Archive | October 2013

Ăn chay và tình cảm trong gia đình

Hỏi:

Chúng tôi là một đại gia đình gồm cha mẹ và năm anh chị em, hai trai, ba gái. Trong suốt cuộc đời tôi, hình ảnh mẹ tôi là trung tâm của gia đình. Từ khi còn ở Việt Nam, mẹ tôi là một bà nội trợ giỏi, với đồng lương công chức eo hẹp của ba tôi, mẹ tôi chi tiêu tằn tiện, may lấy quần áo cho chúng tôi, nấu những món ăn cho gia đình, dù không phải sơn hào hải vị, nhưng rất ngon. Tôi vẫn còn nhớ món cá nục trong những cái rổ nan, mẹ tôi chiên lên, rưới nước mắm, rắc hạt tiêu rồi hạ lửa xuống chỉ còn riu riu, mùi cá xém vàng nâu quyện với nước mắm cô đặc lại, bốc lên thơm ngào ngạt.

Khi ba tôi được đi theo diện HO, chúng tôi qua đến đây cũng còn nghèo lắm, mẹ tôi vẫn làm những món ăn rẻ tiền như khi còn ở quê nhà, đôi khi sang hơn một chút như có thêm thịt gà, thịt heo, vân vân… Còn nhớ những chiều đi học về, bóng dáng mẹ lui cui trong bếp, tay đũa tay thìa, mẹ nêm nếm những món gà kho gừng, cánh gà xào chua ngọt, mùi thơm hấp dẫn, tôi thường lấy cơm nóng bỏ vào chảo để vét lại cái chất nước sốt dẻo quánh, thơm và ngọt lựng trong cổ. Ðôi khi, mẹ tôi cũng chiên cá nục với nước mắm và hạt tiêu như khi xưa, mẹ bảo :” Món này rẻ lắm”, chúng tôi lại thấy ngon quá, chẳng đòi mẹ món ăn đắt tiền. Còn nhớ hôm anh tôi ra trường, mẹ tính cho cả nhà ăn món gà El Pollo Loco, nhưng rồi mẹ lại mua thịt gà về quay với bơ, mẹ bảo nhà làm thế này rẻ hơn nhiều, chúng tôi thì thấy ngon quá rồi, chẳng cần đòi hỏi gì thêm.

Ngày tháng êm ả trôi mau trong cuộc sống thanh bạch mà vui. Rồi chúng tôi ra trường, có gia đình, con cái. Mỗi cuối tuần, chúng tôi vẫn về ăn cơm với ba mẹ, rồi gửi con cho mẹ tôi trông giùm để đi coi chiếu bóng hay thăm bạn hữu. Mỗi tuần mẹ tôi lại nấu một món đặc biệt, như phở Bắc, hủ tiếu Nam Vang, bún bò Huế, mì Quảng, bánh xèo, bánh tôm, chả giò, vân vân, món nào của mẹ nấu cũng đều rất ngon. Dù nay thì chúng tôi dư tiền để ra tiệm ăn những món mà ngày trước coi là món ăn sang, nhưng chúng tôi thấy món mẹ nấu ngon hơn, thích ăn ở nhà ba mẹ hơn.

Từ khi chúng tôi đi làm, có gia đình, thì đời sống của ba mẹ tôi cũng khá hơn. Ngoài tiền trợ cấp của chính phủ, chúng tôi cũng biếu thêm chút đỉnh để ba mẹ đi chơi, hoặc có tiền chiêu đãi bạn bè, linh tinh. Mẹ tôi thì đi chùa, đi thăm bè bạn. Và rồi vấn đề bắt đầu nẩy sinh từ lúc này.

Sau một thời gian đi chùa, mẹ tôi bắt chước các bà bạn, học làm đồ chay, rồi đổi qua ăn chay. Lúc đầu thì còn ăn một tháng có mấy ngày, sau ăn chay trường luôn, chấm dứt ăn thịt.

Hồi mới ăn chay, mẹ tôi vẫn còn nấu các món ăn mặn như thường lệ. Sau một thời gian thì bà chỉ nấu món chay và mua những món mặn nấu sẵn ở ngoài tiệm đem về để mọi người ăn dặm chung trong mâm. Dần dần, những bữa ăn món đặc biệt cuối tuần như phở, bún, vân vân, cũng biến mất. Mẹ ít vào bếp, thường yêu cầu chúng tôi mua đồ ăn nấu sẵn, hoặc cùng nhau ra tiệm ăn. Thành ra sự đi chùa, tu hành theo đạo Phật thì từ bi đâu không thấy, chỉ thấy gia đình tôi mất những bữa ăn ngon lành đầm ấm khi xưa.

