mới là quan trọng.  Nếu không có tiền để cúng dường mà chỉ có lòng vui mừng theo, gọi là tùy hỉ khi thấy có người làm việc thiện, thì phước đức cũng bằng người cúng dường, đó là lời Phật dậy.  Câu này rất có ý nghĩa, vì người có tâm tùy hỉ là đã hóa giải được tâm ganh tị nhỏ mọn rồi!

Ngoài sự cúng dường trai tăng hoặc tùy hỷ với người cúng dường, xin đừng giết loài vật để cúng cô hồn. Niệm tâm thanh tịnh tỏa trong không gian không chỉ hạn hẹp chuyển hóa thân nhân mình, mà chuyển hóa tất cả pháp giới.  Nếu mình lại giết chúng sinh để cúng, thì mình lại làm cho pháp giới ô nhiễm vì tăng thêm sự đau khổ, thêm lòng thù hận.

Nếu tin lời Phật nói: “Tất cả chúng sinh đều là cha mẹ đời quá khứ, và sẽ là Phật trong tương lai”, mà mình còn giết chúng sinh thì hóa ra mình giết cha mẹ đời quá khứ. Cho nên, có nhiều người đã sáng suốt nhận định ra việc này, họ ăn chay tháng bảy để từ từ tăng thêm đến ăn chay trường, đó là hình thức báo hiếu rộng lớn nhất, không chỉ đối với cha mẹ đời này, mà với cả cha mẹ đời quá khứ nữa.

Kính thưa quý vị,

 Nhân đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một câu chuyện Thiền, trích dịch từ cuốn “Collection of Stone and Sand”, do thiền sư Muju viết bằng Nhật ngữ, Paul Reps dịch sang Anh Ngữ, như sau:

“Ngày xưa ở nước Nhật, có thiền sư Tetsugen khởi lên tâm nguyện ấn tống một số kinh mà vào thời đó chỉ có những ấn bản bằng chữ Hán. Chữ được khắc ngược nổi lên những phiến gỗ, rồi người ta quết mực vào và in lên giấy. Thiền sư Tetsugen dự định sẽ in 7 ngàn cuốn, là một số lượng rất lớn vào thời đó.

Thiền sư bắt đầu đi quyên góp khắp nơi. Có người phát tâm tặng hàng trăm đồng tiền vàng, nhưng phần lớn ông chỉ gom góp được những số tiền nhỏ bé gồm những đồng xu. Nhưng dù ít hay nhiều, thiền sư cũng cảm ơn họ bằng sự hoan hỉ một cách bình đẳng.

Sau mười năm, sư đã gom góp được đủ số tiền để ấn tống kinh theo dự định.

Nhưng đúng vào thời gian đó thì nước sông Uji dâng lên, gây ra nạn lụt, theo sau nạn lụt là nạn đói. Thiền sư bèn đem tất cả số tiền quyên góp được phát ra để cứu dân chúng khỏi chết đói.

Rồi thiền sư lại bắt đầu cuộc quyên góp lần thứ hai.

Nhiều năm trôi qua, thiền sư vẫn còn đang quyên góp cho đủ số tiền in kinh, thì bệnh dịch lại lan tràn trong dân gian. Sư lại một lần nữa, đem tất cả số tiền phát cho dân chúng, để cứu họ thoát khỏi nạn dịch bệnh.

Bây giờ, Sư lại bắt đầu kỳ quyên góp thứ ba. Sau 20 năm, nguyện ước ấn tống kinh của thiền sư Tetsugen mới thành sự thực. Ngày nay chúng ta còn có thể chiêm ngưỡng những phiến gỗ khắc lời kinh để in những ấn bản đầu tiên ấy tại tu viện Obaku ở Kyoto.

Người Nhật nói với con cháu rằng thiền sư Tetsugen đã ấn tống kinh tới 3 kỳ, hai kỳ đầu không thể nhìn thấy đã vượt trội hơn kỳ thứ ba”.

Thưa quý thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 17 – Lễ Mother’s Day

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Trong một dịp tham dự lễ mừng Mother’s Day tại nhà một người bạn, chúng tôi nghe thấy một bà khách thì thào với bà bên cạnh, giọng dè bỉu:

– Ui da, người Tây Phương cả năm mới có một ngày Mother’s Day để nghĩ đến mẹ, người Việt mình một năm 365 ngày đều là Mother’s Day, đều lo cho cha mẹ, đâu phải chỉ có mỗi ngày hôm nay mà phải bày vẽ, bắt chước họ, rõ thật là “phú quý sinh lễ nghĩa”!

“365 ngày đều là Mother’s Day, đều lo cho cha mẹ”, có thật là như vậy không ạ?

Xin thưa rằng chuyện đối xử với cha mẹ ngày nào cũng đẹp như Mother’s Day là chuyện xảy ra vào thời xa xưa, những người ngàn thu cũ đã làm như thế, chứ còn thời nay thì quả là rất hiếm hoi rồi. Hiếm hoi không hẳn là vì người thời nay không có hiếu bằng người thời xưa, nhưng là vì những điều kiện khách quan nó không còn cho phép chúng ta dành nhiều thời giờ cho cha mẹ nữa.

Có một vị thính giả gửi thư tới chúng tôi, tâm sự rằng gia đình ông có mẹ già, hai vợ chồng và 1 đứa con 3 tuổi. Mẹ ông hiện đang ở trong nursing home. Cụ thì vẫn còn tỉnh táo, vẫn còn đọc báo, nghe radio được. Nhưng một chân cụ bị liệt, phải đi xe lăn. Hai vợ chồng ông đều đi làm, cháu bé gửi nhà trẻ. Cụ thì không thể ở nhà một mình, cho nên ông phải gửi cụ vào nhà dưỡng lão để có người săn sóc, vài ngày một lần, tan sở làm ông ghé qua thăm mẹ.

Nhưng từ khi cụ vào nhà dưỡng lão thì tinh thần cụ sa sút hẳn đi. Nhân viên ở đó cho ông biết rằng cụ rất ít nói, thường nằm quay mặt vào tường. Ngày nào thăm mẹ, ông cũng đều buồn bã ra về, vì cụ cứ muốn gặp cháu bé và than rằng nhớ con nhớ cháu. Mà nơi gửi cháu bé thì lại không tiện đường và giờ giấc để ông đón cháu trước khi đi thăm mẹ. Ông hỏi chúng tôi có cách nào để trọn vẹn mọi bề thì cố vấn cho ông.

Kính thưa quý vị,

Hiện nay, những chuyện đại gia đình phải gửi cha mẹ già vào nursing home xảy ra rất nhiều. Cũng là vì hoàn cảnh của đời sống, thường là hai vợ chồng đều phải đi làm. Những nhà có cha mẹ già thì khi các cụ còn khỏe mạnh, lại được các cụ giúp đỡ trông nom cháu bé, hoặc đưa đón cháu đi học, các cháu bé vừa được hưởng tình thương yêu âu yếm của ông bà, mà ông bà cũng không cảm thấy lẻ loi, cô đơn và vô dụng lúc tuổi già.

Thế nhưng khi các cụ không còn khả năng tự lo cho mình, thì thật là đáng buồn cho cả các cụ và con cái. Đưa cha mẹ vào nursing home là chuyện chẳng đặng đừng, những người con có hiếu như ông thính giả kể trên, trong lòng đầy ắp nỗi áy náy, buồn bã và thương xót cha mẹ già, mà các cụ thì lại càng đáng buồn hơn khi tuổi đã cao, bỗng nhiên mất hẳn chỗ dựa tinh thần là con cái, mất niềm vui nghe cháu bé cười nói bi bô, một mình cô đơn ở nơi xa lạ.

Cho nên, khi cha mẹ còn sống, nếu có dịp nào làm gì cho cha mẹ, thì chúng ta cứ làm, ngày giỗ, ngày Tết, ngày sinh nhật, ngày Vu Lan mùa Báo Hiếu, hay bất cứ dịp nào, cứ nên gặp gỡ, vui vẻ với cha mẹ. Tuổi già sẽ ập đến với các người, ngày cha mẹ trở nên lẫn lộn, nhìn con mà hỏi “Ông, bà là ai?” rồi cũng đến thôi. Ngày đó dù có muốn đem bình hoa tặng, thì cha mẹ cũng chẳng còn nhận ra mình là ai nữa.

Thưa quý thính giả,

Nhân đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả bài pháp của thày tỳ kheo Thích Thiện Minh về lễ Vu Lan và lòng hiếu kính cha mẹ.

Thày dạy rằng:

…“…. Nói đến Vu Lan là phải nói đến mùa báo hiếu; mùa mà những người con nam nữ nhớ đến công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ và muốn làm việc gì đó để đền ơn đáp nghĩa. Bởi vì công ơn cha mẹ quả thật trên đời này không có gì thiêng liêng bằng. Công ơn ấy đã thấm trong ta từ thuở tượng hình, đến với ta qua hơi ấm, qua bàn tay trìu mến, qua dòng sữa bổ dưỡng và qua giọng hát ngọt ngào.

Cha mẹ là hình ảnh đầu tiên mà ta nhìn thấy khi ta mở mắt chào đời và cũng là người làm cho ta nhớ mãi nụ cười, ánh mắt và hương vị yêu thương của cha mẹ dành cho mình.

Hơn nữa, nói đến cha mẹ là phải nói đến sự hy sinh cho các con cả cuộc đời và cả tâm hồn lẫn thể xác. Chính vì tình thương và lòng hy sinh cao cả như thế, phận làm con chúng ta phải hiểu để đền ơn đáp nghĩa với đấng sinh thành dưỡng dục ta nên người.

Về phương diện đền ơn cha mẹ, Đức Phật có dạy: “Dù là tại gia hay xuất gia, dù là Thanh Văn hay chư Phật đều có bổn phận đền ơn cha mẹ. Vì tâm hiếu là tâm Phật”.

Do đó, theo quan điểm của Phật giáo Nam tông, không hẳn chỉ là ngày Rằm tháng 7 âm lịch mới là ngày mà những người con phải làm cái gì đó cho cha mẹ đã quá văng, mà bất cứ lúc nào, giờ nào, ngày tháng năm nào đều cũng có thể làm cha mẹ vui lòng hoặc làm việc tích đức để hồi hướmg cho họ ở bên kia thế giới.

Đối với người tại gia cư sĩ, trong một đoạn kinh, Đức Phật dạy cách báo hiếu cha mẹ có những đoạn như sau:

— Phụng dưỡng cha mẹ : Tức phải hết lòng cung kính cha mẹ, không làm cho cha mẹ buồn khổ, không nói lời vô lễ mà thể hiện sự phụ dưỡng bằng tinh thần như thăm viếng cha mẹ trong những khi họ cô đơn, bệnh hoạn xế chiều; hoặc là sự cung phụng bằng vật chất như vật thực, thuốc thang, chỗ ở, y phục…

— Làm việc thay thế cho cha mẹ : Là chúng ta phải gánh vác tất cả những việc gì mà trước đây cha mẹ đã vì ta mà gánh chịu. Đây cũng là lẽ thưòng tình của đời sống xã hội, không riêng gì Phật giáo. Đã là người con trưởng thành thì cần phải làm thay thế cho cha mẹ, để cho cha mẹ có thời gian thụ hưởng những ngày nhàn rỗi cuối cuộc đời.

— Gìn giữ gia phong tốt đẹp : Là gìn giữ gia phong đạo đức tốt đẹp; lược bỏ đi những phong tục cổ hủ vô bổ cho gia tộc cũng như cho xã hội. Chẳng những thế, cần phải làm phát huy thêm những truyền thống tốt đẹp để làm vang xa tiếng tốt của gia tộc.

—  Tạo phước hồi hướng khi cha mẹ đã quá vãng: Theo Phật giáo, khi cha mẹ còn hiện tiền thì người con phải làm sao cho cha mẹ luôn sống trong niềm an lạc hạnh phúc. Và khi cha mẹ đã quá vãng thì người con cần phải tạo thật nhiều công đức để hồi hướng phần công đức đó đến cha mẹ

Về phía người xuất gia, Đức Phật cũng cho phép nuôi dưỡng cha mẹ. Có một vị Tỳ Kheo chuyên đi khất thực nuôi cha mẹ; câu chuyện được bạch lên Đức Phật. Sau khi phán hỏi sự tình, Đức Phật chẳng những không quở trách mà còn hết lời tán thán hiếu hạnh của vị Tỷ Kheo. Ngài kết luận “Người nào muốn đạt đến cứu cánh Phật đạo, người ấy phải tuyệt đối hiếu kính cha mẹ”.

Lịch sử chép rằng, Đại đức Xá Lợi Phất, trước khi Niết bàn, cũng chọn căn phòng ngày nào Ngài đã chào đời và tìm đủ mọi cách để giảng đạo độ mẫu thân– vốn là tín đồ của Bà La Môn giáo — quay về quy ngưỡng chánh pháp. Và sau đó bà đắc quả Tu Đà Hoàn. Còn Đại đức A Nan Đa thì chọn dòng sông Kohinì làm nơi tịch diệt và Xá lợi của Ngài lại được chia đôi như ý nguyện, một phần đưa về hữu ngạn nội tổ, phần còn lại đưa về tả ngạn ngoại tổ. Thật là một đời sống hiếu hạnh trọn vẹn.

Tiêu biểu nhất là Đức Phật của chúng ta. Sau khi thành đạo, hay tin phụ vương lâm trọng bệnh, Ngài vội vàng cùng với chúng Tăng đệ tử trở về hoàng cung, ngự tại vườn Thượng Uyển, mỗi ngày Đức Phật vào cung vấn an phụ hoàng ba lần trong suốt thời gian vua cha thọ bệnh. Cuối cùng vua cũng đắc quả vị A La Hán. Khi vua băng hà, chính tự thân Đức Phật đã tắm rửa phụ hoàng, thay đổi xiêm y, làm lễ nhập kim quan; luôn cả ngày trà tỳ, Ngài cũng đưa tiễn kim quan với sự tiếp tay của chư Thánh tăng. Sau lễ trà tỳ Ngài thu nhặt Xá lợi phụ vương đem về làm lễ nhập tháp.

Thưa quý thính giả,

Trên đây là bài pháp của thày Tỳ Kheo Thích Thiện Minh. Chúng tôi cũng xin gửi tới quý thính giả thêm một hình ảnh nữa về bà mẹ, qua bức thư của đạo hữu Viên Diệu gửi tới, như sau:

… “….Tình cờ, trong lúc soạn tủ sách, Viên Diệu lượm được bài này. Nhân mùa Vu Lan, Viên Diệu xin gửi tới quý đạo hữu, để cùng ngậm ngùi với tác giả.

Bài này phần trên là Anh ngữ, phần dưới là Việt ngữ. Viên Diệu không được biết rằng phải chăng tác giả là người Việt Nam viết luôn hai thứ tiếng, hay là nguyên bản tiếng Anh do người ngoại quốc viết và có người Việt Nam nào đó đã dịch ra Việt ngữ. Sau đây là phần tiếng Việt:

KHI MẸ ĐI RỒI, ĐỜI CÓ NGHĨA GÌ ĐÂU !

– Khi con mở mắt chào đời, Mẹ ôm con trong cánh tay .
– Con cảm ơn Mẹ bằng tiếng khóc lèo nhèo không dứt.

– Khi con 1 tuổi, Mẹ cho con ăn uống, tắm rửa cho con.
– Con cảm ơn Mẹ bằng những đêm dài khóc lóc triền miên

– Khi con 2 tuổi, Mẹ tập cho con những bước đầu đời .
– Con cảm ơn Mẹ bằng ngoảnh mặt chạy đi khi Mẹ gọi .

– Khi con 3 tuổi, Mẹ nấu nướng thức ăn cho con với cả tấm lòng.
– Con cảm ơn Mẹ bằng xô cả cái mâm xuống sàn nhà

– Khi con 4 tuổi, Mẹ cho con vài cây bút mầu .
– Con cảm ơn Mẹ bằng vẽ đầy lên mặt cái bàn đẹp

– Khi con 5 tuổi, Mẹ mặc cho con quần áo đẹp để con dự những ngày lễ hội .
– Con cảm ơn Mẹ bằng vẩy ngay bùn đất lên áo .

– Khi con 6 tuổi, mẹ đưa con đến trường.
– Con cảm ơn Mẹ bằng kêu khóc “Con không muốn đâu”

– Khi con 7 tuổi, Mẹ mua cho con quả banh.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách ném nó vào cửa sổ nhà hàng xóm

– Khi con 8 tuổi, Mẹ mua cho con cây cà-rem.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách trây đầy vạt áo .

– Khi con 9 tuổi, Mẹ trả tiền cho con học đàn dương cầm.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách chẳng thèm tập dượt.

– Khi con 10 tuổi, Mẹ lái xe suốt ngày đưa đón con từ sân banh đến phòng tập thể dục, từ cuộc họp bạn này đến cuộc họp bạn sinh nhật khác.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách nhẩy ào ra khỏi xe mà không ngoảnh
mặt nhìn lại .

– Khi con 11 tuổi, Mẹ chở con và các bạn đi xem xi-nê .
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách yêu cầu Mẹ ngồi ở băng ghế khác.

– Khi con 12 tuổi, Mẹ không muốn con coi một vài chương trình nơi truyền hình.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách chờ cho Mẹ rời khỏi nhà.

– Khi con 13 tuổi, Mẹ muốn con cắt tóc vừa với dáng dấp của con.
– Con cảm ơn Mẹ bằng câu: ” Mẹ quê quá!”

– Khi con 14 tuổi, Mẹ trả tiền cả một tháng trại hè cho con.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách không viết cho Mẹ được một lá thư .

– Khi con 15 tuổi, lúc Mẹ đi làm về, muốn ôm con vào lòng.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cánh cửa phòng đóng lại .

– Khi con 16 tuổi, Mẹ dậy cho con lái xe .
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách tận dụng mọi cơ hội để lái xe đi biệt.

– Khi con 17 tuổi, Mẹ đang chờ một điện thoại quan trọng.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách ôm điện thoại suốt đêm dài .

– Khi con 18 tuổi, Mẹ xúc động thấy con xong được Trung Học.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách theo bạn bè vui chơi cho đến hừng sáng.

– Khi con 19 tuổi, Mẹ trả tiền chi phí Đại Học, chở con đến trường, giúp con với những túi vật dụng.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách chào từ giã Mẹ phía ngoài cửa phòng vì con không muốn bối rối trước mặt bạn bè.

– Khi con 20 tuổi, Mẹ muốn biết con đã có bạn trai chưa .
– Con cảm ơn Mẹ bằng câu :” Không phải việc của Mẹ”

– Khi con 21 tuổi, Mẹ đưa ý kiến về việc tương lai của con.
– Con cảm ơn Mẹ bằng câu :” Con không muốn sẽ giống y như Mẹ”.

– Khi con 22 tuổi, Mẹ muốn ôm con trong ngày lễ ra trường của con.
– Con cảm ơn Mẹ bằng câu hỏi: ” Mẹ có cho tiền để con đi du lịch Âu Châu không?

– Khi con 23 tuổi, Mẹ cho con bàn ghế khi con dọn vào căn gia cư đầu tiên.
– Con cảm ơn mẹ bằng câu :” Chúng xấu xí quá!”

– Khi con 24 tuổi, gặp người yêu của con, Mẹ hỏi :” Cậu có ý nghĩ gì về tương lai?”
– Con cảm ơn Mẹ bằng sự giận dữ, gầm gừ :” Thôi đi Mẹ!”

– Khi con 25 tuổi, Mẹ đã giúp cho chi phí về đám cưới của con, vừa rơi lệ, vừa nói: ” Mẹ rất thương con”.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách dọn đi xa nửa vòng đất nước.

– Khi con 30 tuổi, Mẹ gọi điện thoại với một vài lời khuyên về cách nuôi cháu
– Con cảm ơn Mẹ bằng câu: “Thời buổi bây giờ đã khác rồi”.

– Khi con 40 tuổi, Mẹ nhắc nhớ con về ngày sinh nhật của các thân nhân.
– Con cảm ơn Mẹ bằng câu trả lời :” Con rất là bận”

– Khi con 50 tuổi, Mẹ trở bệnh, già, yếu, cần sự giúp đỡ của con.
– Con cảm ơn Mẹ bằng kể lể về gánh nặng cha mẹ già đối với con cái …

Và rồi một ngày kia, Mẹ lặng lẽ qua đời .

Tất cả những điều con chưa hề làm cho Mẹ xẹt qua tâm trí con như tiếng sấm rền.

Hãy ru con … Hãy ru con suốt đêm dài …

Bàn tay Mẹ ru thủa con còn nằm trong nôi có thể ru cả thế giới này …

… Mẹ ơi !

Thưa quý thính giả,

Bài tâm cảm về Mẹ đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 16 – Giao dịch tương xứng giữa Tăng Ni và cư sĩ

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi nhận được thư của một vị gửi về, xin trích đoạn sau đây:

…”… Tuy gia đình theo đạo Phật nhưng ngoài bà tôi ra, bố mẹ và các anh chị em tôi rất ít khi tới chùa. Năm ngoái, nhân làm lễ cầu siêu cho ông tôi mới mất, cả gia đình tôi đều tham dự một buổi lễ cúng dường trai tăng. Có điều khó hiểu, xin Chương Trình Tuệ Đăng giải đáp giúp. Đó là tôi thấy trước khi các Tăng Ni ăn cơm, có mấy Phật tử, trong số đó có cả bà tôi, quỳ xuống xụp lạy các sư ngay trước bàn ăn. Tôi rất lấy làm khó chịu khi nhìn thấy bà mình xì xụp lễ lạy người ta như thế. Bà tôi bảo vì bà tôi “cúng dường trai tăng” nên phải “cúng” các vị sư, tức là Tăng. Chẳng lẽ đạo Phật lại phân chia giai cấp như triều đình phong kiến vậy sao?

Bà tôi bảo rằng năm nay là giỗ đầu ông tôi, bà tôi muốn cúng dường trai tăng như năm ngoái. Mấy anh chị em tôi đều không muốn tham dự nữa. Xin quý vị cho biết ý kiến…”…

Kính thưa quý vị,

Trong một kỳ trước, chúng tôi đã trình với quý vị rằng đạo Phật rất trọng giới tu sĩ. Tại sao vậy?

Xin thưa rằng, vì tu sĩ đạo Phật có nhiệm vụ phải hoàn tất rất là lớn lao, chứ không phải là chỉ làm chuyện cúng tế, cầu xin các đấng bề trên giúp cho tín đồ. Việc cúng tế cầu xin này không hề là mục tiêu của đạo Phật, tức là đạo Giác Ngộ, mà chỉ là chuyện phụ, trên đường hoằng truyền Phật pháp, nhà Phật vì tùy thuận theo ý muốn của chúng sinh nên làm những chuyện đó mà thôi. Nhiệm vụ chính của Tăng Ni nhà Phật là dạy chúng sinh thực hành các môn tu theo Phật pháp, làm công tác người cầm đuốc soi đường cho chúng sinh tu hành cho tới giác ngộ giải thoát khỏi vòng luân hồi triền miên sinh tử.

Chúng tôi cũng đã thưa rằng “… các vị Sư trong nhà Phật được tôn là Trưởng Tử Như Lai, là con lớn của đức Phật — với ý nghĩa về mặt tinh thần – có nhiệm vụ dìu dắt đàn em là tất cả chúng sinh đang còn lạc lõng trong biển luân hồi sinh tử.

Trưởng Tử Như Lai là người noi theo gương giáo hóa chúng sinh của đức Phật, làm công việc đức Phật ủy thác, là Đạo Sư. Vì thế, từ ngữ Sư trong nhà Phật rất cao quý. Vì sứ mạng cao quý như thế cho nên trong đạo Phật, giới Tăng Ni tu sĩ được coi là một trong Tam Bảo.

Nhiệm vụ của Phật tử, gọi là cận sự, tức cư sĩ, là phải cung kính cúng dường chư Tăng Ni 4 món cần thiết trong đời sống, gọi là “Tứ sự cúng dường” gồm y phục, thực phẩm, nơi ở và thuốc men.

Tại sao lại phải đặc biệt cung kính khi cúng dường?

Đó là để tỏ rõ lòng tôn kính vị Sư, bậc Thày dẫn dắt ra khỏi biển sinh tử, trở lại Bản Thể Chân Tâm, chấm dứt mọi nỗi thống khổ trong cuộc đời.

Cho nên đôi khi chúng ta trông thấy trong những buổi lễ dâng y, hoặc trai tăng, thí chủ dâng lễ vật đồng thời còn xụp lạy những Tăng Ni thọ nhận, cũng là vì theo truyền thống cung kính cúng dường đó.

Thưa quý thính giả,

Như thế, chúng ta minh định rõ vai trò cao quý của chư Tăng Ni trong nhà Phật, để có thể ứng xử với nhau cho đẹp và tương xứng với vị trí của Tăng Ni và cư sĩ khi giao dịch với nhau.

Nhưng thế nào là “tương xứng với vị trí của Tăng Ni và cư sĩ khi giao dịch”?

Trước nhất, chúng tôi xin minh xác rằng từ “cúng” trong cúng dường không có nghĩa là cúng bái. Cúng dường là do chữ cung dưỡng mà đọc trại ra. “Cung dưỡng” có nghĩa là “cung cấp và nuôi dưỡng”. Cúng dường trai tăng nghĩa là mời chư tăng thọ nhận một bữa cơm trước giờ Ngọ, không hẳn phải là cơm chay, chỉ cần ăn trước giờ ngọ nên gọi là Ngọ trai.

Do truyền thống “Tam Bảo gồm Phật, Pháp và Tăng là phước điền của chúng sinh, thọ nhận bất cứ loại thực phẩm nào do thí chủ phát tâm cúng dường, để chúng sinh trồng cây phước, vì thế không từ chối tấm lòng của chúng sinh, không chọn lựa khi thọ nhận phẩm vật được cúng dường” nên đôi khi chúng ta thấy các sư Nam Tông thọ Ngọ trai bằng thực phẩm từ thịt chúng sinh, miễn là thịt đó từ con vật không vì lý do mình muốn ăn mà nó bị giết, không trông thấy nó bị giết và không nghe thấy tiếng nó kêu khi bị giết,…, gọi là Tam Tịnh Nhục.

