Archive | April 2014

Chồng xúi “giả vờ yêu” để moi tiền

Hỏi: 

19 tuổi, em lấy chồng theo sự sắp đặt của bố mẹ. Chồng em là con một gia đình khá giả nhưng bản thân anh thì lười biếng, suốt ngày chỉ thích tiêu xài tiền của cha mẹ. Từ khi lập gia đình, chúng em ra riêng và tự lập. Không được học hành nhiều, và không chịu nổi sự nhàm chán vô bổ trong gia đình, em xin đi làm cho một hãng cung cấp phục vụ dọn dẹp văn phòng. 

Trong số những người thuê em dọn dẹp, có một người góa vợ. Các con ông đều đã trưởng thành, có gia đình riêng. Ông là người có học, đối xử rất tốt với em. Biết hoàn cảnh của em, ông tỏ ra thương cảm và thường cho em quà hoặc tiền típ. 3 năm qua, hai đứa em có một mụn con, gia đình em cũng tạm ổn nhờ vào số tiền em kiếm được hàng tháng. Riêng em càng sống và làm việc lâu ở nhà ông ấy, em càng quý mến, tôn trọng ông. 

Cách đây gần một năm, người đàn ông ấy tâm sự rằng rất thương em dù biết như thế là không nên. Ông chủ muốn em làm vợ và hứa sẽ coi con gái em như con mình. Quá bất ngờ, sợ hãi, em đã kể lại với chồng và định thôi không làm nữa để tránh phiền hà. Nghe em kể, chồng em đã không tức giận mà còn xúi em cứ “giả vờ” nhận lời yêu ông ta để moi tiền. Vì chồng con và vì sẵn có tình cảm với ông, em đã làm theo lời xúi dục của chồng. 

Nhưng giờ thì hình như em cảm thấy em đã yêu ông chủ mất rồi. Em nhận ra rằng, chưa bao giờ em yêu chồng mà chỉ sống với anh ta bằng nghĩa vụ. Nhưng nếu bỏ chồng để đến với ông ấy thì dư luận và chồng em sẽ không buông tha cho em. Em khó nghĩ quá, chị có cách gì giúp em được không?

Em, N. San Jose 

Đáp: 

Chị đọc thư em ba lần, càng đọc càng thấy buồn giùm cho em. Chồng em là tên vô liêm sỉ, khi xúi em “cứ giả vờ nhận lời yêu ông ta để moi tiền” là chồng em đã ngang nhiên coi em như một cô gái bán thân mất rồi! 

Em viết “gia đình em cũng tạm ổn nhờ vào số tiền em kiếm được hàng tháng”có nghĩa là chồng em không đi làm, chỉ nằm nhà sống bám vào em, và xúi em moi tiền của đàn ông khác, đó là cung cách của một tên ma cô! Cung cách ma cô này sẽ tiếp tục nếu ông chủ này không thích em nữa, hoặc ông ta chết, v. v. . ., em sẽ được “chồng” gán ghép cho người khác ! 

Trước sau, em là người có tư cách. Dù ít học, không kiếm được việc làm nhàn nhã, em tình nguyện đi làm việc dọn dẹp lau chùi nặng nhọc để có tiền nuôi con và luôn cả người chồng sống cuộc đời tầm gửi kia. 

Chị chưa bao giờ khuyên vợ chồng ai bỏ nhau. Cho nên, chị sẽ trình bày với em một số ý kiến, mong em tự suy nghĩ: 

Em còn rất trẻ, còn cả cuộc đời ở trước mặt, không nên quyết định vội vã. Trước nhất, em tạm ngưng làm cho cái hãng có ông chủ hiện em đang “yêu” (chưa chắc em đã yêu, mà chỉ là thấy em đang cần cả tình cảm lẫn tiền bạc, như người sắp chết đuối, ông chủ vừa vỗ về em trên phương diện tình cảm lại vừa giúp đỡ em về tiền bạc, nên trước mắt em, ông ta như  là cái phao). 

Đồng thời, em nói với chồng em rằng về phương diện đạo đức và liêm sỉ, em không thể tiếp tục cuộc sống hai mặt như vậy. Nay em nghỉ làm chỗ đó, yêu cầu anh ta đi kiếm việc, dù là việc lương ít, dù là việc nặng nhọc, anh ta phải đi làm, đó là cái giá mà người đàn ông phải trả, nếu còn muốn ngẩng mặt nhìn đời. Nếu anh ta tỉnh ngộ, nhận ra sự vô liêm sỉ của mình, biết hối lỗi, thì em – vì cháu bé – mà cho anh ta làm lại cuộc đời một lần, quên đi những lỗi lầm quá khứ, sau cơn mưa có thể trời sẽ sáng, em à. 

Nếu anh ta ngoan cố, không chịu đi làm, muốn em cứ tiếp tục cuộc sống bòn tiền của đàn ông khác để nuôi anh ta như hiện nay, thì em ôm con về thưa với cha mẹ em, xin các người giúp đỡ. Cha mẹ em mà biết được sự anh ta khuyên em “cứ giả vờ nhận lời yêu ông ta để moi tiền”, thì chị tin rằng các người sẽ giúp gỡ em ra khỏi cảnh vợ chồng mà như ma cô lợi dụng gái này. 

Nếu sau này vợ chồng em đã tan vỡ, em cũng không còn “cần” đến ông chủ cũ, mà em vẫn yêu ông ta, vẫn muốn sống chung, thì đó là em yêu ông ta với tình yêu thuần túy, không lợi dụng, không coi ông ta như một chỗ “tiện nghi”. 

Còn như sau khi cách mặt, em cũng xa lòng, thì cuộc đời em còn trẻ trung, tương lai luôn luôn tươi sáng cho những con người biết đứng lên, biết sống tự lập, em ạ. 

Thân chúc em mọi sự tốt lành.

Thuần Nhã (ĐPK)

 

Chồng xúi “giả vờ yêu” để moi tiền

Hỏi: 

19 tuổi, em lấy chồng theo sự sắp đặt của bố mẹ. Chồng em là con một gia đình khá giả nhưng bản thân anh thì lười biếng, suốt ngày chỉ thích tiêu xài tiền của cha mẹ. Từ khi lập gia đình, chúng em ra riêng và tự lập. Không được học hành nhiều, và không chịu nổi sự nhàm chán vô bổ trong gia đình, em xin đi làm cho một hãng cung cấp phục vụ dọn dẹp văn phòng. 

Trong số những người thuê em dọn dẹp, có một người góa vợ. Các con ông đều đã trưởng thành, có gia đình riêng. Ông là người có học, đối xử rất tốt với em. Biết hoàn cảnh của em, ông tỏ ra thương cảm và thường cho em quà hoặc tiền típ. 3 năm qua, hai đứa em có một mụn con, gia đình em cũng tạm ổn nhờ vào số tiền em kiếm được hàng tháng. Riêng em càng sống và làm việc lâu ở nhà ông ấy, em càng quý mến, tôn trọng ông. 

Cách đây gần một năm, người đàn ông ấy tâm sự rằng rất thương em dù biết như thế là không nên. Ông chủ muốn em làm vợ và hứa sẽ coi con gái em như con mình. Quá bất ngờ, sợ hãi, em đã kể lại với chồng và định thôi không làm nữa để tránh phiền hà. Nghe em kể, chồng em đã không tức giận mà còn xúi em cứ “giả vờ” nhận lời yêu ông ta để moi tiền. Vì chồng con và vì sẵn có tình cảm với ông, em đã làm theo lời xúi dục của chồng. 

Nhưng giờ thì hình như em cảm thấy em đã yêu ông chủ mất rồi. Em nhận ra rằng, chưa bao giờ em yêu chồng mà chỉ sống với anh ta bằng nghĩa vụ. Nhưng nếu bỏ chồng để đến với ông ấy thì dư luận và chồng em sẽ không buông tha cho em. Em khó nghĩ quá, chị có cách gì giúp em được không?

Em, N. San Jose 

Đáp: 

Chị đọc thư em ba lần, càng đọc càng thấy buồn giùm cho em. Chồng em là tên vô liêm sỉ, khi xúi em “cứ giả vờ nhận lời yêu ông ta để moi tiền” là chồng em đã ngang nhiên coi em như một cô gái bán thân mất rồi! 

Em viết “gia đình em cũng tạm ổn nhờ vào số tiền em kiếm được hàng tháng”có nghĩa là chồng em không đi làm, chỉ nằm nhà sống bám vào em, và xúi em moi tiền của đàn ông khác, đó là cung cách của một tên ma cô! Cung cách ma cô này sẽ tiếp tục nếu ông chủ này không thích em nữa, hoặc ông ta chết, v. v. . ., em sẽ được “chồng” gán ghép cho người khác ! 

Trước sau, em là người có tư cách. Dù ít học, không kiếm được việc làm nhàn nhã, em tình nguyện đi làm việc dọn dẹp lau chùi nặng nhọc để có tiền nuôi con và luôn cả người chồng sống cuộc đời tầm gửi kia. 

Chị chưa bao giờ khuyên vợ chồng ai bỏ nhau. Cho nên, chị sẽ trình bày với em một số ý kiến, mong em tự suy nghĩ: 

Em còn rất trẻ, còn cả cuộc đời ở trước mặt, không nên quyết định vội vã. Trước nhất, em tạm ngưng làm cho cái hãng có ông chủ hiện em đang “yêu” (chưa chắc em đã yêu, mà chỉ là thấy em đang cần cả tình cảm lẫn tiền bạc, như người sắp chết đuối, ông chủ vừa vỗ về em trên phương diện tình cảm lại vừa giúp đỡ em về tiền bạc, nên trước mắt em, ông ta như  là cái phao). 

Đồng thời, em nói với chồng em rằng về phương diện đạo đức và liêm sỉ, em không thể tiếp tục cuộc sống hai mặt như vậy. Nay em nghỉ làm chỗ đó, yêu cầu anh ta đi kiếm việc, dù là việc lương ít, dù là việc nặng nhọc, anh ta phải đi làm, đó là cái giá mà người đàn ông phải trả, nếu còn muốn ngẩng mặt nhìn đời. Nếu anh ta tỉnh ngộ, nhận ra sự vô liêm sỉ của mình, biết hối lỗi, thì em – vì cháu bé – mà cho anh ta làm lại cuộc đời một lần, quên đi những lỗi lầm quá khứ, sau cơn mưa có thể trời sẽ sáng, em à. 

Nếu anh ta ngoan cố, không chịu đi làm, muốn em cứ tiếp tục cuộc sống bòn tiền của đàn ông khác để nuôi anh ta như hiện nay, thì em ôm con về thưa với cha mẹ em, xin các người giúp đỡ. Cha mẹ em mà biết được sự anh ta khuyên em “cứ giả vờ nhận lời yêu ông ta để moi tiền”, thì chị tin rằng các người sẽ giúp gỡ em ra khỏi cảnh vợ chồng mà như ma cô lợi dụng gái này. 

Nếu sau này vợ chồng em đã tan vỡ, em cũng không còn “cần” đến ông chủ cũ, mà em vẫn yêu ông ta, vẫn muốn sống chung, thì đó là em yêu ông ta với tình yêu thuần túy, không lợi dụng, không coi ông ta như một chỗ “tiện nghi”. 

Còn như sau khi cách mặt, em cũng xa lòng, thì cuộc đời em còn trẻ trung, tương lai luôn luôn tươi sáng cho những con người biết đứng lên, biết sống tự lập, em ạ. 

Thân chúc em mọi sự tốt lành.

Thuần Nhã (ĐPK)

 

Bí ẩn của sự Giác Ngộ

Đây là một phần bản dich quyển The Mystique of Enlightenment của UG Krishnamurti, được thu thập và ghi lại bởi Rodney Arms (www.ugkrishnamurti), trong quyển sách này có những đoạn UG Krishnamurti tường thuật lại kinh nghiệm diễn biến tâm linh chứng ngộ kéo dài một thời gian 7 ngày của ông, mà ông goi đó là một vụ “bùng nổ” bên trong . Nhận thấy, kinh nghiệm chứng ngộ 7 ngày mà ông đã trải qua và kể lại là những thông tin bổ ích để tham khảo, xin chia sẻ với các bạn.Thông tin thêm Ông này là UG Krishnamurti khác với ông Jiddu Krishnamuri là ông thầy nỗi tiếng có rất nhiều sách nhiều người đã biết.

I. Sơ Lược tiểu sử U.G. Krishnamurti. Tên đầy đủ của UG là Uppalori Gopala Krishnamurti. Bạn bè và những người ngưỡng mộ ông thường gọi ông một cách thân thương là UG. Ông sanh ngày 9 tháng 7 năm 1918 trong một gia đình dòng dõi Bà la môn ở Masulipatam, một thị xã miền ven biển thuộc tỉnh Andhra Pradesh, Ấn Độ. Khi UG chỉ vừa chào đời được 7 ngày thì mẹ của UG qua đời, và UG được nuôi dưỡng, dạy dỗ bởi ông ngoại. Ngoại của UG là một luật sư danh tiếng, giàu có, và là một thành viên nổi bật của hội Thông Thiên Học. UG trưởng thành trong môi trường đặc thù của Thông Thiên Học và lại có tín ngưỡng, thực hành theo Ấn độ giáo chính thống. Thậm chí khi còn là một cậu bé, UG là một kẻ hay nổi loạn, chống đối, lỗ mãng nhưng thật thà đối với những gì anh ta đã làm. 

UG hoàn tất tiểu học và trung học ở thị xã Gudivada và sau đó lấy bằng cử nhân danh dự về Tâm lý và Triết học tại Đại Học Madras. Nhưng, sự học hỏi nghiên cứu về các hệ thống triết lý đa dạng và tâm lý học tây phương chỉ gây chút ít ấn tượng đối với UG. “Cái tâm thức mà mấy cha nội này đang lý giải thì nó nằm ở đâu vậy?”, có một lần UG đã hỏi vị giáo sư Tâm Lý học của mình như thế. Có điều gì đó lạ thường nơi một sinh viên chỉ vừa mới 20 tuổi đầu, đặc biệt là học thuyết của Freud đã được xem như là thành tựu mới nhất nói về tâm thức nhân loại vào thời đó. 

Khoảng thời gian từ 14 tuổi đến 21 tuổi, UG thỉnh thoảng đến học và thực hành thiền định và yoga với Swami Sivananda ở Rishikesh. UG có nhiều thể nghiệm và linh ảnh kỳ diệu khi tu tập ở đó, tuy nhiên UG đã đặt nghi vấn về tính chất thực hư của những kinh nghiệm tâm linh này, vì UG nghĩ rằng anh có thể nhận thức ra được chúng chính là nền tảng kiến thức hiểu biết mà UG đã có trước đó rồi. 

Năm 1939, khi được 21 tuổi, UG đến gặp gỡ vị đạo sư Sri Ramana Maharshi và hỏi ông, “ông có thể trao cho cho tôi cái gọi là “giải thoát” không?” Ramana đáp, “tôi có thể trao cho anh cái-đó, nhưng anh có khả năng nắm bắt cái-đó được không?” Câu trả lời của Ramana gây chấn động UG như “tiếng sét” và khiến cho UG quyết định bắt đầu cuộc hành trình tìm kiếm chân lý không mệt mỏi, không nản lòng, và cuối cùng không ngờ UG đã đạt được quả vị chứng ngộ giải thoát hoàn toàn vào năm UG 49 tuổi (năm 1967).Sau khi rời đại học, UG gia nhập hội Thông Thiên Học với vai trò diễn giả và ông đi vòng quanh Ấn độ để thuyết giảng về Huyền bí học. Ngay cả sau khi lập gia đình với bà Kusuma Kumari vào năm 1943, ông vẩn còn tiếp tục làm việc cho hội Thông Thiên Học và đã có nhiều buổi thuyết giảng ở các quốc gia Châu Âu. Mãi đến năm 1953 ông nhận thức ra được rằng những chuyện ông đang làm là sai lầm đối với việc tìm kiếm chân ngã, nên ông đã phẫn nộ rời bỏ chức vụ. Sau đó ông gặp Jiddu Krishnamuri, là bậc đạo sư tâm linh khét tiếng về việc truyền bá tư tưởng phủ nhận mọi truyền thống giáo điều, tôn sùng thần tượng, và tập tục quy ước xã hội vào lúc bấy giờ. Trong vòng 2 năm, UG thường hay có những cuộc hội thoại với J. Krishnamurti, và hai người đã có nhiều cuộc tranh luận dữ dội về những vấn đề tâm linh. Sau cùng UG đã từ chối đường lối của J. Krishnamurti, và gọi đó là “một chuyến hải trình hư ảo..” 