Ba tôi rất bực mình vì khẩu vị của ba đã quen với cách nấu ăn, nêm nếm của mẹ. Cơm ngoài tiệm ba thường chê mặn, chê bột ngọt, chê dầu mỡ, có khi chỉ nếm qua rồi bỏ ăn, đứng lên.

Cả ba tôi và chúng tôi đều oán đạo Phật và sự ăn chay, đã làm mất những bữa cơm gia đình ấm cúng của chúng tôi, đã làm mất niềm vui mà đã bao lâu nay mẹ chúng tôi đã đem lại cho chúng tôi.

Xin quý vị giúp ý kiến cho tôi, nên khuyên mẹ tôi ăn thịt trở lại, hay là nên khuyên ba tôi chấp nhận sự ăn trường trai và không nấu thịt cá của mẹ.

Trân trọng cảm ơn quý vị,
Ngọc Hạnh

Đáp:

Ðọc thư của bạn Ngọc Hạnh với những chi tiết nồng đượm tình gia đình, chúng tôi rất ngậm ngùi. Cũng như bạn Ngọc Hạnh, chúng tôi cũng cảm nhận được sự mất mát của gia đình bạn. Cảm nhận sự mất mát thì giống nhau, nhưng là những người đứng ngoài, nên chúng tôi có thể thấy thêm vài khía cạnh khác của vấn đề, xin trình bày ra cùng quý thính giả và bạn Ngọc Hạnh, như sau:

Trước nhất, một điều rất rõ là gia đình bạn Ngọc Hạnh đã đặt tất cả niềm vui vào một trung tâm điểm, trung tâm điểm này không phải là “bà mẹ” nhưng là “khả năng nấu ăn ngon của bà mẹ”. Bởi vì bà mẹ vẫn còn sống đó, chỉ ngừng nấu các món mà gia đình thích  thôi, là tất cả tình cảm mà trước kia biểu hiện ra trong việc nấu ăn, nay dĩ nhiên là vẫn còn đó, đã bị chồng con xóa hết rồi. Bản thân bà cũng vẫn còn đó, nhưng tình yêu của gia đình đối với bà thì dường như đã bị sứt mẻ. Tâm lý đó của mọi người trong gia đình có thể đã đôi khi biểu lộ ra, dù không quá lộ liễu, nhưng cũng đủ khiến cho bà mẹ suy nghĩ về “thân phận công cụ nấu bếp” của mình trong lòng chồng con chăng?

Trong cuộc sống vô thường, mọi sự đổi thay từng giây, từng phút, không ai biết lúc nào mình sẽ thở ra mà không còn hít vào này, sự đặt tất cả niềm hạnh phúc của gia đình vào tài nấu ăn của một người là sai lầm. Có thể bất thình lình bà mẹ bị tật bệnh gì đó, không còn nấu nướng được nữa, hoặc một ngày nào đó, tuổi già sức yếu, bà mẹ không thể gánh vác được những kỳ vọng mà chồng con đặt vào bàn tay làm bếp của mình, thì tất cả niềm vui của gia đình cũng sụp đổ hay sao? Còn phải nhớ đến rằng cái chết có thể tới với bất cứ ai vào bất cứ lúc nào, cho nên mỗi người phải tự mình tìm được sự an lạc từ nội tâm mình, không thể trông cậy vào ai khác, nhất là trông vào tài nấu bếp của một bà mẹ.

Nếu gia đình bạn Ngọc Hạnh để ý tới nội tâm của bà mẹ, sẽ có thể nhìn ra thêm khía cạnh khác, qua sự đổi thay của bà. Có thể là do đi chùa, tâm hồn bà phong phú ra, suy tư sâu sắc hơn, bà nghĩ tới được những vấn đề mà trước kia bà chưa từng nghĩ tới, cho nên hành xử khác trước.

Chúng tôi được biết có những gia đình đã tưởng tượng sai về sự đi lễ của bà mẹ, coi như là “ham vui”, hoặc là “già rồi trở thành mê tín”, hoặc “đến chùa gặp bè bạn để khoe của, khoe con”, mà thường là không tìm hiểu coi sinh hoạt ở chùa của mẹ như thế nào, không nhìn vào đời sống nội tâm của mẹ, đã biến chuyển ra sao.