Như thế, cúng dường có nghĩa là cung dưỡng, là cung cấp và nuôi dưỡng. Nghĩ rằng vì “cúng dường trai tăng” nên phải lạy sống các sư là sai lầm.

Nhà Phật quý trọng Tăng Ni, tôn là Trưởng tử Như Lai, vì quý vị đó có công tiếp nối hạnh Phật mà chỉ đường cho chúng sinh tu tập ra khỏi cơn mê trong vòng luân hồi khổ não, giác ngộ lại bản thể Chân Tâm.

Nhưng kính trọng không có nghĩa là phải lạy sống. Người thời phong kiến làm thế vì họ có hủ tục người dưới lạy người trên, vua chúa ngồi cho triều thần, cung nữ, thái giám lạy. Hủ tục đó thiết tưởng nên dẹp bỏ.

Có người cho rằng lạy như thế để tập đức khiêm cung. Thực tế, nếu muốn lạy để luyện tập đức khiêm cung thì nên lạy những người ngang hàng hoặc địa vị thua kém mình. Còn nếu không lạy tất cả mọi người một cách bình đẳng như Thường Bất Khinh Bồ Tát gặp ai cũng lạy, mà chỉ đặc biệt lạy những người cao cấp hơn mình, về thần quyền hoặc thế quyền, thì chỉ có thể làm tăng trưởng thói bợ đỡ, nịnh trên nạt dưới, không thể do lạy mà tập được đức khiêm cung.

Thưa quý thính giả,

Để quý vị thấu triệt vấn đề cúng dường Tam Bảo, chúng tôi xin kính gửi một bài pháp do hòa thượng Thích Thanh Từ giảng về đề tài Cúng Dường Tam Bảo, trích trong cuốn Bước Đầu Học Phật.

Thày dạy như sau:

…”… Cúng dường là nuôi dưỡng khiến Tam Bảo hằng còn ở đời. Tất cả những sự bảo bọc giúp đỡ gìn giữ để Tam Bảo thường còn, đều gọi là cúng dường.

Tam Bảo là Phật, Pháp và Tăng:

 Phật đã quá khứ, chỉ còn lại hình tượng.
Pháp bắt nguồn từ chữ Phạn đến chữ Hán còn nằm sẵn trong kho tàng nhà chùa.
Tăng là những tu sĩ tu theo Phật học chánh pháp. Chính những vị này có bổn phận gìn giữ hình tượng Phật còn, phiên dịch giảng giải chánh pháp.

Tam Bảo đều quí kính, song hệ trọng nhất là Tăng. Nếu không có Tăng thì ai gìn giữ chùa chiền, ai giảng dạy chánh pháp? Thế nên, cúng dường Tam Bảo là nói chung, mà hệ trọng là Tăng. Tăng chúng còn là Tam Bảo còn, Tăng chúng mất thì Tam Bảo cũng vắng bóng. Vì thế mọi sự cúng dường đều đặt nặng vào Tăng, với mục đích Tam Bảo tồn tại ở nhân gian.

Thế mà có những người cúng dường một cách lệch lạc mất hết ý nghĩa cúng dường. Như có một Phật tử đi chùa đến thầy Trụ trì xin cúng năm đồng, liền đó được nghe hỏi “cầu cái gì”, Phật tử ngơ ngác. Thầy Trụ trì hỏi thêm “cầu an hay cầu siêu”, Phật tử bóp đầu suy nghĩ đáp “cầu siêu”, rồi biên một dọc tên vào sổ cầu siêu. Phật tử này như thế, Phật tử khác cũng thế. Ðã thành thông lệ, cúng chùa là phải cầu siêu hay cầu an.

Cầu an cầu siêu cho bản thân mình, cho gia đình mình, cho thân thuộc mình, sự cúng ấy quả là vì mình. Vì mình mà đi chùa, vì mình mà cúng chùa, đích thực là tham lam ích kỷ.

Nếu mang một tâm niệm tham lam ích kỷ đến với đạo thì chưa xứng đáng một Phật tử. Cái hư dở này tại ai? Chính tại người hướng dẫn đã chỉ lối sai lạc.

Ðến phần ông thầy, do Phật tử cầu siêu cầu an nên có tiền. Ðồng tiền này sau một thời kinh cầu nguyện xong, ông tự coi như trọn quyền sử dụng không có tánh cách e dè sợ sệt gì cả. Nếu một buổi lễ cầu nguyện được Phật tử cúng nhiều tiền, thế là ông mặc tình phung phí, vì tự cho do công tụng cúng của mình mà được. Thế thì đời tu hành cốt vì giác ngộ giải thoát, vô tình trở thành người tụng kinh mướn. Người tu cốt xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo, biến thành kẻ thụ hưởng. Trái với mục đích xuất gia, trở thành kẻ hư hèn, chính vì nhận đồng tiền phi pháp.

Cầu nguyện là một điều phụ thuộc nhỏ nhít trong Phật pháp, vì nó không phải là chân lý. Thế mà, người ta thổi phồng nó lên, để rồi cả đời người tu gần như hết tám chục phần trăm Phật sự đều nằm trong những lễ cầu nguyện. Truyền bá một điều không phải chân lý, ắt hẳn chánh pháp phải chịu suy đồi. Người có trách nhiệm hướng dẫn Phật tử mà một bề cổ xúy cho sự cầu cúng, là đưa họ vào rừng sâu mê tín, gây thêm lòng tham lam ích kỷ cho họ. Quả là kẻ tạo thêm tội lỗi, chớ không phải người tu hành.

Người Phật tử chân chánh khi phát tâm cúng dường Tam Bảo, chỉ vì mong cho Tam Bảo thường còn ở thế gian để đưa chúng sanh ra khỏi đau khổ mê lầm. Nếu đến chùa, Phật tử cúng năm mười đồng, Tăng, Ni có hỏi cầu điều gì, Phật tử nên thưa: “Chúng tôi chỉ cầu mong chư Tăng, chư Ni nhận món tịnh tài này để có phương tiện an ổn tu hành, hầu truyền bá chánh pháp lợi ích chúng sanh.”

Chỉ vì Tam Bảo, vì chúng sanh mà cúng dường, đây là tâm hồn cao thượng quảng đại vị tha. Làm việc bố thí cúng dường cao đẹp như vậy công đức làm sao giới hạn đuợc. Vì Tam Bảo thường còn ở thế gian để làm lợi ích cho chúng sanh, trong chúng sanh đã có bản thân mình và thân quyến mình rồi. Quên mình chỉ nghĩ đến toàn thể chúng sanh, không phải lòng lợi tha vô bờ bến là gì? Với một lòng vị tha rộng lớn như vậy, dù một số tiền nhỏ, một vật dụng mọn đem cúng dường cũng là phước đức vô biên.

Tăng, Ni nhận sự cúng dường chân chánh của Phật tử, tự nhiên thấy mình có một trọng trách lớn lao vô cùng. Làm sao tu hành tinh tiến? Làm sao truyền bá chánh pháp lợi ích chúng sanh? Ðể xứng đáng thọ nhận những thứ cúng dường của Phật tử, chỉ cần nỗ lực tu hành, cố gắng học tập để hiện tại và vị lai làm lợi ích chúng sanh. Nếu hiện đời, Tăng, Ni, không làm tròn hai việc này, có thể mai kia phải mang lông đội sừng để trả nợ tín thí. Biết như thế, hiểu như thế, Tăng, Ni làm sao dám lơi lỏng trong việc tu hành học tập. Thế là, nhờ sự cúng dường chân chánh của Phật tử thúc đẩy Tăng, Ni đã cố gắng càng cố gắng hơn trong nhiệm vụ thiêng liêng cao cả của chính mình. Thấy mình thiếu nợ, mới cố gắng lo đền trả bằng cách nỗ lực tu hành và độ sanh, đây là mục tiêu đức Phật bắt Tăng, Ni thọ nhận đồ cúng dường của Phật tử. Tăng, Ni là người có bổn phận hướng dẫn tín đồ cúng dường chân chánh đúng pháp thì cả thầy trò đều cao thượng và lợi ích lớn.

Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa chúng ta hoàn toàn phủ nhận sự cầu nguyện. Chúng ta thấy rõ cầu nguyện chỉ là trợ duyên nhỏ xíu, kẻ đối tượng cầu nguyện chỉ được lợi ích một hai phần mười, như trong kinh nói. Chúng ta đã thừa nhận “nhân quả nghiệp báo” là chân lý thì sự cầu nguyện là ngoại lệ, có kết quả cũng tí xíu thôi. Cổ vũ cho điều phi chân lý, để cho người xao lãng chân lý, là việc làm trái với chánh pháp. Vì lòng hiếu thảo của Phật tử, buộc lòng chúng ta phải cầu nguyện, khi cầu nguyện chúng ta phải cảnh cáo rằng: “Việc làm này là phụ thuộc không đáng kể, kết quả ít lắm.” Có thế mới khỏi lệch lạc trên con đường hoằng hóa lợi ích chúng sanh. Ðã thấy cầu nguyện là việc phụ, chúng ta đừng vì nó làm mất thì giờ tu học của Tăng, Ni, làm mất thì giờ truyền bá chánh pháp.

Chúng ta tu theo đạo Phật là đi trên con đường sáng, ánh sáng giác ngộ đến đâu thì bóng đêm mê lầm tan đến đấy. Mê tín là bóng đêm, giác ngộ là ngọn đèn sáng. Bóng đêm và ánh sáng hai cái không thể có đồng thời. Nếu sáng thì không tối, hoặc tối thì không sáng. Có giác ngộ là không có mê tín, có mê tín thì không có giác ngộ. Nếu chứa chấp mê tín là chúng ta đã phản bội với đạo giác ngộ. Trong đạo giác ngộ quả thật không có mê tín. Học đạo và truyền đạo giác ngộ, chúng ta cương quyết dẹp hết bóng đêm mê tín. Có được như vậy mới gọi là người trung thực với chánh pháp. Bằng ấp ủ nuôi dưỡng chứa chấp mê tín, dù kẻ ấy mỗi ngày cúng Phật trăm lần vẫn là kẻ phá hoại chánh pháp. Thà là chúng ta cam chịu chết đói, quyết không vì lợi dưỡng mà làm những điều mê tín, dẫn dắt người đi trên đường mê tín. Ðã thừa nhận mình là Phật tử, quyết định không vì lòng tham để bị một số người lợi dụng dẫn đi con đường mê tín…”…

Thưa quý thính giả,

Trên đây là lời dạy của hòa thượng Thích Thanh Từ, một bậc cao tăng thời hiện đại.

Tiếp theo, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một câu chuyện thiền về sức mạnh của tâm an định, trích dịch từ loạt bài mang tên là “Zen Stories To Tell Your Neighbors”, do soạn giả John Suler gửi lên Internet, như sau:

….” Chuyện rằng, ngày xưa tại làng kia, có một đại võ sư già. Dù đã rất già, ông vẫn còn hạ gục bất cứ người nào muốn tỉ thí với ông. Danh tiếng ông vang lừng khắp miền, lan ra tới tận cả những vùng xa xôi, hẻo lánh, khiến cho võ sinh khắp nơi kéo nhau nườm nượp tới xin làm đệ tử.

Ngày kia, có một võ sĩ trẻ, nổi tiếng đánh bằng đòn tàn bạo, tới làng thách thức vị võ sư già, đòi giao đấu. Hắn quả quyết rằng sẽ là người đầu tiên hạ gục vị đại võ sư. Cùng với sức mạnh của tuổi trẻ, hắn còn có khả năng phi thường là có thể thấu suốt bất cứ nhược điểm nào của đối phương. Cho nên khi ra trận, hắn chờ cho đối phương đánh trước. Ngay khi đối thủ ra đòn, hắn đã phát hiện được nhược điểm, để rồi, với toàn bộ sức mạnh vũ bão, tiến thoái mau lẹ như chớp, hắn hạ gục đối thủ không thương xót. Chưa một ai có thể chịu đựng nổi hắn, chỉ một đòn đầu tiên là hắn đã hạ gục đối phương.

Mặc cho các môn sinh lo lắng can gián, vị võ sư già vui vẻ nhận lời giao đấu với chàng võ sĩ trẻ.

Hai người vừa mới giáp trận, là chàng võ sĩ trẻ bắt đầu moi móc những lời lẽ thô tục ra để lăng mạ vị võ sư già. Hắn văng tục và nhổ nước miếng vào mặt ông già. Suốt một thời gian dài, hắn tận dụng tất cả những từ ngữ thô bỉ mà hạng vô liêm sỉ nhất của loài người có thể nói, để quát vào mặt ông già. Nhưng vị võ sư già chỉ lẳng lặng đứng, không nhúc nhích, không có bất cứ một phản ứng nào.

Cuối cùng, tên võ sĩ trẻ thấm mệt. Biết rằng đã bị ông già hạ gục, hắn cảm thấy xấu hổ mà rút lui.

Đám môn sinh của vị võ sư rất bực bội trước thái độ của thày, là đã không cho thằng nhãi hỗn láo một bài học, mà cứ đứng yên nghe nó chửi tục như thế. Họ đứng quây chung quanh vị võ sư già mà chất vấn:

– Sao thày có thể đứng đó mà chịu trận trước sự sỉ nhục kéo dài như thế? Sao thày không tống cổ nó đi?

Vị võ sư già thủng thỉnh trả lời:

– Nếu có ai đem món quà đến tặng các con, mà các con không nhận, thì món quà đó thuộc về ai?

Thưa quý thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới. Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 15 – Công Án trong nhà Thiền là gì ?

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Kỳ này chúng tôi dành riêng để trả lời một số câu hỏi của quý vị gửi về. Các câu hỏi này đều đi vào chi tiết của công cuộc chuyên tu, cho nên chúng tôi xin quý thính giả thông cảm về sự đặc biệt của nó và nếu thấy có gì khó hiểu, thì xin gửi email hỏi lại để chúng tôi có thể trình bày thêm cho rõ nghĩa hơn.

Chúng tôi xin lần lượt nêu lên từng câu hỏi rồi trả lời ngay câu đó trước khi nêu câu hỏi sau.

Câu hỏi thứ nhất là:

— Đọc sách Thiền, tôi thường thấy những câu chuyện người này hoặc người kia, sau khi nghe một câu nói, một tiếng hét, một cái tát, hoặc nhìn thấy một sư kiện gì đó, thí dụ sao Mai mọc, hoa đào nở, cánh cửa xập, bèn Ngộ, có vẻ như chuyện Ngộ đạo quá dễ dàng, phải không ạ?

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi thiết nghĩ rằng những câu chuyện trong các sách Thiền đã bị hiểu lầm rất nhiều.

Tại sao vậy?

Tại vì ở đó chúng ta chỉ được thấy phần kết quả của cả một quá trình tu hành tự thanh lọc tâm của người hành giả, tạm dùng thí dụ như chúng ta tham dự lễ ra trường của ông Tiến Sĩ, chỉ nghe có tiếng gọi tên là ông Tiến Sĩ lên lãnh bằng cấp, áo mũ, mà không hề nhìn thấy những năm dài đằng đẵng giùi mài kinh sử của người học trò, để có thể đạt được kết quả trên.

Có lẽ quý thính giả khi đọc các sách Thiền cũng nhận thấy một điều là các nhân vật trong đó khi ra mắt thiền sư đều khai danh tính và xuất thân từ chùa này hoặc tu viện nọ. Điều đó nói lên rằng hầu hết họ đều đã có một quá trình tu học, trước khi đi hành cước tìm thày.

Có câu “thiền môn nghiêm tịnh”, chùa chiền và tăng ni ngày xưa giữ gìn giới luật rất tinh nghiêm, chặt chẽ. Như thế có nghĩa là những hành giả đi tìm thày như vậy là đã trải qua giai đoạn tự thanh tịnh hóa tâm, xả bỏ tham sân si được một chừng mực nào đó, nay bước vào giai đoạn chót của cuộc đời chuyên tu, mục đích là Kiến Tánh để ra khỏi sinh tử.

Thiền sư Hám Sơn, một người đã Kiến Tánh, nhục thân còn lưu tại chùa Nam Hoa tỉnh Quảng Đông, đã dạy rằng:

…”…Nếu luận về đại sự nhân duyên này thì Phật Tánh ai ai cũng sẵn có đầy đủ, tơ hào chẳng thiếu .

Song le, do từ kiếp vô thủy đến nay, gốc rễ ái dục, vọng tưởng, tình lự, thói quen ô nhiễm sâu dầy, nên ánh sáng diệu kỳ của Tự Tánh hoàn toàn bị che khuất đi .

Rồi vì chẳng được thọ dụng chân thật, nên cứ khư khư bám víu nơi thân tâm, thế giới, bóng dáng, vọng tưởng, kết cuộc là trôi lăn phiêu dạt biển sinh tử.

Phật và chư Tổ ra đời, với trăm ngàn lời lẽ, đủ thứ phương tiện, nói Thiền, giảng Giáo, không ngoài tùy thuận căn cơ, dựng lập, phá chấp, nguyên lai nào có “pháp thật” nào để dậy người đâu!

Tu tức là tùy thuận Tự Tâm, tịnh trừ vọng tưởng, tập khí, rác rưởi . Cứ theo đây mà ra sức thì gọi là Tu . Khi một niệm vọng tưởng chợt ngưng, liền thấu suốt Tự Tâm xưa nay viên mãn quang minh chói lọi, thật là thanh tịnh bổn nhiên, chẳng dính vật gì, thì khi đó gọi là Ngộ. Nào phải lìa khỏi tâm này, mình mới tu, mới ngộ…”…

Kính thưa quý thính giả,

Xin quý vị lưu ý câu: “Khi một niệm vọng tưởng chợt ngưng, liền thấu suốt Tự Tâm xưa nay viên mãn quang minh chói lọi, thật là thanh tịnh bổn nhiên, chẳng dính vật gì, thì khi đó gọi là Ngộ…”…

Như thế, người Ngộ Đạo không phải là Ngộ câu nói hay hành động gì đó xảy ra lúc đó, mà là do sự kiện xảy ra lúc đó tác dụng vào tâm người hành giả vốn đã chín mùi, khiến cho chuỗi tư tưởng triền miên bỗng nhiên ngưng đọng lại, trong một thoáng dòng thường lưu suy tư ngưng bặt, Thực Tại hiển lộ.

Thực Tại đây chính là Phật Tánh, Giác Tánh, Buddha Nature, Buddha Mind, Tri Kiến Phật, vân vân …

Và sự Ngộ Đạo là kết quả của quá trình tự thanh lọc, khiến cho tâm đã thành khối, cũng giống như trái cây đã chín mùi, nên câu nói của bậc thày lúc đó chỉ tương đương với việc rung cây cho trái rụng mà thôi.

Điều quan trọng là bậc thày phải là người đã thấu suốt, biết được trò kẹt ở đâu, để chỉ nói một câu, làm một hành động nào đó là trò bừng tỉnh. Vì thế, hành động của bậc thày trong hoàn cảnh này còn được gọi là tháo đinh nhổ chốt.

Câu hỏi thứ hai:

— Xin giải thích giúp tôi thế nào là công án trong sự tu Thiền.

Thưa quý thính giả,

Công án trong nhà Thiền là thuật ngữ đặc biệt, để chỉ một phương cách hành trì khiến cho người tu Tổ Sư Thiền có thể Kiến Tánh, cũng tức là Ngộ Đạo.

Trong phần trả lời câu hỏi trước, chúng tôi đã trích dẫn lời dạy của thiền sư Hám Sơn, có câu:

– “Khi một niệm vọng tưởng chợt ngưng, liền thấu suốt Tự Tâm xưa nay viên mãn quang minh chói lọi, thật là thanh tịnh bổn nhiên, chẳng dính vật gì, thì khi đó gọi là Ngộ…”…

Ngộ tức là Kiến Tánh, là mục tiêu cốt tủy của Tổ Sư Thiền.

Nhà Phật cho rằng vì một niệm vô minh bất giác khiến cho trùng trùng duyên khởi, “Tự Tâm trở lại buộc Tự Tâm, không phải Huyễn mà thành pháp Huyễn”, tự Tâm cũng nghĩa là Bản Tâm, bỗng bị cuốn vào cơn xoáy của vọng tâm sinh diệt liên tục gọi là dòng thường lưu suy tư luân chuyển không lúc nào ngưng.

Nay muốn Ngộ lại Bản Tâm, còn gọi là Kiến Tánh, thì dòng thường lưu tư tưởng phải chợt ngưng bặt, dù chỉ trong một khoảnh khắc, đó là lúc Bản Thể Chân Tâm tự hiển lộ, điều mà tu viện Thiền Tào Động trên núi Shasta gọi là manifest itself.

Vào thời gian đầu của Tổ Sư Thiền, người tu chưa cần tới công án. Các bậc thày chỉ nói lên một câu nào đó rất là khó hiểu, khiến cho người đệ tử cứ thắc mắc hoài, đi đứng nằm ngồi không buông ra được, thí dụ một nhà sư hỏi Triệu Châu:

– ” Muôn pháp về một, một về chỗ nào?”.

Triệu Châu trả lời:

– ” Khi ở Thanh Châu, tôi có may được cái áo nặng 7 cân”.

Câu trả lời không ăn nhập gì với câu hỏi, rất bất ngờ này, là cơ xảo của bậc thày, hoàn toàn ra ngoài dự đoán của người nghe. Nó có thể gây nên sự sửng sốt khiến cho vọng tâm sinh diệt của đương cơ đang miên man trôi chảy bỗng khựng lại, hoặc nếu tâm hành giả chưa chín mùi thì câu trả lời vô nghĩa cũng gây nên một khối nghi, hành giả ôm khối nghi đó cho đến khi ngưng bặt tâm ý thức, rồi nếu có một đột biến nào xảy ra, thí dụ tiếng sỏi chạm, ly bể, sét đánh, vân vân, hành giả sẽ bỗng nhiên bừng tỉnh.

Sau này, dường như các cơ xảo không còn khiến cho người nghe cảm thấy ngạc nhiên, ngơ ngác nữa, cho nên chư Tổ Sư mới phải chế ra những câu hỏi vô nghĩa, không thể dùng tâm ý thức mà trả lời được, thí dụ:

– “Con trâu chui qua cửa, đầu và thân đều lọt, tại sao cái đuôi không lọt?”.

Câu hỏi vô lý như thế nhưng do một bậc thày đáng kính hỏi, người đệ tử không thể coi là trò đùa, và cứ thế mà nghiền ngẫm. Trong khi nghiền ngẫm như vậy thì tâm ý thức giảm hoạt động dần, cho đến khi thành khối, gọi là nghi đoàn, rồi khi tình cờ gặp một đột biến nào đó, khối nghi tan rã, hành giả bừng tỉnh, tức là Kiến Tánh, là Ngộ.

Để quý thính giả có thêm tài liệu về công án trong sự tu Tổ Sư Thiền, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một đoạn trích trong cuốn Thiền Luận bộ Trung, nguyên tác Essays in Zen Buddism, do tiến sĩ Daisetz Teitaro Suzuki biên soạn và thượng tọa Thích Tuệ Sỹ dịch ra Việt ngữ.

…”… Đại Huệ là một đại luận sư về công án của thế kỷ XII. Một trong những công án lừng danh của sư là VÔ của Triệu Châu, nhưng sư cũng có một công án riêng của mình. Sư thường mang cây gậy trúc ngắn đưa ra trước chúng tăng và bảo:

– “Nếu các ngươi gọi đây là cây gậy, hãy nói là phải. Nếu các ngươi không gọi nó là cây gậy, hãy nói là không phải. Ngoài cái phải và không phải, các ngươi sẽ gọi nó là gì?”.

Trong trích dẫn sau đây rút ra từ các bài pháp của ngài nhan đề Đại Huệ Phổ Thuyết, ngài còn nêu lên một công án khác cho vị tăng thị giả của mình là Tịnh Quang.

– “Pháp không do kiến văn giác tri mà thấu triệt. Nếu pháp do kiến văn giác tri mà thấu triệt, thì đấy chỉ là kiến văn giác tri mà thôi, hoàn toàn không phải là cầu pháp. Bởi vì pháp không ở nơi những cái mà người ta nghe từ kẻ khác hay học tập bằng thế trí.

Bây giờ, ngươi hãy bỏ đi những gì thấy, nghe và suy nghĩ, mà thấy những gì trong chính ngươi. Chỉ có chân không, vô vật, không thể bắt nắm được, không thể nghĩ tưởng đến được. Tại sao? Bởi vì đó là nơi siêu việt giác quan. Nếu giác quan mà với tới nơi này được, thì đó là cái có thể nghĩ tưởng có thể bám víu, và như vậy, nó nằm trong vòng sống chết.

Điều cốt yếu là khép chặt các giác quan, và biến tâm thức thành như một khúc cây. Khi khúc cây này đột nhiên trỗi dậy và khua vang, ấy là ngươi như sư tử cất tiếng rống tự do, tự tại không ai quấy phá, hay như một con voi vượt qua sông, chẳng e dè dòng nước chảy xiết. Đấy là lúc không còn dao động, không còn tạo tác, không có gì hết. Trưởng lão P’ing T’ien nói :

Trời trong không mây mù

Đạo thường tồn miên viễn

Ai bước vào cửa này

Không học, không luận biện

Nhà ngươi phải biết rằng do kiến văn giác tri mà bước vào đạo và cũng do kiến văn giác tri mà không bước vào được. Nếu ngươi muốn mình là một vị thầy tự tại của chính mình, hãy dứt bỏ kiến văn giác tri, hãy kềm lại cái tâm leo trèo như vượn, đừng để làm bậy, hãy bắt nó đứng yên, hãy kiên quyết chú tâm vào bất cứ những gì ngươi đang làm – đi đứng hay nằm ngồi, im lặng hay nói năng; hãy giữ tâm ngươi như một sợi dây căng thẳng; đừng để nó vuột khỏi tay mình. Ngay khi nó vuột khỏi vòng câu thúc, ngươi sẽ thấy nó lao đầu vào nơi kiến văn tri giác.

Học Thiền phải đi đến chung cùng là Chứng Ngộ. Các bậc tôn túc của Thiền cũng  vậy; bởi vì chúng ta chỉ biết rõ sự thành đạt đích thực của Thiền khi nào chúng ta Chứng Ngộ. Hãy nghĩ nhớ công án dù đang làm bất cứ việc gì, dù là ngày hay đêm.