Trong suốt khoảng thời gian này, UG cũng có trải qua một thể nghiệm biến đổi thân tâm thần kỳ, mà ông gọi đó là “kinh nghiệm về Cái Chết”. Nhưng ông xem nhẹ kinh nghiệm đó và “quét sạch nó sang một bên”, và tiếp tục thăm dò, tra xét, kiểm nghiệm, hoài nghi mỗi một kinh nghiệm tâm linh cho đến khi nào ông đạt được giác ngộ thực sự. 

Thời gian trước năm 1967 ( năm ông đạt được giác ngộ giải thoát) ông có rất nhiều kinh nghiệm tâm linh, ông có năng lực có thể nhìn thấy tiền kiếp, hiện tại và tương lai của người khác. Ông nói: “Cái khoảnh khắc mà tôi gặp một người, tôi có thể thấy được toàn bộ quá khứ, hiện tại, và vị lai của người đó. Nhưng tôi không sử dụng năng lực này. Tôi tự hỏi, ‘tại sao tôi lại có năng lực này?’. Thỉnh thoảng tôi nói những điều nào đó, và chúng xảy ra đúng như vậy. Tôi vẫn chưa thể thể hiểu rõ và nghĩ ra được căn nguyên hoạt động của năng lực đó? Tôi cũng không có hứng thú với nó. Làm thế nào mà tôi nói điều gì đó, và nó luôn xảy ra y như vậy? Tuy nhiên, nó đã mang lại vài hậu quả không vui lòng, và gây nên sự buồn phiền cho một ít người.” 

Năm 1955, UG đưa gia đình sang Hoa Kỳ để chữa bệnh cho con trai của ông. Khi nguồn tài chánh của ông cạn kiệt, ông để gia đình vợ con trở về Ấn Độ, còn ông thì ở lại tiếp tục hành trình tâm linh. Không tiền không bạc, ông sống lang thang, trôi nổi từ nơi này đến nơi khác, London, Paris… Sau cùng tình cờ ông quen biết với cô Valentine de Kerven, và tạm trú thân ở nhà cô Valentine ở Saanen, Thụy Sĩ. Vào khoảng thời gian trú ngụ tại nhà cô Valentine, những kinh nghiệm tâm linh lạ thường đã xảy đến cho ông, nó là sự khai mào cho “cái chết – thoát thai hoán cốt” vào ngày sinh nhật ông đúng 49 tuổi (1967), và là sự bắt đầu khó thể tin được về những thể nghiệm thay đổi chuyển hóa bên trong cơ thể ông đã khiến ông “nhảy một bước vào cái Tâm Thái (mảnh đất Như Lai – nói theo thiền tông), cái Tâm Thái mà cho đến nay vẫn còn khó hiểu trong khuôn khổ hiểu biết về truyền thống huyền bí và khai ngộ của chúng ta. Liên tục trong 7 ngày, sau bảy lần thay đổi xảy ra, ông đạt được trạng thái mà ông gọi là “Tánh Tự Nhiên” (Natural State). Nó là một sự biến đổi tế bào trong cơ thể, một con người được chuyển hóa, tái sinh, mới mẻ toàn diện. 

UG rời khỏi thế giới này vào lúc 2:30 PM, ngày 22 tháng 3 năm 2007 tại Vallecrosia, nước Ý. Ông hưởng thọ 88 tuổi. Bạn bè và nhiều người ngưỡng mộ ông khắp nơi trên thế giới đã gởi lời bày tỏ thương tiếc sự ra đi của ông.II. Cơ duyên đưa UG đến giác ngộ rốt ráo (July 1967): Lời kể lại của U.G. Krishnamurti khi ông trú ngụ tại nhà cô Valentine. 

Suốt trong khoảng thời gian đó (tôi gọi nó là thời kỳ thai nghén), đủ mọi thứ loại thể nghiệm tâm linh xảy đến bên trong cơ thể tôi – nhức đầu, những cơn đau đầu liên tục không ngừng nghỉ, những cơn đau khủng khiếp bên trong não bộ. Tôi đã nuốt hàng ngàn viên thuốc Aspirin, nhưng thuốc men không giúp ích cho tôi bớt đau chút nào cả. Đó không phải là chứng “đau nhức nửa đầu” (migraine) hoặc những triệu chứng đau đầu mà y học đã biết, nhưng là những cơn nhức đầu như búa bổ. Trong thời gian bị cơn đau đầu hành hạ, ngày nào tôi cũng đều uống nhiều viên Aspirin và từ 15 cho đến 20 tách cà phê để mong giảm bớt cơn đau phần nào! Có một ngày Valentine than phiền “Anh làm cái gì vậy! Ngày nào anh cũng uống tới 15 tách cà phê. Anh có biết nó cũng là tiền bạc không? Từ 300 cho đến 400 francs mỗi tháng đó.” Dù thế nào đi nữa, nó cũng là một điều dễ sợ cho tôi. 

Có nhiều chuyện buồn cười xảy đến cho tôi. Tôi còn nhớ là khi tôi chà sát trên thân thể tôi, thì có đốm sáng lóe lên giống như chất lân tinh phát sáng lên vậy. Valentine đã từng có lần chạy ra khỏi phòng ngủ của cô để xem xét – vì cô cứ nghĩ là có chiếc xe nào đó chạy đến con đường trước nhà vào giữa đêm. Hể mỗi lần tổi trở mình lăn trên gường thì có ánh sáng lấp lánh phát ra, (UG cười ) thật ngộ nghĩnh – “Cái gì đây vậy?” Nó là điện – đó là tại sao tôi lại bảo nó là từ trường điện. Tôi cứ tưởng nguyên nhân do bởi chất ni-lon của áo quần tôi mặc có tích chứa tĩnh điện gây ra, rồi tôi tạm dừng sử dụng đồ vật có chất ni-lon. Tôi là người thuộc chủ nghĩa hoài nghi cực đoan, “từ đầu tới chân”, tôi không bao giờ tin tưởng bất cứ điều gì cả; thậm chí nếu tôi thấy phép lạ xảy xảy ra trước mặt tôi, tôi cũng không vội chấp nhận – chẳng hạn như sự cấu tạo, bản chất của tôi đây. Sự kiện trên hoặc điều nào tương tự như thế chưa bao giờ được tạo ra và xảy đến cho tôi trước đây… 

Những sự thể rất lạ lùng xảy đến với tôi, nhưng tôi chưa bao giờ cho là chúng có liên quan đến những điều gọi là tự-do tự-tại hoặc giải thoát, bởi vì vào thời gian đó toàn thể mọi sự biến mất khỏi cơ thể tôi. Tôi đã vươn tới cái điểm mà tôi tự nhủ “Tất cả các bậc minh sư và cứu thế đều là vớ vẩn – vì vậy tôi không còn thích thú điều gì tương tự như vậy nữa,” vì thế nó biến mất khỏi bản thân tôi hoàn toàn. Những điều kỳ dị khác thường vẫn tiếp tục diễn biến, nhưng tôi không bao tự nhủ là “Ô, (UG cười ) tôi đang đi đến nơi ĐÓ, tôi gần tới Đó.” Cái ĐÓ không có xa hay gần, cũng không có cận kề hay sát bên chỗ Đó. Không có ai tiến gần tới nơi Đó được, bởi vì anh ta chuẩn bị, nên anh ta khác biệt với Nó. Không thể có sự sẵn sàng để đạt được cái Đó. Nó chỉ hích trúng vào bạn, giáng mạnh vào bạn như là sức nặng một tấn gạch vậy.Vào tháng 4 năm 1967, tôi tình cờ đến Paris trong khi Jiddu Krishnamurti cũng ngẫu nhiên có mặt ở đó. Một vài người bạn của tôi gợi ý “Tại sao tôi không đi lắng nghe bạn cũ (J.K) của tôi giảng thuyết? Anh ta có một buổi hội thảo ở Paris.” Tôi nói, “Được thôi, tôi đã không nghe anh ấy nói chuyện nhiều năm rồi – gần như đã 20 năm – để tôi đến đó nghe thử.” 

Khi tôi đến hội trường, họ yêu cầu tôi trả hai đồng francs (tiền Pháp) để vào cửa. Tôi nói “Tôi không bằng lòng trả hai đồng francs để nghe J. Krishnamutri giảng thuyết. Không, thôi chúng ta hãy đi nơi khác và làm chuyện gì vớ vẩn chơi. Hãy đến sòng bạc xem vũ thoát y. Đi nào, chúng ta chỉ mất hai mươi đồng francs để đến đó.” Vì vậy, chúng tôi đến sòng bạc “Casino de Paris” xem chương trình khiêu vũ. Tôi có được một kinh nghiệm rất lạ lùng vào thời gian đó: Tôi không biết được rõ tôi chính là người vũ công hay là có một người vũ công nào khác đang khiêu vũ trên sàn nhảy. Một kinh nghiệm rất là kỳ quặc đến với tôi: có một loại chuyển động kỳ dị như thế nào đó bên trong người tôi. (Sự chuyển động kỳ dị này bây giờ đã trở thành quen thuộc tự nhiên đối với tôi rồi.) Không có sự phân cách lúc đó: không có người quan sát đang nhìn ngắm người vũ công. Vấn đề là tôi không biết có phải tôi chính là người vũ công trên sàn nhảy hay là một người vũ công nào khác trên sàn nhảy đã khiến tôi suy nghĩ nhức óc, làm phiền phức tôi lúc đó – sau đó chúng tôi rời khỏi sòng bạc…

Câu hỏi “Cái trạng thái đó là gì?” đã tạo nên một cường độ mãnh liệt trong tôi – không phải cường độ về cảm xúc – tôi càng cố gắng tìm câu trả lời cho câu hỏi thì tôi càng thất bại, và cường độ của câu hỏi lại càng tăng lên mạnh mẽ thêm. Nó cũng giống như là (tôi luôn luôn dùng sự so sánh như vầy) vỏ hạt gạo (trấu): Nếu có một đống trấu bắt lửa, nó tiếp tục cháy ngầm âm ỉ bên trong; bạn không nhìn thấy lửa cháy ra phía ngoài, nhưng khi bạn chạm vào, dĩ nhiên, nó sẽ làm bạn bị phỏng. Giống y cách thức như thế, câu hỏi vẫn cứ tiếp tục diễn tiến: “Cái trạng thái đó là gì? Tôi muốn hiểu, đạt được nó. Chỉ thế thôi. J. Krishnamurti có lần nói rằng ‘Không có đường lối hay phương pháp nào để tôi có thể đạt đến được’, nhưng tôi vẫn cứ muốn biết cái trạng thái đó nó như thế nào, cái Tâm Thái mà Phật Thích Ca, Sankara, và các vị đạo sư khác đã hội nhập vào trong nó.” 

Sau đó, một giai đoạn khác xảy ra vào tháng 7 năm 1967. Jiddu Krishnamurti lại đến Saneen thuyết giảng. Các bạn của tôi lôi kéo tôi đến đó và nói “buổi nói chuyện của J. Krishnamurti lần này miễn phí, tại sao tôi không đi nghe thử xem sao?” Tôi nói “Cũng được, tôi sẽ đi nghe J.Krishnamurti giảng thuyết.” Khi tôi lắng nghe J. Krishnamurti nói, thì có cái gì đó là lạ, khôi hài xảy đến cho tôi – cái cảm giác kỳ lạ mà J. Krishnamurti đang diễn tả là trạng thái của tôi, chứ không phải của J. Krishnamurti. Tại sao tôi lại muốn biết tâm thái của J. Krishnamurti chứ? Anh ta đang diễn tả một trạng thái gì đó, vừa vận hành, vừa tỉnh thức, vừa tịch lặng – “Trong trạng thái tịch lặng đó, không có tâm ý; chỉ có hành-động mà thôi” – tất cả mọi thứ đại loại như vậy. Vậy là “Tôi hiện đang ở trong tâm thái đó. Thật là quái quỉ gì đâu, tại sao tôi lại phải tiêu phí hết ba bốn mươi năm để đi nghe những người khác thuyết giảng, và cố gắng cứ muốn đi tìm hiểu cái tâm thái của J. Krishnamurti hay là của một ai khác, như Phật Thích Ca, Chúa Giê-su? Tôi ở trong tâm thái, cảnh giới đó mà. Bây giờ tôi đang an trú trong tâm thái đó.” Thế nên, tôi bước ra khỏi hội trường và không bao giờ trở lại nữa. 

Kế đến – rất lạ kỳ là – câu hỏi “Cái tâm thái đó là gì?” tự chuyển biến thành câu hỏi khác: “Làm thế nào để tôi biết được là mình đang an trú trong tâm thái đó, cái tâm thái của Phật, cái tâm thái mà tôi rất muốn biết và mong cầu từ mọi người? Nhưng mà làm thế nào tôi biết được là tôi hiện ở trong tâm thái đó đây? ”…Ngày kế tiếp (ngày sinh nhật năm 49 tuổi của UG – ngày 9 tháng 7 năm 1967 ) tôi đang ngồi trên một chiếc ghế dài dưới một cội cây ngắm nhìn một trong những địa điểm thắng cảnh tuyệt đẹp của thế giới, “bảy ngọn đồi và bảy thung lũng” của miền đất Saanen. Tôi đang ngồi yên vị nơi đó. Câu hỏi không còn trong trí nữa, mà toàn thể thân xác và tâm trí tôi chính là câu hỏi đó: 

“Làm thế nào tôi biết được rằng tôi ở trong Tâm thái đó?” 

Có một sự phân chia thật lạ kỳ bên trong bản thể tôi: có một kẻ nào đó biết được rằng hắn ta đang ở trong tâm thái đó. Kiến thức về tâm thái – cái mà tôi đã đọc qua sách vở, qua kinh nghiệm, qua việc nghe thiên hạ nói về nó – chính kiến thức này đang quan sát cái tâm-thái đó, vì vậy tâm-thái đó chỉ là sự phóng chiếu (vọng tưởng) từ kiến thức này ra mà thôi.” 

Nhận nhức được như thế tôi mới tự nhủ: “Nhìn đây ông thần, sau bốn mươi năm ông chẳng có tiến thêm được một bước nào hết; ông chỉ dậm chân tại chỗ thôi. Khi ông đặt câu hỏi trên, thì cái kiến thức này phác họa và phóng tưởng lên tâm trí ông (kiến thức tạo ra cái tâm thái và kẻ đang quan sát hay đang ở trong tâm thái đó). Tương tự như thế, ông ở trong cái tình cảnh mà kiến thức tự nó đặt câu hỏi đối với chính nó, ‘Làm thế nào tôi biết (tâm thái chứng ngộ)?’ bởi vì nó chính là kiến thức này mà, là sự diễn tả của mọi người về cái tâm-thái đó như thế nào đó đã tạo ra tâm-thái này bên trong ông. Ông đang đùa cợt với chính mình. Ông đúng là một kẻ ngu xuẩn.” Thế thì chẳng còn gì cả, mất sạch hết rồi. Tuy nhiên, vẫn còn có một loại cảm giác kỳ dị bên trong tôi, cái cảm giác lạ lùng là cái tâm-thái này… 

Câu hỏi kế tiếp là “Làm thế nào tôi biết cái cảm giác kỳ lạ chính là tâm-thái này?” – Tôi không có bất cứ câu trả lời nào cho câu hỏi đó cả — câu hỏi giống như là rơi vào trong vùng nước xoáy, câu hỏi đó lại hiện lên và xoáy nước cuốn mất, và tình trạng cứ diễn tiến tiếp tục lặp đi lặp lại như vậy .v.v… 

Kế đến, thình lình câu hỏi biến mất hoàn toàn. Không có gì xảy ra cả; câu hỏi chỉ đơn thuần biến mất hẳn thôi. Tôi cũng không tự bảo “Ồ, trời ơi! Bây giờ tôi đã tìm được câu trả lời rồi.” Thậm chí tâm-thái đó cũng biến mất luôn – tâm-thái mà tôi nghĩ là tôi đang ngộ nhập trong nó, cái Tâm Thái của Phật, Chúa Giê-su – nó cũng biến mất. Câu hỏi đã biến mất, toàn thể mọi sự vong bặt hoàn toàn trong tôi. Tất cả là như vậy, bạn thấy đó. 

Kể từ lúc đó trở đi, tôi không bao giờ tự nói với chính mình “Bây giờ ta đã tìm được giải đáp cho mọi vấn đề rồi.” Tâm-thái mà tôi đã từng nói “Chính là Tâm thái này đây” – tâm thái đó cũng biến mất luôn. Câu hỏi biến mất. Mọi sự vắng bặt. Cái còn lại, nó không phải là hư-không, không phải là trống-rỗng, cũng không phải là khoảng-không, nó không phải là những thứ vừa kể trên. Câu hỏi bất thình lình biến mất hoàn toàn, chỉ thế thôi….. 