Thực tế, do đi chùa, Phật tử được tiếp cận với giáo pháp nhà Phật, đôi khi do các vị sư giảng, nhưng phần lớn là do bạn đạo trao truyền cho nhau những câu chuyện, những băng giảng, những sách báo có những bài giáo lý. Từ những nguồn tài liệu này, một số vị đem về nhà, nhưng trước sự coi thường của chồng con đối với đạo, các vị ấy lặng lẽ đọc, lặng lẽ nghe băng, nhờ vậy, tâm hồn có sự chuyển hóa, hiểu được những phần cốt tủy của nhà Phật, về sự bớt làm điều xấu ác, tăng làm điều tốt lành và tụng kinh niệm Phật để thanh tịnh hóa tâm ý.

Trong những bài giảng, rất nhiều đề tài được đặt ra. Vì đạo Phật xây dựng trên hai cột trụ chính là Từ Bi và Trí Tuệ, cho nên đề tài Từ Bi thường được nói tới nhiều nhất. Cụ thể như trong một dịp gặp gỡ các tâm lý gia Hoa Kỳ, đức Ðạt Lai Lạt Ma cũng thảo luận với họ về đề tài Từ Bi, được trình bày trong cuốn “Worlds in Harmony, Dialogues on Compassionate Action”. Chúng tôi xin trích dịch mẩu đối thoại giữa Ngài và tiến sĩ Joanna Macy, một nhà bảo vệ môi sinh, sáng lập viên của Nuclear Guardianship Project, như sau:
…”…
Bà Joanna Macy hỏi:

 Thưa Ngài, tôi xin hỏi Ngài về trường hợp khác, trong đó những con vật rất đau đớn, đó là tại các trại chăn nuôi. Ðể có thể thay đổi lề lối làm việc ngõ hầu giảm thiểu sự đau đớn cho những sinh vật này, chúng ta cần phải nhìn tận mắt nỗi đau đớn của chúng. Nhưng đối với phần lớn chúng ta thì dường như sự nhìn vào nỗi đau đớn đó là điều quá sức chịu đựng nổi, cho nên chúng ta muốn nhìn đi phía khác để lảng tránh sự thực. Ngài mới giảng rằng phải thực tập hành động không lảng tránh mà nhìn sâu vào nỗi đau để không còn sợ nó nữa. Vậy nếu có thể, xin Ngài giảng rõ hơn, nhất là trong tinh thần liên đới cảm thông với các loài sinh vật đàn em đang bị hành hạ này chăng?

Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đáp:

– Hàng ngàn, hàng triệu, hàng tỷ con vật bị giết để làm đồ ăn cho loài người. Ðiều đó thật là đáng buồn! Loài người chúng ta có thể không cần phải ăn thịt mà vẫn sống, nhất là trong thế giới tân tiến ngày nay. Chúng ta có quá nhiều thực phẩm bằng rau đậu và nhiều loại đồ ăn khác, cho nên chúng ta có khả năng và bổn phận cứu sống hàng nhiều tỷ sinh mạng. Tôi đã thấy có nhiều cá nhân và nhiều nhóm người tích cực yểm trợ các hoạt động bảo vệ quyền sống của loài vật, những người này đều ăn chay trường. Thật là tuyệt !

Có những sự giết chóc thật là phí phạm. Thí dụ săn bắn và câu cá, coi như là trò thể thao, đúng là vô nghĩa lý. Nếu giết vì lý do khác, thí dụ đánh cá để làm thực phẩm, thì còn có thể hiểu được hơn. Nhưng có lẽ điều đáng buồn nhất là tại các trại chăn nuôi. Những con vật đáng thương sống ở đó thật là đau khổ. Bản thân tôi đã từng tới thăm một trại nuôi gà tại Nhật, nơi người ta nhốt hai trăm ngàn con gà mái suốt hai năm trường, chỉ cốt để cho chúng đẻ trứng. Chúng là những kẻ tù đầy trong hai năm ròng rã đó. Rồi sau hai năm, khi không còn khả năng sinh sản, thì chúng bị bán đi để giết lấy thịt. Thật là kinh hoàng, đáng buồn quá! Chúng ta phải hỗ trợ những người có lòng muốn giảm thiểu cung cách đối xử bất công này.
 
Thật là tai hại nếu chúng ta không quan tâm tới nỗi đau đớn của bất cứ chúng sinh nào. Ngay trong chiến tranh, chúng ta cần nhận thức được nỗi đau đớn của đối phương và sự áy náy trong lòng mình vì đã gây đau thương cho họ thì tốt hơn…”…

Ðó là những lời khuyên của một tu sĩ Phật giáo về sự phát triển lòng từ bi, mà do tiếp cận với đạo, người Phật tử đã nhận thức được.