Một thầy tăng hỏi Triệu Châu “Con chó có Phật tính không”. Triệu Châu nói Vô. Hãy chú tâm vào chữ Vô này và hãy nhìn xem cái gì nằm trong đó.

Đến lúc tâm đã định, ngươi sẽ thấy công án chẳng có mùi vị gì hết, nghĩa là chẳng có đường lối phân biệt nào để dò vào trong lòng của nó.”

Nơi khác, Đại Huệ nói: “Hãy kiên trì công án trong suốt cả bình sinh. Nếu một niệm khởi lên, đừng cố ý dẹp xuống, mà cứ cố giữ công án hiện tiền với tâm. Dù khi đi khi đứng hay nằm ngồi, chú tâm không gián đoạn. Đến khi bắt đầu thấy nó không còn hương vị gì hết, ấy là lúc thời cơ quyết định đang đến, đừng để nó vuột mất. Đến khi một vật đột nhiên chớp lên trong tâm ngươi, ánh sáng của nó sẽ sáng rực cả vũ trụ…”…

Thưa quý thính giả,

Trên đây là lời dạy của thiền sư Đại Huệ. Chúng tôi cũng xin trình với quý vị lời dạy của thiền sư Thích Duy Lực, như sau:

… “…Công án là một chuyện tích chẳng thể dùng bộ óc để lý giải, làm cho thiền giả cảm thấy thắc mắc mà phát khởi nghi tình, gọi là công án.

Mục đích của Phật và chư Tổ khi sử dụng công án là cốt để đương cơ ngay đó hoát nhiên trực ngộ. Nếu ngay đó chưa ngộ được, thì tất nhiên phát ra nghi tình, rồi do nghi tình đó, sau này sẽ được ngộ. Chứ không phải muốn người nghe hiểu theo lời nói văn tự. Nếu hiểu theo lời nói văn tự là trái ngược với ý chỉ của Thiền tông, lại đóng bít cửa ngộ của người hành giả, vĩnh viễn không thể chứng ngộ.

Nay xin hành giả tham thiền khi đọc đến chỗ không hiểu chớ nên dùng ý thức để nghiên cứu tìm hiểu. Cần phải ngay chỗ không hiểu phát khởi nghi tình, và luôn luôn giữ mãi cái nghi tình đó thì sẽ được “từ Nghi đến Ngộ”, đúng như lời Phật dạy vậy….”…

Thiền sư Thích Duy Lực là một trong số các bậc tôn túc hoằng truyền Thiền Đốn Ngộ. Thày dạy về tham công án và thoại đầu. Thày dạy rằng mặc dầu có tới 1700 công án, nhưng không phải giải được nhiều công án là sẽ giác ngộ. Trái lại, chỉ càng làm cho tâm ý thức hoạt động thêm, càng xa đạo mà thôi.

Thày dạy rằng nếu tham một công án hoặc thoại đầu mà tâm thành khối, rồi do một cơ duyên nào đó mà chợt bừng tỉnh, Kiến Tánh, thì sẽ thấy rằng mục tiêu của tất cả các công án cũng đều giống nhau, cũng để chặn đường đi của ý thức, tâm viên ý mã mà thôi.

Thưa quý thính giả,

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 14 – Cúng dường Trai Tăng – Vấn đề người lạy người

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Hằng năm, trong khoảng từ ngày Phật Đản cho tới lễ Vu Lan, là thời gian chư Tăng Ni nhập Hạ, nghĩa là vào mùa Hạ, chư vị tu sĩ ở rải rác tại nhiều địa điểm cùng vân tập về một nơi, thường là một ngôi chùa lớn, để tích cực tu học, không bước chân ra khỏi khuôn viên nhà chùa.

Khởi đầu mỗi khóa Hạ là ngày Phật Đản, nhằm ngày Rằm tháng Tư Âm Lịch và kết thúc vào ngày lễ Vu Lan, nhằm ngày Rằm tháng Bảy Âm Lịch. Thời gian này còn gọi là mùa An Cư kiết Hạ. Tuy chỉ có ba tháng, nhưng là ba tháng tích cực tu học, cho nên nhà Phật tính ba tháng này là một tuổi Hạ.

Để rõ nghĩa vấn đề “tuổi Hạ” này, chúng tôi xin trích dẫn lời dạy của hòa thượng Thích Thiện Siêu như sau:

…”… Ngày Rằm tháng Bảy còn được gọi là ngày Tăng Thọ tuế. Thọ tuế là nhận tuổi. Theo thế gian, nếu cha mẹ sinh ra đủ năm 12 tháng thì mới gọi là tròn một tuổi. Nhưng trong luật Phật chế, hàng xuất gia thọ giới của đức Phật không tính tuổi theo năm tháng kiểu thế gian trên — mà tính tuổi theo hạ lạp. Nghĩa là năm nào có an cư kiết hạ được trọn vẹn thì được tính một tuổi. Thí dụ: Vị nào an cư kiết hạ từ 15 tháng Tư đến 15 tháng Bảy âm lịch là mãn hạ, như vậy được tính một năm hạ, tức một tuổi hạ. Ai đã thọ Cụ túc giới nhưng không an cư thì không tính tuổi hạ, còn ai kiết hạ an cư liên tục thì được tính nhiều tuổi hạ.

Cho nên chúng ta thường nghe ở các chùa khi đọc tiểu sử của một vị Tăng nào viên tịch, thường nhắc đến tuổi đời và hạ lạp. Thí dụ vị đó 80 tuổi đời và 60 hạ lạp, nghĩa là vị đó có tuổi cha mẹ sinh là 80 năm, còn tuổi hạ là 60 hạ lạp. Hạ lạp được tính vào ngày rằm Tự tứ, tức là rằm tháng 7, sau khi đã tu hành tròn ba tháng hạ.

Tuy nhiên, cũng có trường hợp, đúng theo Luật Phật chế, 20 tuổi thì được thọ giới Tỷ-kheo, nhưng vì thiếu duyên, có vị 25 tuổi mới thọ giới Tỷ-kheo và sau khi thọ giới mỗi năm đều có kiết hạ. Nếu vị ấy viên tịch vào tuổi 70, thì vị ấy được 45 tuổi hạ và 70 tuổi đời. Nếu một vị Tỷ-kheo thọ giới rồi mà không an cư lần nào cả thì coi như vị ấy hoàn toàn không có tuổi hạ, khác với cha mẹ sinh ta ra, dù ta có làm hay không làm gì đi nữa, hoặc giả có ngủ cả năm đi nữa thì tròn một năm cũng vẫn được tính tuổi từng năm một.

Trái lại, vị Tỷ-kheo thì phải có kiết giới an cư thì mới nhận tuổi, còn không an cư, thì không tính hạ lạp, cũng gọi là giới lạp, pháp lạp…”…

Thưa quý thính giả,

Truyền thống an cư kiết hạ này bắt nguồn từ thời đức Phật tại thế. Vào thời đó, chư tăng Ni không nấu ăn, mà mỗi buổi sáng, chư vị cùng nhau ôm bình bát đi khất thực đủ cho bữa trưa, gọi là Ngọ Trai. Ngoài việc đó, tất cả thời giờ đều tận dụng vào việc hành Thiền, thanh lọc thân tâm với mục tiêu giải thoát.

Nhà Phật coi sự khất thực như thế là việc tốt cho cả giới tu sĩ và dân chúng. Đối với tu sĩ thì việc khất thực chỉ đủ ăn từng ngày sẽ khiến cho quý vị ấy xả bỏ thói quen tích lũy, nguồn gốc của tâm Tham, lại dùng được tất cả thời gian trong cuộc đời để miệt mài tu tập, không bị chia trí.

Đối với dân chúng thì sự kiện cúng dường chư Tăng Ni sẽ tạo thói quen tốt cho hạnh tu bố thí, xả bỏ.

Thế nhưng tại Ấn Độ vào mùa Hạ thì lại mưa nhiều, nên khí hậu và đất đai rất ấm thấp. Do đó, côn trùng sinh trưởng khắp mặt đất. Vì lòng từ bi tỏa rộng tới cả muôn loài chúng sinh, đức Phật muốn tránh mọi sự đau đớn, nên Ngài chế ra khoảng thời gian chuyên tâm tu học trong một địa điểm, gọi là an cư kiết Hạ,để tu sĩ không đi ra ngoài, không giẫm đạp lên các sinh vật nhỏ bé bò lê la dưới đất.

Vào thời đó, thực phẩm của chư Tăng Ni hoàn toàn trông vào sự khất thực hằng ngày. Nay vì phải ở lại trong chùa, không thể đi ra ngoài khất thực, nên dân chúng thân hành mang phẩm vật lên chùa để cúng dường chư vị Tăng Ni, trong tinh thần tứ chúng đệ tử Phật hỗ trợ lẫn nhau, chư Tăng Ni bố thí các lời dạy gọi là Pháp thí và dân chúng bố thí phẩm vật để chư vị thọ dụng gọi là Tài thí. Sự bố thí này được dùng bằng từ ngữ cung kính gọi là cúng dường.

Truyền thống đó vẫn được tứ chúng Phật tử gìn giữ và thực hành suốt chiều dài của lịch sử Phật giáo từ trên hai ngàn rưởi năm nay.

Để quý thính giả có thêm tài liệu về tinh thần liên đới trách nhiệm giữa tứ chúng đệ tử của đức Phật, là chư Tăng, chư Ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một bài phân tích rất minh bạch của Ni Sư Thubten Chodron, trích từ cuốn Buddhism for Beginners.

Ni sư là người Hoa Kỳ, đã viết nhiều sách giảng dạy Phật pháp như Open Heart & Clear Mind, How to Free Your Mind, Taming the Monkey Mind, Cultivating a Compassionate Heart, Blossoms of the Dharma, vân vân….

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói về cuốn sách này như sau:

“Cuốn Buddhism for Beginners được viết cho người muốn tìm hiểu những điều căn bản nhất của đạo Phật, và cách ứng dụng những điều căn bản đó vào đời sống hằng ngày. Nó sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho độc giả”.

Câu hỏi trong cuốn sách là:

– Xin cho biết về sự liên hệ giữa chư Tăng Ni và các cư sĩ Phật giáo?

Ni Sư Thubten Chodron đáp:

– Như đức Phật đã quy định, bổn phận của chư Tăng, Ni, là giữ gìn trọn vẹn giới luật đã nguyện hứa, đồng thời học và thực hành Phật pháp, rồi đem sự hiểu biết đó hướng dẫn lại cho Phật tử tu hành.

Về phần giới cư sĩ Phật tử thì cung cấp những sự cần thiết cho đời sống của người tu sĩ, như nơi cư trú, y phục, thực phẩm và thuốc men. Sự phân nhiệm này có mục đích dành cho giới tu sĩ có nhiều thì giờ để chuyên tâm học hỏi và hành thiền, để họ mau tiến bộ trên đường tu tập, để rồi qua sự tiến bộ của họ, sự truyền dạy giáo pháp lại cho giới cư sĩ cũng đạt được nhiều hiệu quả.

Mối quan hệ này đã lưu truyền trong khắp các truyền thống Phật giáo, dù khác hình thức.

Tại các tu viện Thiền Tông ở Trung Hoa, làm lụng ngoài đồng được coi là một phần của việc tu hành, chư Tăng, Ni phải làm ruộng, học giáo lý và tu tập thiền.

Tại Thái Lan thì lại khác, vì lời hứa khi thọ giới là không cất giữ tiền bạc được thi hành triệt để, nên cư sĩ Phật tử không những chỉ cung cấp tứ sự cúng dường gồm nơi ở, y phục, thực phẩm và thuốc men, mà còn nhận lãnh luôn cả những việc lao động khác trong tu viện, để giúp chư tăng ni chuyên tâm tu hành.

Tại Châu Á, chư Tăng, Ni thường được giới cư sĩ Phật tử kính trọng và săn sóc chu đáo, vì Phật tử tại những nơi đó vốn có truyền thống tôn quý Phật pháp. Dù là vậy, tu sĩ nên tự coi mình như những người phục vụ, để không trở thành kiêu ngạo khi được Phật tử cung kính cúng dường. Nếu tu sĩ lại nổi lên tâm kiêu ngạo khi hưởng sự cung kính, thì đường tu của chính họ lại bị thoái hóa.

Tại phương Tây thì mối quan hệ giữa giới tu hành và giới cư sĩ vẫn còn chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng dân chủ, và ít phân chia giai cấp, vốn sẵn có trong bản chất của các xã hội Tây Phương. Như thế cũng có điều lợi, mà cũng có điều bất lợi. Thí dụ, người tu sĩ Tây Phương không luôn luôn được tu viện, hoặc nơi họ cư ngụ, cung cấp đầy đủ về mặt tài chính, cho các chi phí trong đời sống. Kết quả là có những Tăng Ni phải kiếm thêm việc làm bên ngoài, để có đủ tiền chi tiêu cho những nhu cầu cần thiết của bản thân. Có người kiếm đủ sống qua ngày, nhưng khi ốm đau, hoặc muốn đi tầm sư học đạo, hoặc tham dự những khóa thiền thất, thì họ sẽ gặp khó khăn về chuyện tiền bạc….”…

Thưa quý thính giả,

Như thế, truyền thống cúng dường vốn là một tập tục rất quan trọng và tốt đẹp của nhà Phật. Cúng dường cũng chính là bố thí, chỉ khác nhau ở danh xưng. Về sự khác trong danh xưng và ý nghĩa sâu xa của bố thí, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một bài pháp của thượng tọa Thích Nhất Chân, phân tích rõ ràng như sau:

… »… Cúng dường và bố thí vốn cùng một nghĩa “cho“. Cái gì của mình mà có thể đem ra “cho” người khác, thì gọi là “cho“.

Cũng cùng một nghĩa, song tùy theo trường hợp hay hoàn cảnh mà nghĩa “cho” này có những tên gọi khác nhau. Thông thường thì chỉ gọi là “cho“, trường hợp khác thì gọi là “tặng“, đôi khi gọi là “biếu“. Riêng danh từ “bố thí” được dùng để chỉ trường hợp “cho” những người bần cùng nghèo khổ. Và trường hợp khi một người Phật tử đem những gì của mình ra “cho” Tam Bảo, vốn là nơi nương tựa của mình, thì gọi là “cúng dường“.

Còn nghĩa “tặng” là “cho”  giữa những người ngang hàng với nhau, “cho” để kết tình thân hay cốt để gây một ấn tượng tình cảm tốt đẹp mà thôi, thì gọi là “tặng“.

Trong thế gian không có nghĩa “cúng dường“, song có nghĩa “bố thí“. Tuy nhiên nghĩa “bố thí” trong Ðạo không giống với nghĩa “bố thí” của thế gian.

Ðạo pháp không nhìn “bố thí” theo chiều hướng “kẻ cả” hay “ra ân” mà theo một chiều hướng tâm linh rất thâm sâu, bao gồm nhiều ý nghĩa của Ðạo. Chúng ta hãy khảo sát một cách tổng quát về nghĩa Ðạo của bố thí như sau :

Bố thí gồm có ba thành phần chính : một là người cho, hai là vật để cho và ba là người nhận. Thiếu một trong ba thành phần này thì pháp bố thí sẽ không thành lập được. Trong ấy, vật để cho là mối liên kết giữa người cho và kẻ nhận. Vật này trước hết phải thuộc quyền sở hữu của người cho. Đem cho một vật không phải của mình, thì không thành nghĩa bố thí được. Sau khi cho, vật ấy thuộc về người nhận, và người cho không còn quyền hạn gì đối với vật ấy nữa.

Cho như thế có nghĩa là “xả bỏ” các sở hữu của mình, xả bỏ những gì mà mình có.

Tại sao lại phải xả bỏ các sở hữu của mình ?

Con đường giải thoát trong Ðạo Phật cho thấy rằng sự hiện hữu của mỗi hữu tình chúng ta là một sự ràng buộc trói chặt chằng chịt vào nhau.

Cái tâm thức mà là chúng ta một khi đã trói dính vào thân này, thời phải trói dính vào quần áo, nhà cửa, đồ ăn thức uống v.v… để nuôi dưỡng và duy trì thân này.

Một khi tâm thức ấy đã trói chặt vào thân ấy và cho đó là Tôi, thì nó sẽ trói chặt luôn vào vợ tôi, con tôi, nhà cửa gia sản của tôi, bạn bè thân quyến của tôi…

Khi Ðạo pháp nói rằng chúng ta bị trói dính vào luân hồi biến chuyển đau khổ, chúng ta không được giải thoát, tức có nghĩa là chúng ta, hay đúng hơn cái tâm thức mà là chúng ta, bị trói chặt vào thân này và các sở hữu khác của nó.

Thế nên giải thoát có nghĩa là cởi tâm thức ra khỏi các trói chặt của thân và các sở hữu. Tâm thức tự trói mình vào các thứ ấy bằng tâm ái luyến, nên chính tâm thức cũng phải tự cởi mình ra bằng tâm thoát ly hay tâm xả bỏ các pháp sở hữu ấy….. »…

Thưa quý thính giả,

Trong một bài trước, chúng tôi đã trình với quý vị rằng “… các vị Sư trong nhà Phật được tôn là Trưởng Tử Như Lai, là con lớn của đức Phật — với ý nghĩa về mặt tinh thần – có nhiệm vụ dìu dắt các em ra khỏi bến mê.

Trưởng Tử Như Lai là người noi theo gương giáo hóa chúng sinh của đức Phật, làm công việc đức Phật ủy thác, là Đạo Sư. Cho nên chúng tôi đã thưa rằng từ ngữ Sư trong nhà Phật rất cao quý. Sư là Thày dạy đạo, đưa chúng sinh ra khỏi biển khổ sinh tử, chấm dứt trôi nổi trong vòng luân hồi. Vì sứ mạng cao quý như thế cho nên trong đạo Phật, địa vị của Tăng Ni được coi rất trọng. Nhiệm vụ của Phật tử, gọi là cận sự, tức cư sĩ, là phải cung kính cúng dường chư Tăng Ni  4 món cần thiết trong đời sống, gọi là “Tứ sự cúng dường” gồm y phục, thực phẩm, nơi ở và thuốc men.

Tại sao lại phải đặc biệt cung kính khi cúng dường?

Đó là để tỏ rõ lòng tôn kính vị Sư, bậc Thày dẫn dắt ra khỏi bến mê, bước lên bờ giác, chấm dứt mọi nỗi đau khổ. Cho nên đôi khi chúng ta trông thấy trong những buổi lễ dâng y, hoặc trai tăng, thí chủ dâng lễ vật đồng thời còn xụp lạy những Tăng Ni thọ nhận, cũng là vì theo truyền thống cung kính cúng dường.

Chung quanh vấn đề “xụp lạy giữa người và người” này, đã nảy sinh ra một số suy nghĩ lấn cấn, có lẽ chúng ta cũng nên biết tới.

Giới chủ trương duy trì sự “người lạy người” thì cho là lạy như thế để mài tâm, xả bỏ sự kiêu ngạo, rèn luyện đức khiêm cung.

Giới không đồng ý thì cho rằng lạy trong trường hợp này là Phật tử lạy các vị Sư, cho là lạy sẽ được phước. Như thế thì không có sự “mài tâm” trong đây, mà là một dấu hiệu của tâm Tham tiềm ẩn. Sự kiện lạy một vị trung gian tâm linh, vốn là biểu tượng của thế giới huyền bí, ở một vị trí có thể ban phúc giáng họa, thì không thể làm cho người lạy trở thành khiêm cung, mà có lẽ chỉ tăng trưởng nỗi sợ sệt, hoặc lòng ham muốn được phước mà thôi.

Nhìn những cụ già mái tóc bạc phơ, quỳ ngoài sân xì xụp lạy để tác bạch lên chư Tăng Ni ngồi bên dẫy bàn ăn trong buổi lễ cúng dường Trai Tăng, người ngoài cuộc cảm thấy trong lòng sao mà bất nhẫn quá.

http://www.youtube.com/watch?v=zhSfFp4XemM

Những quang cảnh giống như đang sống trở lại thời phong kiến ấy liệu sẽ có ảnh hưởng vào tâm trí giới trẻ, khiến cho họ cảm thấy xa lạ với sinh hoạt của nhà chùa chăng?

 Nhân đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện thiền nói về thái độ của kẻ cho và người nhận, trích dịch từ cuốnCollection of Stone and Sand”, do thiền sư Muju viết bằng Nhật ngữ, Paul Reps dịch sang Anh Ngữ, câu chuyện như sau:

“Vào thời đại Kiếm Thương, trong thời gian làm trụ trì tại thiền viện Engaku thuộc tỉnh Kamakura, (một trong số những thiền viện quan trọng nhất thuộc hệ thống thiền viện của Nhật Bản, nơi có quả đại hồng chung Ôgune danh tiếng cao 2 mét rưỡi), thiền sư Seisetsu yêu cầu được cung cấp một khu vực lớn hơn, vì nơi ông đang giảng dạy có quá đông người theo học nên rất chật chội.

Một thương gia ở Edo tên là Umezu Seibei quyết định cúng dường 500 đồng tiền vàng ryo để xây trường học mới rộng rãi và tiện nghi hơn. Ông ta đem số tiền vàng tới đưa cho thiền sư Seisetsu. Thiền sư thản nhiên nói gọn lỏn:

– Được rồi, tôi sẽ nhận.

Thương gia Umezu đưa ra túi tiền vàng mà trong lòng rất lấy làm bất mãn trước thái độ của thiền sư. Ông ta nghĩ thầm: ”Chỉ với 3 đồng tiền vàng này, một người có thể sống trọn một năm, thế mà một lúc đưa ra tặng tới 500 đồng mà không nhận được một lời cảm ơn”. Bực mình, ông ta lên tiếng nhắc:

– Trong cái túi có 500 đồng tiền vàng ryo đấy.

Thiền sư trả lời:

– Ông đã nói điều đó với tôi rồi mà.

Umezu nói:

– Dù tôi là một thương gia giầu có, nhưng 500 đồng ryo là một số tiền lớn.

Thiền sư Seisetsu hỏi:

– Thế ông muốn tôi cảm ơn ông hả?

Umezu trả lời:

– Đó là việc ông nên làm.

Thiền sư hỏi lại:

– Ủa, sao lại là tôi? Người đem cho phải cảm ơn chứ? “

Thưa quý thính giả,

Có câu: “Kẻ  “cho” “được hưởng ” nhiều hơn người nhận”. Đúng là như vậy. Người nhận chỉ được chút vật chất. Người cho được toàn bộ niềm vui về tinh thần, được hưởng dư âm của niềm an lạc về hành động cao quý của mình.

Thế nên, như vị thiền sư đã nói, “người đem cho” phải cảm ơn “người nhận”. Đúng vậy, vì “người nhận” đã trải phước điền, là ruộng phước, để “người đem cho” trồng cây phước.

Nhưng một sự cung kính cúi đầu, một lời cảm ơn nhau cũng tạm coi như là đủ, chúng ta thử xét lại xem có cần thiết phải xì xụp lạy như đám vua quan lễ lạy nhau trong thời buổi phong kiến lạc hậu khi xưa chăng?

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Tuệ Đăng (ĐPK)

Bài 13 – Tâm được tịnh rồi, tội liền tiêu

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Như chúng tôi đã trình bày trong các kỳ phát thanh trước, cốt tủy tất cả những lời dạy trong quá trình giáo hóa chúng sinh được đức Phật tóm tắt bằng tuyên ngôn:

– “Này chư Tỳ kheo, bây giờ cũng như trước đây, Như Lai chỉ dạy về “Khổ” và về “Con Đường Diệt Khổ”.

Để có thêm tài liệu về “Khổ” và “Con Đường Diệt Khổ”, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một bài pháp của hòa thượng K. Dhammananda trích từ cuốn Gems of Buddhist Wisdom, do thượng tọa Thích Tâm Quang dịch.

Hòa Thượng K. Dhammananda, sanh năm 1919 tại một làng quê thuộc tỉnh Matara phía nam Sri Lanka. Ngay khi còn nhỏ, ngài đã hâm mộ Phật giáo. Nhờ có người cậu trụ trì tại ngôi chùa địa phương nên ngài được thọ giới Sa Di vào năm 12 tuổi, với pháp danh là “Dhammananda” có nghĩa là Pháp Hỷ.

Ngài là người siêng năng học tập, tốt nghiệp Ngôn Ngữ Học, Triết Lý, và Quy Tắc Pali Viện Đại Học Vidyalankara Pirivena, Sri Lanka, năm 26 tuổi và năm 30 tuổi, tốt nghiệp Cao Học Triết Lý Ấn Độ tại Viện Đại Học Beneres, Ấn Độ. Ba năm sau, ngài được cử đi hoằng pháp tại Mã Lai.

Vào các thập niên 50 và 60, Phật Giáo bị giới trí thức Trung Hoa tại Mã Lai rất coi thường vì họ nghĩ rằng Đạo Phật chỉ gồm những trò mê tín dị đoan. Qua Hội Truyền Bá Giáo Lý Phật Đà, ngài đã phát hành các tài liệu, các loại sách về mọi phương diện của Phật Giáo và kết quả là một số đông đã nhận thức được giáo lý chân chính của Đức Phật.

Ngài trước tác khoảng gần 50 cuốn sách luận giải kinh điển và về các vấn đề giáo dục theo quan điểm của nhà Phật, vốn rất thâm áo, khó hiểu, trở thành đơn giản, khiến cho không những chỉ có các bậc học thức uyên bác mà cả đến giới bình dân cũng nhờ ngài mà cũng có thể hiểu được ý kinh.

Những sách của ngài đã chuyển hóa tư tưởng của các giới thanh niên và trí thức. Qua những bài giảng và nhất là những cuốn sách ngài viết bằng Anh ngữ mà nhiều độc giả Tây Phương cũng có dịp thâm nhập được vào tinh hoa của đạo Phật.