( UG nói: Câu hỏi nền tảng biến mất, tôi phát hiện ra rằng nó không có câu trả lời, là một hiện tượng sinh học. Tiếp theo là “một sự bùng nổ” bất thình lình xảy ra bên trong tôi, dường như chấn động vang dội đến mỗi tế bào, mỗi sợi thần kinh, và mỗi tuyến trong thân thể.” Cùng với sự “bùng nổ” đó đó, ảo tưởng có sự liên tục của tư tưởng, có một trung tâm mà cái “Tôi” liên kết với tư tưởng, không còn hiện hữu nữa.) 

Sau sự bùng nổ, tư tưởng không thể liên kết được. Tình trạng liên kết bị bẻ gẫy, và một khi nó bị gẫy vỡ, thì sự liên kết này chấm dứt. Thế nhưng không phải là sự liên kết tư tưởng tương tục đó bùng vỡ một lần mà thôi đâu; mỗi lần có một ý tưởng, ý nghĩ, hay ý niệm nổi lên, là nó tự nổ tan ra. Kết cuộc là sự liên tục của tư tưởng đi đến chỗ chấm dứt, và tư tưởng bắt đầu vận hành theo “nhịp điệu tự nhiên” của nó. 

Kể từ đó tôi không có bất cứ câu hỏi hay vấn đề nào hết, vì những câu hỏi không thể lưu lại trong tình trạng đó nữa. Những câu hỏi hiện tại mà tôi có rất đơn giản (thí dụ như: “Làm thế nào tôi có thể đi tới Hyderabad?” – Hyderabad là một thành phố trung tâm ở miền nam Ấn Độ) để có thể sinh hoạt ở thế giới này. Còn đối với những loại câu hỏi vấn đề tâm linh (tâm thái giác ngộ) thì không có ai có thể trả lời được – vì vậy chúng không còn nữa. 

Mọi thứ trong đầu óc tôi bị nén chặt lại – không còn khoảng trống cho cho bất cứ điều gì len lỏi vào trong bộ não tôi được cả. Lần đầu tiên tôi ý thức được là mọi thứ, mọi điều trong đầu óc tôi bị “siết chặt” lại. Vì vậy, những ấn tượng (ý nghĩ, cảm giác .v.v…) trong quá khứ hoặc bất cứ gì bạn có thể gọi tên về chúng – thỉnh thoảng chúng cố gắng ngoi lên để chứng tỏ sự hiện diện quan trọng của chúng – nhưng những tế bào não bị “ép chặt” đến nỗi chúng không có cơ may nào giỡ trò vớ vẩn trong đó nữa. Sự phân chia không thể tồn tại trong trí não nữa – về mặt cơ thể, điều nàu khó thể nào xảy ra được. Bạn không cần phải làm một điều gì với nó, bạn thấy đó, nó chỉ xảy ra thôi. Đó là lý do tôi nói khi sự “bùng nổ” này xảy ra (Tôi dùng chữ “bùng nổ” (explosion) bởi vì nó giống như là một vụ nổ bom nguyên tử) nó để lại những phản ứng hạt nhân nổ dây chuyền tiếp theo sau đó. Mỗi tế bào trong cơ thể bạn, những tế bào ở ngay chính bên trong tủy xương của bạn, phải chịu đựng, trải qua sự “thay đổi” này – tôi không muốn sử dụng từ ngữ “thay đổi” – nó là một sự thay đổi bắt buộc phải xảy ra, không thể đảo ngược lại được. Không có cái chuyện bạn muốn trở lại tình trạng trước đây được nữa; cũng không có cái vấn đề bị “tiêu tùng” đối với người chân chính trải qua tình trạng này. Và không thể đảo ngược lại được: một hợp chất đã được chế luyện từ một vài loại kim loại nào đó. 

Nó giống như một vụ nổ phản ứng hạt nhân nguyên tử, bạn thấy đó – nó tàn phá, đảo lộn toàn bộ cơ thể. Nó không phải là một điều dễ chịu thoải mái gì đâu; nó là sự chấm dứt sau cùng của kẻ chân chính (người tìm chân lý) – một sự càn quét mãnh liệt như vậy, nó đánh phá từng tế bào, từng dây thần kinh trong cơ thể bạn. Cơ thể tôi đã trải qua sự đau đớn oằn oại khủng khiếp vào khoảng thời gian đó. Không phải là bạn kinh nghiệm sự “bùng nổ” đó, bạn không thể nào kinh nghiệm sự “bùng nổ” được – mà là hậu-quả, “chất phóng xạ nguyên tử” của nó thay đổi toàn bộ cơ cấu hóa học trong cơ thể bạn..

Người hỏi: 

– Thưa ngài, ắt hẳn ngài đã có kinh nghiệm, tôi mạn phép dùng từ ngữ: những “giai tầng” cao hơn… 

UG. Krishnamurti: 

– Bạn nói về “giai tầng”? Không có giai tầng hay là đẳng cấp gì cả. Bạn nên hiểu là có một sự kiện rất kỳ lạ xảy đến như là hệ quả của vụ “bùng nổ”, hoặc bạn muốn gọi nó là gì cũng được: không có một sát na (kẻ hở) nào mà tư tưởng có thể trổi lên trong tâm thức này cho là tôi khác với bạn. Không bao giờ. Sau vụ bùng vỡ đó, tư tưởng không còn hiện lên trong ý thức tôi và bảo rằng bạn khác biệt với tôi, hoặc tôi khác nhau với bạn, bởi vì không có bất cứ “điểm” nào hiện hữu ở đây, không còn có “trung tâm” (tự ngã, cái Tôi) ở trong đây nữa. Chỉ có sự liên hệ đến “trung tâm” này, bạn mới tạo tác nên những điểm, những vấn đề khác. 

Hỏi: 

– Ở một vài khía cạnh nào đó, nhất định ngài hẳn phải khác với mọi người. 

UG:
– Về mặt hoạt động trong thân thể, có lẽ thế. 

Hỏi: 
– Ngài nói rằng những sự biến đổi dữ dội đã xảy ra trong bản thân ngài. Làm thế nào ngài biết được điều này? Có ai đã khám sát, kiểm tra tình trạng này của ngài chưa, hoặc đây chỉ là sự suy luận mà thôi? 

UG:
– Những tác động, ảnh hưởng từ hậu quả vụ “bùng nổ” đó, cái cách thức những giác quan đang hoạt động (độc lập) hiện giờ thì không còn cần đến bất cứ một trung tâm hay tác nhân nào để kết hợp nữa – đó là tất cả những gì tôi có thể cho bạn biết. Thêm một điều khác: cơ cấu hóa học đã biến đổi – tôi có thể quả quyết rằng trừ phi có sự hoán chuyển hay thay đổi toàn thể cấu trúc hóa học xảy ra, nếu không thì không có cách nào để các cơ quan thân thể giải thoát khỏi được sự điều khiển của tư tưởng, sự tương tục của tư tưởng. Cho nên, vì sự liên tục của tư tưởng không còn nữa, bạn có thể dễ dàng nhận thấy rằng một điều gì đó mới lạ xuất sinh, nhưng cái-gì thật sự đã xuất sinh đây? Tôi không có phương cách nào để thể nghiệm truyền đạt nó cả. 

Hỏi: 
– Rất có thể là cái tâm trí đang giở trò vẽ vời rằng “tôi chỉ cần nghĩ tôi là “một kẻ bùng-nổ”? (tưởng tượng lâu dần thì sự bùng nổ này sẽ xảy ra) 

UG: 
– Tôi không cố ý làm cái việc thương mại buôn bán, đổi chác bất cứ cái gì ở đây. Bạn không thể nào bắt chước sự bùng vỡ này được. Sự thể mà nó xảy ra thì nằm vượt ngoài lĩnh vực, phạm vi mà tôi trông chờ, mơ ước, và mong muốn thay đổi trước đây. Vì vậy, tôi không gọi nó là một sự “thay đổi”; tôi thực sự không biết cái gì đã xảy đến cho tôi. Điều mà tôi có thể nói với bạn là cái cách thức mà tôi đang “hoạt động” (hành động và đáp ứng). Dường như có đôi chút khác biệt về cách thức bạn hoạt động và cách thức tôi hoạt động, nhưng căn bản thì không có khác nhau chi cả. Làm thế nào lại có bất cứ sự khác nhau giữa bạn và tôi? Không thể nào. Nhưng mà từ cái cách thức, đường lối chúng ta cố gắng diễn đạt, bày tỏ một điều gì, dường như là có sự khác biệt. Tôi cảm nhận là có một ít khác biệt nào đó, và cái gì mà sự khác biệt đó hàm chứa thì tôi đang cố gắng hiểu biết. Vì thế, đây là cách thức tôi “hoạt động.” UG để ý rằng những thay đổi căn nguyên, nền tảng của chức năng các giác quan diễn ra tuần tự trong suốt một tuần lễ tiếp theo sau ngay vụ “bùng nổ”. Vào ngày cuối cùng, ngày thứ 7, thân thể ông đã trải qua “một tiến trình của cái Chết về thể xác – Nirvikalpa samadhi” (thiền tông có câu: Đại Tử Nhất Phiên – Một Phen Chết Lớn), và sau đó những sự thay đổi hay chuyển hóa này của cơ thể đã trở nên thường tồn vĩnh viễn. 

Những biến đổi trong 7 ngày tiếp theo ngay sau sự “bùng nổ” UG kể: Những thay đổi bắt đầu. Kể từ ngày sau vụ bùng nổ trở đi, trong 7 ngày – mỗi ngày có một thay đổi diễn ra. Đầu tiên tôi phát hiện ra nét mềm mại của làn da trên toàn cơ thể; hiện tượng chớp (nháy) mắt dừng lại, chấm dứt hẳn; và sau đó là những thay đổi về vị giác, khứu giác, thính giác – tôi nhận biết được năm sự biến đổi này. Có thể, thậm chí chúng đã biến đổi trước đó rồi, và tôi chỉ vừa nhận ra lần đầu tiên… 

NGÀY THỨ 1: 

Tôi để ý thấy là làn da của tôi mềm như tơ lụa và phát ra ánh sáng kỳ dị, ánh sáng màu vàng kim. Trong khi tôi cạo râu, cứ mỗi lần tôi cố gắng cạo thì lưỡi dao cạo bị trơn trợt đi. Tôi thay đổi lưỡi dao cạo râu khác, nhưng nó cũng vô dụng. Khi tôi chạm vào mặt tôi, xúc giác tôi đã khác biệt so với trước đây, bạn thấy đó, cách thức tôi cầm giữ dao để cạo râu cũng vậy. Đặc biệt là làn da của tôi – nó mềm như nhung lụa và phát ra ánh sáng màu vàng kim. Tôi chẳng có liên kết sự thay đổi này với bất cứ điều gì khác chút nào cả; tôi chỉ quán sát nó thôi. 

NGÀY THỨ 2: 

Lần đầu tiên tôi nhận thức được tâm trí ở trong tình trạng mà tôi gọi là “buông xả” thả lỏng hoàn toàn. Tôi đang ở trong nhà bếp của tầng lầu trên, và Valentine đang làm món xúp cà tô-mát. Tôi nhìn món xúp và không biết nó là món gì. Cô ấy bảo đó là món xúp cà tô-mát. Tôi nếm thử món xúp và mới nhận biết được “À, mùi vị của món xúp cà tô-mát là như thế này đây.” 

Kế đến tôi nuốt món xúp, và sau đó tôi lại quay trở về cái khung tâm trí kỳ oặc – dùng chữ “khung tâm trí” cũng không đúng, mà phải nói rằng nó một cái “khung không có tâm trí (vô niệm)” – nên tôi lại quên khuấy mất đi tên món xúp. Tôi lại hỏi Valentine “Đó là món gì vậy?” Cô ta lặp lại, “đó là món xúp cà tô-mát.” Tôi nếm lại món xúp, rồi tôi nuốt nó và sau đó lại quên mất đi tên món xúp. Tôi đã chơi đùa với tình trạng này một lát. Nó đúng là một việc khôi hài với tôi khi đó, cái “trạng thái buông xả”. 

Bây giờ trạng thái này đã trở nên bình thường rồi. Tôi hiện giờ không còn tiêu phí thời gian cho việc mơ màng mộng tưởng, lo lắng, quan niệm hóa và những suy nghĩ khác mà hầu hết mọi người làm khi họ cô độc. Tâm trí tôi giờ đây chỉ đáp ứng khi nó được cần đến, thí dụ khi bạn đặt câu hỏi, hoặc khi tôi phải sửa chữa hay lắp gắn cái máy thâu băng, hoặc một điều gì tương tự như thế. 

Thời gian còn lại thì tâm trí tôi ở trong tình trạng “buông xả”. Dĩ nhiên hiện giờ ký ức tôi hồi phục trở lại – đầu tiên tôi bị mất nó, nhưng bây giờ tôi đã có nó trở lại – nhưng trí nhớ hay ký ức tôi thì nằm trong “nền, chỗ” của riêng nó và chỉ hiển hiện hoạt động khi nó được cần đến, một cách tự động. Khi nó không được cần đến, thì không có tâm trí hiển hiện, không có tư tưởng (vô niệm), chỉ có cái Sống mà thôi…

NGÀY THỨ 3: 

Một vài người bạn muốn hỏi ý muốn đến dùng buổi ăn tối với chúng tôi, và tôi nói “Được mà, tôi sẽ nấu một vài món.” Nhưng, vì một lý do nào đó, tôi đã không thể nêm nếm thức ăn một cách đúng mức, thích hợp được. 

Tôi đã dần dần nhận thấy là vị giác và khứu giác đã được chuyển hóa rồi. Mỗi lần có mùi gì đó đi vào trong lỗ mũi tôi, nó gây kích thích khó chịu đến tận trung tâm khứu giác, trong cùng một tình trạng giống nhau – dù cho cái mùi đó là mùi hương thơm đắt tiền nhất hoặc là phân bò, sự gây kích thích đó cũng giống y nhau, không khác. Và khi đó, mỗi khi tôi nếm một món gì, tôi chỉ nếm được cái gia vị nào trội nhất mà thôi – và những thành phần gia vị khác của món đó thì từ từ kế tiếp đó tôi mới cảm nhận. 

Kể từ lúc đó, mùi hương nước hoa không còn nghĩa lý gì với tôi, và thức ăn nêm nếm gia vị thơm ngon cũng không còn hấp dẫn tôi nữa. Tôi có thể nếm đúng được thành phần gia vị trội nhất, ớt hay bất cứ gia vị nào đó. 

NGÀY THỨ 4: 

Có cái gì đó đã chuyển biến nơi đôi mắt. Chúng tôi đang ngồi trong nhà hàng “Rialto”, và tôi bắt đầu nhận thức được tầm nhìn to lớn kỳ lạ của đôi mắt, phóng nhìn cảnh vật từ xa theo một lối thu hẹp giống như nhìn qua ống kính có bề mặt gương lõm vậy. Cảnh vật di chuyển đến về phía tôi, đi vào bên trong tôi, và sau đó hình ảnh sự vật đi ra khỏi bản thân tôi, dường như nó xuất phát ra từ bên trong tôi. Hiện trạng cách nhìn của mắt thay đổi quả thật là một vấn đề nan giải cho tôi khi đó – mắt của tôi dường như giống một cái máy thu hình khổng lồ, nó tự thay đổi tiêu điểm hay tụ điểm mà tôi không cần phải làm gì cả. 

Bây giờ thì tôi quen với cách nhìn này của đôi mắt rồi và đó cũng là cách thức mà tôi nhìn xem mọi sự mọi vật. Khi bạn lái xe Mini Van đưa tôi đi dạo, tôi giống như là một thợ nhiếp ảnh, quay phim đang vác máy ảnh (đôi mắt) đi cùng chiếc xe. Những chiếc xe chạy từ hướng khác hay ngược chiều đi thẳng vào trong bản thân tôi, và khi những xe đó vượt qua xe chúng ta, thì chúng di chuyển ra từ trong bản thân tôi. 

Mỗi khi mắt tôi nhìn cố định lên một cảnh vật gì, thì nó nhìn dính chặt vào sự vật đó với sự chú tâm trọn vẹn, giống như là chiếc máy ảnh vậy. Một sự kiện khác nữa về đôi mắt của tôi: khi chúng tôi rời nhà hàng trở về đến nhà, tôi nhìn vào trong gương để xem có điều gì kỳ lạ về đôi mắt tôi, và xem nó đã được biến đổi, “lắp đặt, ổn định” ra sao. Tôi nhìn vào trong gương một thời gian dài, và sau đó nhận thấy là mi mắt không còn chớp, nháy nữa. Tôi nhìn vào trong gương trong khoảng thời gian từ 30 phút đến 45 phút – đôi mắt vẫn bất động không chớp nháy gì cả. Bản năng chớp nháy của mi mắt đã biến mất, không còn tồn tại nữa, và bây giờ cũng vậy…

NGÀY THỨ 5: 

Tôi nhận biết được sự thay đổi về thính giác. Khi tôi nghe tiếng chó sủa, âm thanh đó bắt nguồn phát ra từ bên trong tôi. Và cũng giống như vậy khi tôi nghe tiếng rống của con bò, tiếng kèn xe lửa – bất thình lình, tất cả những âm thanh đó xuất phát ra từ bên trong nội tâm mình, bắt nguồn từ nội giới chứ không phải ngoại giới – hiện giờ tình trạng vẫn như thế. 