Nhân đây, chúng tôi cũng xin minh xác rằng ăn chay trường không phải là điều bắt buộc của người Phật tử. Ngay trong thời đức Phật, Ngài và chư đệ tử cũng không ăn chay trường, mà dùng những thức ăn do thí chủ cúng dường, dù là có thịt. Miễn là người ăn không trông thấy con vật bị giết, không nghe thấy tiếng nó kêu khi bị giết, và không nghi rằng nó bị giết với mục tiêu cho mình ăn, như thế, những thịt này được gọi là tịnh nhục. Tục lệ đó còn được chư tăng hệ phái Nguyên Thủy duy trì cho tới ngày nay.

Ðối với hệ phái Bắc Tông thì chỉ các tu sĩ mới ăn chay trường, còn cư sĩ  tại gia thọ trì Ngũ Giới, thì Giới Sát chỉ cấm giết, chứ không cấm ăn thịt. Tuy nhiên, nhà Phật cũng khuyến khích Phật tử giảm bớt ăn thịt để cho súc vật đỡ bị giết. Vì thế mới có chế độ ăn chay kỳ, thí dụ mỗi tháng ăn chay bốn ngày, gọi là tứ trai, ăn chay sáu ngày, gọi là lục trai, ăn chay mười ngày, gọi là thập trai, ăn chay trọn một tháng gọi là nguyệt trai, vân vân. Tóm lại, đa số Phật tử không ăn chay trường.

Nhưng hiện nay riêng trong nước Mỹ, theo thống kê của hội bảo vệ súc vật, có mười hai triệu người ăn chay trường. Phần đông những người này không phải là Phật tử, họ ăn chay vì lý do sức khỏe, hoặc vì lòng trắc ẩn, thương xót loài vật, không muốn chúng bị  đau đớn suốt cuộc đời cho tới lúc chết, chỉ vì lý do mình muốn ăn thịt. Chúng tôi xin trích dịch ý kiến của tác giả David A. Gabbe, viết trong cuốn “Why Do Vegetarians Eat Like That?” như sau:

…”… Thông thường, khi những con bò, bê, heo được chở tới lò sát sinh thì chúng đã phải đứng liên tục, kề vai nhau trên suốt đoạn đường dài dằng dặc. Chuyến đi khiến cho chúng bối rối, kiệt sức, và trong nhiều trường hợp, quá ốm yếu. Ít nhất là suốt một ngày rồi, chúng không được ăn, vì về phương diện kinh tế thì chẳng còn có lợi lộc gì khi cho những con vật ăn bữa cuối cùng, cái bữa mà chúng chẳng còn kịp tiêu hóa khiến cho đồ ăn biến thành thịt trước khi bị giết!

Và trong khi những nhân viên lò sát sinh, có thể vốn không phải là những kẻ ác độc bệnh hoạn từ bản chất, nhưng áp lực của công việc ghê gớm đã khiến cho nhiều người trong số họ trở thành nhẫn tâm đối với những con vật sắp lên đoạn đầu đài. Kết quả là họ tuôn ra hàng tràng la hét giận dữ, và tống những cái đạp, những cái quất lên những con vật bối rối, kinh hoàng. Tụ tập hàng trăm hoặc hàng ngàn, những con vật khiếp đảm chen chúc nhau đứng phía ngoài lò sát sinh, chờ tới phiên mình bước vào cõi chết.

Vẳng nghe tiếng kêu hấp hối thống thiết từ những con vật đi trước vọng ra, bầy gia súc tê dại với hình ảnh của chết chóc. Bây giờ thì chỉ một nhát đập mạnh và một cú điện giật là đủ khiến cho con vật đành phải líu ríu bước vào phòng tàn sát.

Trái với điều có thể quý vị tưởng, không làm gì có cách giết nhân đạo theo chỉ thị! Nhân viên lò sát sinh có thể chọn bất cứ cách giết nào — thường là cách rẻ tiền nhất –, bất kể là man rợ hoặc tàn ác. Trong nhiều lò sát sinh, những con vật trong cơn kinh hoàng được giáng cho một đòn bất tỉnh bằng một nhát vào đầu — thường là một thanh sắt bổ xuống sọ –, hoặc bằng một luồng điện giật, hoặc bất cứ cách nào khác, trước khi chúng bị cùm chặt, rút lên cao và bị đâm liên tục vào ngực, cổ, để làm đứt những động mạch chính. Máu phun ra từ nhiều vết thương khiến cho con vật chết lẹ vì cạn kiệt….”…

Trên đây chỉ là trích đoạn ngắn ngủi của bản trường ca bi thảm mà những con vật tội nghiệp phải chịu đựng suốt một cuộc đời. Lão Tử đã nói “Ta khổ vì ta có cái thân”. Chỉ vì có cái thân làm loài vật, mà những con vật đáng thương phải chịu một cuộc đời đầy đọa, đau đớn từ lúc sinh ra cho tới lúc chết.