Hòa thượng Dhammananda viên tịch tháng Tám năm 2006, hưởng thọ 87 tuổi, trong số đó có 75 năm sống cuộc đời thanh tu, tận tụy hoằng truyền chánh pháp, được suy tôn là một Trưởng Tử Như Lai gương mẫu.
Sau đây là bài pháp trích trong cuốn Gems of Buddhist Wisdom, do thượng tọa Thích Tâm Quang dịch ra Việt ngữ:

…”… Nếu chúng ta suy ngẫm sâu xa, chúng ta phải đồng ý với khái niệm đời là khổ đau. Chúng ta đau khổ cả thể chất lẫn tinh thần ở bất cứ lúc nào. Ta có thể tìm được người nào trên thế giới này thoát khỏi được cái đau đớn thể chất và tinh thần không? Quả là khó khăn. Cả đến những người đạt tới bậc thánh cũng không thoát khỏi cái đau đớn thể xác chừng nào mà họ còn mang xác thân vật chất.

Nếu có ai hỏi:

– “Ðiều gì bất trắc nhất trên thế giới này?”

Câu trả lời đúng phải là:

-“Ðời sống là điều bất trắc nhất”.

Tất cả mọi thứ ta làm trên cõi đời này đều là để thoát khỏi khổ đau và cái chết. Nếu chúng ta buông lung chỉ một giây, cũng thừa đủ để chúng ta mất nó. Hầu hết tất cả những thói quen hằng ngày như làm việc, ăn, uống, dùng thuốc men, ngủ và đi lại, đều là những phương cách và phương tiện chúng ta áp dụng để tránh khổ đau và cái chết. Mặc dù thỉnh thoảng chúng ta kinh qua một vài lạc thú trần tục thỏa mãn ham thích của mình nhưng ngay sau đó chính lạc thú ấy có thể biến thành khổ đau

Tất cả mọi thứ trong đời sống của chúng ta đều luôn luôn thay đổi và bất như ý. Do đó Ðức Phật đã giải thích chừng nào mà ta còn tham muốn dục lạc trần thế thì chúng ta không thể tránh khỏi khổ đau thể chất và tinh thần..

Nhiều người tìm kiếm một đời sống bất diệt, nhưng trớ trêu thay những người đi tìm cái bất tử này lại thấy rằng đời đáng chán đến nỗi họ không biết làm gì để qua ngày!

Theo Ðức Phật, cái tham về bất tử này là một trong những nguyên nhân của tư tưởng ích kỷ và sợ chết.
Lão Tử, một đạo sư nổi tiếng Trung Hoa nói:

“Ta đau khổ vì ta có thân xác. Nếu ta không có thân thể chất này, làm sao ta có thể đau khổ được?”

Khi bạn nhìn thấy con người đau khổ đến mức nào trên thế giới này, bạn có thể nhìn thấy tình trạng thực sự của đời sống trần thế. Tại sao ta phải chịu đau khổ như vậy? Ai là người chịu trách nhiệm về những đau khổ ấy?

Theo Ðức Phật, mỗi người chúng ta chịu trách nhiệm về khổ đau của chính mình. Một thi nhân nói:

“Con thiêu thân bay vào lửa,
không biết mình sẽ chết.
Con cá nhỏ cắn lưỡi câu,
không biết mình bị nguy hiểm.
Nhưng dù biết rõ hiểm nguy
của những lạc thú tội lỗi trần tục,
ta vẫn bám chặt vào chúng,
Quả thật ta khờ dại đến chừng nào!”

Phật Giáo nhấn mạnh đời người rất ngắn ngủi và ta nên lưu tâm, tích cực hoạt động và lưu ý để được giải thoát.

Trong thi phẩm The Light of Asia, Sir Edwin Arnold đã viết:

“Nếu ai dạy:

– Niết Bàn là sẽ phải ngưng

Hãy nói với họ:

– Nói dối

Nếu ai dạy:

– Niết Bàn là sẽ phải sống

Hãy nói với họ:

– Sai lầm”

Ðịnh nghĩa trên đây đủ cho mọi người hiểu quan niệm đạt Niết Bàn, nơi đau đớn về thể chất và tinh thần không còn nữa, vì Niết Bàn nói lên sự chấm dứt khổ đau. Mục đích của toàn bộ cuộc đời là ngăn chặn, giảm bớt khổ đau và tìm hạnh phúc.

Phải nhớ rằng không ai bắt chúng ta phải làm một hành động đặc biệt nào đó. Không ai phạt hay thưởng chúng ta. Chúng ta có hoàn toàn tự do ý chí và chọn lựa…”…

Trên đây là bài pháp của hòa thượng Dhammananda trích trong cuốn Gems of Buddhist Wisdom, do thượng tọa Thích Tâm Quang dịch ra Việt ngữ.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi nhận được thư nêu thắc mắc về nội dung câu chuyện Thiền trong một kỳ phát thanh trước rằng “Tại sao người con nạn nhân lại có thể tôn kẻ đã giết cha mình lên làm thày”.

Do thắc mắc này, thiết nghĩ, đây cũng là một cơ duyên để chúng ta cùng nhau thảo luận về vấn đề tội lỗi và hình phạt, về nhân quả, báo ứng, về Sám Hối theo quan điểm của nhà Phật.

Để quý thính giả thấu triệt, chúng tôi xin nhắc lại câu chuyện Thiền đã là lý do cho đề tài tìm hiểu Phật pháp kể trên. Câu chuyện Thiền này Vy Khanh trích dịch từ cuốn Collection of Stone and Sand”, xuất hiện vào thế kỷ 13, do thiền sư Muju theo truyền thống Bắc Tông, viết bằng Nhật ngữ, tên là Shasekishu, dịch giả Paul Reps dịch sang Anh Ngữ, nội dung như sau:

“Trong cuộc hành trình tới tỉnh Edo, Zenkai, con trai của một hiệp sĩ Nhật, trở thành người hầu cận của một quan chức cao cấp tại đó. Zenkai ngoại tình với vợ của quan chức này và bị phát hiện. Để tự vệ, hắn ta giết vị quan rồi chạy trốn cùng với người vợ.

Sau này hai người trở thành những tên ăn trộm. Nhưng người đàn bà quá tham lam khiến cho Zenkai càng ngày càng khinh ghét đến phát ghê tởm. Cuối cùng không còn chịu nổi, Zenkai bỏ người đàn bà lại mà đi tới nơi xa, tận tỉnh Buzen, trở thành một người hành khất lang thang.

Để chuộc lại lỗi lầm trong quá khứ, Zenkai quyết tâm hoàn thành một vài việc thiện trong cuộc đời. Biết rằng có một con đường nguy hiểm cheo leo trên vách đá từng là nguyên nhân gây ra tai nạn chết và bị thương cho nhiều người, Zenkai quyết tâm mở một con đường hầm xuyên qua núi tại nơi đó.Ban ngày thì đi xin thực phẩm, ban đêm Zenkai mài miệt đào con đường hầm. Trải qua ba chục năm, con đường hầm dài được 2.280 feet, cao 20 feet và rộng 30 feet.

Hai năm trước khi hoàn tất công trình, người con trai của viên quan mà Zenkai giết khi xưa, nay đã trở thành một kiếm sĩ lão luyện, tìm ra được Zenkai và tới để trả thù nhà. Biết mục đích của khách lạ, Zenkai nói:

– Tôi sẽ sẵn sàng trao mạng sống của tôi cho anh. Chỉ xin hãy để cho tôi làm xong công việc này. Ngay hôm con đường hoàn thành, anh có thể giết tôi.

Người con trai đồng ý đợi tới ngày đó. Nhiều tháng trôi qua, Zenkai cứ miệt mài làm việc. Người con trai càng ngày càng thêm chán nản vì cái cảnh ăn không ngồi rồi, nên bắt đầu phụ giúp công việc đào hầm. Sau khi đã giúp Zenkai trên một năm, anh ta cảm thấy ngưỡng mộ ý chí mãnh liệt và nghị lực của Zenkai.

Cuối cùng thì con đường hầm cũng đào xong và mọi người có thể sử dụng nó để đi lại an toàn. Bây giờ Zenkai mới nói:

– Công việc của tôi đã hoàn tất. Hãy chặt đầu tôi đi.

Với đôi mắt đẫm lệ, người đàn ông trẻ nghẹn ngào:

– Làm sao con có thể cắt đầu vị thầy của chính con được?”

Thưa quý thính giả,

Chủ đề chính của câu chuyên Thiền này là vấn đề tội lỗi, hình phạt và sám hối.

Nhà Phật không quan niệm rằng có quỷ thần hai vai hay một dạng thức thần thánh nào đó từ bên ngoài ghi nhận các việc thiện ác của mỗi người ngõ hầu sau khi chết đương sự sẽ phải tới đâu đó để được phán xét coi sẽ phải chịu hình phạt đầy đọa tại một nơi ghê rợn nào đó, hoặc được hưởng gì theo lệnh ban xuống từ các đấng, các bậc gì đó chăng.

Nhà Phật cho rằng mỗi hành vi tạo tác trong cuộc đời con người ta đều để lại dấu ấn nơi kho chứa của chính mình, đó là Tàng Thức, là một trong tám Thức, theo tâm lý học của đạo Phật. Những dấu ấn đó sẽ trở thành chủng tử, tức là hạt giống, nảy nở thành thiện quả hoặc ác báo trong đời sống tương lai, có thể là tương lai ngay trong cuộc đời này, hoặc trong những kiếp sau, chi phối bởi luật nhân quả.

Như thế đối với nhà Phật, mỗi cá nhân sẽ nhận sự báo ứng tùy theo hành vi thiện ác của mình trong cuộc đời, nếu gây tội ác thì sẽ nhận lãnh quả báo tương xứng với tội ác mình đã gây ra trong quá khứ, nhưng không do một thế lực nào bên ngoài giáng xuống mà do chính sức bật của quy luật nhân quả mà thôi.

Đến đây, chúng tôi xin nhắc quý vị một điều đặc biệt tối quan trọng, đó là vấn đề Tâm của nhà Phật.

Đức Phật là bậc Giác Ngộ. Ngài giác ngộ cái gì? Xin thưa rằng Ngài giác ngộ lại được chính Bản Tâm, điều mà chư Tổ Thiền Tông gọi là Kiến Tánh.

Từ sự giác ngộ, Ngài trực nhận rằng chúng ta trôi lăn vào màng lưới sinh tử này là do một niệm mê từ biển Tâm dấy lên, gọi là khởi niệm huyễn vọng, rồi từ đó tạo Nghiệp, nhận quả báo, dòng đời trôi lăn miên viễn.

Nhưng Chân Tâm vốn là viên mãn, cũng như hoa sen dù mọc trong bùn mà không bị nhuốm mùi bùn. Một niệm Giác Ngộ thì mê vọng tan rã, cũng như người ngủ mê chợt tỉnh, như căn nhà tối hàng ngàn năm, thắp lên ngọn đèn là bóng tối tan biến.

Về điều này, đức Phật đã dạy rõ nơi kinh Viên Giác, hòa thượng Thích Duy Lực dịch như sau:

Huyễn từ bản giác sanh,
Huyễ­n diệt, giác viên mãn.
Bản giác vốn chẳng động,
Như tất cả Bồ Tát,
Và mạt pháp chúng sanh.
Thường nên xa lìa huyễn,
Các huyễn thảy đều lìa,
Như dùi cây lấy lửa,
Cây hết, lửa cũng diệt.

Thưa quý thính giả,

“Cây hết lửa cũng diệt” chính là ý của câu đức Phật nói khi ngài chứng ngộ, được ghi lại trong kinh Trung A Hàm là:

“… Tâm siêu thoát của ta không thể lay chuyển. Ðây là kiếp sống cuối cùng của ta. Từ đây ta sẽ không còn trở thành, không còn tái sanh…”

Trong các cuộc đàm luận Phật pháp, có một câu thường hay được nhắc đến, coi như danh ngôn, đó là “Kẻ cướp buông dao thành Phật”. Vì câu nói quá ngắn gọn, khiến cho một số người hiểu lầm. “Buông dao” trong câu này có hàm ý là buông cái tâm sát nhân, tâm bất thiện, chứ không phải chỉ buông con dao bằng vật chất trong khi tâm còn giữ nguyên những ý niệm xấu ác. Nếu chỉ buông con dao mà tâm ác vẫn còn thì lại có thể cầm kiếm, cầm súng vậy.

Tại các thời kinh của nhà Phật, đều có tụng lên bài kệ:

Tội từ tâm khởi, đem tâm Sám
Tâm được tịnh rồi, tội liền tiêu
Tội tiêu tâm tịnh, thảy đều Không
Ấy mới thật là Chân Sám Hối.

Tội nói ở đây tức là nghiệp báo.

Như bài kinh Viên Giác trên, chúng ta thấy tất cả pháp giới, tội phước, nghiệp báo, đều chỉ là huyễn, đều “Huyễn từ bản giác sanh”, vốn chỉ do nhân duyên giả hợp mà huyễn hiện thành ra như là có. Nghiệp sẽ là nhân chi phối dòng đời, lặn hụp trong biển sinh tử, nghiệp thiện thì hưởng quả thiện, nghiệp ác thì lãnh quả báo ác, như bóng đi theo hình, không thoát được cái vòng lẩn quẩn.

Nếu biết tỉnh ngộ mà theo các đường lối tu hành để chuyển nghiệp, từ xấu chuyển qua tốt, rồi từ tốt chuyển qua thanh tịnh, thì sẽ tiêu dung được nghiệp, ra khỏi dòng sinh tử triền miên.

Sám Hối là một trong những phương pháp tu để chuyển nghiệp. Sám Hối ở đây là “Tâm Sám”, tức là chuyển Ý nghiệp từ những tư tưởng xấu ác thành những tư tưởng lành thiện, rồi tới Thân nghiệp là thực hiện những việc lành thiện đó.

Kẻ sát nhân trong câu chuyện Thiền trên đã thực hiện trọn vẹn chu kỳ chuyển nghiệp. Trước hết là trong thâm tâm, ông ta Sám Hối chuyện ác đã gây ra trong quá khứ, và muốn chuộc tội bằng cách làm việc thiện.
Suốt ba chục năm trường, ông ta cần cù chỉ làm một việc là đào con đường hầm để giúp mọi người thoát tai nạn, cho đến khi con của nạn nhân tới trả thù, đòi chém đầu, ông ta cũng sẵn sàng chết cho anh này tròn bổn phận làm con, muốn báo thù cha, chỉ xin lưu mạng sống một gian ngắn đủ để hoàn tất con đường. Khi con đường đã xong, ông ta bèn nộp mạng. Như vậy, kẻ sát nhân đã buông dao, đồng thời buông luôn tâm ác, đó là trường hợp “Buông dao đồ tể thành Phật”.

Sau một thời gian chứng kiến hành trình chuyển hoá của kẻ sát nhân, trước mắt người con, hình bóng kẻ thù tàn ác đã biến mất, mà chỉ còn lại tấm gương sáng của một bậc thày miệt mài trên con đường bồ tát hạnh, quên mình, hy sinh bản thân vì lợi ích của chúng sinh, cứu chúng sinh khỏi bị tai nạn hiểm nguy trên con đường núi hiểm trở, mà thôi.

Nơi phẩm Bát Nhã, kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng đã dạy:

…”… Thiện tri thức, khi chưa ngộ thì Phật tức chúng sanh, lúc một niệm khai ngộ, chúng sanh tức Phật.”

Tâm chúng sinh thì vô thường, không cố định. Con đường giải thoát của nhà Phật rộng mở thênh thang, bất cứ ai phạm tội mà biết hối cải, chuyển hóa Tâm ác trở thành lành thiện, thì nghiệp dữ cũng theo đó mà hoán chuyển, khi “tâm được tịnh rồi tội liền tiêu.

Bản hoài của đức Đại Giác Bổn Sư Thế Tôn là dạy chúng sinh các pháp môn tu để tới được đích cuối cùng là “Tội tiêu Tâm tịnh thảy đều Không”. Không ở đây là Tánh Không, là Bản Thể Chân Tâm Giác Tánh, là Niết Bàn, là vĩnh viễn giải thoát, là Tận Diệt tất cả Khổ vậy.

Thưa quý thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới. Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 12 – Về ngày Đản Sinh Đức Phật

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý khán thính giả.

Thưa quý khán thính giả,

Chúng tôi nhận được thư của ông Phạm Văn Lâm ở tỉnh Orange gửi về, có kèm theo mấy câu hỏi như sau:

…”… Mỗi mùa Phật Đản hằng năm, tôi đều được nghe giảng tại chùa hoặc đọc trong báo chí về lịch sử chào đời của đức Phật. Có mấy sự kiện rất khó hiểu, nhờ quý vị giải thích giùm:

1 — Sự kiện thái tử Tất Đạt Đa được mẹ sanh ra qua ngả nách.

2 — Mới ra đời, thái tử đã bước bảy bước, có bảy bông sen đỡ dưới chân.

3 —  Sau đó, thái tử đứng lại, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, tuyên bố : ” Thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn”, rồi thái tử nằm xuống, trở về trạng thái đứa trẻ sơ sinh.

Tôi thấy chuyện sinh ra bằng nách rất không hợp lý, không phù hợp với cơ thể học. Mới ra đời đã biết đi, biết nói, chuyện này có vẻ huyền bí quá. Còn câu “duy ngã độc tôn” là để chỉ Chân Ngã phải không ạ ?

Thưa quý thính giả và ông Lâm,

Trước nhất, chúng tôi xin cảm ơn ông Lâm, đã gửi về mấy câu hỏi rất đặc biệt để chúng ta cùng nhau tìm hiểu.

Trong một bài trước, chúng tôi đã trích dẫn lời dạy của thiền sư Soyen Shaku như sau:

…”…đức Phật đã khẳng định rằng những điều Ngài dạy đều không có gì khác thường, chỉ đơn giản là những sự kiện rõ ràng mà ai cũng có thể kiểm chứng. Ngài dạy rằng không phải chân lý được mở ra cho chúng ta từ những nguồn xa lạ, bí hiểm, mà do chính chúng ta tự khám phá qua công năng hành trì thiền quán, thanh tịnh hóa tâm, điều mà bất cứ ai cũng có thể thực hiện được.

Ngài cũng nhắc chúng ta rằng niềm tin đạo Phật không phải là mê tín mà là nhận định sáng suốt, niềm tin đó là chân lý đã được thực nghiệm, kiểm chứng, chứ không phải là niềm tin từ một nguồn giả tưởng nào đó do được mặc khải.

Phải chăng đó chính là nguyên nhân đã kết thành hoa trái là lòng khoan dung, từ bi, bất bạo động của nhà Phật….”…

Trên đây là ý kiến của thiền sư Soyen Shaku.

Đức Phật cũng dạy chúng ta trong bài kinh Kamala đại ý rằng:

“- Đừng vội tin vào bất cứ điều gì chỉ vì đã nghe thấy.

– Đừng vội tin vào các truyền thống chỉ vì chúng đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

– Đừng vội tin vào bất cứ điều gì chỉ vì nó được nhiều người nói tới hoặc đồn đại.

– Đừng vội tin vào bất cứ điều gì chỉ vì nó được tìm thấy trong các sách vở.

– Đừng vội tin vào bất cứ điều gì chỉ vì nó được các bậc đạo sư hay các vị trưởng lão dạy bảo.”

– Nhưng sau khi quán sát và phân tích, khi đã thấy mọi thứ hợp với lẽ phải và đem lại lợi ích cho mọi người, thì hãy chấp nhận nó và sống phù hợp theo nó.”

Trong tinh thần đó, chúng ta tìm lời giải đáp cho ba câu hỏi trên của ông Lâm. Trước nhất, chúng ta mang câu chuyện trở về thời điểm được cho là nó đã xảy ra, là ngày chào đời của thái tử Tất Đạt Đa.

Nhưng thái tử chào đời ngày nào?

Đó là một câu hỏi mà cho tới nay vẫn chưa có câu trả lời chính xác.

Có sử liệu viết rằng:

….”…. Không có tài liệu chính xác về ngày sinh của thái tử Tất Đạt Đa và ngày nhập niết bàn của đức Phật. Phần đông sử gia thuộc cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 thì cho rằng thái tử chào đời vào khoảng năm 563 trước tây lịch và đức Phật nhập niết bàn vào khoảng năm 483 trước tây lịch. Nhưng gần đây, nhiều nhà sử học cho rằng ngài nhập niết bàn vào khoảng năm 410 hoặc 400 trước tây lịch, mặc dầu vẫn còn có những người giữ lập trường về ngày nhập niết bàn sớm trong khi những người khác thì cho là ngày trễ mới đúng. . 

Và có tài liệu viết rằng:

…”… Vào ngày trăng tròn tháng Tư năm 625 trước tây lịch, thái tử Tất Đạt Đa ra đời tại vườn Lâm Tì Ni. Ngay sau khi ra khỏi lòng mẹ, thái tử  bước 7 bước, mỗi bước có một bông sen đỡ lấy bàn chân …”…

Trong bài “Tìm hiểu ngày sanh của Đức Phật Thích Ca”, tác giả Nguyễn Phúc Bửu Tập đã viết:

… “ …truy tầm năm sanh của đức Phật rất khó, chưa ai tìm ra được dữ kiện chính xác, khó chối cãi, về năm sanh của đức Thích Ca. Về ngày sanh của đức Phật cũng vậy, chỉ dựa trên truyền thống…”….

Thưa quý thính giả,

Như thế, ngày hoặc năm sanh của đức Phật mà cũng không còn tìm ra được tài liệu chính xác, vậy thì những chuyện như “ra đời từ nách mẹ”, hoặc “mới sanh đã đi 7 bước”, hoặc ”mới sanh đã nói”, vân vân, chưa chắc gì trong thực tế đã từng xảy ra.

Nhà Phật có câu rằng:

“Kinh sách như ngón tay chỉ trăng, thấy trăng rồi thì quên ngón tay đi. Nếu coi ngón tay là mặt trăng là nhận lầm cả ngón tay và mặt trăng, không còn thấy được Chân Lý.

Trong cuốn Hé Mở Cửa Giải Thoát, hòa thượng Thích Thanh Từ dạy:

…“…Có một Phật tử hỏi chúng tôi rằng người xưa nói: “Y kinh giải nghĩa tam thế Phật oan, ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết”. Tại sao y kinh giải nghĩa mà oan ba đời chư Phật? Tại sao lìa kinh một chữ tức đồng ma nói? Ðây chúng tôi sẽ giải thích cho quý vị thấy rõ ý nghĩa của kinh điển đại thừa.

Kinh là lời của Phật, trong lời của Phật có khi Ngài nói trắng ra, có khi Ngài nói ẩn dụ, như vậy những chỗ Phật dạy ở trong ẩn dụ, nếu chúng ta giải trắng như những lời thường, đó là y kinh giải nghĩa, tam thế Phật oan.

Thí dụ như trong kinh Pháp Hoa, Phẩm Phổ Môn, là phẩm quý vị thường tụng nhất. Trong phẩm Phổ Môn có đoạn sau đây nói rằng: “Nếu có người cầu con trai, niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, sanh được con trai. Người muốn cầu sinh con gái, niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát sinh được con gái. Cho đến người niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát thì vào lửa không bị cháy, xuống nước không bị chìm”.

Như quý vị tu hành dạy các Phật tử cũng dạy như vậy, có phải không? thấy kinh Phật nói chúng ta cũng theo như vậy. Giả sử có người hỏi: Thưa quý cô tụng kinh như vậy mà cô tin kinh hay không? quý cô sẽ trả lời ra sao? Nếu tụng kinh không tin thì tụng kinh làm chi? Nếu bảo rằng: Tin, thì xin quý cô niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát cho chí thành mà vào lửa bị cháy, xuống nước bị chìm, chẳng lẽ lời Phật không phải là lời vàng ngọc, không phải là chơn lý hay sao? Rồi chúng ta trả lời ra làm sao?

Có cô Phật tử đến hỏi chúng tôi: Cô được một người bạn khuyên tụng kinh Phổ Môn niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát để cầu con trai, cô làm theo lời bạn, nhưng đến lúc sanh ra lại là con gái. Cô mới hỏi bạn: “Vậy kinh có linh không?” cô bạn không có lời để đáp lại. Tin và hiểu kinh Phổ Môn như vậy là thiếu thực tế.

Thường trong kinh điển đại thừa, khi nói đến các vị Bồ Tát là nói đến đặc tính tượng trưng của các vị: Như nói đến Ðức Quán Thế Âm  là nói đến nhĩ căn là tai, nói đến Ngài Văn Thù Bồ Tát là nói đến nhãn căn là mắt, …vân vân …

Chúng ta phải hiểu rõ tinh thần tượng trưng nầy. Cho nên niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát tức là nhìn lại Tánh Nghe của mình, chớ không chạy ra bên ngoài. Khi nhìn lại Tánh Nghe của mình, thấy nó không tướng mạo thì làm sao lửa đốt cháy được, làm sao nước đắm chìm được?

Và khi mình sống được với Tánh Nghe thì mọi việc sẽ được như ý. Nên nói rằng cầu con trai được con trai, cầu con gái được con gái, đó là tượng trưng cho mọi việc như ý. Nhìn lại Tánh Nghe của mình ví như mình được hòn ngọc Ma Ni bảo châu tức là hòn ngọc như ý. Nghĩa là được toại nguyện, được như ý và được diễn tả bằng: “Cầu cái gì được cái nấy”. Hiểu kinh như vậy, chúng ta mới thấy lời Phật là đúng, là chơn thật..

Kế đây, tôi xin nói đến câu “Ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết”. Giả sử có người nói với quý vị: Người nào trì kinh Pháp Hoa thì cỏ cây tươi tốt, người nào trì kinh Kim Cang thì cỏ cây héo sào, người nói như vậy quý vị có tin chăng? Quý vị thấy rõ ràng những chỗ nói mà không căn cứ vào kinh, mà chúng ta lại tin, đó là đồng ma thuyết…”….

Không riêng hòa thượng Thanh Từ, hòa thượng Tịnh Không, một bậc cao tăng Trung quốc thời hiện đại, chuyên hoằng pháp môn Tịnh Độ, cũng dạy rằng:

…”… Chúng ta thường nghe câu nói sau đây: Nhà Phật thường nói “y văn giải tự, tam thế Phật oan” nghĩa là y theo câu văn hiểu nghĩa theo mặt chữ, thì ba đời Phật bị oan. Cứ chiếu theo văn tự để nghiên cứu, giải thích thì tam thế chư Phật là quá khứ Phật, hiện tại Phật, vị lai Phật đều kêu oan uổng, quý vị hiểu lầm ý Phật mất rồi!