NGÀY THỨ 6: 

Năm giác quan đã thay đổi trong 5 ngày, và ngày thứ 6 trong khi tôi đang nằm trên ghế xôfa – Valentine đang ở trong nhà bếp – và … bất chợt, thân thể tôi biến mất. Thể xác đã không còn hiện hữu. Tôi nhìn vào tay tôi (Chuyện vớ vẩn điên khùng phải không – bạn có thể muốn nhốt tôi vào nhà thương tâm thần lắm), tôi đã quan sát nó – “đây là tay tôi sao?” Tôi không có đặt câu hỏi vào lúc đó, nhưng toàn thể tình cảnh thì tương tự như thế — đó là tất cả mọi sự việc tôi hiện đang diễn tả lại cho bạn nghe. 

Vì vậy, tôi đã thử chạm vào cơ thể tôi – không có gì hết – tôi cảm giác không có bất cứ cái gì thuộc thân thể hiện hữu khi đó ngoại trừ sự va chạm, điểm tiếp xúc mà thôi. Kế đến, tôi gọi Valentine và hỏi:

“Cô có thấy thể xác tôi đang nằm trên ghế xôfa hay không? Không có tín hiệu nào trong nội tâm cho biết rằng đây là thân thể tôi cả.” 

Cô ấy đến và chạm vào thân thể tôi:

“Đây là thân thể của anh.” 

Tuy nhiên sự xác định của Valentine không khiến tôi thoải mái và thỏa mãn – “Cái gì mà khôi hài kỳ khôi như thế này đây? Thể xác tôi đang vắng mất.” Thân thể tôi đã ra đi rồi và không bao giờ trở lại. Chỉ có những điểm va chạm tiếp xúc mà tôi cảm giác được là còn tồn tại mà tôi – ngoài ra thì không có gì khác nữa – bởi vì sự nhìn, xem thì độc lập, không lệ thuộc vào xúc giác. Vì vậy, thậm chí muốn tạo ra bức ảnh thân thể tôi, tôi không thể nào làm được, vì nơi đâu mà không có xúc giác (điểm va chạm), thì trong ý thức tôi không có những điểm tiếp xúc đó.

NGÀY THỨ 7: 

Tôi đang nằm cùng trên chiếc ghế xôfa như hôm qua, thư giãn và tận hưởng trạng thái “buông xả”. Valentine bước đến gần, tôi nhận ra được cô là Valentine; rồi cô đi ra khỏi phòng – vong bặt, trống rỗng, không có Valentine hiện hữu – “Đây là cái gì vậy? Thậm chí tôi không thể tưởng tượng ra được Valentine trông có vẻ như thế nào. Tôi lắng nghe được những âm thanh xuất phát ra từ bên trong nội tâm.” Nhưng, tôi không thể liên hợp nối kết được mọi sự việc lại. Tôi phát hiện là tất cả các giác quan hoạt động mà không cần sự phối hợp của bất cứ tác nhân nào bên trong nội giới cả: tác nhân liên kết, phối hợp đã vắng bặt. 

Tôi cảm giác tình trạng gì đó đang xảy ra bên trong bản thân mình: sinh lực từ khắp các phần khác nhau của cơ thể đang bị thu rút hội tụ về một tâm điểm nào đó. Tôi tự nói với chính mình “Bây giờ nhà ngươi đang tiến gần đến sự kết liễu mạng sống rồi. Ngươi sẽ chết.” Thế nên tôi gọi Valentine và nói “Valentine, tôi sắp chết đến nơi rồi, cô sẽ phải làm gì đó với thể xác này. Chuyển thể xác này đến cho các bác sĩ, có thể họ sẽ có chỗ nào dùng đến nó. Tôi không tin ba cái chuyện hỏa táng hay chôn cất gì cả, hoặc gì gì tương tự vây. Để tốt cho cô, cô phải vứt bỏ cái thể xác này đi – qua vài ngày nó sẽ bốc mùi – vì vậy, sao lại không liệng bỏ nó đi chứ? ” Cô nói “Anh là người ngoại quốc. Chính phủ Thụy Sĩ sẽ không tiếp nhận thể xác của anh đâu. Bỏ qua chuyện này đi,” rồi cô bỏ đi. 

Và tiếp theo đó, toàn bộ lực lượng kinh khiếp này trong cơ thể di chuyển về một điểm, có thể nói là như vậy. Tôi đang nằm trên xôfa. Chiếc gường của Valentine thì trống, vì vậy tôi đi qua nằm trên gường đó và nằm duỗi thẳng mình ra, sẵn sàng chờ cái chết đến. Valentine bỏ mặc tôi nằm đó và đi ra. Cô nói:

“Một hôm anh nói là cái này đã biến đổi, ngày kế đến cái kia thay đổi, ngày thứ ba thì cái nọ đã thay đổi. Toàn bộ sự thể là gì vậy chứ?” 

Valentine thì chẳng thích thú đến những điều đó – cô không bao giờ quan tâm đến những vấn đề tâm linh hay tôn giáo – cô chưa bao giờ nghe biết được những điều đó. 

Cô nói tiếp:
“Anh nói là anh sắp chết đến nơi rồi. Anh sẽ không chết. Anh không sao cả, anh vẫn khỏe mạnh và tráng kiện kia mà.” 

Nói xong, cô bỏ đi. 

Sau đó, tôi nới giãn cơ thể, duỗi mình nằm yên vị … Toàn bộ năng lực trong thân thể đang di chuyển quy về một tụ điểm nào đó – tụ điểm này nằm ở đâu thì tôi không biết được. Kế tiếp, điểm này tiến đến nơi chỗ – diễn tiến sự việc xảy ra cũng giống như là lỗ (cửa, nắp) ống kính máy ảnh đang tự đóng lại chính nó. (Đây là sự so sánh duy nhất mà tôi có thể dùng để diễn tả. Sự diễn tả này thì khác xa với sự kiện đã xảy ra vào thời gian đó, bởi vì vào lúc đó thì không có chủ thể để suy nghĩ những lời lẽ như vậy. Toàn bộ sự kiện này là một phần trong kinh nghiệm của tôi, nếu không tôi sẽ không có thể nào nói được về nó.) Trong khi cửa ống kính máy ảnh đang cố gắng tự đóng kín lại chính nó, thì có một tác nhân nào khác ở tại đó đang cố kềm giữ duy trì cánh cửa mở ra (điểm sáng). Một lúc sau, không còn ý chí nào để làm bất kỳ gì nữa hết, thậm chí cũng không còn ý muốn ngăn cản cái cửa đang tự đóng lại chính nó… Và bất thình lình, có thể cho là như thế, nó đóng sập lại. Tôi không biết được điều gì đã xảy ra sau đó. 

Tiến trình này kéo dài 45 phút – tiến trình của cái Chết. Nó là sự chết về cơ thể, bạn thấy đó. Thậm chí hiện tại nó cũng hay xảy đến với tôi: bàn tay, bàn chân trở nên rất lạnh, thân thể trở nên cứng, nhịp tim đập chậm lại, hơi thở chậm xuống dần dần, và từ từ chỉ còn hớp được một hơi thở sau cùng. Vươn tới một điểm đích, bạn hít một hơi thở sau cùng của bạn, có thể nói như thế, và tiếp đến bạn chấm dứt cuộc sống mình. Điều gì xảy ra sau đó, không có ai biết được. 

Khi tôi tỉnh lại, ai đó nói rằng có người gọi điện thoại cho tôi. Tôi rời khỏi gường và đi xuống thang lầu để trả lời điện thoại. Tôi vẫn còn ở trong tình cảnh mê mê màng màng. Tôi không biết điều gì đã xảy ra. Nó là cái Chết của cơ thể. Cái gì đã mang tôi trở về cuộc sống. Tôi không biết. Tiến trình cái Chết đã kéo dài bao lâu, tôi cũng không biết. Tôi không thể nói được gì về tiến trình sự chết trong lúc đó, bởi vì kẻ kinh nghiệm đã vong bặt, đã chết: không có kẻ nào hiện hữu để kinh nghiệm sự Chết cả… Vì vậy, đó là sự chấm dứt, tận cùng của cái Chết. Và tôi đã phục sinh!….. 

Tôi không cảm thấy mình là một em bé vừa mới được sinh ra – cũng không có đặt vấn đề giác ngộ gì ở đây cả — tuy nhiên, những sự kiện làm tôi kinh ngạc suốt trong một tuần lễ đó, những thay đổi vị giác, thị giác .v.v… đã trở nên cố định vĩnh viễn. Tôi gọi những sự kiện này là “thảm họa”. Tôi gọi nó là “thảm họa” bởi vì theo quan điểm của một người nào đó nghĩ rằng nó thì kỳ tuyệt, tràn đầy ân phúc, hỷ lạc, tình yêu, ngây ngất và những trạng thái tương tự như vậy. Nhìn theo chiều hướng khác thì nó lại là một sự tra tấn, cực hình về thể xác. Nó không là thảm họa đối với tôi, nhưng là thảm họa đối với ai tưởng tượng rằng có cái gì đó kỳ diệu, phi thường sẽ xảy đến. Giống như là: bạn tưởng tượng về thành phố Nữu Ước, bạn mơ mộng về nó, và muốn đến đó. Khi bạn thực sự ở đó, những gì bạn mơ tưởng không tồn tại ở đó; nó là một nơi chốn tầm thường, tiêu điều, và thậm chí những kẻ khốn cùng cũng có thể muốn từ bỏ chốn đó mà đi. Nó không phải là cái điều mà bạn truy tìm và đặt hết kỳ vọng vào, trái lại nó hoàn toàn khác hẳn. Cái gì ở đó, bạn thực sự không biết – bạn không có cách thức nào để biết bất cứ gì về điều đó – không có bất kỳ hình ảnh gì về nó cả. Theo ý nghĩa đó, tôi không bao giờ bảo chính tôi hay một ai khác “ Tôi là một người giác ngộ, một người tự do tự tại, một người giải thoát; tôi sẽ giúp nhân loại được tự do, giải thoát.” Giải thoát khỏi cái gì? Làm thế nào tôi có thể giải thoát một ai khác. Không có vấn đề giải thoát bất cứ ai hết. Vì thế cho nên, tôi buộc phải có một hình ảnh rằng tôi là một người giải thoát, bạn có hiểu không?

Ngày Thứ 8 trở về sau: 

Tôi đang ngồi trên ghế xôfa và thình lình có một năng lực mạnh mẽ kinh hồn bộc phát – năng lực khủng khiếp này làm rung chuyển, lay động toàn bộ thân thể tôi, và cùng với thân thể, có thể nói như thế, cả ghế xôfa, ngôi nhà, và toàn thể vũ trụ cũng đều rung rinh, chấn động, lung lay theo. Bạn không thể nào tạo tác ra được sự chuyển động đó cả. Nó chỉ đến đột nhiên thôi. Nó đến từ ngoại giới hay nội giới, từ ở phía dưới hay bên trên, tôi không biết – tôi không thể xác định được nơi chốn đó; tất cả đã qua rồi. Cơn bùng phát năng lực to lớn, hãi hùng đó đã kéo dài từ giờ này qua giờ khác. Tôi không thể chịu đựng nó được, nhưng không có cách nào để tôi có thể chặn đứng nó lại; tôi hoàn toàn bó tay bất lực. Tình trạng này diễn tiến liên tục, ngày này qua ngày khác, ngày nọ kế tiếp ngày kia… Hể mỗi khi tôi ngồi xuống là năng lực kinh khiếp đó bắt đầu khởi động – sự chấn động này giống như là cơn động kinh (bệnh kinh phong) hoặc một tình trạng gì đó. Thậm chí cũng không giống hẳn cơn động kinh, vì nó tiếp tục xảy ra hết ngày này đến ngày khác. 

( UG nằm trên gường trong 3 ngày, thân thể ông vặn vẹo, co quắp lại bởi cơn đau đớn hành hạ – ông nói, ông cảm thấy sự đau đớn như thế ở trong mỗi tế bào trong cơ thể ông, hết tế bào này đến tế bào khác. Tương tự như vậy, hể mỗi khi ông nằm xuống hoặc nghỉ ngơi thư giãn thì những cơn bùng dậy của năng lực kinh hồn đó xảy ra từng hồi, từng chập xuyên suốt trong 6 tháng kế tiếp sau đó.)

Thân thể không có khả năng… Thân thể cảm giác cơn đau. Đó là một tiến trình rất đau đớn. Rất là đau đớn khổ sở. Nó là sự đau đớn của cơ thể, bởi vì cơ thể thì chịu đựng có hạn định nào đó thôi – thể chất có vóc dáng, hình hài của chính nó, vì vậy khi cơn bộc phát của năng lực xảy đến, không phải là năng lực của bạn, của tôi, hoặc năng lực của Thượng Đế (bạn có thể gọi bất cứ tên gì bạn thích), năng lực này giống như con sông đang trong mùa nước lũ lụt dâng tràn lên. Năng lực này khi đang hoạt động, nó không cảm biết được những giới hạn của thân thể; nó không quan tâm để ý đến; nó có năng lượng (động lượng) riêng của nó. Đó là một sự đau đớn tột cùng. Tình cảnh đau đớn này không có ngây ngất lâng lâng, sung sướng, phúc lạc và tất cả mọi điều được diễn tả vớ vẩn tương tự như thế đâu – nhảm nhí và vô nghĩa! – nó thực sự đau đớn vô cùng. Ồ, tôi đã chịu đựng cơn đau hết tháng này đến tháng khác sau đó, trước đó cũng vậy. Mỗi người đều phải trải qua tình trạng này. Thậm chí đạo sư Ramana Maharshi cũng đã chịu đựng sự đau đớn sau đó (sau khi chứng ngộ). 

Năng lực này giống như một thác nước to lớn – không phải chỉ một thác nước thôi đâu, nhưng mà hàng ngàn thác nước – nó tuôn đổ xuống cùng lúc liên tục trong nhiều tháng trời. Đó là một kinh nghiệm đau đớn khổ sở tột cùng – đau đớn theo cách nhìn là cái năng lực này có sự vận hành hoạt động kỳ dị của chính nó. Hùmm, chắc bạn biết tấm bảng quảng cáo thuốc lá Wills ở phi trường. Có hình mẫu nguyên tử trên đó: những đường, lằn được vẽ uốn lượn như thế này (UG dùng tay phác họa), theo chiều kim đồng hồ, ngược chiều kim đồng hồ, và theo hướng này, hướng nọ, rồi hướng kia. Giống như nguyên tử di chuyển bên trong thân thể – không chỉ ở trong một phần của cơ thể bạn, mà là toàn bộ cơ thể bạn. Cũng y như cái khăn tắm bị ướt sũng đang bị vặn siết, vắt chặt lại cho khô – năng lực đó cũng tác động tương tự như thế đối với toàn thân thể bạn – hết sức đau đớn. Nó vẫn tiếp tục, thậm chí ngay bây giờ (thời điểm UG kể lại). Bạn không thể mời gọi nó được đâu; bạn không thể yêu cầu nó đến; bạn không thể làm được bất kỳ điều gì với nó được cả. Nó khiến cho bạn có cảm giác là nó đang bao bọc bạn lại, nó đang hạ xuống, rơi xuống trên bạn. Rơi xuống từ đâu? Nó từ đâu đến? Nó đến như thế nào? Mỗi lần nó hiển hiện là mỗi lần mới mẻ — nó rất lạ lùng – mỗi lần nó đến bằng những đường lối, hình thức khác nhau, vì vậy bạn không biết cái gì đang xảy ra. Bạn nằm thả mình trên gường, và đột nhiên nó bắt đầu phát động – nó bắt đầu di động chầm chậm như là kiến bò. Tôi cứ nghĩ là có rận rệp trên gường nên tôi nhảy ra khỏi gường – không có rận rệp gì cả – rồi tôi trở lại gường nằm – nó bắt đầu phát khởi trở lại… Lông tóc bị nhiễm điện, và rồi năng lực đó từ từ di động. 