Nhưng còn những con vật không bị tù tội, được rong chơi bơi lội như loài cá thì sao? Ca sĩ Cao Thái có bài thơ  “Con Cá”, như sau:

Tôi là con cá dưới sông
Có cha, có mẹ, có chồng có con
Trông con trông mỏi trông mòn
Trông khi họp mặt coi còn đủ không
Ngày ngày dong ruổi chạy rong
Kiếm ăn đây đó đỡ lòng mới thôi
Bữa kia nghe tiếng con tôi
”Mẹ ơi, con đã mắc mồi rồi me”
Lạy Trời lạy Phật chở che
Cho cha cho mẹ cho bè con thơ
Thành người tôi sẽ ước mơ
Kiếp sau sẽ chẳng bao giờ đi câu.

Biết đâu lũ cá chẳng vừa bơi vừa nguyện ước:

“Xin cho chúng tôi đừng gặp loài người” ?

Trích Thư viện Hoa Sen

“Biết lùi” và “biết mất”…

Hỏi : 

Em và cô ấy đã tổ chức Lễ Hỏi hồi tháng 11 và em đang “đi cày – đi làm” để chuẩn bị cho ngày cưới của chúng em (tháng 6 này). Đùng một cái cô ấy nói lời chia tay với em. Em thật sự bàng hoàng, bất ngờ. Lúc đó, em phải đồng ý theo nguyện vọng của cô ấy. Em hỏi lý do thì cô ấy trả lời:

“Không còn yêu, chỉ có lòng thương”.

Sau đó, em có tâm sự với chị của cô ta (cô ấy sống với chị và ở xa bố mẹ). Chị cô ấy nói là hãy để cho T. có thời gian suy nghĩ, em đồng ý. Một lần, sau khi em liên lạc với chị cô ấy, thì được biết là cô ấy đi chơi xa với bạn 2 ngày mới về. Nhưng thực ra, theo em biết thì cô ấy và chị cô ấy cùng đi chơi với 2 người bạn trai ở tiểu bang khác qua chơi. Em cũng chưa có dịp nói cho cô ấy biết.

Đến ngày 14/2, em lên nhà thăm và có ý muốn bộc lộ cho cô ấy hiểu tình cảm của em. Nhưng chị cô ấy lại giới thiệu em với hai người bạn trai chỉ là “BẠN”. Em cũng không phản đối vì sợ mất lòng người ta (em sợ mọi người nghĩ em là: ăn không được thì phá cho hư).

Sau đó, em cố trình bầy về tình cảm của em và em sẵn sàng tha thứ cho cô ấy. Nhưng cô ấy vẫn dửng dưng. Sau đó em nói chuyện thẳng thắn thì cô ấy vẫn giữ nguyên quan điểm ban đầu “CHIA TAY”. Lúc bấy giờ em mới đề cập đến vấn đề tài chính:

– Số tiền anh đưa cho em để down mua nhà, thì em hoàn trả lại để anh lo công chuyện khác. Em tự lo liệu để trả lại anh hàng tháng.

Cô ấy nói:

– Em không đủ tiền, em sẽ trả cho anh sau.

Em không đồng ý. Và em nói:

– Mình chia tay thì mọi cái cũng phải rõ ràng cả về tài chính và tình cảm một cách êm thấm.

* Sau đó, qua lời chị cô ấy thì cô ấy vẫn còn yêu em. Hiện tại thì cô ấy cũng vui vẻ với em nhưng ở mức độ chừng mực nào đó. Nhẫn cầu hôn cũng như nhẫn mà bố mẹ em tặng cô ấy thì cô ấy đã tháo ra hết (Chúng em yêu nhau được 3 năm rồi). Em có hỏi thì cô ấy nói là “nó vướng”.

* Em đề cập đến xây nhà và đám cưới thì cô ấy không còn mặn mà như trước đây mà có vẻ hời hợt, bản thân em, em nói bị bệnh mà cô ấy không một lời hỏi thăm.

Thưa chị, em có nên dứt khoát chia tay với cô ấy không?

– Có phải cô ấy trở lại với em để có thời gian trả nợ rồi lại tiếp tục chia tay?

Chân thành cảm ơn chị.

Em, Đức, Oakland

Đáp:

– Chị thấy hơi vương vướng với câu “Chúng em yêu nhau được 3 năm rồi.”, em ạ. Chị nghĩ rằng có thể dùng câu ấy cho thời gian đầu, nhưng từ từ, “đốm lửa tình yêu tắt nguội dần” mà tiếc thay, em không nhận ra đó thôi.