Trong bài kệ Khai Kinh có câu “nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa”, tôi nói con người hiện tại hiểu sai lệch, nên trở thành “khúc giải Như Lai chân thật nghĩa” tức là hiểu cong vạy ý nghĩa chân thật của Như Lai, hoặc “ngộ giải Như Lai chân thật nghĩa” là  hiểu lầm lạc ý nghĩa chân thật của Như Lai.

Quý vị xem: Có phải là Như Lai kêu “oan uổng” hay không?  Học Phật pháp phải quy về tự tánh, điều này khẩn yếu lắm. Nói cách khác, giúp cho chúng ta đạt được tâm thanh tịnh, giúp chúng ta mở mang trí huệ, đấy chính là Phật pháp. ….”…

Thưa quý thính giả,

Như thế, quý vị Đạo Sư đã căn dặn chúng ta phải hiểu rõ nghĩa của lời Phật dạy. Chúng ta cũng cần nhớ rằng Phật nói kinh là để trị bệnh tâm cho chúng sinh, lời trong kinh sách cũng là đức Phật tùy bệnh tâm chúng sinh mà cho thuốc, chúng sinh nhiều tâm bệnh khác nhau thì cần nhiều pháp trị khác nhau, nhiều lời kinh với vô lượng nghĩa khác nhau, chứ không phải chỉ có một loại thuốc mà thôi.

Kinh Phật lại có những câu chuyện huyền ký với ý tứ tiềm ẩn, thí dụ mục đích đức Phật nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa là để khai thị cho chúng sinh ngộ nhập Tri Kiến Phật, nghĩa là dạy cho chúng sinh thấu triệt được rằng mọi người đều có Phật Tánh, bởi vì trước khi Phật nói kinh Pháp Hoa thì mọi người chưa biết đến Tri Kiến Phật, tức là Chân Tâm, Phật Tánh, Giác Tánh.

Vì kinh Pháp Hoa dạy về Phật Tánh, cho nên trong kinh có những câu như « vào nước không chìm », vào lửa không cháy », « đốt thân cháy lâu tới một ngàn hai trăm năm », « đốt cánh tay mãn bảy muôn hai ngàn năm »  vân vân, đều là những ẩn dụ để nói về Chân Tâm bất sanh bất diệt, vào nước không chìm vào lửa không cháy mà thôi. Nếu lại dùng tâm chấp chặt của thế gian mà cho rằng những điều trên đã có xảy ra thật, tin rằng nhảy xuống biển sẽ không chìm, bước vào lửa sẽ không cháy, thì rõ ràng là không thông hiểu quy luật của vật chất, không thể có cái xác nào cháy lâu tới 1,200 năm hoặc cánh tay cháy lâu tới bảy muôn hai ngàn năm.

Trong tinh thần đó, chúng ta thử tìm giải đáp cho  ba câu hỏi kể trên :

Câu hỏi thứ nhất :

— Sự kiện thái tử Tất Đạt Đa được mẹ sanh ra qua ngả nách.

Xin trả lời:

— Có thể coi như do hoàn cảnh tâm lý của dân chúng nước Ấn Độ vào thời đó và do lòng kính trọng đức Phật mà họ thần thánh hóa Ngài, cho là một vị giáo chủ không thể giống người bình thường, phải có những đặc điểm khác lạ, siêu nhân, nên qua truyền khẩu một thời gian dài mà nảy sinh ra những câu chuyện xa thực tế như vậy. Rồi nhiều năm tháng trôi qua, lời đồn đại truyền khẩu ngày càng lan rộng, trở thành giống như là sự thực.

Câu hỏi thứ hai:

— Mới ra đời, thái tử đã bước bảy bước, có bảy bông sen đỡ dưới chân.

Xin trả lời:

— Câu này có thể là một ẩn dụ, dùng sự kiện thái tử mới ra đời để trình bày quá trình hình thành loài người. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đã phân tích cặn kẽ về 7 thành tố tạo nên con người, gọi là 7 Đại gồm:

Một là chất cứng, thuật ngữ nhà Phật gọi là Địa Đại, tạo thành thịt da xương cốt, vân vân..

Hai là chất lỏng, nhà Phật gọi là Thủy Đại, tạo thành máu huyết, nước mắt, nước tiểu, vân vân…

Ba là chất hơi, nhà Phật gọi là Phong Đại, tạo thành hơi thở, vân vân…

Bốn là chất nóng, nhà Phật gọi là Hỏa Đại, tạo thành sự ấm áp của cơ thể, vân vân..

Năm là khoảng trống rỗng, thí dụ những mô xốp, lỗ tai, cuống họng, nhà Phật gọi là Không Đại, tạo thành những khoảng trống để cơ thể hoạt động …

Sáu là sự thấy biết thuần túy, không phân biệt, thấy chỉ là thấy, tùy duyên ứng dụng, thí dụ ở mắt thì nhìn, ở tai thì nghe, nhà Phật gọi là Kiến Đại, cũng gọi là “Tánh Thấy”.

Bảy là sự phân biệt đối tượng, duyên theo các căn mà nhận thức, suy lường hay dở tốt xấu trong đời sống, nhà Phật gọi là Thức Đại.

Như thế, bảy bước chân tượng trưng cho bảy Đại, là căn bản của đời sống con người.

Nói về bông sen đỡ dưới chân, trước hết chúng tôi xin nhắc với quý thính giả rằng nhà Phật dùng hoa sen để tượng trưng cho Chân Tâm, Phật Tánh, với hàm ý hoa sen mọc lên từ bùn nhơ mà vẫn thanh khiết cũng như Phật Tánh vốn ngay tại nơi con người mà không bị ô nhiễm, dù con người mang những niệm xấu ác trong tâm.

Tổng kết lại ý nghĩa 7 bước chân đều có hoa sen hứng là bởi vì hoa sen tượng trưng cho Chân Tâm, mà Chân Tâm vốn khắp không gian và thời gian, nên tất cả các Đại cũng vẫn ở trong Chân Tâm mà thôi.

Câu hỏi thứ ba:

— Sau đó, thái tử đứng lại, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, tuyên bố : ” Thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn”, rồi thái tử nằm xuống, trở về trạng thái đứa trẻ sơ sinh.

Xin trả lời:

— Giáo lý nhà Phật đều nằm trong khuôn khổ của Tam Pháp Ấn, nghĩa là ba dấu ấn của chánh pháp, gồm có Vô Thường, Khổ và Vô Ngã hoặc Chư Hành Vô Thường, Chư Pháp Vô Ngã, Niết Bàn Tịch Tĩnh, câu nào cũng hàm chứa Vô Ngã.

Do đó, nếu cho rằng đức Phật thị hiện qua hình thức thái tử sơ sinh để ra tuyên ngôn báo hiệu sau này tự mình sẽ thành bậc cao quý độc nhất trên đời bằng câu “duy ngã độc tôn” thì mâu thuẫn với giáo lý giải thoát mà đức Phật dạy chúng sinh sau này.

Còn như nếu cho rằng ngã đây là Chân Ngã thì đã không thấu triệt mục đích của đức Phật khi truyền dạy đạo Giải Thoát. Chữ Chân Ngã trong nhà Phật chỉ được tạm dùng để phá chấp không.

Trong bình diện tương đối mà nói rằng có một cái thường hằng là Chân Ngã tức là chấp Có, sẽ lọt vào trường hợp Đại Ngã, Tiểu Ngã của giáo lý Bà La Môn và  Ấn Độ giáo.

Trong cuốn luận Trung Quán, luận sư Long Thọ đã nêu rõ quan điểm của nhà Phật về Chân Lý là “bất dị nhưng cũng bất nhất” (không phải là khác nhưng cũng không phải là một, như tình trạng Tiểu Ngã nhập vào Đại Ngã, nghĩa là không thuộc bình diện tương đối), vượt ra ngoài các phạm trù “Có” hoặc “Không”, tạm gọi là tuyệt đối, không thể gán vào một nghĩa cố định.

Cho nên đức Phật đã nói: “Phàm lời nói đều không có nghĩa thật”.

“Nghĩa thật” tức là nghĩa tuyệt đối. Lời nói là quy ước của thế giới tương đối, không thể nói về Chân Lý Tuyệt Đối, về Chân Tâm, Phật Tánh, Buddha Mind,  True Mind, vân …vân. Muốn tới được cảnh giới này, cảnh giới “ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt”, nghĩa là “đường ngôn ngữ đứt, nơi tâm suy nghĩ ngưng bặt”, thì phải thanh tịnh hoá tâm, phải tu chứng.

Kinh Viên Giác đã nói:

“Nếu đem tâm sinh diệt mà nói về Viên Giác thì Viên Giác cũng thành luân hồi”.

Con đường hành trì giáo pháp mà đức Phật mở ra cho chúng sinh để tiến tới từ bi, bình đẳng, giải thoát, là con đường rực rỡ như ánh sáng từ mặt trời.

Nếu chúng ta tích cực hành trì theo lời Phật dạy, thì tâm chúng ta sẽ chuyển hóa một cách mầu nhiệm, không cần phải có sự hỗ trợ bằng những câu chuyện mơ hồ, huyền bí, tưởng như là đề cao đức Phật, nhưng thực tế là làm giảm bớt mất tinh thần trong sáng cao quý của đạo Phật.

Thưa quý thính giả,

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 11 – Trưởng tử Như Lai – Đạo Sư

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý khán thính giả,

Sau bài nói về Tu viện Shasta, về Ni Sư Jiyu Kennett và môn phái thiền Tào Động tại Mỹ, chúng tôi nhận được thư quý khán thính giả gửi về hỏi thêm chi tiết về tu viện Shasta để có thể tới tham dự một kỳ tĩnh tâm (retreat). Vì thế, chúng tôi xin trình bày thêm như sau:

Tu viện được thiết lập trên sườn núi Shasta, cực Bắc của tiểu bang California, tại tỉnh Mount Shasta, cách San Jose, California  300 miles và cách Orange County, Califonia 630 miles.

Nếu quý khán thính giả muốn liên lạc với tu viện bằng thư tín, xin theo địa chỉ:

Shasta Abbey
Attn: Guest Master,
3724 Summit Drive,
Mt. Shasta, CA96067

Hoặc bằng điện thoại số : (530) 926-4208;

Fax số  (530) 926-0428.

Địa chỉ  E-mail: shastaabbey@obcon.org

Nếu quý vị sử dụng computer, xin vào webpage:

www.obcon.org

Kính thưa quý vị,

Như chúng tôi đã trình bày với quý vị, rằng suốt thời gian trên bốn chục năm ròng rã thân hành đi khắp gần xa để truyền dạy, những lời vàng ngọc của đức Phật đã được chư đệ tử nhập tâm, các vị này lại truyền xuống cho đệ tử, rồi được tuyên đọc trong các kỳ kết tập kinh điển, tổng hợp thành tạng Kinh, là một trong Tam Tạng, thì nhiều vô số kể. Tuy nhiên, cốt tủy tất cả những lời dạy đó được đức Phật tóm tắt bằng tuyên ngôn:

– “Này chư Tỳ kheo, bây giờ cũng như trước đây, Như Lai chỉ dạy về “Khổ” và về  “Con Đường Diệt Khổ”.

Tuyên ngôn này rút ra từ Bốn Chân Lý Thâm Diệu mà ngài đã Chứng Ngộ, đó là :

– Thứ nhất là Chân Lý về Khổ (Khổ Đế)

– Thứ hai là Chân Lý về nguồn gốc của Khổ (Tập Đế)

– Thứ ba là Chân Lý về sự Diệt Khổ (Diệt Đế)

– Thứ tư là Chân Lý về Con Đường đưa đến sự Tận Diệt Khổ (Đạo Đế)

Bốn Chân Lý này tức là Tứ Diệu Đế  ( Đế nghĩa là Chân Lý).

Có người mới nghe nửa câu nói của đức Phật “chỉ dạy về Khổ” thì cho là quan điểm của nhà Phật về cuộc đời rất bi quan, tiêu cực. Nhưng nếu nghe thêm phần sau Ngài nói “và dạy Con Đường Diệt Khổ”, thì sẽ thấy ngay rằng đức Phật rất tích cực muốn cải thiện đời sống để mọi người được hết khổ.

Hành trang trên “Con Đường Diệt Khổ” có 37 phẩm trợ đạo, là những bài phân tích chi tiết cần thiết để giúp hành giả thực hiện thành công trên con đường giác ngộ. Đại cương, có thể thu gọn trong bài kệ:

“Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành.”

Noi theo gương đức Phật, các vị Sứ Giả Như Lai là chư Tăng Ni dùng đời sống của mình để tu hành tới giác ngộ giải thoát, đồng thời trong khi tu tập, quý vị Tăng Ni cũng dẫn dắt chúng sinh bằng cách giảng giải lại cho Phật tử hiểu thấu đáo những lời đức Phật dạy.

Đến đây, chúng tôi xin được trình bày thêm về ý nghĩa của một vài từ ngữ trong nhà Phật, thí dụ chữ Sư.

Thưa quý khán thính giả,

Thật ra thì chữ Sư vốn rất dễ hiểu, chúng ta thường dùng hằng ngày, ai cũng biết sư tức là thày. Sở dĩ phải trình bày cho rõ vì từ Sư trong nhà Phật đã bị  hiểu lầm.

Chữ Sư – nghĩa là thày — trong nhà Phật rất cao quý.

Mục tiêu của đạo Phật là giác ngộ giải thoát. Thời Phật còn tại thế, Ngài thân hành dạy chư đệ tử đường lối tu hành để giác ngộ giải thoát ra khỏi vòng sinh tử luân hồi. Nhưng Ngài không thể dạy tất cả thế gian và thông suốt ba thời là quá khư, hiện tại và tương lai, cho nên Ngài đã ủy thác cho chư đệ tử tiếp nối con đường của Ngài để soi sáng cho chúng sinh sau này. Vì thế, các vị Sư trong nhà Phật được tôn là Trưởng Tử Như Lai, là con lớn của đức Phật — với ý nghĩa về mặt tinh thần – có nhiệm vụ dìu dắt các em ra khỏi bến mê.

Trưởng Tử Như Lai là người noi theo gương giáo hóa chúng sinh của đức Phật, làm công việc đức Phật ủy thác, là Đạo Sư. Cho nên chúng tôi đã thưa rằng từ ngữ Sư trong nhà Phật rất cao quý. Sư là Thày dạy đạo, đưa chúng sinh ra khỏi biển khổ sinh tử, chấm dứt trôi nổi trong vòng luân hồi. Vì sứ mạng cao quý như thế cho nên trong đạo Phật, địa vị của Tăng Ni được coi rất trọng. Nhiệm vụ của Phật tử, gọi là cận sự, tức cư sĩ, là phải cung kính cúng dường chư Tăng Ni  4 món cần thiết trong đời sống, gọi là “Tứ sự cúng dường” gồm y phục, thực phẩm, nơi ở và thuốc men.

Tại sao lại phải đặc biệt cung kính khi cúng dường?

Đó là để tỏ rõ lòng tôn kính vị Sư, bậc Thày dẫn dắt ra khỏi bến mê, bước lên bờ giác, chấm dứt mọi nỗi đau khổ. Cho nên đôi khi chúng ta trông thấy trong những buổi lễ dâng y, hoặc trai tăng, thí chủ dâng lễ vật đồng thời còn xụp lạy những Tăng Ni thọ nhận, cũng là vì theo truyền thống cung kính cúng dường.

Nhiệm vụ của Tăng Ni thì cao quý và được Phật tử tôn trọng như thế. Vậy thì, nếu có người tu hành nào đã nhận trọng trách làm Trưởng Tử Như Lai, đã nguyện giữ những giới răn, đã khoác tấm y giải thoát của nhà Phật mà không làm tròn nhiệm vụ Đạo Sư, lợi dụng sự được cung kính tôn trọng để thủ lợi, hoặc không thực hành đúng Chánh Pháp, thì đó là họ đã đi sai đường, mắc vào tội “lạm nhận cung kính” vì bản thân không xứng đáng nhận sự lễ lạy, cung kính, và “hư tiêu tín thí”, vì bản thân không thực hành nhiệm vụ cao quý, nên coi như phí phạm phẩm vật cúng dường của thí chủ.

Chúng ta nên sáng suốt nhận định, chỉ cung kính cúng dường quý vị Tăng Ni giới đức trang nghiêm và thực hiện nhiệm vụ Đạo Sư cao quý mà thôi.

Thưa quý khán thính giả,

Để có thêm tài liệu về “Con Đường Diệt Khổ”, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một bài pháp trích trong cuốn “Mind, Overcoming its Cankers”, tác giả là hòa thượng Acharya Buddharakkhita, tỳ khưu Pháp Thông dịch ra Việt ngữ.

Hòa thượng Acharya Buddarakkhita là một bậc đạo sư danh tiếng trong truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy, chủ tịch sáng lập hội Maha Bodhi Society tại Ấn Độ. Trước khi xuất gia, vào thời gian Thế Chiến Thứ Hai, ngài là một kỹ sư phục vụ tại bộ Quốc Phòng. Do mắt thấy những sự tàn phá, đau đớn, chết chóc kinh hoàng của chiến tranh, tâm tư ngài bị chấn động, cảm thấy muốn tìm về con đường tâm linh. Rời bỏ chức vụ kỹ sư, ngài trở thành nhà sư Phật giáo, tận lực nghiên cứu Phạn ngữ và hành trì thiền tập với thiền sư danh tiếng Mahasi Sayadaw tại Miến Điện. Ngài từng dạy Phật pháp tại trường Phật học Nalanda, viết nhiều sách luận giải và dịch kinh sách từ tạng Pali qua tiếng Anh, được xuất bản tại nhiều quốc gia trên thế giới, trong số đó có những cuốn được nhiều người biết như The Dhammapada – The Buddha’s Path of  Wisdom. Ngoài ra  còn các cuốn quan trọng như  ‘The Living Legacy of the Buddha”, “’Mind, Overcoming its Cankers” và “Karma and Rebirth”.

Ngài là một học giả đồng thời là hành giả, đem tất cả cuộc đời cống hiến cho sự nghiệp giác ngộ giải thoát mình và dìu dắt người khác cùng đi, chỉ đạo cho lớp tu sĩ trẻ bước trên con đường giác ngộ bằng thiền quán cùng lúc với chính bản thân tận lực hành trì.

Sau đây là nội dung bài pháp của hòa thượng Acharya Buddharakkhita:

“Người ta thường cho rằng vấn đề tốt và xấu chỉ là khái niệm phỏng chừng, rằng trong thực tế, cái gọi là tốt hay xấu ấy không hiện hữu. Hay nói cách khác, phải – trái, tốt – xấu, là những khái niệm có giá trị quy ước chứ không có sự đồng ý tuyệt đối.

Không gì có thể vượt ra ngoài sự thực. Vì, nếu không có những thực chất tốt và xấu như vậy trong ý nghĩa tuyệt đối, ắt hẳn sẽ không có những vấn đề như khổ đau và hạnh phúc, nghèo và giàu, đẹp và xấu, bịnh hoạn và khoẻ mạnh trong thế gian này. Những bất bình đẳng mà người ta thấy trong cuộc đời, chỉ nhằm diễn đạt cái sự thực về vấn đề nhân quả được gọi là nghiệp trong đạo Phật mà thôi. Và đạo đức học chính là ngành khoa học nghiên cứu về thiện – ác, tốt – xấu này.

Ðức Phật rất thẳng thắn về điểm này. Ngài loại bỏ tất cả mọi tư tưởng mơ hồ và mâu thuẫn về những vấn đề liên quan đến luân lý, được xem là rất thịnh hành trong thời đại của Ngài. Ngài nhấn mạnh rằng có hai con đường hoàn toàn rõ rệt và đối nghịch lẫn nhau — hắc đạo và bạch đạo.

Ðây không phải là những con đường phỏng chừng, cũng không phải là những khái niệm hay qui ước đơn thuần. Nó là những sự thực, chúng hiện hữu trong thực tại như những thế lực thiện và bất thiện, như những pháp công đức và phi công đức biểu thị ra bằng hạnh phúc và khổ đau, bằng tiến bộ và thoái bộ.

Trong một câu kệ Pháp Cú ý vị, đức Phật với thái độ hết sức rõ ràng đã chỉ ra:

“Bậc trí bỏ pháp đen
Tu tập pháp thuần trắng.”

Khi người ta hiểu một cách chân chánh và đầy đủ rằng luân lý và đạo đức đề cập đến những giá trị và những pháp tuyệt đối, và những vấn đề như phải – trái, thiện – bất thiện, đen – trắng, công đức và phi công đức không phải là những chuyện hư cấu mà là những điều kiện thực tế, chỉ khi ấy họ mới có thể hiểu được tâm và vận hành của nó. Vì những lực đối nghịch này xuất phát từ tâm. Chúng do tâm tạo, như đã được xác định rõ trong hai bài kệ đầu tiên của kinh Pháp Cú :

“Ý  dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ, ý tạo.
Nếu với ý bất tịnh,
Nói lên, hay hành động,
Khổ não liền theo sau,
Như xe, chân vật kéo.”

“Ý dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ, ý tạo.
Nếu với ý thanh tịnh
Nói lên, hay hành động,
An lạc liền theo sau
Như bóng, không rời hình.”

Như vậy, chỉ sau khi khởi lên trong tâm rồi chúng mới kết tinh lại như hai mô thức tác nghiệp rõ rệt mà trong Phật Giáo gọi là thiện nghiệp đạo và bất thiện nghiệp đạo. Chính vì vấn đề này mà tất cả mọi cố gắng trong đời phạm hạnh đều nhắm vào việc thành tựu sự toàn bích, một mặt bắt đầu với việc từ bỏ những pháp đen là bất thiện pháp và mặt khác với sự tu tập các pháp trắng là thiện pháp.

Tại sao? Bởi vì các pháp đen là nơi những điều xấu xa, ô nhiễm, mê lầm trú ngụ, ẩn nấp và che giấu. Và trong pháp trắng hàm chứa các pháp dẫn đến Giác Ngộ. Hắc đạo nuôi dưỡng các pháp ác, trong khi bạch đạo là sự báo hiệu điềm lành. Bất thiện pháp báo trước những bất hạnh và khổ đau, trong khi thiện pháp là chỗ chứa của hạnh phúc. Hắc đạo là nơi lai vãng của những rối loạn và bạch đạo là nơi cư trú của an lạc. Còn rất nhiều hình ảnh khác có thể được thêm vào, nhưng ở đây như vậy đã tương đối đủ để hiểu thế nào là hắc và bạch.

Ngoài việc là hang ổ của các ô nhiễm, mê lầm, hắc pháp còn báo trước những điềm xấu dưới dạng đáng ngại hơn. Vì trong bóng tối luôn luôn mai phục những điều bất tường, đặc biệt đe dọa đến đời phạm hạnh. Những điều bất tường ấy được gọi là những pháp gây nguy hại đến đời phạm hạnh. Về cơ bản, chúng là các điều xấu ác dưới dạng ngủ ngầm, là tai họa tiềm tàng”.

Thưa quý khán thính giả,

Trên đây là bài pháp của hòa thượng Acharya Buddharakkhita, thuộc truyền thống Nguyên Thủy. Ngài dạy rất rõ ràng, phân biệt minh bạch thiện và ác.

Để sự tìm hiểu Phật pháp thêm phần phong phú, chúng tôi xin kính gửi tới quý khán thính giả một câu chuyện Thiền, trích dịch từ cuốn Collection of Stone and Sand”, xuất hiện vào thế kỷ 13, do thiền sư Muju theo truyền thống Bắc Tông, viết bằng Nhật ngữ, tên là Shasekishu, dịch giả Paul Reps dịch sang Anh Ngữ. Câu chuyện như sau:

“Trong cuộc hành trình tới tỉnh Edo, Zenkai, con trai của một hiệp sĩ Nhật, trở thành người hầu cận của một quan chức cao cấp tại đó.  Zenkai ngoại tình với vợ của quan chức này và bị phát hiện. Để tự vệ, hắn ta giết vị quan rồi chạy trốn cùng với  người vợ.

Sau này hai người trở thành những tên ăn trộm. Nhưng người đàn bà quá tham lam khiến cho Zenkai càng ngày càng khinh ghét đến phát ghê tởm. Cuối cùng không còn chịu nổi, Zenkai bỏ người đàn bà lại mà đi tới nơi xa, tận tỉnh Buzen, trở thành một người hành khất lang thang.

Để chuộc lại lỗi lầm trong quá khứ, Zenkai quyết tâm hoàn thành một vài việc thiện trong cuộc đời. Biết rằng có một con đường nguy hiểm cheo leo trên vách đá từng là nguyên nhân gây ra tai nạn chết và bị thương cho nhiều người, Zenkai quyết tâm mở một con đường hầm xuyên qua núi tại nơi đó.

Ban ngày thì đi xin thực phẩm, ban đêm Zenkai mài miệt đào con đường hầm. Trải qua ba chục năm, con đường hầm dài được 2.280 feet, cao 20 feet và rộng 30 feet.

Hai năm trước khi hoàn tất công trình, người con trai của viên quan mà Zenkai giết khi xưa, nay đã trở thành một kiếm sĩ lão luyện, tìm ra được Zenkai và tới để trả thù nhà. Biết được mục đích của khách lạ, Zenkai nói:

– Tôi sẽ sẵn sàng trao mạng sống của tôi cho anh. Chỉ xin hãy để cho tôi làm xong công việc này. Ngay hôm con đường hoàn thành, anh có thể giết tôi.

Người con trai đồng ý đợi tới ngày đó. Nhiều tháng trôi qua, Zenkai cứ miệt mài làm việc. Người con trai càng ngày càng thêm chán nản vì cái cảnh ăn không ngồi rồi, nên bắt đầu phụ giúp công việc đào hầm. Sau khi đã giúp Zenkai trên một năm, anh ta cảm thấy ngưỡng mộ ý chí mãnh liệt và nghị lực của Zenkai.