Khắp cả mình mẩy cơ thể đều bị đau nhức. Tư tưởng đã kiềm chế thân thể đến một chừng mực tối đa nào đó, và đến khi tư tưởng lơi ra thì toàn thể sự trao đổi chất của các cơ quan trong thân thể bắt đầu bừng dậy và hoạt động mãnh liệt cao độ. Toàn bộ sự thể đang tự thay đổi theo phương cách riêng của nó mà tôi không cần phải làm gì cả. Và rồi sự chuyển động của bàn tay tôi đã thay đổi. Thông thường bàn tay của bạn xoay theo chiều hướng này. (UG đưa bàn tay ra để biểu lộ…). Đây, khớp xương cổ tay này đã bị đau khủng khiếp trong sáu tháng cho đến khi nó tự xoay chuyển được, và bây giờ tất cả những sự chuyển động giống như thế này đây. Đó là lý do mọi người nói rằng sự vận động, xoay trở của tay tôi giống như là những cử chỉ phác họa dấu hiệu huyền bí. Sự chuyển động của bàn tay tôi bây giờ hoàn toàn khác hẳn trước đây. Rồi tiếp theo là những cơn đau bên trong tủy xương. Mỗi tế bào bắt đầu thay đổi, và tiến trình này kéo dài liên tục trong sáu tháng. 

Và sau đó những chất hoocmon giới tính bắt đầu thay đổi, tôi không biết tôi là đàn ông hay là đàn bà lúc đó – “Chuyện gì đây?” – đột nhiên có một cái vú nổi lên phía bên trái. Tất cả mọi thứ mọi điều… – tôi không muốn đi sâu vào chi tiết – vì đã có hồ sơ ghi chép lại đầy đủ những sự việc đã xảy ra. Tiến tình thay đổi cứ diễn biến tiếp tục và tiếp tục. Phải mất hết ba năm trời để thể chất tôi bắt đầu hoạt động theo nhịp điệu sống mới lạ, tinh khôi của riêng chính nó.

Hỏi: 

– Chúng tôi có thể hiểu biết được “cách thức” Nó xảy ra thế nào với ông không? 

UG: 

– Rất tiếc là không được. 

Hỏi: 

– Chúng tôi có thể hiểu biết được “cái gì” đã xảy ra với ông chứ? 

UG: 
– Bạn có thể đọc những sự kiện diễn tả về cuộc đời của tôi, chỉ có vậy thôi. Một ngày nọ vào khoảng sinh nhật 49 tuổi của tôi, điều gì đó xảy ra; ngày kế tiếp thì có một giác quan đã thay đổi; ngày thứ ba thì giác quan khác thay đổi… Tiến trình mọi sự đã xảy đến cho tôi đã được ghi chép lưu trữ lại. Điều đó có giá trị gì đối với bạn? Tuyệt đối là không có giá trị chút nào cả. Mặt khác nó rất nguy hiểm bởi vì bạn cố gắng bắt chước những biểu lộ hình tướng bên ngoài. Người ta thường hay bắt chước những điều này và tin rằng điều gì đó sẽ xảy đến với họ — đó là cái điều mà những người này thường hay làm. Tôi đã hành xử một cách bình thường, tự nhiên. Tôi cũng không biết cái gì đang xảy ra. Nó là một tình cảnh lạ lùng. Nó không để lại, lưu lại bất cứ dấu vết gì hết – mọi người sẽ chỉ bắt chước những hình tướng bên ngoài mà thôi. Tâm thái đó là một tình trạng hoàn toàn tự nhiên. 

Từ trên đi xuống phần thân trên của UG, đầu và cổ, có những vị trí mà những người Ấn Độ sùng đạo gọi là “luân xa”, bạn của UG quan sát thì thấy có những chỗ phồng lên với những hình nét và màu sắc đa dạng. Những chỗ phình lên này lúc thì ẩn lúc thì hiện theo từng khoảng thời gian. Ở vùng bụng dưới của ông nổi lên một đường có hình dáng cỡ điếu thuốc xì-gà vắt ngang qua. Phía trên rún một chút thì có một chỗ nổi u lên, rắn cứng, có hình nét giống như quả hạnh (almond). Ở giữa ngực thì nổi phồng lên một dấu hiệu hình nét như tấm huy chương lớn, cứng rắn và có màu xanh. Một hình nét tương tự như thế, nhưng nhỏ hơn có màu đỏ nâu nổi phủ lên ở chỗ lõm cổ họng. Hai cái hình “huy chương” này dường như thể là hai khoen tròn phình lên treo lơ lững xung quanh cổ của ông, màu sắc biến đổi đa dạng – xanh dương, nâu và vàng lợt, y như là trong các bức tranh thượng đế của Ấn giáo (xem hình 1 – 2). 

Hơn nữa có sự tương đồng giữa những chỗ nổi lồi lên này với những bức họa mô tả của nghệ thuật tôn giáo Ấn Độ: cổ họng của ông nổi phồng lên khối u mà khi nhìn vào thì trông giống như là cằm của ông đang tựa nghỉ trên đầu của con rắn mang bành, như trong những hình ảnh cổ truyền về thần Shiva. Ở ngay phía trên chót sống mũi ông có một hình hoa sen màu trắng nổi đụn lên. Trải khắp ở trên đầu ông, những mạch máu nhỏ trương phồng lên bện lại, kết thành mẫu hình giống như trên đầu của những tượng Phật. Và cũng trên đầu có hai chỗ sưng u lên, lớn và cứng rắn, khi ẩn khi hiện, hình dáng giống như hai chiếc sừng của Môi-sen hay biểu tượng huyền nhiệm phần âm phần dương của đồ hình thái cực (xem hình 3 – 4 – 5). Những động mạch trên cổ ông trương phù lên, màu xanh dương và có hình dáng giống như con rắn đi thẳng lên trên đầu của ông.) 

Tôi không phải là kẻ thích phô trương, nhưng bạn là bác sĩ; có những hình nét so với ý thức hệ biểu tượng ở Ấn Độ – hình tượng con rắn mang bành. Bạn có thấy những chỗ sưng phồng lên này không? Chúng nó có hình dáng của con rắn mang bành. Hôm qua là ngày trăng non (những ngày đầu tháng âm lịch). Thân thể bị ảnh hưởng bởi mọi sự đang xảy ra xung quanh bạn; nó không tách rời khỏi sự thể đang xảy ra chung quanh bạn. Bất cứ sự thể gì xảy đến ở đó thì cũng xảy ra ở đây, chỉ là sự đáp ứng của cơ thể. Đây là sự tác động. Thân thể bạn bị ảnh hưởng bởi mọi sự đang xảy ra xung quanh bạn; và bạn không thể ngăn chận sự kiện này được. Lý do đơn giản là chiếc áo giáp (ý nghĩ, ý tưởng) mà bạn tạo nên bao bọc xung quanh bạn sẽ bị vô hiệu hóa đi, vì thế nó dễ dàng bị xâm nhập bởi mọi điều đang xảy ra ở đó. Với những chu kỳ của mặt trăng – trăng tròn, trăng khuyết – những chỗ nổi phình lên này đây sẽ có hình tượng của rắn mang bành. Có thể đây là lý do tại sao một số người đã sáng tạo nên tất cả những hình ảnh này – thần Shiva và những hình ảnh tương tự như thế. Tại sao nó có hình dáng con rắn? Tôi đã hỏi nhiều bác sĩ tại sao nổi sưng lên ở đây, nhưng không có bác sĩ nào cho tôi câu trả lời thỏa mãn cả. Tôi không biết là có những tuyến hoặc cái gì đó ở đây chăng. 

Có những tuyến nhất định nào đó… Tôi đã thảo luận vấn đề này nhiều lần với các bác sĩ đang nghiên cứu về tuyến nội tiết. Những người Ấn giáo gọi những tuyến đó là những “luân xa”. Vị trí của những tuyến nội tiết này được định rõ một cách chính xác giốngnhư những vị trí mà người Ấn giáo suy đoán là những “luân xa”. Có một tuyến ở cổ được gọi là “ cơ quan tuyến nội tiết” (thymus gland). Tuyến này rất năng động khi bạn còn là một đứa bé – rất là năng động – nó có cảm xúc, nhạy cảm đặc biệt lạ thường. Khi bạn đến tuổi dậy thì tuyến này trở nên thụ động, đó là những gì các bác sĩ, nhà nghiên cứu nói. Khi bạn có được thể nghiệm chứng ngộ, khi bạn được phục sinh, tuyến đó sẽ tự động hoạt động trở lại. Vì vậy tất cả cảm giác đều nằm ở đó. Sự mẫn cảm không phải là tư tưởng, không phải là tình cảm ủy mị; bạn cảm thông cho một ai, chẳng hạn vậy. Nếu một người khiến anh ta bị thương tích đau nơi nào đó, bạn cảm được nỗi đau ngay nơi chốn đó trên chính bạn – không giống như là cơn đau đớn, nhưng mà là cảm giác, bạn hiểu chứ — bạn tự động cảm nhận ra và nói “Ah!” 

Điều này quả thật đã xảy ra khi tôi lưu trú ở trong đồn điền cà phê: người mẹ đánh đứa con, đứa trẻ còn nhỏ. Bà ấy đang nổi khùng, cơn giận dữ chết người, và bà ấy đánh đứa trẻ rất nặng tay, đứa bé hầu như sợ hãi xanh mặt. Có một người hỏi tôi “tại sao tôi không ngăn can bà ấy lại?” Tôi đang đứng đó, hết sức bối rối, bạn hiểu chứ. Tôi mới trả lời người hỏi: “Tôi nên thương xót ai đây, người mẹ hay đứa con?” “Ai chịu trách nhiệm?” Cả hai bọn họ ở trong tình cảnh kỳ cục: người mẹ không thể kiềm chế cơn nóng giận, và đứa bé thì bất lực và vô tội. Tình trạng đó diễn biến tiếp tục – nó di chuyển từ người mẹ đến người con – và sau đó tôi phát hiện những dấu vết này trên lưng của tôi. Thế nên tôi cũng là một phần của họ. (Không phải tôi nói những điều này để yêu sách điều gì.) Sự việc đó có thể là vậy lắm bởi vì tâm thức thì không thể tách rời ra được. Bất cứ điều gì đang xảy ra ở đó sẽ tác động lên bạn, đây là ảnh hưởng, bạn hiểu không? Đừng có ngồi đó mà phán đoán, xét xử ai. Hoàn cảnh tình cờ xảy ra thế đó, vì vậy bạn bị ảnh hưởng bởi nó. Bạn bị ảnh hưởng bởi mọi sự đang xảy nơi đó. 

Hỏi: 
– Trong toàn thể vũ trụ chăng? 

UG:
– Điều đó thì quá to tát, bạn hiểu chứ. Bất cứ sự việc gì đang xảy ra trong phạm vi tâm thức của bạn. Tâm thức, dĩ nhiên là không có giới hạn rồi. Nếu đứa bé bị đau ở đó, bạn cũng sẽ bị đau ở đây. Nếu bạn bị đau ở đây, thì lập tức có sự đáp ứng ở đó. Tôi không thể nói về vũ trụ, toàn thể vũ trụ vạn vật. Nhưng tôi có thể nói về tầm ảnh hưởng trong phạm vi tâm thức của bạn, trong phạm vi giới hạn mà bạn đang hoạt động trong một khoảnh khắc riêng biệt nào đó, bạn đang đáp ứng – chứ không phải là bạn đang phản ứng. 

Và có nhiều tuyến khác cũng ở tại đây… Rất nhiều tuyến. Thí dụ “tuyến yên” – “mắt thứ ba” (Ajna chakra), họ nói thế. Khi mà sự quấy nhiễu của tư tưởng không còn nữa, luân xa này được điều khiển bởi tuyến yên. Chính tuyến yên này đưa ra chỉ thị hay mệnh lệnh cho cơ thể; tư tưởng không còn ra chỉ thị nữa, tư tưởng không thể xen vào quấy nhiễu được. (Có thể đó là lý do tại sao họ gọi nó là Ajna – mệnh lệnh. Tôi không muốn dịch giải nó hoặc bất cứ sự việc gì như vậy; có thể qua điều diễn giải này bạn có một ý tưởng về nó.) Tuy nhiên ý tưởng này đã tạo tác nên chiếc áo giáp vô hình bao phủ quanh bạn, và chính nó không cho bạn bị ảnh hưởng bởi mọi sự vật xung quanh. .. 

Tháng giêng 2007, U.G. Krishnamurti bị ngã, tuy không gãy xương nhưng cũng làm UG phải nằm liệt giường . Vì không muốn làm phiền các bạn bè phải chăm sóc cho mình nên UG đã nhịn ăn uống cho tới lúc từ giã cõi thế!

Nguồn: Vạn Pháp Quy Nhất

 

Quên Đi Tự Ngã

Thiền sư Đạo Nguyên (Dogen Zenji, hay Eihei Dogen (1200-1253)) là một đại thiền sư thời cổ, và được nhiều người xem như một vị thiền sư vĩ đại nhất. Phật giáo đồ Nhật Bản trong tất cả mọi tông phái đều kính ngưỡng Đạo Nguyên như một vị bồ tát. Ngài là người đầu tiên đã đem dòng thiền Tào Động đến Nhật Bản.

Sau khi học đạo với các vị thầy ở Nhật, Đạo Nguyên qua Trung Hoa tu học. Ngài đại ngộ ngay khi sư phụ Trung Hoa của ngài là Ju Ching nói phải “buông hết cả thân lẫn tâm”. Sau đó ngài đã đến trình kiến giải và được sư phụ ấn chứng. Lòng đầy tri ân, Đạo Nguyên quỳ sụp xuống đảnh lễ thầy. Ju Ching nói, “Buông luôn cả cái buông!” 

“Hiện thành công án” (Genjokoan) là một chương nổi tiếng trong quyển “Chánh Pháp Nhãn Tạng” (Shobogenzo), nói đến sự liên hệ của tu thiền và giác ngộ. Đây là một tuyệt tác vô song, với những lời lẽ thâm sâu bàng bạc ý vị thơ, biểu lộ tri kiến của một bậc giác ngộ đã vượt ngoài đối đãi. 

Khi vạn pháp được coi như pháp Phật thì thấy có ngộ và mê, có tu tập, có sanh tử, Phật và chúng sinh.

Khi vạn pháp được coi như vô ngã, sẽ không thấy có ngộ và mê, không có tu, không sanh không tử, không Phật không chúng sinh.

Phật Đạo vượt ra khỏi cái có và không. Cho nên có mê ngộ, có sinh tử, Phật và chúng sinh. Nhưng những đóa hoa đẹp chúng ta ưa thích vẫn héo tàn, và những cỏ dại chúng ta không ưa vẫn lớn mạnh.

Cố dấn thân đi tìm sự tu tập và kinh nghiệm vạn pháp thì đó là mê. Khi vạn pháp tu tập và kinh nghiệm chính mình thì đó là ngộ. 

Giác từ chỗ mê thì gọi là Phật, mê trong chỗ giác thì gọi là chúng sanh. Lại có giác ngộ theo sau giác ngộ, có mê ở trong mê.

Phật chân chính không thấy mình là Phật. Nhưng họ vẫn là những vị Phật hiện thân đangtrải nghiệm đời sống Phật hàng ngày. 

Khi nhìn sắc với toàn thân và tâm, nghe âm thanh với toàn thân và tâm, ta có thể trực tiếp cảm nhận được chúng, nhưng đó không giống như hình ảnh phản chiếu trên một tấm gương hay như bóng trăng dưới nước … Khi chúng ta thấy được một bên, chúng ta không thấy bên kia.

Học Phật tức là học về tự ngã

Học về tự ngã là quên đi tự ngã

Quên đi tự ngã là được vạn pháp khai ngộ

Được vạn pháp khai ngộ là buông hết cả thân tâm mình và ngoại cảnh.

Chứng ngộ rồi không còn thấy dấu vết nào của chứng ngộ, và sự chứng ngộ không dấu vết ấy sẽ tiếp nối mãi mãi.

Khi mới đi tìm cầu học đạo, ta tưởng rằng mình cách biệt xa rời với đạo.

Khi đã chứng được đạo chân truyền, ngay trong giây phút đó ta là con người nguyên thủy của Đạo.

Khi đang đi trên thuyền, nếu nhìn vào bến người ta tưởng như bến đang di chuyển.

Nhưng nếu nhìn vào thuyền, người ta biết được rằng chính thuyền đang di chuyển.

Nếu nhìn vạn pháp với thân tâm si mê, ta tưởng rằng tâm và tính của ta là thường hằng,

Nhưng nếu tu tập tinh chuyên và trở về được với con người nguyên thủy của mình, ta sẽ thấy rõ rằng vạn pháp đều là vô ngã.

Củi cháy ra tro và không trở lại thành củi được nữa.

Nhưng đừng tưởng rằng tro là có sau và củi là có trước.

Phải biết rằng củi là ở trong trạng thái củi và có trạng thái trước và sau đó. Nhưng tuy có trạng thái trước và sau, củi tách rời khỏi những trạng thái đó.

Tro ở trong trạng thái tro và có trạng thái trước và sau.