Này nhé, sau ba năm “yêu nhau” với em, rồi lại còn làm Lễ Hỏi, sửa soạn đám cưới, cô ấy bỗng nói lên là: “Không còn yêu, chỉ có lòng thương”. Nếu quả là trước kia cô ấy “yêu” em, và mới mấy tháng trước đây còn làm đám hỏi với em, thì cái gì đã làm cho cô ấy bỗng nhiên phát hiện ra rằng “không còn yêu, chỉ có lòng thương”?

Cho nên chị nghĩ là vào buổi đầu của thời gian ba năm đó, hai em quả là đã có tình cảm rất sâu sắc với nhau, có thể nói là hai em yêu nhau, tính toán cho tương lai, muốn cùng nhau xây tổ ấm, em giao tiền cho cô ấy đặt tiền down mua nhà, v. v…

Nhưng thời gian trôi qua, cô ấy từ từ phát hiện ra rằng giữa hai người có những điểm không hòa hợp, và từ đó, có thể là cách cô ấy cư xử với em đã khác rồi, nhưng em vì chủ quan nên không nhận thấy. Tuy nhiên, chỉ sau đám hỏi là một sự kiện thực tế, một bước tiến đến sự kết hợp vĩnh viễn, một điều không còn thay đổi được nữa, thì những suy nghĩ vốn mông lung mơ hồ trong tâm trí cô ấy bỗng xuất hiện mạnh mẽ, và cô ấy nhận rõ, rất sâu sắc, là cô ấy không thể sống chung với em, nhưng “thương em” vì những tận tụy và lo toan của em trong thời gian đã qua.

Xuyên qua những điều em kể lại thì chị thấy em đã cư  xử không mấy tế nhị trong vài việc, thí dụ về câu chuyện hai người bạn trai ở tiểu bang khác sang chơi. Khi em đã được chị cô ấy cho biết là họ đi chơi xa rồi mà em lại còn tìm cách để biết đó là hai người bạn trai, rồi sau lại “em cố trình bầy về tình cảm của em và em sẵn sàng tha thứ cho cô ấy”. Tại sao lại có truyện “tha thứ” trong này, bởi vì cô ấy có làm gì để cần em “tha thứ”. Chị em cô ấy là hai người lớn, họ có bạn bè ở tiểu bang khác sang chơi, có thể là họ muốn đưa bạn bè đi coi những thắng cảnh của nơi họ ở, là một tình cảm lành mạnh giữa con người với nhau, sao lại cần sự tha thứ của em?

Cách cư xử hẹp hòi như thế của em càng làm cho cô ấy nhìn rõ những o ép của em sau này đối với cô ấy khi em đã là chồng cô ấy. Rồi tới vấn đề đòi tiền của em. Em có nhận thấy là sự mất cô ấy là một mất mát lớn của em hay không? Vậy thì có tiền nào mà so sánh nổi! Khi yêu nhau, hay “tưởng là yêu nhau”, em giao tiền cho cô ấy down nhà. Lẽ ra chuyện này không cần thiết phải làm vậy, tại sao em không để tiền trong ngân hàng, lại đưa cho cô ấy làm chi? Sự kiện “đưa tiền cho cô ấy giữ” của em liệu có ẩn ý ràng buộc gì không?

Dẫu sao, nay thì chuyện lớn đã tan vỡ, em còn có thể làm một việc tốt đẹp cuối cùng cho mối tình đã qua là hãy quên món tiền ấy đi, hãy coi như đó là bông hồng ấp ủ kỷ niệm của những ngày xa xưa bên nhau trong quá khứ.

Em đang dồn cô ấy vào con đường cùng – vì không có tiền trả em – mà phải hành xử  lộ liễu đến nỗi chính em cũng phải thắc mắc : ” – Có phải cô ấy trở lại với em để có thời gian trả nợ rồi lại tiếp tục chia tay?”, than ôi, đoạn cuối của một “cái gọi là tình yêu” sao lại thê thảm, đượm mùi tanh tao “hơi đồng” đến thế này?

Em nên giúp cho người yêu cũ – nếu em muốn dùng từ ngữ này – giữ được một chút danh dự, hãy cởi bỏ cho cô ấy cái ray rứt về sự bất lực, đã không có tiền để trả lại em.

Kiếm ra tiền là chuyện tương đối dễ, biết coi tiền đúng với giá trị của nó là điều cần phải có tấm lòng, em ạ.

Thân mến chúc em sáng suốt, “biết lùi” và “biết mất”  là biết những nghệ thuật sống đẹp.