Cuối cùng thì con đường hầm cũng đào xong và mọi người có thể sử dụng nó để đi lại an toàn. Bây giờ Zenkai mới nói:

– Công việc của tôi đã hoàn tất. Hãy chặt đầu tôi đi.

Với đôi mắt đẫm lệ, người đàn ông trẻ  nghẹn ngào:

– Làm sao con có thể cắt đầu vị thầy của chính con được?”

Thưa quý khán thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý khán thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý vị một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Tuệ Đăng

Bài 10 – Tu viện Shasta và Ni Sư Jiyu-Kennett

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                           Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý khán, thính giả,

Trong một kỳ trước, chúng tôi đã trình quý vị câu hỏi của vị thính, hỏi rằng:

— Vậy thì, làm thế nào để có  thể  “tự thanh tịnh tâm ý?

Hôm nay, chúng tôi xin giới thiệu với quý vị một bậc nữ lưu, người đã tận tụy một đời tu và học ở đất nước xa xôi, để có đủ khả năng truyền dạy lại cho người đời phương pháp “tự thanh tịnh tâm ý”, đồng thời tạo dựng những cơ sở vật chất để mọi người có phương tiện tới tu học. Đó là ni sư Jiyu-Kennett, nữ thiền sư môn phái Tào Động Nhật Bản, đồng thời là người sáng lập The Order of Buddhist Contemplatives, mà hai nơi tu tập chính là tu viện Shasta tại Hoa Kỳ và tu viện Throssel Hole tại Anh Quốc.

Ni sư ra đời tại Anh Quốc vào ngày Tết dương lịch năm 1924, con út và là con gái độc nhất của một cuộc hôn nhân không hạnh phúc, gia đình theo Anh Giáo, tên thánh là Peggy Teresa Nancy. Thiếu thời, cô Peggy được học bổng để học âm nhạc, đậu bằng cử nhân tại University of Durham về đàn organ và hòa âm.

Tiếp cận đầu tiên của Peggy với đạo Phật là cuốn The Light of Asia trong tủ sách của thân phụ và một pho tượng Phật, chẳng biết vì lý do gì được đặt gọn gàng trên bệ lò sưởi tại phòng họp của ngôi trường đầu tiên mà cô bé tới học. Pho tượng này đã đem lại niềm an ủi cho Peggy về những nỗi buồn bã cô đơn tại gia đình và trường học. Dù mới chỉ là một em bé gái nhỏ, mỗi khi nhìn thấy vị sư trong tấm y tu hành thong thả bước trên đường phố, là cô bé lại nói với mẹ rằng cô muốn khi lớn lên sẽ thành một nhà sư như thế.

Vào năm 1939, thế chiến thứ 2 bùng nổ, bom đạn, chết chóc và những nỗi kinh hoàng mà cô chứng kiến bám theo cô suốt cả cuộc đời. Luôn luôn, cô tự hỏi “Tại sao người ta lại gây ra những chuyện tàn nhẫn như thế với nhau?”.

Thời gian này là buổi đầu cô giao tiếp với nhạc thánh ca nhà thờ, đồng thời cũng báo hiệu rằng âm nhạc là niềm vui tinh thần đi theo suốt cuộc đời ni sư Jiyu Kennett sau này và được ni sư ứng dụng tuyệt vời vào nhạc lễ tại các thiền viện trong hệ thống Order of Buddhist Contemplatives mà ni sư thiết lập.

Lúc này cũng là thời gian Peggy tích cực tìm hiểu  đạo Phật và được dạy rất chu đáo về căn bản Phật pháp theo truyền thống Nguyên Thủy, quy y và thọ giới cư sĩ với thiền sư Saddhatissa, tiến sĩ Phật học Tích Lan, một bậc danh tăng và là sư trưởng tại London. Cũng tại London, Peggy được gặp gỡ và tham học với rất nhiều giáo sư, trong số đó có tiến sĩ Daisetz Teitaro Suzuki, người đã giới thiệu thiền Lâm Tế với cô.

Năm 1960, đại sư Keido Chisan Koho, tu viện trưởng chùa Soji bên Nhật qua London, trong chương trình hoằng truyền Phật pháp tại Hoa Kỳ và Anh quốc, gặp cô Peggy Kennett, người tổ chức cuộc đón tiếp, bèn hỏi ý nếu cô muốn trở thành đệ tử của ngài và qua Nhật tu học tại chùa Soji, một trong hai thiền viện chính của tông Tào Động, nơi vốn xưa nay chỉ có nam tu sĩ, thì ngài sẽ chấp nhận.

Trên đường qua Nhật vào năm 1962, tới Malaysia, cô thọ ni giới theo truyền thống Trung Hoa với đại sư Seck Kim Seng, được đặt pháp danh là Chân Hữu. Tới Nhật,  ni cô Chân Hữu tu học với đại sư Koho tại chùa Soji. Sau này ni cô  Jiyu được đại sư Koho xác nhận khả năng giảng dạy Phật pháp và cuối cùng, ni sư được ấn chứng là Đạo Sư.

Trong thời gian lưu ngụ tại Nhật, một quốc gia vốn có truyền thống trọng nam khinh nữ, lại kỳ thị người ngoại quốc, nhất là đàn bà ngoại quốc mà lại muốn trở thành tu sĩ là việc vốn của nam giới, ni cô Jiyu phải chịu trăm ngàn cay đắng để nỗ lực hành trì thiền quán, mục tiêu là giải thoát, theo gương đức Phật, không ngại gian nan cực khổ, làm nhiều việc, giữ nhiều nhiệm vụ, kể cả Tri Khách bộ môn người nước ngoài. Cuối cùng ni sư được được bổ nhiệm là tu viện trưởng chùa Umpukuji.

Sau khi đại sư Chisan Koho qua đời, ni sư rời nước Nhật định trở lại London. Trong khi dừng chân tại San Francisco, năm 1969, ni sư quyết định lưu lại Hoa Kỳ, thiết lập Zen Mission Society năm 1970. Tám năm sau, hội này tái tổ chức và đổi tên là Order of Buddhist Contemplatives cho tới nay. Tháng 11 năm 1970, ni sư thành lập tu viện Shasta tại tỉnh  Mount Shasta, California, nơi ni sư trụ trì và là tu viện trưởng đầu tiên suốt 26 năm. Ni sư thành lập tu viện Throssel Hole tại  Northumberland, Anh quốc năm 1972, đồng thời trong suốt cuộc đời, ni sư cũng thành lập nhiều tu viện tại Bắc Mỹ cũng như tại Âu Châu.

Ni sư Jiyu- Kennett qua đời tại tu viện Shasta vào ngày 6 tháng 11 năm 1996, để lại khoảng trên 1,000 bài thuyết giảng và một số sách viết về đạo Phật và phương pháp hành trì để giác ngộ.

Thưa quý khán thính giả,

Sau đây, chúng tôi xin gửi đến quý thính giả một đoạn trích dịch từ cuốn Roar of the Tigress, gồm những bài thuyết giảng của ni sư Jiyu Kennet, nói với những người mới bước vào rừng thiền:

…”… Trước khi nói về cách thực hành Thiền, tôi muốn hãy nói về lý do mà người ta tìm tới con đường Thiền tập đã.

Bạn phải bắt đầu từ chính bản thân, từ sự ham muốn của bản thân. Bạn cũng thấy đó, có những người đến với tôn giáo không phải vì họ thực sự hâm mộ tôn giáo, nhưng vì họ chẳng có nơi nào khác để hướng tới. Bạn đến với tôn giáo khi tâm lý hoặc tinh thần suy sụp, hoặc thất bại về chuyện gì đó, tâm bạn hoang mang tự hỏi: “Ôi, bây giờ mình biết làm gì, đi đâu ?” Hỏi rồi bạn tự trả lời: “Ờ, biết đâu chẳng có cái gì đó mà mình chưa biết rõ, hay là tìm hiểu thử coi”.

Thế là bạn bắt đầu mầy mò đi tìm ông tu sĩ hoặc ông đạo sư. Nếu may mắn, bạn sẽ gặp được một người có khả năng chỉ đường cho bạn.

Vậy thì, lý do tiên quyết nào khiến cho người ta đi tầm đạo?

Nhiều người nói rằng vì họ sợ chết, nhưng không phải vậy, mà là họ sợ đời sống. Rất nhiều người sợ những hệ lụy trong đời sống hơn là sợ chết, họ khiếp hãi trước những bất trắc của cuộc đời. Họ có thể chấp nhận cái chết, họ biết đó là chuyện chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai, vả lại, đã luôn luôn có bác sĩ chống chọi để kéo dài mạng sống của họ. Chưa hết, may ra lại có những loại thuốc thần làm cho chuyện chết trở thành dễ có thể chịu đựng được.

Nhưng chuyện sống thì khác. Ngày mai, bạn sẽ phải chạm mặt ông xếp trong sở làm, bạn phải đi làm, bạn phải lái xe trên xa lộ và biết đâu chừng lại có một tên điên khùng đang lái xe ngay cạnh xe bạn, vậy bạn phải làm thế nào?

Sự sợ hãi trong đời sống đã đưa người ta tìm về tôn giáo, tìm tới những nhà tâm lý trị liệu, những nhà tâm thần học để hỏi những câu như :” Bây giờ tôi phải làm gì?”, hoặc:” Tôi phải phản ứng như thế nào ?”

Khi mà những câu hỏi đơn giản đó không đủ để trả lời cho những băn khoăn thao thức trong lòng, bạn quay vào nội tâm để trầm tư. Và khi mà bạn nói: ”Thế này chưa đủ, tôi muốn đi xa hơn nữa”, thì đó là lúc bạn muốn đến với tôn giáo. Và khi bạn nói: “Tôi chưa thỏa mãn, chắc là còn có cái gì khác hơn nữa”, và bạn bế tắc tại chính điểm này, không còn đường đi tới, thì bạn sẽ tìm về đâu?

Thưa bạn, khi đó, bạn tìm về nội tâm.

Ngày nay có nhiều người biết rằng tọa thiền là phần quan trọng của Thiền Phật giáo. Họ hỏi: “Tại sao bạn lại tọa thiền?”, hoặc “Tại sao thiền Tào Động lại lặng lẽ ngồi nhìn vào vách tường?”

Thưa rằng, đó là một trong những phương pháp chính để nhìn vào nội tâm, để trực diện với chuyện sinh và tử….”… Đã bao giờ bạn nhìn thẳng vào tâm bạn chưa? Khi tọa thiền, bạn ngồi đối diện và nhìn vào bức tường thực, nhưng chỉ một lúc sau là bạn sẽ nhận ra ngay rằng bạn đang nhìn vào đó để lấp bít các cảnh tượng, đang đóng cửa các giác quan, để nhìn vào nội tâm của bạn…”…

Thưa quý khán thính giả,

Trên đây là bài pháp trích dịch từ cuốn Roar of the Tigress. Để quý vị có thêm khái niệm về hành thiền Phật giáo, chúng tôi xin kính gửi những lời tâm tình của đạo hữu Danny Việt, người cư sĩ đã từng lưu ngụ tại tu viện Shasta, nơi ni sư Jiyu Kennett đã dày công xây dựng, như sau:

… “… Tu viện tọa lạc trên một khoảng đất rộng 20 mẫu rừng thông, nơi sườn núi Shasta, cực bắc tiểu bang California, giáp ranh Origon, trên độ cao 4000 feet, gồm khu nhà tăng ni và khu cư sĩ riêng biệt. Khu tăng ni thì tôi không được vào coi, theo như hình ảnh cho thấy thì đời sống tu hành của họ đạm bạc, gọn gàng, cũng như những thiền viện cổ xưa bên Nhật, hoặc bên Tầu, với cái giường dài thoòng, chia ra cho mỗi người một khúc, chạy theo giường là cái tủ dài, cũng chia ra theo với cái giường, coi như đầu giường, để đựng quần áo cá nhân, mà thôi.

Khu cư sĩ là một căn nhà dài, chia ra làm hai khu Nam và Nữ, giữa là phòng uống trà. Mỗi bên chạy dài hai dẫy phòng cho cư sĩ ở, có người thường trú quanh năm, có người chỉ lưu lại trong khoảng thời gian mỗi khóa retreat, thường là một hoặc hai tuần. Ngoài ra, ai muốn ở lâu mau, tùy ý, chỉ cần liên lạc với tu viện để sắp xếp.

Trong hai lần lưu ngụ trên đó, tôi đều thấy các sư thường trú gồm khoảng gần 30 vị, và cư sĩ thường trú chừng 20 vị, có một lần gặp kỳ retreat, tôi thấy cư sĩ từ các nơi xa đến, đông cỡ gần một trăm vị

Tu viện đặt sự hành trì lên rất cao. Phần lớn thời gian dành cho tọa thiền, thiền hành, và working meditation, cũng chỉ là làm những việc thường ngày trong tu viện, mục tiêu để luôn luôn giữ được sự tỉnh giác, sống ngay trong hiện tại, không để tâm lang thang về quá khứ hoặc tương lai. Mọi người đều rất tôn trọng sự tu hành của người khác, và giúp đỡ nhau tối đa. Trong một lần tôi ở trên đó, một hôm tôi bị xoắn bắp thịt lưng, đau quá, vậy mà thấy tôi không đi được, suốt mấy ngày trời, mọi người dìu tôi lên thiền đường, xa cỡ 100 mét, để tôi không bị gián đoạn tọa thiền. Mà nào đã xong, tôi đau quá, không ngồi được, các sư và bạn đạo lại sắp xếp, dìu tôi nằm xuống để tâm tọa. Sau khi sống với các vị tu sĩ trên đó mấy tháng trời, tôi cảm động xác nhận rằng họ là những người tràn ngập lòng từ bi, mọi người cư xử với nhau rất bình đẳng.

Mỗi ngày mọi người dùng bữa ba lần, ăn trong hoàn toàn yên lặng, có cử hành tam đề, ngũ quán. Tuy ăn chay lacto ovo, tức là có trứng và sữa (vì hầu hết cư sĩ đều là người Mỹ, mới tập ăn chay theo đạo Phật), nhưng các sư nấu thêm đồ ăn không có trứng và sữa cho người kiêng kỹ.

Các sư săn sóc người già, bệnh, không phân biệt giầu nghèo, và tiền mọi góp để đến ở là tùy hỉ, tự động bỏ vào cái hộp đề là Begging Bowl, không cần phải đưa cho tu viện, tránh người nghèo tủi thân. Nếu cư sĩ đã thường trú hai năm, muốn xuất gia, sẽ được tiếp đón nồng nhiệt vào tăng đoàn.

Trong hai lần ở trên tu viện Shasta, dù tôi là người VN độc nhất, xa lạ, nhưng tôi cảm nhận cách tu viện đối xử với tôi hoàn toàn bình đẳng.

Tu viện có một nghĩa địa chôn chó mèo v.v…, khắp khu chung quanh đem chôn xác pet của họ, rồi họ tới thăm mộ, nghe các sư giảng về lòng từ bi, bình đẳng của đạo Phật đối với toàn thể chúng sinh, có một số chuyển qua đạo Phật luôn.

Về phương pháp hành trì, tu viện Shasta theo truyền thống từ Tổ Tào Động của Nhật Bản, đại sư Đạo Nguyên, viết trong cuốn Shobogenzo (Chánh Pháp Nhãn Tạng), là Phật tánh (trên đó gọi là Buddha Nature, Buddha Mind, True Mind) vốn sẵn sàng, khắp nơi, thường hằng. Chỉ vì ta đã để cho mọi hoạt động trong đời sống hằng ngày liên tiếp lôi kéo, khiến cho tam độc tham, sân, si chi phối, tạo nghiệp liên tục, như con tầm dệt cái kén để tự nhốt mình vào trong, thấy thế giới chỉ còn là phạm vi cái kén, chúng ta thì tạo nghiệp, trả quả báo, nên sống hết kiếp này tới kiếp khác trong mê. Tọa thiền là trở lại sự bình thường, vĩnh hằng, phi không gian thời gian, của TÂM. Mà vì TÂM ở mọi nơi, mọi lúc, nên có thể tự hiển lộ (họ dùng chữ “manifest itself”). Chính vì không đuổi theo cái sanh diệt liên tục, nên có từ ngữ tạm dùng gọi là quán chiếu tâm, rồi lại có người cho là hành giả Tào Động Nhật Bản nhìn vào tâm tưởng như là mặt trăng, im lặng nhìn cái mặt trăng đó, nên gọi là mặc chiếu. Theo quan niệm thực tế của tôi trong vài tháng ở trên đó, tôi chưa hề nghe sư nào dậy ngồi “quán chiếu” như vậy, mà chỉ dậy rằng vì tâm vốn sẵn, đầy đủ quanh ta, nên nó sẽ “manifest itself”, khi có cơ duyên.

Tọa thiền theo tu viện Shasta (zazen) là ngồi lặng lẽ, lưng thẳng, mắt mở hé cho khỏi ngủ, ngó mông (nghĩa là nhìn bâng quơ) cách khoảng 1 mét, tất cả mọi sự việc của thế gian trôi qua cứ để tự nhiên, theo thí dụ như một người ngồi dưới chân cầu, bao nhiêu xe cộ chạy qua, dù tai có nghe, nhưng không phải chuyện mình quan tâm, nên cứ để kệ, thế thôi, đối với họ, như thế là mình trở về nguồn tâm.

Đây là tôi tóm tắt, nhưng cách ngồi cũng có qui tắc để không bị phát những bệnh như đau lưng, tức ngực v.v…, do ngồi nghiêng vẹo v.v…

Một đặc điểm của tu viện Shasta là có rất nhiều tượng Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, bầy ở khắp nơi, (các tượng chư Phật, chư Bồ Tát khác cũng có, nhưng ít thôi). Tôi có hỏi lý do thì các sư trả lời là :” Tượng Ngài khắp nơi để nhắc chúng ta là tất cả chúng ta đều có thể hiển lộ tâm từ bi bất cứ lúc nào, và vì chúng ta sống trong thế giới cùng với những sinh vật khác, nên chúng ta luôn luôn có cơ hội để thể hiện tâm đó, chúng ta thì hay quên, nên tượng để nhắc nhở”.

Không những từ bi với sinh vật, ngay đối với đồ vật, mọi hành động thí dụ đặt món đồ xuống, đóng cánh cửa, v.v…, đều được yêu cầu làm thật nhẹ nhàng.

Đời sống trong tu viện rất êm ả, gặp nhau là chắp tay xá, không có đảnh lễ, cư sĩ xá sư thì sư xá lại. Ít khi có tiếng nói lớn, thường chỉ vừa đủ nghe tuy rằng thiền viện rộng lớn.

Thời khóa biểu của tu sĩ thì tôi không được biết, nhưng chỉ biết họ thức dậy lúc 3:30 AM

Thời khóa biểu của cư sĩ trong thời gian tôi ở đó thì sáng dậy từ 6 giờ, tối đi ngủ lúc 10 giờ, được chia ra để làm các việc như tọa thiền tại thiền đường, khóa lễ buổi sáng, dọn dẹp trong ngoài chùa, dùng bữa sáng, đọc sách, thiền trong lúc làm việc, thiền tập tại khu cư sĩ, bữa trưa, nghỉ trưa,thiền làm việc, khóa lễ chiều, bữa chiều, nghỉ ngơi, tọa thiền và khóa lễ ngắn, trà đàm, có sư tới nhà khách để giải đáp thắc mắc, tắt đèn lúc 10 giờ. Những giờ như “nghỉ”, “đọc sách”, ai thích thay thế bằng tọa thiền thì đã có thiền phòng trong dẫy nhà cư sĩ.

Trong tuần lễ retreat mà tôi có tham dự, thời khóa biểu được tăng thêm thời gian tọa thiền, và hằng ngày có “độc tham”, (tức là gặp riêng vị sư có trách nhiệm, để được giải đáp về những kinh nghiệm tâm linh, nếu có).

Cuối kỳ retreat, tất cả mọi người đều được mời gặp riêng vị sư đó. Tôi trông thấy một bà cụ đi từ phòng độc tham ra, vừa đi vừa khóc. Bà cụ sau này hẹn sẽ gặp tôi trong kỳ retreat tới, với nét mặt tưng bừng, rạng rỡ. Có lẽ bà cụ đã tìm thấy một niềm tin sâu sắc về mặt tâm linh, hoặc là vị sư đã giải tỏa nỗi ẩn ức, niềm thống khổ nào đó của bà cụ.

Có thể vì thói quen của người Mỹ là tôn trong sự riêng tư (privacy), nên tuy trong bản qui chế chỉ dặn sơ qua, mà suốt thời gian tôi ở trên đó không ai hỏi gia cảnh, nghề nghiệp vân vân, của tôi. Mà tôi cũng rất hiếm thấy cảnh vài người rù rì tâm tình, tuy là phong cảnh thiên nhiên đẹp vô cùng với những dẫy núi mây giăng, sương tỏa, cảnh mặt trời chiếu trên đỉnh núi tuyết trắng xóa, rực rỡ như khối kim cương khổng lồ óng ánh …………

Kính thưa quý vị,

Câu chuyện tâm tình của đạo hữu Danny Việt đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý khán thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 9 – Tự thanh tịnh Tâm Ý

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Trong những kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình bày với quý vị bài kệ tóm tắt con đường tu hành của người Phật tử, như sau:

“Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành”

“Không làm những điều ác” và “Siêng làm những việc lành” là phần đạo đức thế gian, không riêng đạo Phật, mà hầu hết các tôn giáo và các nền giáo dục trên khắp thế giới đều dạy. Duy câu “Tự thanh tịnh tâm ý” thì mới chính là đặc điểm riêng biệt của đạo Phật. Bởi vì, nội dung của “tự thanh tịnh tâm ý” có nghĩa là chấm dứt tất cả những lôi cuốn của Tham, Sân và Si, vốn là nguyên nhân của tất cả mọi nỗi thống khổ trên đời.

Kinh Phật nói: “Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu”, câu đó có nghĩa là khi tâm đã tịnh là đã bạch hóa được nghiệp chướng tích lũy từ vô lượng kiếp. Tội là những nghiệp ác. Tâm đã tịnh rồi thì cũng có nghĩa là tất cả nghiệp thiện và ác đều đã tiêu dung, không còn nghiệp nhân để tái sinh, là chấm dứt được dòng sinh tử, ra khỏi vòng luân hồi. Tóm lại, là hoàn tất được bước thứ tư trong bốn Chân Lý Thâm Diệu, là Diệt Khổ.

— Vậy thì, làm thế nào để có  thể  “tự thanh tịnh tâm ý?

Đây là một câu hỏi rất hay mà một vị thính giả đã gửi về cho chúng tôi. Bức thư có đoạn như sau:

– “Tôi thường nghe nói rằng đạo nào cũng như nhau, cũng dạy ăn hiền ở lành. Nay nghe quý vị phân tích rõ ràng chỗ đặc biệt quan trọng của đạo Phật là “tự thanh tịnh tâm ý”. Vậy chúng tôi muốn quý vị chỉ cho chúng tôi cách làm thế nào để có thể tham dự vào phần “tự thanh tịnh tâm ý” của nhà Phật. Hiện nay chúng tôi còn gia đình đùm đề, công việc ngập đầu, vậy có cách nào để tu từ từ, chứ chẳng lẽ bỏ hết tất cả để lên núi tu luôn được sao?”

Trước hết, chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng chúng tôi xin cảm tạ vị thính giả đã gửi về câu hỏi rất thiết thực này. Điều đó chứng tỏ là quý vị quan tâm tới nội dung những lời Phật dạy và bản thân quý vị cũng thiết tha muốn thực tập theo những lời dạy đó.

Kính thưa quý vị,

Nội dung câu “Tự thanh tịnh tâm ý” đã nói lên rất rõ là muốn tiến bước trên con đường giác ngộ của nhà Phật thì phải “tự mình thanh lọc tâm mình”. Tâm ý thì luôn luôn trôi chảy, nhảy nhót, cho nên nhà Phật mới gọí tâm chúng sinh là “tâm viên ý mã”, nghĩa là “tâm như vượn, ý như ngựa”, ngày đêm bị vướng mắc với đủ mọi loại chuyện vui buồn, không hề có lúc nào ngưng, không có một phút giải thoát.

Vì thế, đức Phật và chư Tổ mới nghĩ ra những pháp môn phương tiện để chúng sinh có thể thực tập từ từ  ngay tại nhà, ngay trong đời sống bận rộn, thí dụ pháp môn mỗi tháng tu một ngày gieo duyên như Thọ Bát Quan Trai Giới. Giới tử sống một ngày trong chùa, giữ giới thanh tịnh y như các vị tăng ni. Do tin sâu nhân quả, Phật tử tin rằng có nhân tu hành một ngày thì trong tương lai, nhân đó sẽ trổ ra thiện quả có thể tu tới giác ngộ, giải thoát.

Ngoài ra, tại các chùa, thiền viện, tự viện, tịnh thất, quý vị tu sĩ Phật giáo thường tổ chức các khóa thiền, các khóa niệm Phật gọi là thiền thất, Phật thất vào dịp cuối tuần, hoặc mùa hè, hoặc ngày nghỉ lễ. Mục đích là để có những khoảng thời gian cho tâm được giảm bớt căng thẳng và tạo thói quen thiền tập, tịnh tâm, xả bỏ những tạp niệm. Cũng như cơ thể cần tắm rửa hằng ngày, tâm cũng cần những giây phút trống vắng để thanh tịnh hóa.

Sau một thời gian tham dự những khóa thiền thất, niệm Phật thất, hành giả đã quen với những giây phút quán chiếu nội tâm, thường có khuynh hướng muốn thiết lập một góc để tọa thiền tại nhà, mỗi ngày tới ngồi chừng 10 phút, dần dần tăng lên nửa giờ, hoặc hơn nữa. Thời gian ngồi là hai phần ba, sau đó đứng lên đi thiền hành. Như thế, thân và tâm đã có thể hòa nhập trong bầu không khí an lạc, giải thoát khỏi những suy tư trói buộc, ít nhất là một khoảng thời gian ngắn mỗi ngày, là những bước đầu.