Cũng như củi không trở lại thành củi sau khi đã cháy ra tro, con người chết đi không sống trở lại nữa.

Như thế, giáo lý Phật dạy rằng sinh không trở thành tử, vì lẽ đó sinh được gọi là không có khởi đầu.

Giáo lý Phật cũng dạy rằng tử không trở thành sinh, vì vậy tử được gọi là không có chấm dứt.

Sinh là một giai đoạn của sự sinh

Tử là một giai đoạn của sự tử.

Ví dụ như mùa đông và mùa xuân.

Ta không nghĩ rằng mùa đông trở thành mùa xuân, cũng không nghĩ rằng mùa xuân trở thành mùa hạ. 

Người giác ngộ giống như bóng trăng phản chiếu trên mặt nước. Trăng không bị ướt, nước cũng không bị xao động.
Tuy ánh trăng tỏa chiếu khắp nơi, nhưng trăng vẫn được phản chiếu ngay trong một vũng nước nhỏ xíu. Tất cả trăng và bầu trời đều được phản chiếu trong một giọt sương trên cỏ, trong một giọt nước long lanh.

Giác ngộ không làm ta xao động, như bóng trăng không làm xao động mặt nước. 

Người không thể ngăn cản được giác ngộ, giống như giọt sương không thể cản ngăn được trăng và bầu trời cao. Chiều sâu của giọt nước (chiều sâu của giác ngộ) có thể sánh với chiều cao của trăng. Khoảnh khắc dài hay ngắn (hình ảnh phản chiếu của trăng) là tuỳ nơi vũng nước ấy lớn hay nhỏ, và được quán sát tương quan với bề rộng hay hẹp của trời và trăng.

Khi chân lý chưa có trong thân tâm, ta tưởng như thế đã là đầy đủ.

Khi chân lý có trong thân tâm, ta nhận ra rằng có điều gì thiếu sót.

Ví dụ, khi nhìn khắp bốn phương trên một chiếc thuyền lênh đênh trên biển cả không thấy bến bờ, ta chỉ thấy một đường vòng cong, và không có gì khác.

Tuy nhiên, đại dương không tròn cũng không vuông, và có những đặc tính khác nhau vô tận. Nó giống như một cung điện. Giống như một viên châu ngọc. Nó trông như một đường vòng cong vì lúc đó tầm mắt ta chỉ thấy như vậy.

Vạn pháp cũng như thế.

Đời sống này có nhiều khía cạnh khác nhau của cõi trần lao và cõi giới giác ngộ, nhưng ta chỉ có thể nhận và hiểu được chúng qua mức độ tri kiến do sự tu tập mang lại.

Để nhận ra được bản chất của vạn pháp, ta phải biết rằng tuy trông chúng có thể tròn hay vuông, nhưng biển và núi còn có những đặc tính khác thật là vô tận; hơn nữa còn có những thế giới vũ trụ khác ở khắp các phương trời. Chúng không chỉ ở chung quanh ta, mà còn phản chiếu ngay đây, trong một giọt nước rơi. 

Khi cá bơi trong đại dương, dù cá có bơi xa đến đâu cũng không bao giờ đến tận cùng của nước. Khi chim bay trên trời, dù chim có bay xa đến đâu cũng không bao giờ đến tận cùng của không trung.

Ngay từ khởi thủy, cá và chim không từng xa rời nền tảng của chúng.

Khi nhu cầu hoạt động rộng lớn chúng sẽ có tầm hoạt động rộng lớn. Khi nhu cầu hoạt động nhỏ hẹp chúng sẽ có tầm hoạt động nhỏ hẹp.

Như thế, nền tảng hoạt động của các chúng sinh ấy đều được tân dụng tối đa, mỗi chúng sinh trong cõi giới riêng của chúng. Dù đang ở đâu, chúng cũng không rời nền tảng căn bản của mình.

Khi chim ra khỏi không trung, nó sẽ chết ngay. Khi cá ra khỏi nước, nó sẽ chết ngay.

Vậy hãy biết rằng nước là sự sống.

Hãy biết rằng không trung là sự sống.

Sự sống là chim, và sự sống là cá.

Vượt lên trên đó, còn có những tiến trình xa hơn, như sự tu tập, chứng ngộ, thời gian hiện hữu của đời sống con người.
Nếu một con chim hay con cá cố tìm cách ra khỏi nền tảng của mình, con chim hay con cá ấy sẽ không tìm được lối đi hay vị trí của nó. Khi biết được bản vị của mình, sự tu của chúng ta trong đời sống hàng ngày là sự hiện thành của giác ngộ (hiện thành công án – genjokoan). Khi biết được lối đi (Đạo) của mình, sự tu của chúng ta trong đời sống hàng ngày là sự hiệnthành của giác ngộ.

Bản vị này và lối đi (Đạo) này không lớn cũng không nhỏ, không năng và không sở, không tồn tại trong quá khứ cũng không khởi lên trong hiện tại, cho nên chúng là hiện hữu như thế (Như Thị).

Người nào tu tập đạo giác ngộ như vậy, khi đạt pháp nào là thấu suốt pháp ấy, khi gặp việc gì là làm tròn việc ấy. 

Bản vị là ở đây, lối đi (Đạo) là ở khắp nơi. Biên giới của giác ngộ không thể thấy được, bởi vì sự hiểu biết và giác ngộ đều được trải nghiệm cùng một lúc. 

Đừng tưởng rằng những gì giác ngộ được sẽ trở thành kiến thức của mình và chấp trước vào đó. Ngay cả khi đang chứng nghiệm sự giác ngộ, cũng không chắc là bản chất sâu kín của giác ngộ đã được hiển thị – đó là điều vượt ngoài mọi suy luận nghĩ bàn. 

Sư Baoche ở núi Mayuku đang ngồi quạt. Một vị tăng đến hỏi:

“Bạch thầy, tính của gió(hay khí) là thường hằng, không có chỗ nào là không đến được. Thế thì tại sao thầy phải ngồi quạt?”

Sư trả lời:

“Tuy ngươi hiểu tính của gió (hay khí)là thường hằng, nhưng không hiểu ý nghĩa chân lý của “không chỗ nào là không đến được”.”

Tăng hỏi:

“Cái gì là ý nghĩa chân lý của “không chỗ nào là không đến được”?

Sư chỉ ngồi quạt. Tăng kính cẩn cúi đầu đảnh lễ. 

Kinh nghiệm khai ngộ Phật pháp và phương tiện truyền thừa linh động là như thế. Nếu cho là ta không cần dùng quạt bởi vì gió (hay khí) là thường hằng, hay nói là dù không dùng quạt ta vẫn cảm thấy gió (hay khí) chung quanh, tức là không biết thường hằng, và không biết bản tính của gió (hay khí). 

Bởi vì tính của gió (hay khí) là thường hằng, cho nên phong hóa* của đạo Phật có thể biến đất thành vàng ròng, biến nước trường giang thành đề hồ. 

(*Chú thích: Phong hóa: phong tục và giáo hóa. Chữ “Phong” được dùng hai lần trong đoạn này với ý nghĩa khác nhau. Nghĩa thứ nhất là “gió” hay “khí” như trong câu truyện trên. Nghĩa thứ hai là “phong” như trong “phong tục, phong độ, phong thái, phong hóa v.v..”, được dùng trong câu cuối cùng.)

Quên Đi Tự Ngã (Genjokoan)

Ngọc Bảo phóng dịch

(Tham khảo các bản dịch Anh ngữ của:
Hakuyu Taizan Maezumi (An introduction to the Buddha & his teachings)
Gudo Nishijima & Chodo Cross (Master Dogen’s Shobogenzo)
Yasuda Joshu Roshi & Anzan Hoshin Roshi)

 

Vấn đề thẩm quyền

Hỏi :

– Thưa ông Krishnamurti, ông nói rằng tất cả những vấn đề của chúng ta đều nẩy sinh ra từ một vấn đề, đó là chúng ta sống cuộc đời do người khác chỉ cho cách sống. Chúng ta thuộc loại người bàn nhì, và trải dài từ bao nhiêu thế kỷ tới nay, chúng ta đã có đủ loại thẩm quyền. Nay đã đến lúc giới trẻ nổi dậy để phản kháng lại các loại thẩm quyền. Xin ông cho biết riêng cá nhân ông, cái gì đã khiến cho ông chống lại thẩm quyền?

J. Krishnamurti đáp:

– Tôi không nghĩ rằng cá nhân tôi có điều gì để chống lại thẩm quyền, nhưng bản thân thẩm quyền, đối với toàn thế giới, nó đã làm thui chột biết bao tâm hồn, không riêng về mặt tôn giáo mà ngay chính từ nội tâm, bởi vì thẩm quyền về niềm tin tôn giáo gây nên ấn tượng chắc chắn đã phá tan khả năng khám phá thực tại. Người ta dựa dẫm vào thẩm quyền vì người ta sợ phải đứng đơn độc.

Hỏi:

– Tôi hơi thấy bối rối về điều này, bởi vì sự tích lũy biết bao trí tuệ của loài người chắc chắn rằng không phải tất cả đều là đồ bỏ.

J. Krishnamurti đáp:

– Không, nhưng cái gì là trí tuệ ? Sự tích lũy hiểu biết là trí tuệ chăng? Hay là trí tuệ chỉ đến khi sự đau khổ chấm dứt? Tóm lại, trí tuệ không ở trong sách, cũng không ở trong sự tích lũy hiểu biết về kinh nghiệm của người khác. Chắc chắn rằng trí tuệ phải đến từ sự tự tri, từ nội tâm của mỗi người, từ sự khám phá toàn bộ cấu trúc về tinh thần của chính họ. Khi người ta đã thâm hiểu về chính bản thân thì đó là lúc chấm dứt đau khổ và khởi đầu của trí tuệ.

Làm sao mà một tâm hồn có thể sáng suốt khi còn bị kẹt vào với sợ hãi và buồn phiền. Chỉ khi nào sự sầu não, sợ sệt chấm dứt, khi đó người ta mới có khả năng trở thành sáng suốt.

J. Krishnamurti – Meeting Life

Người dịch Danny Việt (ĐPK)

Phật pháp trong đời sống

Xin trích dịch một số câu hỏi, được Ni Sư Thubten Chodron giải đáp trong cuốn Buddhism for Beginners. 


Ni Sư Thubten Chodron là người Hoa Kỳ, đã viết nhiều sách giảng dạy Phật pháp như Open Heart & Clear Mind, How to Free Your Mind, Taming the Monkey Mind, Cultivating a Compassionate Heart, Blossoms of the Dharma, vân vân…. Cuốn Buddhism for Beginners được giới thiệu như sau:

“Cuốn sách này bao hàm những vấn đề căn bản nhất, đã gây thắc mắc trong tâm những người phương Tây, vốn còn xa lạ với cách tu tâm của người phương Đông. Với cách hành văn trong sáng và hấp dẫn, Ni Sư Thubten Chodron đã đưa người đọc qua những đề tài thông thường trong đời sống hằng ngày, dưới ánh sáng giáo lý của nhà Phật, nói về những cách sống sao cho sáng suốt, an lạc và hạnh phúc hơn. Tác giả đã gỡ bỏ những bối rối, hiểu lầm, trong tâm chúng ta, và dẫn chúng ta tiến vào những điều căn bản nhất của đời sống tinh thần sinh động và phong phú này.

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói như sau:

“Cuốn Buddhism for Beginners được viết cho người muốn tìm hiểu những điều căn bản nhất của đạo Phật, và cách ứng dụng những điều căn bản đó vào đời sống hằng ngày. Nó sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho độc giả”.

Sau đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả những câu hỏi và những giải đáp của Ni Sư Thubten Chodron, trích dịch từ cuốn sách kể trên.

Hỏi: 

– Làm thế nào để một người sống cuộc đời bình thường, một cư sĩ, không phải là tu sĩ, có thể thực hành Phật pháp?

Ni Sư Thubten Chodron trả lời:

– Những người sống cuộc đời bình thường, những nam cư sĩ và nữ cư sĩ, không phải là tu sĩ, vẫn có thể thực hành Phật pháp như mọi người khác, trong công cuộc rèn luyện tâm trí. Tại một vài nền văn hóa Phật giáo, người ta đã tự đánh giá thấp khả năng của họ, khi nghĩ rằng: 

– “Tôi chỉ là một cư sĩ bình thường. Nghe pháp, tụng niệm, tọa thiền là công việc của chư Tăng Ni. Đó không phải là việc của tôi. Tôi chỉ được tới chùa để lễ lạy, cúng dường Tam Bảo và cầu xin cho gia đình tôi được sự phù hộ độ trì mà thôi”. 

Những việc làm như tới chùa lễ lạy, cúng dường Tam Bảo, cầu xin cho gia đình, vân vân, thì cũng tốt. Nhưng các cư sĩ có khả năng để làm hơn thế. Họ có thể học hỏi giáo lý, tu tập để thăng hoa tâm linh, và đem những lợi ích của sự tu tập đó ứng dụng vào cuộc đời. Các cư sĩ nên thường xuyên đi nghe giảng về Phật pháp. Và khi có thể, thì tham dự những khóa tĩnh tâm. Như thế, mọi người sẽ đều được thấm nhuần giáo lý giải thoát và sự cao đẹp của Phật pháp. Nếu không thì mãi mãi họ cũng vẫn chỉ là những “Phật tử thắp nhang” mà thôi. Và rồi, nếu có người hỏi họ về giáo lý nhà Phật, thì họ cũng đành ú ớ, chẳng biết gì để mà trả lời. Tình trạng đó thật là đáng buồn.

May thay, hiện nay đã có nhiều Phật tử, tại cả Á Châu và Tây Phương, rất tích cực tu học Phật pháp và hành thiền, đó là những dấu hiệu tốt.

Trong cuộc đời của mỗi Phật tử, nên thọ trì Ngũ Giới, hoặc khi có dịp thì nên thọ Bát Quan Trai Giới. Làm vậy, tâm họ sẽ tăng cường sự tỉnh thức và nếp sống đạo cũng có được những thành quả tích cực.

Ngoài ra, Phật tử cư sĩ cũng có thể tham dự những buổi tĩnh tâm, hành thiền, hoặc đi nghe giảng pháp tại các chùa, hoặc các trung tâm Phật giáo vào những ngày cuối tuần, hoặc dùng một vài kỳ nghỉ phép thường niên, để tham dự các khóa tu tâm dài ngày hơn.

Nhiệm vụ giữ gìn sự trong sáng và hoằng truyền giáo pháp của đức Đại Bi Thế Tôn nằm trong tay tất cả bốn chúng, gồm có chư Tăng, chư Ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ. Nếu nhận ra được chân giá trị của Phật pháp, và mong ước giáo pháp được dàn trải khắp nơi, thì tất cả chúng ta phải nhận lãnh trách nhiệm, phải siêng năng học lý thuyết cho thấu triệt, và tinh tấn thực hành những điều đã học được, tùy theo khả năng của chúng ta.

Hỏi:

– Xin cho biết về sự liên hệ giữa chư Tăng Ni và các cư sĩ Phật giáo?

Ni Sư Thubten Chodron đáp:

– Như đức Phật đã quy định, bổn phận của chư Tăng, Ni, là giữ gìn trọn vẹn giới luật đã nguyện hứa, đồng thời học và thực hành Phật pháp, rồi đem sự hiểu biết đó hướng dẫn lại cho Phật tử tu hành.

Về phần giới cư sĩ Phật tử thì cung cấp những sự cần thiết cho đời sống của người tu sĩ, như nơi cư trú, y phục, thực phẩm và thuốc men. Sự phân nhiệm này có mục đích dành cho giới tu sĩ có nhiều thì giờ để chuyên tâm học hỏi và hành thiền, để họ mau tiến bộ trên đường tu tập, để rồi qua sự tiến bộ của họ, sự truyền dạy giáo pháp lại cho giới cư sĩ cũng đạt được nhiều hiệu quả. 

Mối quan hệ này đã lưu truyền trong khắp các truyền thống Phật giáo, dù khác hình thức. 

Tại các tu viện Thiền Tông ở Trung Hoa, làm lụng ngoài đồng được coi là một phần của việc tu hành, chư Tăng, Ni phải làm ruộng, học giáo lý và tu tập thiền.

Tại Thái Lan thì lại khác, vì lời hứa khi thọ giới là không cất giữ tiền bạc được thi hành triệt để, nên cư sĩ Phật tử không những chỉ cung cấp tứ sự cúng dường gồm nơi ở, y phục, thực phẩm và thuốc men, mà còn nhận lãnh luôn cả những việc lao động khác trong tu viện, để giúp chư tăng ni chuyên tâm tu hành.