 Thuần Nhã (ĐPK)

Bộ ba: Căn – Trần cảnh – Thức

Hỏi:

– Gia đình tôi theo đạo Phật từ xưa, trong nhà có bàn thờ Phật, mẹ tôi ăn chay mỗi tháng bốn ngày. Nhưng bản thân tôi và các anh chị em, kể luôn cả cha tôi nữa, đều không biết gì nhiều về đạo Phật, ngoại trừ bàn thờ Phật và chiếc áo tràng màu khói hương của mẹ tôi.

Hôm nay anh chị em chúng tôi có mấy thắc mắc muốn hỏi quý vị vì chúng tôi không thỏa mãn với câu trả lời của mẹ tôi, là người Phật tử hiểu đạo nhất trong nhà.

Thắc mắc thứ nhất:

Chúng tôi thường thấy những gia đình đạo Phật đến chùa làm lễ cầu siêu cúng cơm cho thân nhân đã chết hoặc những dịp đám giỗ, vân vân. Vậy xin hỏi rằng những vụ cầu siêu cúng cơm như thế, thân nhân đã chết có được hưởng gì không?

Thắc mắc thứ hai:

Nếu nhờ cầu xin mà được, vậy thì không cần siêng làm các điều thiện, cứ thoải mái làm các việc ác, miễn sao có nhiều tiền, khi chết nhờ quý tăng ni làm lễ cầu siêu là sẽ được siêu độ, được không ạ.

Mẹ chúng tôi thì tin tuyệt đối vào khả năng “làm Phật sự độ chúng sinh” của các thầy, nên không niệm Phật tụng kinh, chỉ đến chùa làm công quả những ngày cuối tuần, cho là khi chết sẽ có các thầy lo.

Chúng tôi không nghĩ như mẹ, nhưng cũng không hiểu rõ, nên gửi thư này xin quý vị giải thích.

Đáp:

– Về thắc mắc thứ nhất, chúng tôi xin nhắc lại phần trình bày của chúng tôi trong một kỳ phát thanh trước đây, như sau:

“Theo Phật giáo, cái chết là sự chấm dứt của đời sống tâm-vật lý của cá nhân. Chết là sự diệt tắt của sinh lực, tức là đời sống tâm linh và vật lý, cùng với hơi nóng và thức.

Chết không phải là sự tiêu diệt hoàn toàn của một chúng sanh, mặc dầu kiếp sống chấm dứt. Cái tiềm lực làm sống chúng sanh không bị tiêu diệt.

Cũng như ánh sáng đèn điện là biểu hiện bề ngoài mà ta có thể thấy của luồng điện vô hình, chúng ta là biểu hiện bề ngoài của luồng nghiệp vô hình. Bóng đèn có thể vỡ và ánh sáng có thể tắt, nhưng luồng điện vẫn tồn tại, và ánh sáng có thể phát hiện trở lại nếu ta đặt vào đấy một bóng đèn khác. Cũng như thế, sự tan rã của thể xác không làm xáo trộn luồng nghiệp lực, và sự chấm dứt của thức hiện tại dẫn đến sự phát sanh mới. Tuy nhiên, không có gì trường tồn bất biến, như một thực thể đơn thuần, “chuyển” từ hiện tại sang tương lai.

Trong trường hợp nêu trên, nếu người chết tái sanh trở lại vào cảnh người, chập tư tưởng cuối cùng tất nhiên là một loại tâm thiện. Thức-tái-sanh là từ tâm thiện ấy phát sanh, tự nhiên chuyển đến cái trứng và tinh trùng tương xứng trong cảnh người.

Như thế có nghĩa là cho đến lúc chết, luồng nghiệp lực vẫn luôn luôn trôi chảy, không có một điểm thời gian gián đoạn. Ngay lúc chết những chập tư tưởng vẫn liên tục kế tiếp như trong đời sống.

Hiện tượng chết và tái sanh diễn ra tức khắc, dầu ở bất cứ nơi nào, cũng như làn sóng điện phát ra trong không gian được thâu nhận tức khắc vào bộ máy thâu thanh. Luồng nghiệp lực trực tiếp chuyển từ cái chết ngay đến tái sanh, không trải qua một trạng thái chuyển tiếp nào. Phật giáo thuần túy không chủ trương có linh hồn người chết tạm trú ở một nơi nào, chờ đến khi tìm được một nơi thích hợp để đầu thai.”

Trên đây là quan điểm của Phật giáo Nguyên Thủy, hay còn gọi là Nam Tông, trích trong cuốn Ðức Phật và Phật Pháp do Hòa Thượng Narada biên soạn.