Để có thể tịnh tâm bất cứ lúc nào, tại bất cứ đâu, thì có pháp môn Niệm Phật, thường gọi là pháp môn Tịnh Độ. Pháp môn này có nhiều cách tu, một trong những cách đó là dùng câu Phật hiệu để hóa giải tạp niệm. Nhà Phật gọi là “Niệm Phật thì không niệm chúng sinh”. Niệm chúng sinh là những suy nghĩ miên man trói buộc tâm tư vào dòng đời. Dù trong chốn ồn ào náo nhiệt, hành giả có câu Phật hiệu để âm thầm niệm lên trong tâm, là được giải thoát ngay ra khỏi những ưu phiền của thế gian.

Nhà Phật có rất nhiều pháp môn phương tiện phù hợp với căn cơ của chúng sinh. Điều chúng ta cần phải làm là tìm coi pháp môn  nào phù hợp với bản thân để có thể thực tập được, có thể thanh tịnh hóa tâm ngay bây giờ, thì bắt đầu ngay, dù mỗi ngày chỉ mới tập được một thời gian ngắn. Mọi việc dù lớn lao tới đâu cũng đều có những bước khởi đầu nho nhỏ, rồi dần dà mới phát triển, miễn là mỗi ngày đểu có tiến thêm.

Đạo Phật là phương pháp luyện tâm để chấm dứt khổ, là pháp thực hành. Nếu chỉ dùng sự hiểu biết đạo Phật để nói lý thuyết suông thì hoàn toàn vô ích, đã không được hưởng phần tinh túy từ những lời dạy của đức Phật, còn tăng trưởng lòng kiêu ngạo về sự hiểu biết vô dụng của mình.

Thưa quý thính giả,

Để có thêm khái niệm về “thanh tịnh hóa tâm”, chúng tôi xin giới thiệu với quý vị thiền sư Satya Narayan Goenka, một người đã tận tụy gần suốt cuộc đời vì công cuộc thanh tịnh hóa tâm chúng sinh, bằng cách phổ biến và giảng dạy pháp môn thiền Vipassana, tức là Minh Sát, một pháp thiền Nguyên Thủy rất phổ biến tại các quốc gia theo truyền thống Phật giáo Nam Tông.

Thiền sư Goenka sinh trưởng tại Miến Điện, song thân là người Ấn Độ. Gia đình ông theo Ấn Độ giáo. Ông là một kỹ nghệ gia, hội trưởng hội thân hữu Miến Ấn.

Do bị bệnh nhức đầu kinh niên, dù đã chạy chữa nhiều nơi mà bệnh không giảm, ông tham dự khóa thiền Vipassana do thiền sư U Ba Khin, một vị thiền sư cư sĩ danh tiếng tại Miến Điện hướng dẫn, hy vọng chữa trị được căn bệnh. Chính nhờ sự chỉ dẫn tận tâm của thày và tinh thần tích cực trong hành thiền mà bệnh ông giảm dần rồi tan biến luôn.

Sau 14 năm thiền tập với thiền sư U Ba Khin, vào năm 1969 vâng lời thày, ông trở về Ấn Độ, nơi quê hương của đức Phật, để mở trường dạy lại cho những người dân Ấn Độ đã lạc đường tu, không còn biết đến giáo pháp mà khi xưa đức Phật đã hành trì để đạt giác ngộ. Ông muốn báo đáp ơn đức Thế Tôn bằng cách truyền bá lại phương pháp tu tập để Diệt Khổ.

Dù trên mảnh đất quê hương vẫn còn nạn chia rẽ gay gắt, những khóa thiền Vipassana do ông hướng dẫn vẫn lôi cuốn được nhiều ngàn hành giả từ khắp các miền đất nước về tham dự. Ngoài ra, còn có rất nhiều người hâm mộ đến từ nhiều nước trên thế giới để thực tập.

Với trên 300 khóa tu tập tại Ấn Độ và tại nhiều nước khác từ Đông sang Tây phương, thiền sư Goenka đã dẫn dắt hàng nhiều chục ngàn hành giả trên con đường luyện tâm.

Vì số thiền sinh ngày càng đông, ông phải kiếm thêm nhiều phụ tá để giúp đỡ trong việc phát triển. Dưới sự hướng dẫn của ông, các Trung Tâm tu thiền được mở ra tại Ấn Độ, Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Pháp quốc, Anh quốc, Nhật Bản, Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Nepal, và nhiều nước khác nữa.

Thiền sư Goenka dạy thiền theo phương pháp truyền thống mà khi xưa đức Phật đã dạy. Ông nói rằng đức Phật khi xưa không hề dạy môn phái tôn giáo, mà Ngài dạy Phật pháp — là con đường giải thoát — vốn không có biên giới. Theo tôn chỉ đó, thiền sư Goenka cũng duy trì đường lối phi môn phái. Đó là lý do ông đã thu hút được rất nhiều người xuất thân từ đủ mọi thành phần xã hội, tôn giáo hoặc không tôn giáo và đến từ nhiều địa phương trên thế giới.

Với con số hành giả thực tập Vipassana tại các trung tâm thiền dưới sự điều khiển của ông ngày càng đông đảo, thiền sư vẫn  cố gắng giữ cho toàn bộ hệ thống không trở thành một môn phái tôn giáo. Ông nhấn mạnh là sự phát triển lớn mạnh phải mang lại lợi ích cho mọi người, không phải lớn mạnh chỉ để mà lớn mạnh, để phục vụ cho một niềm tin mù quáng. Mục tiêu của ông là phổ biến phương pháp tu hành của đức Phật ngõ hầu đem lại lợi ích cho càng nhiều người càng tốt. Ông tin rằng đó mới chính là bản hoài của đức Thế Tôn, chứ không phải chỉ để cho giáo phái hoặc hệ thống của mình lớn mạnh.

Ngoài sự tận tụy hướng dẫn hành thiền, ông còn viết trên mười cuốn sách về phương pháp thanh tịnh hóa tâm, dựa theo ý trong kinh Phật.

Sau đây, chúng tôi xin trích dịch bài nói chuyện của thiền sư Satya Narayan Goenka với chư Tăng Ni tại Dharma Drum Monastery, Đài Loan, năm 1998, đề tài là “Cách tỏ lòng tôn kính hợp giáo pháp”.

Thiền sư Goenka nói:

…”… Thật là vạn hạnh cho tôi, một lần nữa được gặp lại đại sư thánh thiện và chư vị ưa chộng pháp hành thiền. Nhìn thấy quý vị ngồi trong tư thế hoa sen, tôi nhớ tới chuyện một lần có người hỏi đức Phật rằng

— “Làm thế nào chúng tôi có thể tỏ lòng tôn kính đối với đấng Giác Ngộ “?

Trỏ ngón tay về phía chư Tăng Ni đang tọa thiền, Ngài nói:

— Đây là cách tỏ lòng tôn kính với bậc Giác Ngộ.

Cách tỏ lòng tôn kính thích hợp nhất đối với bậc Giác Ngộ là tích cực thực thi lời Ngài dạy. Lời Ngài dạy là tọa thiền và tỉnh giác trước các hiện tượng xảy ra trong tâm, để kinh nghiệm những ô nhiễm gợn lên, phát triển, chi phối tâm chúng ta và làm thế nào để chế ngự và chuyển hóa thói quen của tâm. Quá trình này đức Phật gọi là Thiền Minh Sát, hoặc là Thiền Quán, nghĩa là quán sát thực tế xảy ra đúng như nó đang như thế, trong trạng thái đích thực của nó, — chứ không phải “tưởng rằng nó là như thế”, — quán sát bên trong thân mình và sự tương quan giao động giữa thân và tâm trong từng khoảng thời gian ngắn ngủi.

Vào thời Phật còn tại thế, có rất nhiều pháp tu thiền định trên giải đất Ấn Độ. Có pháp môn đưa hành giả vào các trạng thái Định sâu thẳm, những tầng Định thứ bảy, thứ tám, là những cảnh giới mà Ngài đã học được từ các bậc thày đương thời. Nhưng Ngài đã nhận ra được rằng nếu chỉ đạt được các tầng Định thì không thể đưa Ngài tới mục tiêu hoàn toàn giác ngộ, giải thoát. Cho nên trong thời gian ngồi dưới gốc cây Bồ Đề, Ngài bắt đầu quán sát sự diễn biến ngay trong thân, tâm và triệt ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Công việc đầu tiên hành giả phải làm là quán sát hơi thở tự nhiên. Đó là thiền tỉnh giác về hơi thở. Quán sát hơi thở ra vô tự nhiên trên một điểm nhỏ ngay nơi cửa lỗ mũi, tâm hành giả sẽ càng ngày càng nhậy bén, nhỏ nhiệm và vi tế. Với cái tâm nhậy bén và vi tế, hành giả sẽ kinh nghiệm được những cảm giác khác nhau dù rất nhỏ ngay nơi nhân trung.

Rồi từ trụ điểm nhỏ xíu đó, hành giả bắt đầu quán sát khắp cả cơ thể, từ đỉnh đầu cho tới ngón chân rồi lại từ ngón chân chuyển sự quán sát trở ngược lên đỉnh đầu, để nhận rõ những cảm giác khác nhau trong cơ thể.

Có nhiều cảm giác khác nhau, khi thì rất thô, khó chịu và căng thẳng, khi thì rất nhỏ nhiệm, thoải mái, dễ chịu, lúc thì êm đềm trung bình, không gây ra cảm giác gì. Hành giả chỉ thuần túy quán sát mà không hòa nhập hay phản ứng, chỉ khách quan mà thấy.

Dần dà, hành giả sẽ nhận ra được thói quen phản ứng của mình, đối với cảm giác vui sướng thì thèm muốn, tham đắm hoặc đối với điều khó chịu thì chống đối, ghét bỏ.

Hành giả nhận chân được thực tế này, thấu suốt đặc tính của từng cảm giác vui hoặc khó chịu, thô thiển hay là vi tế hiện ra rồi biến mất, sinh diệt liên tục. Ôi ! Thật là vô thường! Hành giả bỗng trực nhận ra được tính cách vô thường, sinh diệt liên tục của tâm và vật. Lý vô thường xuất hiện càng lúc càng sáng rỡ, rõ ràng, bằng thực chứng của chính hành giả….”…

Thưa quý thính giả,

Trên đây là một phần bài nói chuyện của thiền sư Satya Narayan Goenka, người đang tận tụy phổ biến phương pháp tu hành để Diệt Khổ, hoàn tất Chân Lý Thâm Diệu Thứ Tư trong Tứ Diệu Đế của nhà Phật. Điều đáng thán phục nơi ông là tuy từ tôn giáo khác bước vào nhà Phật, mà ông đã nắm vững được lời dạy cốt tủy của đức Phật, là dạy con người cách tu hành để Diệt Khổ, càng nhiều người hết khổ càng tốt, chứ không đề cao phần hình thức suông. Ông chỉ chú trọng vào việc dạy phương pháp thực tập

Để kết thúc buổi phát thanh hôm nay, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một giai thoại về niệm Phật, trích trong bộ Thiền Luận, tác giả là thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki, dịch giả là thượng tọa Thích Tuệ Sỹ. Câu chuyện như sau:

..”…  Một trong vô số tục gia đệ tử của Bạch Ẩn rất phiền muộn về cha già keo lận của mình, tâm ông chỉ theo việc làm tiền, chẳng chút bận tới đạo Phật. Y muốn Bạch Ẩn gợi cho một phương pháp nào để chuyển tư tưởng của cha y ra khỏi sự keo lận. Bạch Ẩn gợi lên đề nghị này : “Bảo lão già keo lận cứ niệm Phật mỗi khi ông nhớ đến, và sẽ trả cho ông mỗi lần tụng niệm là một tiền. Nếu trong một ngày ông niệm Phật được một trăm lần, ông sẽ có được một trăm tiền”.

Lão già nghĩ rằng đây là một cách bỏ tiền vào túi dễ nhất trong thế gian. Mỗi ngày ông đến Bạch Ẩn để được trả tiền do sự niệm Phật của mình, vì ông rất siêng năng trong vụ này, và cứ tái diễn như vậy rất nhiều lần. Ông bị mê hoặc với những thủ đắc của mình.

Nhưng chẳng bao lâu ông thôi không đến Bạch Ẩn để được trả tiền hằng ngày nữa. Bạch Ẩn sai người đi tìm hiểu xem người cha mắc chuyện gì. Thì ra bây giờ ông bị sự Niệm Phật lung lạc đến độ quên cả ghi nhớ. Ðấy là điều mà Bạch Ẩn lúc nào cũng chờ đợi nơi ông. Ngài dạy người con cứ để cho cha y ở một mình trong một thời gian, thử xem chuyện gì sẽ đến với ông nữa. Lời khuyên này được tuân hành, và trong vòng một tuần lễ, người cha thân hành đến kiếm Bạch Ẩn với cặp mắt ngời sáng, bộc lộ một kinh nghiệm tâm linh cực lạc mà ông đã trải qua …”…

Thưa quý thính giả,

Thiền sư Bạch Ẩn đã ứng dụng phương pháp giáo hóa của nhà Phật là “tùy duyên phương tiện hóa độ chúng sinh”. Câu đó có nghĩa là sự giáo hóa cần uyển chuyển, phù hợp với tình trạng thực tế. Tuy nhiên, “tùy duyên nhưng bất biến”, có nghĩa là về mặt hình thức thì uyển chuyển tùy theo với thực tế để giáo hóa nhưng mục tiêu cốt tủy của đạo Phật là giác ngộ giải thoát thì không thay đổi.

Pháp giáo hóa tùy duyên phương tiện này đã được giới thiệu nơi kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm Thí Dụ.

Trong kinh, đức Phật nói thí dụ ông nhà giầu kia có một đàn con đang chơi trong căn nhà chỉ có một cửa. Bỗng nhà phát hỏa. Ông phải nghĩ cách kêu các con ra gấp kẻo chết cháy. Mà các con lại chưa hề biết đến nguy hiểm của lửa. Cho nên ông phải dụ các con chạy ra bằng cách hứa sẽ cho chúng các thứ đồ chơi như xe dê, xe hươu, xe trâu. Nhờ vậy các con ông thoát được nạn lớn là chết cháy.

Ở đây, thiền sư Bạch Ẩn đã có kinh nghiệm tu chứng, nên ông biết rằng chỉ cần sau một thời gian tịnh tâm bằng cách chuyên chú niệm Phật, ông già kia sẽ kinh nghiệm được trạng thái tâm an lạc, hạnh phúc. Như thế là dùng phương tiện tùy duyên để giáo hóa chúng sinh, nhưng vẫn bất biến là ông già bước được trên con đường thanh tịnh, giải thoát.

Thưa quý thính giả,

Giai thoại niệm Phật đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

Bài 8 – Bản Tâm bất sanh bất diệt

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý khán thính giả,

Trong một kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình với quý vị lời khẳng định của đức Phật:

– “Này chư Tỳ kheo, bây giờ cũng như trước đây, Như Lai chỉ dạy về “Khổ” và về  “Con Đường Diệt Khổ”.

Tại sao Ngài có thể khẳng định như vậy?

– Xin thưa rằng vì Ngài đã thực chứng được cảnh giới Niết Bàn, tức là cảnh giới tâm thức bất sanh bất diệt. Từ sự thực chứng, Ngài truyền dạy lại chúng sinh những kinh nghiệm tu trì. Rồi tới chư đệ tử của Ngài, chư Tổ Sư, cũng từ sự thực chứng mà truyền dạy lại những kinh nghiệm, mục đích là để nhắc nhở, thức tỉnh chúng sinh, mong họ theo lời chỉ dạy mà thanh tịnh hóa tâm, để họ ra khỏi cơn mê vọng  Tham Sân Si, tạo nghiệp, trả quả báo, trôi lăn hoài trong vòng sinh tử luân hồi.

Một trong những kinh chuyên chở lời dạy cao quý này của đức Phật là kinh Lăng Nghiêm (The Surangama Sutra). Nơi kinh này, đức Phật dùng những thí dụ cụ thể về Tánh Thấy để giải thích cái bất sanh bất diệt. Tánh Thấy là khía cạnh ứng dụng của Tâm. Chúng tôi xin trích dịch một đoạn trong kinh The Surangama Sutra do Charles Luk dịch từ Hán văn sang Anh ngữ, như sau:

… “ …Khi ấy vua Prasenajit đứng dậy bạch với đức Phật :

— Bạch Thế Tôn, lúc trước chưa thọ giáo với Phật, đệ tử nghe nói rằng “khi thân này chết thì thành hư vô, gọi là Niết Bàn.” Mặc dù hôm nay đệ tử đã được Phật chỉ dạy, nhưng vẫn còn chưa hiểu rõ. Mọi người tại đây cũng đều mong được biết cách làm thế nào để nhận ra được Bản Tâm và chứng minh được rằng Tâm này ở ngoài vòng sanh diệt.

Phật hỏi :
— Đại vương ! Bây giờ tôi hỏi về cái thân máu thịt của ông hiện tại đây, nó bền chắc như kim cương, hay nó đổi thay và hư hoại ?

Vua đáp :
— Bạch Thế Tôn, thân đệ tử sẽ hư hỏng từ từ, cuối cùng sẽ hoại diệt và chết luôn.

Phật hỏi :
— Đại Vương, ông chưa chết, làm sao biết nó sẽ hoại diệt ?

Vua đáp :
— Bạch Thế Tôn, cái thân vô thường của đệ tử luôn luôn thay đổi, hư hoại dần, tuy là chưa chết, nhưng đệ tử vẫn đang nhìn thấy sự thay đổi, hư hoại không lúc nào ngưng, đang tàn tạ như lửa cháy lụi dần cho đến lúc hết củi.

Phật nói :
— Đúng vậy Đại Vương. Bây giờ ông đã già, so với lúc còn là đứa trẻ ông thấy thế nào?

Vua đáp :
— Bạch Thế Tôn, khi đệ tử còn là đứa bé thì da dẻ hồng hào, rồi lúc lớn lên thì khí lực dồi dào, sung mãn. Ngày nay già nua yếu đuối, thân hình gầy gò, trí óc chậm lụt, tóc bạc, mặt nhăn, cho nên đệ tử biết mình chẳng còn sống bao lâu, chẳng thể so sánh ngày nay với những ngày thanh xuân đầy ắp sức sống của đệ tử. Mà sự đổi thay này nó xảy ra một cách âm thầm, khó mà nhận thấy. Nhưng chính vì sự đổi thay liên tục đó, mà thân thể đệ tử trở thành già yếu như bây giờ. Bởi vì khi đệ tử 20 tuổi, tuy là còn trẻ, nhưng trông cũng đã già hơn lúc lên 10, rồi khi 30 lại già hơn 20. Bây giờ đệ tử đã 62, thì lại già yếu hơn lúc năm chục tuổi.

Bạch Thế Tôn, đây là đệ tử nói về sự thay đổi của từng thập niên, nhưng nếu nhìn kỹ hơn thì lại thấy sự thay đổi chẳng những xảy ra từng năm, từng tháng, từng ngày, mà thật ra là từng niệm, từng niệm nó đã dời đổi. Vì thế đệ tử biết thân này đang đi tới đích cuối cùng là hoại diệt.

Phật hỏi :

— Đại Vương, ông quan sát những cái đang thay đổi không ngừng và biết rằng ông sẽ chết. Nhưng ông có quan sát biết được trong thân ông có cái gì không thay đổi rồi chết chăng?

Vua chắp hai tay cung kính thưa :

— Bạch Thế Tôn, đệ tử thật tình không được biết !

Phật dạy:

— Bây giờ tôi chỉ cho ông thấy cái Bản Tâm không hề sinh diệt. Đại Vương, lần đầu tiên nhìn thấy sông Hằng, ông được mấy tuổi ?

Vua đáp :

— Khi lên ba tuổi, đệ tử được mẹ dẫn đi lễ thần Jiva. Lúc đi qua con sông, đệ tử được biết đó là sông Hằng.

Phật hỏi :

— Như ông mới nói, khi 20 tuổi, ông già hơn lúc lên 10, cho đến khi ông 60, ngày, tháng, năm trôi qua, cơ thể ông thay đổi theo từng niệm tưởng. Vậy năm lên 3 tuổi thấy sông Hằng và năm 13 tuổi thấy sông Hằng, hai “cái Thấy” đó có khác nhau không?

Vua thưa :
— Bạch Thế Tôn, cái Thấy thì cũng giống nhau, dù là lúc đệ tử mới lên 3 hay là khi đã 13 tuổi, mà ngay cho đến nay đã 62 tuổi, cái thấy cũng vẫn là thấy, cũng giống nhau thôi.,

Phật dạy :
— Ông thấy tóc ông bạc, mặt ông nhăn, hẳn là ngày nay ông có nhiều nép nhăn trên cơ thể hơn khi ông còn là đứa bé. Vậy hôm nay ông thấy sông Hằng, ông có nhận ra cái thấy của ông có “già” hơn cái thấy khi ông còn trẻ chăng?

Vua thưa :
— Bạch Thế Tôn , cái thấy thì luôn luôn vẫn vậy.

Phật dạy :
— Này đại vương, dù mặt ông già đi, nhưng cái “bản thấy” vẫn không già. Vậy cái nào có nhăn nhúm, có già đi, thì cái ấy bị biến đổi; còn cái nào không già, thì cái đó không biến đổi. Cái có biến đổi thì có hoại diệt, sinh tử. Cái không biến đổi thì bản chất nó không thuộc về quy luật sanh diệt, cho nên nó không bị luật này chi phối, nó không sinh diệt.

Vua Prasenajit cùng đại chúng nghe Phật dạy thì đều hiểu được rằng sau khi chết sẽ không phải là hư vô, hoàn toàn hoại diệt, mà sau khi bỏ xác thân này, tâm sẽ thọ thân khác, sẽ có cuộc đời khác, không phải mất hẳn.

Nhà vua cùng toàn thể đại chúng đều hớn hở vui mừng vì được nghe bài pháp từ trước tới nay chưa từng được nghe…”….

Thưa quý khán thính giả,

Đức Phật giảng bài pháp này để hóa giải sự hiểu lầm rằng con người ta sau khi chết sẽ hoàn toàn hoại diệt, mất tích vào hư vô. Quan niệm như thế là Chấp Đoạn. Ngài muốn giải thích cho tôn giả Ananda biết rằng ngoài cái hoại diệt còn có cái trường tồn. Mà đây lại là vấn đề rất khó giải thích, nên đức Phật đã phải dùng lời thưa hỏi của vua Prasenajit để làm sáng tỏ.

Không những vua Prasenajit không nhận ra được bản chất của sinh tử, mà nhà vua còn nhìn lầm rằng con người sau khi chết sẽ hoại diệt thành hư vô. Nếu nhà vua biết rằng chết chỉ là một ảo giác trong dòng đời, thì nhà vua đã nhận ra được rằng sinh  và tử chỉ là hai giai đoạn của dòng sinh tử triền miên, trong sinh đã có mầm mống của tử và sau tử lại có sinh trở lại, thay đổi trôi lăn hoài trong vòng quay sinh, trụ, dị, diệt, ….rồi lại tới sinh …

Nếu biết được điều này thì nhà vua đã thấu hiểu được cái Chân Thường — là Bản Tâm bất sanh bất diệt, như trong Bát Nhã Tâm Kinh đã nói “bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm…”

Để có thêm tài liệu về Tâm, chúng tôi xin kính gửi đến quý thính giả một bài pháp của thiền sư Soyen Shaku, trích dịch từ cuốn Sermons of a Buddhist Abbot, do học trò của ông là Daisetz Teitaro Suzuki dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Anh.

Thiền sư Soyen Shaku là vị thiền sư Phật giáo đầu tiên giảng dạy về đạo Phật trên đất Hoa kỳ. Ông thuộc dòng thiền Lâm Tế, là viện trưởng hai thiền viện Engaka-Ji  và Kencho-Ji, tỉnh Kamakura, nước Nhật.

Vào cuối thế kỷ thứ 19, năm 1893, thiền sư đã đến nước Mỹ và thuyết trình về Thiền của Phật giáo trong Hội Nghị các Tôn Giáo tại Chicago. Đầu mùa Xuân năm 1905, thiền sư trở lại nước Mỹ và ở lại cho đến tháng Tư năm 1906 mới rời nước Mỹ để qua Âu Châu thuyết giảng.

Trong thời gian trên một năm trời lưu ngụ tại Mỹ, thiền sư Soyen Shaku thể theo lời mời của các bằng hữu, đã giảng rất nhiều thời pháp. Thiền sư nói bằng tiếng Nhật, được thông ngôn qua tiếng Anh, chủ yếu là giới thiệu kinh Tứ Thập Nhị Chương và đại cương về giáo lý nhà Phật, tại nhiều địa danh, thí dụ San Francisco, Los Angeles, Sacramento, Fresno, San Jose, Oakland, Washington, New York, Philadelphia, Boston và nhiều nơi khác nữa trong nước Mỹ.

Kinh Tứ Thập Nhị Chương là kinh căn bản trong kho tàng kinh điển Phật giáo.

Cuối thế kỷ thứ 19 là thời gian các phương tiện truyền thông còn thô sơ, eo hẹp, sự tận tụy đi khắp nơi của ông để hoằng truyền Phật pháp và giải tỏa những sự hiểu lầm đạo Phật của người Tây Phương tại Mỹ Châu và Âu Châu, đã làm thay đổi nhãn quan của nhiều người. Thuyết giảng tại bất cứ nơi nào, ông cũng đều được thính chúng nồng nhiệt tán thưởng.

Những bài giảng của ông được tiến sĩ Daisetz Teitaro Suzuki, người đệ tử cùng một chí hướng như ông, đã tận tụy đem đạo Phật từ Đông Phương trải dài qua Tây Phương, dịch sang tiếng Anh.

Cả hai thày trò đều coi Đông Phương và Tây Phương cùng là nhà của mình.

Thưa quý khán thính giả,

Sau đây là bài pháp được trích dịch từ cuốn Sermons of a Buddhist Abbot của thiền sư Soyen Shaku:

…”… Nhà Phật nhìn thế giới dưới hai khía cạnh, vật chất và tâm linh. Trong thế giới vật chất, sinh và tử là quy luật tự nhiên, chi phối toàn bộ đời sống. Trong thế giới này, không có bất cứ cái gì có thể  tồn tại vĩnh viễn. Tất cả những gì xuất hiện dưới ánh mặt trời đều sẽ biến mất, nó biến hiện  nhanh thoăn thoắt như con chim đại bàng xà xuống quắp mồi. Mặt trời mọc rồi lặn, những dẫy núi cao vút rồi xụp xuống, đại dương dậy sóng rồi khô cạn, và ngay đến bản thân trái đất, cũng rung lên đùng đùng ngay trên nền của chính nó.