Tại Châu Á, chư Tăng, Ni thường được giới cư sĩ Phật tử kính trọng và săn sóc chu đáo, vì Phật tử tại những nơi đó vốn có truyền thống tôn quý Phật pháp. Dù là vậy, tu sĩ nên tự coi mình như những người phục vụ, để không trở thành kiêu ngạo khi được Phật tử cung kính cúng dường. Nếu tu sĩ lại nổi lên tâm kiêu ngạo khi hưởng sự cung kính, thì đường tu của chính họ lại bị thoái hóa.

Tại phương Tây thì mối quan hệ giữa giới tu hành và giới cư sĩ vẫn còn chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng dân chủ, và ít phân chia giai cấp, vốn sẵn có trong bản chất của các xã hội Tây Phương. Như thế cũng có điều lợi, mà cũng có điều bất lợi. Thí dụ, người tu sĩ Tây Phương không luôn luôn được tu viện, hoặc nơi họ cư ngụ, cung cấp đầy đủ về mặt tài chính, cho các chi phí trong đời sống. Kết quả là có những Tăng Ni phải kiếm thêm việc làm bên ngoài, để có đủ tiền chi tiêu cho những nhu cầu cần thiết của bản thân. Có người kiếm đủ sống qua ngày, nhưng khi ốm đau, hoặc muốn đi tầm sư học đạo, hoặc tham dự những khóa thiền thất, thì họ sẽ gặp khó khăn về chuyện tiền bạc.

Hỏi: 

– Xin cho biết làm thế nào để tìm một vị thày tâm linh, và có cần thiết không?

Ni Sư Thubten Chodron trả lời:

– Có được một, hoặc nhiều vị thày tâm linh đức độ hướng dẫn chúng ta tu tập, là một điều rất hữu ích. Trong khi kinh sách có thể cho chúng ta biết những dữ kiện, vị thày tâm linh có thể trực tiếp giải đáp những thắc mắc nổi lên trong tâm chúng ta, và chỉ dẫn chúng ta cách thức ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống. Chúng ta có thể theo học nhiều vị thày, tuy thế, có thể chỉ một trong số đó là thày chính, bậc thày mà chúng ta hoàn toàn tin cậy.

Tìm một bậc thày tâm linh có đức độ, đầy đủ đạo hạnh là bổn phận của chính mình. Chúng ta càng phải thận trọng hơn trong tình trạng thực tế tại Tây Phương ngày nay, nơi có thể gọi là “chợ tâm linh”. Không phải tất cả mọi người dạy đạo đều biết họ phải làm gì, hoặc ngay cả đến chính họ có đủ đạo đức hay không nữa. Chúng ta phải biết rõ về họ, trước khi tôn họ là thày mình.

Muốn vậy, chúng ta nên tham dự nhiều buổi giảng pháp của nhiều vị thày khác nhau, quan sát kỹ thái độ của họ, nghiên cứu nội dung và giá trị của những điều họ giảng dạy, rồi hãy quyết định trong sự thận trọng.

Hỏi:

– Khi đi tìm thày tâm linh, chúng ta cần đến những phẩm chất gì nơi họ? 

Ni Sư Thubten Chodron trả lời:

– Những phẩm chất của bậc thày xứng đáng là cách hành xử có đạo đức, giầu kinh nghiệm về thực hành các phương pháp tu tâm, và thấu hiểu Tánh Không. Họ phải thâm nhập kinh tạng, có thể dạy nhiều chủ đề về Phật pháp, và có mối liện hệ chặt chẽ với thày của chính họ. Động cơ đi dạy của họ phải là vì họ muốn giúp học trò thấu hiểu giáo pháp, chứ không phải vì mong được cúng dường, hoặc muốn được nổi danh. Bậc thày phải có lòng từ bi, kiên nhẫn và cố gắng giúp đệ tử của họ, dù những người này có thể đã gây ra nhiều lỗi lầm. Những bậc thày đạo hạnh chỉ giảng dạy đúng theo chánh pháp, không xuyên tạc ý nghĩa kinh Phật, để lôi cuốn đệ tử hoặc để kiếm thêm tiền cúng dường.

Hỏi:

– Thày tâm linh có thể là cư sĩ được không?

Ni Sư Thubten Chodron trả lời:

– Thày tâm linh có thể là tu sĩ hoặc cư sĩ, cũng đều được cả. Tuy nhiên, cư sĩ thường có gia đình, trong khi tu sĩ luôn luôn là độc thân. Tìm thày tâm linh, chúng ta nên lưu tâm đến vị nào xứng đáng làm gương tốt cho chúng ta, và noi theo hành vi đạo đức của họ mà hành xử. 

Hỏi:

– Xin cho biết “hành thiền” là gì?

Ni Sư Thubten Chodron trả lời:

– Ngày nay khi nói đến “hành thiền”, đôi khi người ta bị lẫn lộn với những sinh hoạt khác. Hành thiền không chỉ có nghĩa đơn giản là làm thư giãn thân và tâm. Cũng không có nghĩa là đắm mình trong những sự tưởng tượng như mình là người thành công với một tài sản vĩ đại, có mối quan hệ tốt đẹp, có danh vọng và được mọi người ca ngợi. Đấy chỉ là sự mơ mộng viển vông về những dính mắc vào của cải vật chất.

Hành thiền cũng không phải là ngồi xếp bằng theo kiểu kiết già, lưng thẳng tắp như mũi tên với gương mặt tỏa nét nghiêm nghị thần thánh. Hành thiền là hoạt động của tâm. Dù thân thể có dáng ngồi đúng phương pháp, tuyệt đẹp, mà tâm rong ruổi chạy theo những tư tưởng linh tinh, tham, sân, si, thì cũng không phải là đang hành thiền.

Hành thiền cũng không phải là tập trung tư tưởng, như chúng ta có thể có trạng thái này khi vẽ tranh, đọc sách, hoặc làm việc gì mà chúng ta thấy thích thú. Hành thiền cũng không phải là chỉ đơn giản nhận biết mình đang làm gì vào những lúc đặc biệt nào đó. 

Hành thiền để chuyển hóa tư tưởng và nhận thức, để tăng trưởng lòng từ bi và thích ứng với thực tại của đời sống.

Hỏi:

– Xin cho tôi biết muốn hành thiền thì phải làm gì và hành thiền có lợi ích gì?

Ni Sư Thubten Chodron trả lời:

– Hiện nay, trong lãnh vực tu tập về tâm linh, chúng ta có rất nhiều thày dạy hành thiền. Nhưng chúng ta phải tìm hiểu kỹ, đừng hứng khởi một cách vội vã mà gia nhập ngay vào bất cứ cái gì. Phải rất thận trọng.

Có những người nghĩ rằng họ có thể sáng chế ra cách tu thiền của riêng họ, không cần phải học từ một bậc thày lão luyện. Đó là điều thiếu khôn ngoan. Muốn hành thiền, trước nhất chúng ta phải được hướng dẫn bởi một vị thày giầu kinh nghiệm, xứng đáng làm thày. 

Hành thiền tạo thói quen tốt cho tâm chúng ta, thái độ sống của chúng ta đối với cuộc đời sẽ từng bước chuyển hóa. Chúng ta sẽ giảm dần sự giận dữ và sẽ giải quyết những công việc cần phải suy nghĩ, cân nhắc, một cách sáng suốt hơn. Những sự bất mãn và căng thẳng thần kinh cũng từ từ giảm thiểu. Những kết quả này chúng ta có thể nhận ra ngay sau mỗi buổi hành thiền. Nhưng chúng ta nên có những động cơ để hành thiền cao cả và rộng lớn, hơn là chỉ vì niềm vui và hạnh phúc của riêng mình. Nếu chúng ta muốn hành thiền để giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, hoặc với mục tiêu đạt được sự triệt ngộ (triệt ngộ là giác ngộ triệt để như đức Phật), để làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, thì hiển nhiên là tâm trí chúng ta sẽ thấy an lạc ngay. Và rồi chúng ta sẽ có thể đạt được những mục tiêu cao cả đó.

Giữ được thời khóa biểu hành thiền thường lệ hằng ngày, dù mỗi ngày chỉ có thể tu tập một thời gian ngắn, cũng là thói quen tốt, sẽ mang lại rất nhiều lợi ích. 

Có người nghĩ rằng: 

– “Mỗi ngày ta đều quá bận rộn với công việc ở sở làm, với gia đình ở nhà, và với những công việc giao tế ngoài xã hội, nên ta không thể hành thiền. Hãy cứ để đó, đến khi nào lớn tuổi, công việc giảm bớt rồi, ta hãy tính sau. Hành thiền là việc của các Tăng Ni, đâu phải của mình”. 

Xin đừng nghĩ vậy, quá sai rồi. Nếu hành thiền giúp ích chúng ta, thì hằng ngày chúng ta nên dành thì giờ để thực tập. Dù chúng ta không thích tọa thiền, cũng nên cố gắng dành chút thì giờ mỗi ngày để tĩnh tâm, là điều cần thiết. Mỗi ngày, chúng ta nên dành ra chút thì giờ, ngồi lặng lẽ, quán chiếu lại những việc mình làm trong ngày, và tìm coi vì lý do gì mình đã làm như thế, hoặc xem sách về giáo pháp, hoặc tụng đọc kinh Phật. Muốn được hạnh phúc, chúng ta phải sống hài hòa với mọi người, và an lạc trong bầu không khí tịch mịch, một mình.

Cần có những khoảng thời gian tĩnh lặng, nếu được vào buổi sáng, khi chưa khởi sự làm các công việc thường ngày thì tốt, nhất là trong đời sống của những xã hội văn minh tân tiến hiện nay, nơi mà con người ta thật sự là quá bận rộn.

Chúng ta luôn luôn có thì giờ để săn sóc thân thể. Thỉnh thoảng chúng ta nhịn ăn vì biết rằng cơ thể cần thiết điều đó. Thì cũng như vậy, chúng ta nên dành ra đôi chút thì giờ để săn sóc tâm trí và trái tim, bởi vì chúng quá quan trọng đối với sự nhận thức, cảm xúc và sức khỏe của chúng ta.

Tóm lại, tâm trí chứ không phải là thân xác của chúng ta, sẽ là động lực tiếp nối trong những kiếp tương lai của chúng ta, đem theo với nó là nghiệp lực, dấu ấn của những hành động mà chúng ta đã gây ra trong cuộc đời này. Hành thiền Phật giáo không phải là chúng ta làm lợi ích cho đức Phật, nhưng vì sự tiến bộ của chúng ta. Phật pháp dạy cách làm thế nào để tạo nguyên nhân của hạnh phúc. Và vì rằng tất cả chúng ta đều mong mỏi được hưởng hạnh phúc, chúng ta nên hành trì Phật pháp càng nhiều càng tốt. 

Trích Thư viện Hoa Sen

Buông Xả Hận Thù

 Hỏi:

…”… Là một cựu quân nhân trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, tôi đã chiến đấu tại các chiến trường để bảo vệ nền tự do cho miền Nam Việt Nam. Khi miền Nam sụp đổ, tôi bị bắt đi tù, được gọi một cách văn hoa là đi cải tạo. Ở đó, hằng ngày ngoài chuyện làm việc cực nhọc, chúng tôi còn phải nghe những lời lăng mạ của các người quản trại, rằng chúng tôi là những kẻ phản quốc, làm tay sai cho ngoại bang. Do hiểu biết nông cạn, nên họ không hiểu được thực tế, rằng cuộc chiến của nước Việt Nam là chiến tranh ý thức hệ, giữa hai khối tự do và cộng sản. 

Được đi theo diện HO sang đây, do có điều kiện nghiên cứu kinh sách nhà Phật, đôi khi tôi lại cảm thấy thương xót cho những cai tù khi xưa, những kẻ vì ngu dốt mà tạo nghiệp ác với anh em tù nhân chúng tôi. Những lúc ấy, lòng tôi nhẹ nhõm, không còn oán hận họ nữa.

Tôi rất muốn buông xả, tha thứ cho họ, theo lời đức Phật đã dạy: “Oán chỉ nên cởi, không nên thắt”, và “Lấy đức báo oán, oán ấy tiêu tan, lấy oán báo oán, oán ấy chập chùng”.  Nhưng càng gần ngày kỷ niệm miền Nam xụp đổ, thì lòng tôi lại bồn chồn uất ức, nghĩ tới biết bao nhiêu là cảnh cũ, người xưa. 

Vậy tôi có nên buông xả hay không? Muốn buông xả thì làm sao cho tôi quên được biết bao nhiêu chuyện đau lòng mà buông? …

(PVK)

Đáp:

Hằng năm, cứ vào khoảng thời gian miền Nam xụp đổ, là cuối tháng Tư dương lịch, thì không riêng gì ông Khang thấy lòng bồi hồi buồn bã, mà hầu như hết thẩy chúng ta, những người phải bỏ quê cha đất tổ ra đi để tìm tự do, đều cùng chung nỗi bồi hồi buồn bã như nhau. Mặc dầu ba chục năm đã trôi qua, thế hệ những người có nhiều kỷ niệm với miền Nam thuở xưa, vẫn thấy mọi chuyện như mới xảy ra, và vết thương lòng vẫn như là còn đang nhức nhối. 

Vậy thì liệu chúng ta có thể quên được những kỷ niệm xưa không? Và có cần phải quên không? Đấy cũng là những mối ưu tư trong đời sống, cần được tìm hiểu.

Trong đời, chúng ta có rất nhiều câu hỏi, và mỗi câu hỏi cũng lại có nhiều câu trả lời khác nhau, tùy theo môi trường sống, hoàn cảnh cá nhân, văn hóa, xã hội, vân vân… Vì thế, những câu trả lời cũng đều chỉ là những quan điểm tưong đốikhông phải là chân lý tuyệt đối, dùng chung cho tất cả mọi người.

Đạo Phật cũng trôi chảy trong dòng sống của nhân loại, cũng có nhiều câu hỏi và giải đáp khác nhau cho hành giả trên đường tu tập. Là một đạo sư, đức Phật hiểu rất thấu đáo điều này. Ngài hiểu rằng tâm mỗi chúng sinh đều có những đặc điểm riêng, do đó, những thắc mắc cũng cần có những giải đáp khác nhau, cho nên đã chỉ ra nhiều cách tu tập, để đáp ứng với nhu cầu luyện tâm của nhiều người.

Cốt tủy của đạo Phật là tu hành để giải thoát ra khỏi sinh tử luân hồi. Đây là kinh nghiệm bản thân của đức Phật, sau khi tu hành khổ hạnh qua nhiều phương pháp, một buổi sáng, khi sao Mai mọc, Ngài bừng tỉnh ngộ, nhận ra được rằng “Tất cả chúng sinh đều có Tri Kiến Phật như Ngài, chỉ vì vô minh che khuất, nếu tu tập thì sẽ bừng tỉnh, giác ngộ như Ngài”.

Đó là thông điệp của đức Phật khi giác ngộ, thành Phật. Phật có nghĩa là giác ngộ.

Từ sự giác ngộ của Ngài, đạo Phật ra đời. Mục tiêu của người tu đạo Phật là giác ngộ thành Phật để cứu độ chúng sinh như đức Phật đã tu và đã thành tựu. Thành phần này là những người xuất gia, còn được gọi là những Trưởng Tử Như Lai. Để có thể đạt được kết quả rốt ráo, các vị này thường tới những khu rừng sâu, núi cao, xa lánh hẳn chuyện đời, để thanh lọc tâm linh. Đó là các vị hành giả quyết tâm bước trên đường giác ngộ giải thoát, để có khả năng cứu độ muôn loài chúng sinh như đức Phật, ngay trong kiếp sống này. 

Đối với các vị này thì:

 “Quá khứ qua rồi  
Tương lai chưa tới  
Hãy nên tỉnh thức 
Sống trong hiện tại 
Vững chãi thảnh thơi”.

Do đó, các pháp môn họ tu đều với mục tiêu dẹp trừ vọng tưởng Tham Sân Si, buông bỏ kỷ niệm xưa, tình cảm cũ, quay lưng lại quá khứ. Quý vị này được Phật tử tôn là bậc trượng phu, đã vượt lên trên những chân lý tương đối, có tính cách quy ước của từng nhóm người, từng cộng đồng, vốn là nguyên nhân sâu xa của chiến tranh. Hành động của người tu giải thoát phải phát xuất từ tâm Đại Bi, bình đẳng, làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. Nếu có việc làm nào, mà động cơ là Tham Sân Si, thì người tu sĩ đó chưa giữ đúng lời nguyện khi xuất gia. Mang tâm nguyện độ sinh bước vào cửa Không, người tu sĩ trên đường tiến tới giác ngộ giải thoát, coi danh lợi và vinh hoa phú quý chỉ như đôi dép rách, thẳng tay liệng bỏ. Đấy là mục tiêu cốt tủy của con đường tu theo đạo Phật.