Trong thế giới vật chất, cái gì xuất hiện thì sẽ có ngày biến mất, đổi thay liên tục. Tóm lại, thế giới này chẳng có gì hơn là một sự liên tục đổi thay để trở thành cái mới.

Tính cách tạm bợ, không bền vững, là một trong những sự kiện phổ biến nhất trên cuộc đời. Chắc chắn rằng bất cứ ai có tầm nhìn sáng suốt đều phải nhận ra điều đó. Và nếu nhận chân được điều đó thì người ta sẽ không còn quá dính mắc với cái thế giới sinh diệt biến hiện liên tục này. Từ ý nghĩ đó, người ta ước ao một cảnh giới bình an vĩnh cửu.

Nhưng cái thế giới sinh diệt liên tục này có đáp ứng được nhu cầu về niềm mơ ước một cảnh giới vĩnh cửu không?

Phật giáo dạy chúng ta rằng có cảnh giới siêu việt mà nơi đó phần tâm linh được hoàn toàn giải thoát. Phật giáo cũng dạy rằng cảnh giới siêu việt này không bị giới hạn bởi vật chất, vì thế, không bị chi phối bởi quy luật sinh tử. Chỉ có những người đã giải thoát khỏi những tham đắm của thế giới hiện tượng, thì mới nếm được mùi vị của cảnh giới cao thượng. Núi có thể dời, biển có thể cạn, nhưng một nội tâm thanh tịnh thì sẽ vượt lên trên mọi sự thăng trầm, thảnh thơi trong trạng thái vĩnh viễn an lạc.

Vậy thì cái thế giới tâm linh thanh tịnh đó có tách rời khỏi thế giới vật chất này chăng? Nếu nó tách rời thì làm sao mà những con người phàm phu như chúng ta có thể nâng mình lên tới cảnh giới đó?

Chúng ta cần nhớ kỹ một điều là không có vấn đề siêu tự nhiên trong đạo Phật. Người Phật tử chân chính theo sát những sự kiện thực tế minh bạch, hiếm khi để cho mình nhắm mắt tin theo những người tự cho là có thẩm quyền siêu nhiên.

Thành ra đối với một số người, Phật giáo có vẻ như quá đơn sơ, không hấp dẫn, thiếu tính chất phong phú huy hoàng của trí tưởng tượng. Cho nên đôi khi người ta coi đạo Phật như là một ngành văn hóa đạo đức xã hội học, chứ không phải là tôn giáo. Vì người ta cho rằng không tôn giáo nào có thể tồn tại nếu không có niềm tin vào cái gì đó siêu nhiên, phép lạ, hay là những điều gì đó mà người ta không thể thực nghiệm hoặc giải thích một cách hợp lý.

Nhưng đức Phật đã khẳng định là những điều Ngài dạy đều không có gì khác thường, chỉ đơn giản là những sự kiện rõ ràng mà ai cũng có thể kiểm chứng. Ngài dạy rằng không phải chân lý được mở ra cho chúng ta thấy từ những nguồn xa lạ, bí hiểm, mà do chính chúng ta tự khám phá qua công năng hành trì thiền quán, thanh tịnh hóa tâm, điều mà bất cứ ai cũng có thể thực hiện được. Ngài cũng nhắc chúng ta rằng niềm tin đạo Phật không phải là mê tín mà là nhận định sáng suốt, niềm tin đó là chân lý đã được thực nghiệm, kiểm chứng, chứ không phải là niềm tin từ một nguồn giả tưởng nào đó do được mặc khải.

Phải chăng đó chính là nguyên nhân đã kết thành hoa trái là lòng khoan dung, từ bi, bất bạo động của nhà Phật….”…

 Thưa quý khán thính giả,

Trên đây là bài giảng của thiền sư Soyen Shaku. Trước khi ngưng lời, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị câu chuyện Thiền về pháp An Tâm của Sơ Tổ thiền tông Bồ Đề Đạt Ma dạy đệ tử là Nhị Tổ Huệ Khả.

Có lẽ quý vị đã có dịp nghe nói về Sơ Tổ, hoặc trông thấy ngài trong hình ảnh một vị sư Ấn Độ với bộ râu quai nón, đôi mắt xếch nhìn sâu thăm thẳm, vai vác một cây thiền trượng, đầu thiền trượng treo lủng lẳng một chiếc dép.

Hình ảnh ngài đã đi sâu vào tâm khảm dân chúng, nhất là giới văn học Phật giáo, như là một biểu tượng của tự do khai phóng, với câu tuyên ngôn sấm sét khi ngài mới đặt chân lên đất Trung Hoa:

Không lập văn tự
Truyền ngoài giáo lý,
Chỉ thẳng tâm ngưòi
Thấy Tánh thành Phật.

Từ Ấn Độ  vượt sóng tới đất Trung Hoa để truyền bá Ánh Đạo Vàng, người đầu tiên Sơ Tổ gặp là vua Lương Võ Đế. Nhà vua rất am hiểu giáo lý nhà Phật, thường khoác tăng bào ra ngoài ngự bào để giảng pháp cho dân chúng. Buổi sơ kiến, hai người đã không hiểu nhau vì Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma là một thiền sư đắc đạo, ngài dạy cái cốt tủy, thuộc về Phật thừa, Ngài dạy người tu hành để giác ngộ thành Phật. Vua Lương Võ Đế chỉ dạy về lý thuyết suông. Cũng có thể ví như nếu nói rằng “kinh sách như ngón tay để chỉ mặt trăng là giác ngộ Bản Thể” thì nhà vua chỉ nói về ngón tay trong khi Sơ Tổ chỉ thẳng vào mặt trăng, là Tâm.

Vì thế Lương Võ Đế không hiểu được Sơ Tổ. Ngài từ biệt vua băng qua sông Giang Bắc, thẳng đường tới nước Ngụy, lên núi Tung Sơn ngồi quay mặt vào vách đá chùa Thiếu Lâm chín năm, người đương thời gọi ngài là bích quán  Bà La Môn, nghĩa là ông Bà La Môn nhìn vách.

Một hôm, đệ tử của Sơ Tổ là Huệ Khả thưa:

– Bạch thầy, sao tâm con không an. Xin thày dạy con phép an tâm.

Tổ nói:

– Đưa tâm ra đây ta an cho.

Huệ Khả ngẩn người rồi thưa:

– Con tìm tâm mà không thấy.

Tổ dạy:

– Ta đã an tâm cho con rồi.

Ngay lập tức, Huệ Khả nhận ra được lối vào Đạo.

 Câu hỏi của Huệ Khả là nói về tâm sinh diệt suy nghĩ lăng xăng tối ngày. Nó vốn là Vọng. Trong hội giảng kinh Lăng Nghiêm, tôn giả Ajnata-Kaundinya gọi nó là khách trần, tới rồi đi. Vọng tâm này có thể ví như hình ảnh hiện trên máy truyền hình, hình này đi hình khác tới. Nhưng màn hình thì vẫn còn đó. Vọng tâm sinh diệt lăng xăng, tới rồi đi theo với cuộc đời ngắn ngủi phù du, nếu còn nghiệp chướng chiêu cảm tái sinh thì bỏ thân này sẽ qua thân khác, đến khi nào tu hành cho tới tâm được thanh tịnh thì sẽ là Thanh Tịnh Pháp Thân, là Chân Tâm, là trạng thái Niết Bàn.

Thưa quý khán thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý khán thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý khán thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 7 – Chân Tâm – Vọng Tâm

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý khán thính giả,

Trong một kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã kính gửi tới quý vị đoạn mở đầu của bài Bát Nhã Tâm Kinh, thường gọi tắt là Tâm Kinh, mà có lẽ ít nhất một lần trong đời, quý vị đã từng tụng, hoặc nghe tụng, vì bất cứ một thời kinh nào, dù là ở chùa hay tại tư gia, cũng đều có tụng bài này.

Ngay câu đầu của bài kinh là:

“Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm bát-nhã ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai Không, độ nhất thiết khổ ách …”…

Bát-nhã ba-la-mật-đa là phiên âm của tiếng Phạn prajna paramita, còn được gọi là “trí-tuệ bát-nhã”. Tiếng Phạn prajna có nghĩa là trí tuệ, paramita nghĩa là “rốt ráo”, “qua bờ kia”. Trí-tuệ bát-nhã là một thuật ngữ của nhà Phật có nghĩa là “trí-tuệ rốt ráo”. Trí tuệ này không do học nhiều hiểu rộng chuyện thế gian mà phát triển, nhưng từ công năng thiền quán thâm sâu mà trực ngộ.

Câu kinh trên được giải thích là “Bồ Tát Quán Tự Tại do thực hành thiền quán thâm sâu mà trực ngộ rằng ngũ uẩn (tức là toàn thể thân và tâm) vốn chỉ duyên với nhau mà xuất hiện, bản chất là “Không”, do đó, không còn bám víu, nên giải thoát khỏi tất cả mọi nỗi thống khổ”.

Bài kinh này được coi là quan trọng vì rất cô đọng, chỉ gồm có 260 từ ngữ  thôi, mà giới thiệu được điều cốt tủy của đạo Phật, là Tâm.

Tâm này, theo Luận Đại Thừa Khởi Tín, tác giả là luận sư Mã Minh, thì vốn có hai mặt là Tâm Chơn Như (nói gọn là Chân Tâm) và Tâm Sanh Diệt (nói gọn là Vọng Tâm). Tuy có hai tên gọi, nhưng không phải là 2 tâm, cũng như nước và sóng, tuy gọi bằng 2 tên, có hai dạng khác nhau, nhưng đều là nước, chỉ khác nhau là trong thể tĩnh và động mà thôi. Hai tâm này không rời nhau và bao trùm tất cả mọi sự, mọi vật, trên thế gian, cả những cái có hình tướng và những điều không có hình tướng.

Tâm Chơn Như thì bất sanh bất diệt, nên gọi là Như, là Chân Tâm. Tâm Sanh Diệt thì tùy theo sự suy nghĩ mà khởi, nên gọi là Vọng Tâm. Vọng Tâm tức là tâm ý thức của chúng ta liên miên trôi chảy, suy nghĩ liên tục, như dòng suối không lúc nào ngưng, nên còn gọi là “dòng suối ý thức”.

Thưa quý khán thính giả,

Có người quan niệm rằng “Suy nghĩ là hiện hữu”. Nhà Phật cho rằng “suy nghĩ chỉ là phần Vọng của Tâm, như lớp sóng nhồi trên biển cả. Không suy nghĩ là hội nhập toàn thể biển cả, là Chân Tâm, là Trí Tuệ Bát Nhã”.

Công cụ của Vọng Tâm là Ngũ Uẩn, là “năm món ngăn che” như sau:

Sắc Uẩn, là phần hình hài vật chất, gồm bốn thành tố là:

Chất cứng, thuật ngữ nhà Phật gọi là Địa Đại, tạo thành thịt da xương cốt, vân vân..

Chất lỏng, nhà Phật gọi là Thủy Đại, tạo thành máu huyết, nước mắt, nước tiểu, vân vân…

Chất hơi, nhà Phật gọi là Phong Đại, tạo thành hơi thở, vân vân…

Chất nóng, nhà Phật gọi là Hỏa Đại, tạo thành sự ấm áp của cơ thể, vân vân…

Nói gọn thì phần cơ thể vật chất của con người là do bốn thành tố này họp lại, nên nhà Phật thường nói “cái thân tứ Đại”. Sắc Uẩn gồm tất cả những cơ quan như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể con người, còn gọi là Thân Căn.

Thọ Uẩn, là phần cảm giác, vui buồn khi đối trước cảnh.

Tưởng Uẩn, là phần nhận biết cảm giác, âm thanh, màu sắc, mùi vị, ý niệm, vân vân…

Hành Uẩn là phần tác ý, tạo nghiệp.

Thức Uẩn, là môi trường nhận biết để cho Thân Căn và đối tượng có thể duyên sanh với nhau mà hoạt động, gọi là bộ ba Căn, Trần và Thức.

Thí dụ khi một người nghe thấy tiếng trống, thì tai là Căn, tiếng trống là Trần và  duyên sanh giữa Căn và Trần khiến người đó nghe được, là do sự hiện hữu của Thức.

Căn có Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý Căn, tức là Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân và Ý Căn.

Thức tùy duyên theo Căn nào thì đổi thành Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân và Ý Thức, chứ không phải là một thể cố định. Về điều này, đức Phật đã dạy rõ như sau:

– “ Thức do các duyên với điều kiện mà sinh khởi chứ không cố định. Nếu không có duyên thì không có Thức sinh khởi. Thức được gọi tên tùy thuộc vào điều kiện nó duyên theo, do con mắt và cảnh vật mà Nhãn Thức duyên, do tai nghe và tiếng động mà Nhĩ Thức duyên, vân vân. Thí dụ ngọn lửa được gọi tên theo nguyên liệu, lửa cháy bằng củi gọi là lửa củi, cháy bằng rơm gọi là lửa rơm. Thức cũng thế, tùy theo điều kiện tương ứng mà nó có tên, thí dụ ở mắt là Nhãn Thức, ở tai là Nhĩ Thức, ở mũi là Tỷ Thức, vân vân”.

Hành giả thiền quán thâm sâu, tâm thức trở nên thanh tịnh, bất chợt xảy ra đột biến, trực nhận rằng tất cả những thành tố của năm nhóm tạo thành Ngũ Uẩn vốn chỉ là “Không”, do duyên với nhau mà tạo thành mọi sự, hợp tan không cố định, cho nên không còn bám níu và vì thế mà tự giải thoát khỏi mọi nỗi thống khổ.

Thưa quý khán thính giả,

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là người đầu tiên đã thực hiện thành công quá trình tu chứng đó.  Vốn là một vị hoàng tử Ấn Độ thời phong kiến, được vua cha đặc biệt cưng chiều, thái tử Tất Đạt Đa đã từng sống một cuộc đời cực kỳ xa hoa. Sau khi chứng kiến 4 trường hợp sinh ra, già đi, bệnh tật rồi chết, ngộ được lý vô thường, Ngài khởi tâm đi tìm đường giải thoát cho chúng sinh, thực tập những pháp tu tập cực kỳ gian nan, khổ hạnh, ròng rã 6 năm trời, tới nỗi đã đứng bên ngưỡng cửa của tử thần. Từ kinh nghiệm bản thân, Ngài nhận định rằng cả hai lối sống — xa hoa và cực khổ, hành xác — đều không phải là con đường đúng trong công cuộc luyện tâm để giải thoát, Ngài khởi sự theo đường lối Trung Đạo, ăn uống vừa đủ để nuôi sống thân thể trong khi chú tâm nỗ lực hành thiền.

Sau một thời gian hành trì thiền quán dưới gốc cây Bồ đề, dòng suối ý thức đã lắng đọng, vào buổi sáng ngày thứ 49, khi Sao Mai mọc trên nền trời, Ngài chợt bừng tỉnh, ra khỏi cơn mê vọng của thế giới hiện tượng duyên sinh, trực ngộ cái mà chúng ta tạm dùng danh từ để gọi lên, là Bản Thể, Chân Tâm, Phật Tánh, Giác Tánh, Phật Tâm, Buddha Nature, Buddha Mind, True Mind, True Nature, vân vân….

Từ sự giác ngộ đó, suốt gần 50 năm, cho đến lúc tạ thế, Ngài đã dùng rất nhiều pháp phương tiện để quảng bá đường lối tu tập thành công của Ngài.

Như chúng tôi đã trình bày, Bát Nhã Tâm Kinh là bài kinh tuy là rất ngắn, chỉ 260 chữ thôi, nhưng rất quan trọng, vì đó là bài kinh giới thiệu về Tâm.

Đoạn trích dẫn ở trên là nói về Vọng Tâm, biến hiện là do Ngũ Uẩn duyên nhau mà thành. Hành giả quán chiếu thâm sâu, trực nhận được rằng Ngũ Uẩn — tức là toàn bộ thân và tâm — bản chất là Không, chỉ nhờ biến hiện liên tục, như người cầm cây nhang một đầu cháy đỏ, quay tít thành một vòng tròn, thì đầu cây nhang đỏ xoay tròn làm thành vòng tròn mầu đỏ, tưởng như là có một vòng tròn mầu đỏ, mà thật ra chỉ là đầu cây nhang đang cháy di động, huyễn hiện lên thành hình vòng tròn đỏ mà thôi.

Kinh Hoa Nghiêm có bài kệ:

“Nếu người muốn biết rõ,

Tất cả Phật ba thời,

Phải quán tánh pháp giới,

Tất cả do TÂM tạo”.

Thiền sư Duy Tắc giải thích như sau:

– “Nói đến chữ TÂM cũng như hư không, vốn là thanh tịnh, vốn là thấu triệt, chẳng có hình dáng, chẳng có phương sở, bất diệt, bất sanh, bất động, bất biến. Vậy tại sao lại nói là duy tâm tạo?

Nguyên cái tâm này dù nói bất biến mà cũng là tùy duyên, vì tùy duyên nên năng tạo; nói tùy duyên là vì một niệm thình lình sanh khởi, hoặc tiếp xúc với ngoại cảnh, trong và ngoài cảm ứng với nhau, gọi là nhân duyên, có nhân duyên mới thành pháp giới. Nay dùng thí dụ để tỏ rõ :

Tâm như nước, pháp giới như làn sóng. Bản thể của nước vốn yên tịnh, chẳng phương sở, chẳng lay động, khi gặp gió thổi thì muôn ngàn làn sóng tùy sự tiếp xúc mà nổi lên. Vậy thì nước có thể tạo ra làn sóng, làn sóng do nước mà có; cũng như Tâm có thể tạo ra pháp giới, pháp giới do Tâm mà có vậy”.

Kính thưa quý vị,

Kinh Lăng Nghiêm, đức Phật giảng về Tâm. Nhờ sự giải thích rất chi tiết, kỹ lưỡng, chu đáo của đức Phật mà tôn giả A Nan cùng chúng đệ tử trong hội Lăng Nghiêm hiểu được rằng Tâm vô hình mà chu biến khắp mười phương.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phật khai thị cho chúng sinh ngộ nhập Tri Kiến Phật. Tri Kiến Phật là một cách gọi khác của Chân Tâm.

Kinh Lăng Già giới thiệu Tự Giác Thánh Trí, cũng là một cách gọi khác của Chân Tâm, Trí Tuệ Bát Nhã, Tri Kiến Phật.

Kinh Đại Bát Nhã giới thiệu Trí Tuệ Bát Nhã, cũng là một cách gọi khác của Chân Tâm.

Nỗ lực của đức Phật và chư Tổ là nhắc nhở, thức tỉnh chúng sinh, để họ ra khỏi cơn mê vọng  Tham Sân Si, tạo nghiệp, trả quả báo, trôi lăn hoài trong vòng sinh tử luân hồi.

Đức Phật đã khẳng định:

– “Này chư Tỳ kheo, bây giờ cũng như trước đây, Như Lai chỉ dạy về “Khổ” và về  “Con Đường Diệt Khổ”.

Ngài nói vậy vì Ngài đã có kinh nghiệm thực chứng, đã bừng tỉnh ra khỏi cơn mê, đã “ngộ nhập Tri Kiến Phật”, đã “chứng ngộ Thánh Trí, Trí Tuệ Bát Nhã, Chân Tâm”, đã “độ nhất thiết khổ ách”, đã “đi hết con đường Diệt Khổ” đã “hết khổ” và đang sống trong cảnh giới Hữu Dư Niết Bàn.

Đến đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả lời giải thích về Niết Bàn, trích trong cuốn “The Mind and the Way – Buddhist Reflections on Life”, tác giả là thiền sư Ajahn Sumedho.

Thiền sư Sumedho thế danh là Robert Jackman sinh năm 1934 tại Seattle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ. Sau khi tốt nghiệp đại học, thày gia nhập binh chủng Hải Quân Mỹ, ngành quân y, phục vụ trong cuộc chiến Triều Tiên. Sau bốn năm quân ngũ, thày trở lại nhà trường và tốt nghiệp 2 bằng M.A. về môn Viễn Đông Học và môn Nam Á Châu Học tại University of California, Berkeley, năm 1963. Sau đó, thày hoạt động trong hội Hồng Thập Tự và Tổ Chức Quốc Tế Phụng Sự Hòa Bình.

Vào năm 1966, do lòng ái mộ Phật Giáo, thày sang thăm Thái Lan và xin thọ giới Sa Di. Một năm sau, 1967, thày thọ giới Tỳ Kheo và từ đó, thày ở lại tu thiền theo hệ phái Nguyên Thủy suốt mười năm, dưới sự hướng dẫn của thiền sư Ajahn Chah, một bậc đạo sư danh tiếng của Thái Lan trong thời hiện đại. (Ajahn có nghĩa là bậc đại đức, là người có đức độ lớn.)

Năm 1977, nhận lời mời của giáo hội Phật giáo Anh Quốc, thiền sư Ajahn Chah đã dẫn theo thày Sumedho qua Anh. Sau đó, thiền sư Ajahn Chah để thày Sumedho ở lại chùa Hampstead tại Luân Ðôn để coi sóc tăng chúng tại đây. Năm 1979 chư tăng tìm thêm được một cơ sở hoằng pháp tại Sussex và thế là tu viện Chithurst ra đời.

Sự phát triển càng tăng mau dưới sự hướng dẫn của thày Sumedho. Năm 1984, Trung Tâm Phật Giáo Amaravati được thành lập ngay tại gần thủ đô Luân Đôn, Anh Quốc, cùng với các cơ sở Phật giáo khác được thành lập tại nhiều nơi thuộc miền Bắc và Tây Nam nước Anh. Đồng thời các chi nhánh thuộc hệ thống Giáo hội Phật giáo Anh Quốc cũng được thành lập tại các nước Thụy Sĩ và Tân Tây Lan, dưới sự chỉ đạo tinh thần của thày Sumedho.

Đề tài thày Sumedho giảng thường là các vấn đề thực tế, xảy ra trong đời sống hằng ngày. Thày giảng về cách hóa giải cơn giận dữ, sống hài hòa với thế giới và luôn luôn nhắc nhở thính chúng phải tỉnh thức trước sự vô thường trong cuộc đời. Thày dạy mọi người bước trên con đường giác ngộ giải thoát bằng thiền định, về sự xả bỏ những vướng mắc do Tham Sân Si gây ra và nuôi dưỡng tâm từ bi, khuyên khích sống cuộc đời thanh đạm, vân vân …

Sau đây là quan điểm của thày Sumedho về Niết bàn.

…“… Theo một số người thì Niết Bàn là từ ngữ để mô tả trạng thái sung sướng, ngây ngất, mê ly, như đang ở trên thiên đàng. Sự thực, Niết Bàn có nghĩa là “không bị những điều kiện tạo thành Sinh và Tử trói buộc”. Có nghĩa là đương sự đã hoàn toàn buông xả, đã giải thoát khỏi những trói buộc của tham lam, sân hận và si mê.

Đức Phật đã nói rõ rằng giáo pháp của Ngài là để dạy con người, những người có tinh thần trách nhiệm về đạo đức, những người thông tuệ. Vậy thì bạn có phải là một trong số người đó không? Nếu không thì, có lẽ tốt hơn, bạn hãy tu tỉnh lại.

Như vậy, Niết Bàn không phải là một trạng thái thần tiên siêu thoát ở trên trời, hoặc lơ lửng giữa không trung, hoặc trong kiếp sắp tới. Đức Phật luôn luôn nhắc nhở chúng ta về sự tỉnh thức, thấy rõ dòng đời đang trôi chảy như chính nó, ngay trong lúc này và tại nơi đây, trong phạm vi khả năng của con người.

Chúng ta cần quán chiếu thực trạng của đời sống, có thế chúng ta mới thực sự bắt đầu nhìn thấy chân lý, hơn là cứ suy đoán, tưởng tượng, tin hoặc không tin. Như thế, bạn sẽ có thể sáng suốt quán chiếu, thẩm thấu, thực nghiệm được trạng thái giải thoát, Niết Bàn, do đã thoát ra khỏi những dính mắc, trói buộc của đời sống….”…

Thưa quý khán thính giả,

Trước khi dứt lời, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một câu chuyện Thiền, trích dịch từ cuốn Collection of Stone and Sand”, do thiền sư Muju viết bằng Nhật ngữ, dịch giả Paul Reps dịch sang Anh Ngữ. Câu chuyện như sau:

“Ngay trước khi Ninakawa từ trần, thiền sư Ikkyu đến thăm và hỏi ông:

– Để cho tôi độ ông, được không?

Ninakawa trả lời:

– Tôi đến đây một mình và ra đi một mình. Ông có thể giúp gì cho tôi?

Thiền sư Ikkyu trả lời:

– Nếu ông nghĩ rằng ông thật sự có đến có đi, thì đó là ảo tưởng của ông. Để tôi chỉ cho ông con đường mà ở đó không có đến và đi.

Với mấy lời khai thị này, Đạo lộ đã được thiền sư Ikkyu mở ra rõ ràng,  Ninakawa mỉm cười, nhẹ nhàng qua đời.”

Kính thưa quý vị,

Con đường “không có đến và đi” là con đường Niết Bàn. Bát Nhã Tâm Kinh đã nói: “… bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm…”, đó là Như Như, là Chân Tâm, Phật Tánh, Niết Bàn. Vì Bản Tâm, Giác Tánh, Phật Tánh của mỗi chúng sinh vốn cùng khắp không gian và thời gian, bất tăng bất giảm, nên gọi là Như, có nghĩa là không đi, không đến, mà vốn đã sẵn sàng, như kinh Viên Giác nói “trong quặng vàng vốn đã có vàng”.

Chỉ một lời khai thị, thiền sư Ikkyu đã cởi mở được tâm thức chấp chặt của Ninakawa, kéo ông ta ra khỏi cơn mê vọng về sinh tử luân hồi, về đến và đi trong cõi Ta Bà.

Thưa quý khán thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc chương trình phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.

Nếu quý khán thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý khán thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.