Nhưng không phải tất cả mọi Phật tử đều có khả năng làm được việc đó. Và cũng không phải tất cả Phật tử có lòng muốn tu tập, đều muốn tu một cách tích cực, dẹp bỏ tất cả mọi lôi cuốn của thế gian như vậy.

Cho nên ngoài giới xuất gia tu hành để giải thoát ngay trong kiếp sống này, còn có Phật tử cư sĩ tu hành tại gia. Với Phật tử cư sĩ tại gia thì lại có quy chế khác với người xuất gia. Vì cư sĩ đang sống trong đời thường, phải có bổn phận với gia đình, tổ tiên, non sông, đất nước, phải duy trì nếp sinh hoạt với cộng đồng dân tộc. Người cư sĩ tuy cũng có những tu tập tâm linh, nhưng phải giữ được sự quân bình đối với đời sống xã hội.

Mỗi xã hội lại có những quy định cho các thành viên. Thí dụ như ở Việt Nam khi xưa, thanh niên tới hạn tuổi phải đi quân dịch để bảo vệ tổ quốc, trong khi tu sĩ thì được miễn dịch, vì họ có nếp sinh hoạt khác biệt. Trước những nhiệm vụ đối với gia đình và tổ quốc như vậy, mọi con dân đều có những ràng buộc với cộng đồng, không thể tự do phóng khoáng như tu sĩ được. 

Như vậy, nếp sinh hoạt của cư sĩ đã khác với tu sĩ, cho nên sự buông xả cũng có những mức độ khác nhau.

 Khi đức Phật phát biểu về quyền sống, về sự bình đẳng, Ngài nói đến “chúng sinh”, chứ không phải chỉ nói đến “nhân loại”, lại càng không phân biệt quốc gia, dân tộc. Cuộc đời Ngài là giáo hóa để mưu cầu hạnh phúc và an lạc cho toàn thể chúng sinh. Ngay đối với tính mạng những sinh vật nhỏ nhít, như con sâu, cái kiến, Ngài cũng khuyên chư đệ tử vào mùa côn trùng sinh sản, nên giảm thiểu sự đi lại để tránh giẫm đạp lên, khiến chúng phải bỏ mạng.

Nhưng đối với chúng ta là những người dân thường, dù là Phật tử, chúng ta vẫn đang sống trong thế giới tương đối, có phải, trái, tốt, xấu, vân vân, theo quy ước của cộng đồng. Chúng ta có nhiệm vụ phải hoàn tất các bổn phận mà cộng đồng quy định, có cái nhìn phân biệt về quốc gia, dân tộc, vân vân… Trên quan điểm này, quá khứ là gia tài chung của những người cùng truyền thống, cùng kỷ niệm, có những vui, buồn, vinh, nhục chung, không thể xóa nhòa ký ức, không thể quên được.

Không thể quên, nhưng chúng ta có thể buông xả bớt những nỗi niềm đau khổ ra khỏi tâm tư, để trước nhất là cứu tâm chúng ta cho bớt nhức nhối, sau là có thể dùng những sinh lực, đáng lẽ tiêu hao trong việc gậm nhấm những cảm xúc đau đớn, chuyển qua những công việc ích lợi hơn.

Nhà Phật cho là “Tâm tạo thiên đường, Tâm tạo địa ngục”. Suốt cả cuộc đời giáo hóa chúng sinh, đức Phật chỉ dạy chuyển tâm. Đó là thông điệp ”Oán chỉ nên cởi, không nên thắt”, và “Lấy đức báo oán, oán ấy tiêu tan, lấy oán báo oán, oán ấy chập chùng”. 

Đối với quá khứ, cfhúng ta không cần phải quên, mà nên ghi chép lại trong lịch sử của dân tộc, để lưu truyền cho thế hệ sau. Quá khứ cho ta những bài học của lịch sử, mà nhờ có những bài học này, người đời sau có thể rút tỉa kinh nghiệm, để từ đó, có những quyết định sáng suốt, tốt đẹp hơn. Như vậy, kỷ niệm quá khứ sẽ đem lại những chuyển hóa tích cực cho tương lai. 

Tuy nhiên, chúng ta nên phân biệt giữa ghi nhớ và căm thù. Ghi nhớ để có kinh nghiệm mà do đó, làm được những việc có ích cho đời thì tốt. Nhưng ghi nhớ để nổi lên lòng căm thù thì không đúng với lời Phật dạy. Lòng thù hận sẽ đem lại cho mình và cho người những nỗi đau khổ không bao giờ chấm dứt được. Trước nhất là lòng thù hận trói buộc mình trong những cảm xúc tiêu cực, không an lạc. Để trong tâm sự thù hận, nhãn quan sẽ bị thu hẹp. Đó là lý do nhà Phật khuyên chúng ta nên buông xả.

Lịch sử các cuộc tàn sát vì cuồng tín ghi rằng, đã nhiều lần người theo đạo Hồi tấn công đạo Phật, bằng những cuộc thảm sát đẫm máu. Điển hình như cuộc tấn công năm 1197, được mô tả như sau:

 …”… Đạo quân Hồi giáo xông xáo vào đất Phật tại Ấn Độ. Những lưỡi kiếm vung lên loang loáng, chém bay tất cả những cái đầu cạo trọc (ám chỉ đầu các tu sĩ Phật giáo). Tội ác giết người được hoàn tất chu đáo đến nỗi, khi kẻ chiến thắng muốn tìm một người có thể đọc và giải thích kinh sách nhà Phật, tại nơi cất giữ kinh của các tu viện, thì không còn tìm ra nổi, dù là chỉ một người sống sót, có khả năng đọc được sách nữa. Tất cả đã bị giết hết. Cuộc tàn sát ráo riết tới tận gốc. Do cuộc chém giết man rợ này, Hồi giáo đã nhổ tận gốc đạo Phật tại Ấn Độ”

Không riêng tại Ấn Độ, người Hồi Giáo đã tàn sát Phật tử tại nhiều vương quốc miền Trung Á vốn theo đạo Phật, thí dụ Afghanistan, nơi Phật giáo đã có một thời được phổ biến rất rộng rãi, điển hình là đã có hai pho tượng khổng lồ được xây dựng từ mấy ngàn năm nay, mà chúng ta mới được biết gần đây, khi quân Taliban phá hủy hai pho tượng này, khiến cho cả thế giới phải xúc động. Có thể nói 300 năm trước Tây lịch, dưới triều đại Asoka, Phật giáo đã vượt khỏi biên giới Ấn Ðộ, và phát triển rộng về phiá Nam, phiá Ðông và Tây Ấn Ðộ. Phía Tây Bắc, Phật giáo du nhập vào các vùng Gandhara, Pakistan và Afghanistan. Ở thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch, một vùng đất rộng lớn bao gồm Bắc Ấn, Gandtara, Afghanistan cho tới thung lũng sông Tarim do hoàng đế Kaniska cai trị. Vị vua này là một tín đồ Phật giáo, dưới triều đại của ông, đã tổ chức kết tập kinh điển lần thứ IV ở Kashmir và cũng chính nhà vua đã cử những vị cao tăng đem Phật giáo đến các vương quốc như Hy Lạp, Ai Cập, Syria… Nhưng tất cả những khu vực theo Phật giáo này đã bị người Hồi giáo tàn sát, đập phá chùa chiền, tu viện, thư viện với những kho tàng văn hóa Phật giáo. Trước lưỡi kiếm tàn sát hung bạo, những người Phật tử hiền lành, hiếu hòa, bất bạo động, đã chạy tan tác đi lánh nạn tại các nước như Nepal, Trung Hoa, Tây Tạng, vân vân…

Là một nhà lãnh đạo đất nước Tây Tạng, một đất nước mà dân chúng hầu hết theo Phật giáo, hẳn đức Đạt Lai Lạt Ma biết rõ về những cuộc tàn sát đạo Phật của Hồi giáo. Thế nhưng, trong buổi hội nghị mang tên “A Gathering of Hearts Illuminating Compassion”  tại San Francisco, từ ngày 10 tháng Tư đến ngày 16 tháng Tư năm 2006, gồm có khoảng 500 nhà lãnh đạo và học giả thuộc nhiều tín ngưỡng, của khoảng 30 quốc gia trên thế giới, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã phát biểu: “Ngày nay, theo ý một số người, Hồi giáo có vẻ như bị coi là hiếu chiến. Tôi cảm thấy rằng điều đó hoàn toàn không đúng. Hồi giáo, cũng như các truyền thống tôn giáo khác, cũng dạy tín đồ về sự tử tế, về lòng trắc ẩn, về sự giúp đỡ những người nghèo khổ, vân vân…”….

Ngài nói với cử tọa rằng, nhiều người đã thấy và nghe nói về những cuộc nổ bom tự sát, phần lớn xảy ra tại các nước Hồi giáo, mà không nghe nói về những người Hồi giáo đi làm việc thiện, giúp đỡ người nghèo. Ngài nói rằng tất cả mọi người đều có khuynh hướng bạo động, nếu bản thân bị mất bình tĩnh, và chúng ta không nên căn cứ vào hành động của một số người, mà phán xét cả một tôn giáo, vì “Ở đâu cũng có những kẻ phá hoại”. Ngài cũng kêu gọi cử tọa, là những nhà lãnh tụ tôn giáo và các học giả tôn giáo, cần phải làm việc tích cực hơn để tạo một thế giới sống chung hòa bình.

Những điều Ngài nói đều có cơ sở thực tế, thí dụ tổ chức Rahima Foundation của người Hồi giáo đã nhận được huy chương Human Relations Award of California’s Santa Clara County vì đã có công tặng y phục, thực phẩm và những vật dụng cần thiết cho những người kém may mắn tại Santa Clara và các vùng phụ cận từ năm 1993. Tại những vùng như Sacramento, New York, Philadelphia, Chicago, Detroit, Tampa Bay, vân vân, các bác sĩ Hồi giáo tại địa phương đã cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho những bệnh nhân không có bảo hiểm. Và qua những tổ chức như Habitat for Humanity, các thiện nguyện viên Hồi giáo đã hy sinh thời giờ và khả năng kỹ thuật của họ, để xây dựng nhà cửa cho những người vô gia cư, vân vân … 

Lời kêu gọi của Ngài được nhiều người có tấm lòng rộng mở hoan hỉ đón nhận. Nhưng cũng có một số người, ngay cả Phật tử, phản đối, cho là Ngài quá khoan hòa với Hồi giáo.

Như chúng ta đã thấy, hẳn là Ngài biết rất rõ về những nỗi thống khổ, những tai hại do Hồi giáo gây ra cho đạo Phật. Thế nhưng, là một Phật tử chân chính, Ngài không nhìn sự việc bằng cảm tính, theo kiểu vơ đũa cả nắm. Chúng ta cũng thấy rằng không phải tất cả người Hồi giáo đều xấu. Trong số những người Hồi giáo, có rất nhiều người tốt lành. Họ cũng tốt lành như chúng ta, mà lại còn đáng buồn hơn chúng ta, vì bị mọi người hiểu lầm, nên ghét lây tới họ. 

Chắc chắn Ngài không quên những đau thương mà người Hồi giáo đã đem lại cho Phật giáo trong quá  khứ, nhưng là một Phật tử sáng suốt, Ngài nhìn những kiếp người đang sống trên thế giới này bằng con mắt Tâm, con mắt thấu triệt được những đau thương khốn khổ, mà mọi người phải chịu đựng, nếu nhân loại cứ tiếp tục thù hận nhau, chiến tranh cứ liên miên xảy ra khắp thế giới.

Trong cuốn The Art of Happiness, a Handbook for Living, đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói:

…“… Sự tai hại của lòng thù hận thật là hiển nhiên, rõ ràng và trực tiếp. Thí dụ, khi trong lòng bạn nổi lên một cảm giác ghét ai đó, thì ngay lập tức, cảm giác ghét đó tràn ngập tâm trí bạn, và nó làm tan biến cảm giác an lạc trong tâm bạn ngay lập tức. Nó cũng khiến cho tâm bạn không còn sáng suốt, tỉnh thức được nữa. Ngay khi sự nổi giận và ghét bỏ xuất hiện, nó phá hủy phần tốt đẹp nhất của tâm trí, phần mà nhờ nó, bạn biết được sự đúng và sai, sẽ gây ảnh hưởng vào phản ứng của bạn ngay lúc đó và trong tương lai của bạn. Khả năng phán xét của bạn bị đình chỉ, không còn làm việc nữa. Bạn sẽ giống như người bị mất trí. Như vậy,sự giận dữ và thù ghét có khuynh hướng làm cho bạn bị mất tỉnh táo, khiến cho những khó khăn mà bạn đang gặp càng trở nên tệ hại hơn...”… 

Một trong những con đường tu tập của Phật giáo Đại Thừa là Bồ Tát Đạo. Hạnh nguyện Bồ Tát là hy sinh bản thân để cứu độ chúng sinh. Có câu hỏi đặt ra là: “Nếu tại khu rừng kia có con cọp rất dữ, đã ăn thịt nhiều người. Có một võ sĩ tu theo hạnh Bồ Tát, có khả năng giết con cọp đó. Nhưng giết cọp thì phạm vào giới sát. Vậy phải làm sao?”

Câu trả lời cho người đi trên Bồ Tát Đạo là dùng con mắt Tâm, con mắt “cứu khổ chúng sinh” để chỉ đạo. Giết cọp sẽ cứu được nhiều chúng sinh khỏi chết, hành giả Bồ Tát Hạnh sẽ rất thương xót mà đành phải xuống tay chấm dứt cuộc đời con cọp, để cứu nhiều mạng sống, và sẵn sàng chấp nhận sẽ phải trả quả báo do hành động sát sinh, dù động cơ sát sinh nảy ra do lòng từ bi của mình.

Người Phật tử tu theo đúng lời dạy của đức Phật, trước mỗi hành động phải luận coi động cơ là vì lòng từ bi, vì chúng sinh, hay vì tham sân si cho cá nhân mình. 

Cuộc đời luôn luôn đem tới cho chúng ta những câu hỏi. Chỉ có con mắt Tâm, con mắt của lòng từ bi là có thể giúp chúng ta trả lời một cách sáng suốt mà thôi.

Trích Thư viện Hoa Sen

Tự Do Tư Tưởng

Tâm trí không thể tự do khi mà nó còn bị rập khuôn hoặc điều kiện hóa. Người ta nghĩ rằng không thể để cho bạn được tự do suy nghĩ, không bị rèn luyện vào khuôn khổ, mà phải bắt tâm trí bạn vào một khuôn khổ nào đó. Ngoài ra, đối với một nền văn minh càng lâu đời, thì sức nặng của truyền thống, của thẩm quyền, của những quy tắc càng đè nặng trĩu lên tâm trí con người. 

Lấy thí dụ những chủng tộc cổ xưa như Ấn Độ bị sống gò ép vào khuôn khổ hơn những người sống tại Mỹ, nơi có nhiều tự do về đời sống xã hội và kinh tế, vì đó là một dân tộc gồm những nhà tiền phong mở đường lập quốc mới gần đây. 

Một tâm trí bị rèn vào khuôn mẫu thì không thể tự do, vì nó không thể vượt qua được cái biên giới của chính nó, vượt qua được cái hàng rào mà chính nó đã tạo dựng chung quanh nó, đó là điều hiển nhiên. Và thật là vô cùng khó khăn cho cái loại tâm trí này, để nó có thể tự giải thoát khỏi cái khuôn khổ và vượt được ra ngoài, bởi vì cái khuôn mẫu đè nặng lên nó không những từ xã hội, mà tại luôn cả tự nó ràng buộc chính nó. Bạn thích cái cung cách sống của bạn vì bạn ngại, không dám vượt qua nó. Bạn sợ những điều cha mẹ bạn, thầy linh hướng của bạn, và xã hội sẽ bình phẩm, nên bạn giúp họ tạo dựng cái hàng rào nó sẽ cầm giữ bạn lại 

Chính đây là cái nhà tù tư tưởng mà số đông chúng ta bị giam cầm, và đó là lý do cha mẹ chúng ta bảo chúng ta – và một ngày kia sẽ tới phiên chúng ta sẽ bảo con cái chúng ta – phải làm cái này hoặc không làm cái kia. 

Trong khi còn trẻ, tự do là điều vô cùng quan trọng, không phải chỉ trên bình diện ý thức, mà tận đáy lòng. Có nghĩa là bạn phải quan sát chính bạn, tỉnh giác trước những nguồn ảnh hưởng tìm cách xâm lấn vào tâm hồn bạn để chi phối bạn. Có nghĩa là đừng bao giờ chấp nhận điều gì một cách không thận trọng, mà phải luôn luôn tìm hiểu, nghiên cứu kỹ lưỡng và phản đối, nếu cần. 

 J. Krishnamurti – Life Ahead 

Người dịch: Danny Việt (ĐPK)