Về phía Phật giáo Bắc Tông, hay còn gọi là Ðại Thừa, thì quan niệm rằng không hẳn là tất cả mọi người sau khi chết đều tái sinh ngay lập tức. Trường phái này cho là những người có nghiệp rất thiện thì ngay sau khi chết sẽ sanh vào các cõi Tịnh, thí dụ cõi Tây Phương Tịnh Ðộ, Ðông Phương Tịnh Ðộ, vân vân, và những người có nghiệp rất ác thì sau khi chết sẽ sanh ngay vào các cảnh giới ác, như Ðịa Ngục, Ngạ Quỷ hoặc tái sinh thành các loài súc sinh. Trường hợp đó gọi là “chết đây sinh kia”. Ngoài các trường hợp đó, sau khi chết, người ta có thể còn lưu tâm thức lại một thời gian trong trạng thái gọi là Thân Trung Ấm, và mơ màng trong cảnh giới này từ  1 lần 7 ngày,  cho tới 7 lần 7 ngày,  là 49 ngày. Trong thời gian đó, nhất là 21 ngày đầu, người đã qua đời vẫn còn có ấn tượng mạnh mẽ về kiếp sống vừa qua. Và chính từ niềm tin này, người ta coi trọng sự cầu nguyện để giúp chuyển hóa tâm trạng người chết khiến cho thần thức của họ hòa nhập được vào các cõi an lành.

Như vậy thì cả hai truyền thống Phật giáo, Bắc Tông và Nam Tông đều không nói đến những hình thức cúng kiếng cho người đã chết từ lâu, hàng năm trời, mà chỉ có thể giúp cho người mới chết, qua những lời khai thị, những bài kinh, thốt lên từ tấm lòng chí thành thanh tịnh của chư vị chân tu và thân nhân, hy vọng thần thức của Thân Trung Ấm cảm được, mà tiêu dung được các tâm niệm xấu, cởi mở được các nỗi oán hờn.

Nhà Phật quan niệm rằng các loài hữu tình chúng sinh tiếp xúc được với thế giới bên ngoài là nhờ ở ba thành phần, gọi là “bộ ba Căn, Trần cảnh và Thức”.

Căn, là bộ phận cơ thể,

Trần cảnh, là đối tượng nhận thức của Căn

Thức, là phần tâm thức vô hình, vốn từ Chân Tâm vọng khởi mà chuyển thành, cũng tràn ngập khắp không gian như Chân Tâm, là cầu nối giữa Căn và Trần cảnh, tức là cầu nối giữa bộ phận cơ thể của chúng sinh và thế giới mà chúng sinh nhận thức, “cảm” hoặc “thấy” được.

Ðối với một cơ thể đã chết, bộ phận cơ thể, là Căn, đã ngưng hoạt động, có nghĩa là bộ ba đã mất một phần, thế thì những sinh hoạt về vật chất như ăn uống, hiển nhiên là không thể tiếp tục.

Có người cho rằng sau khi đã qua đời, người chết vẫn còn ăn, gọi là Thức thực. Như chúng ta đã biết, Thức vốn vô hình, nếu có Thức thực thì cũng chỉ là “cảm” được những tâm niệm thương ghét, an ủi, v.v… không thể “ăn” được món ăn vật chất. Nếu quả thật là còn có sự thèm ăn, thấy thân nhân bầy những món ngon, mà thần thức lại không thể ăn được, thì chỉ thêm thèm thuồng đau khổ mà thôi!

Sau đây là câu hỏi thứ hai:

“ Nếu nhờ cầu xin mà được, vậy thì không cần siêng làm các điều thiện, cứ thoải mái làm các việc ác, miễn sao có nhiều tiền, khi chết nhờ quý tăng ni làm lễ cầu siêu là sẽ được siêu độ, phải không ạ.

Mẹ chúng tôi thì tin tuyệt đối vào khả năng “làm Phật sự độ chúng sinh” của các thầy, nên không niệm Phật tụng kinh, chỉ đến chùa làm công quả những ngày cuối tuần, cho là khi chết sẽ có các thầy lo”.

Đáp:

Ðể hiểu rõ hơn về vấn đề “làm Phật sự độ chúng sinh” và niềm tin “làm lễ cầu siêu là sẽ được siêu độ”, chúng tôi xin gửi tới quý vị lời giải thích ghi trong bộ Giáo Khoa Phật Học cấp 2, do Ban Bảo Trợ Phiên Dịch Pháp Tạng Việt Nam ấn hành, như sau:

…” … Về tập tục tụng kinh siêu độ cho người chết, theo hòa thượng Ðạo An, vốn không phải là một tập tục truyền thống của Phật giáo. Tập tục này chỉ bắt đầu có ở Trung Quốc từ đời nhà Ðường. Ðiều này có thể đúng vì theo sử chép, thì năm 738, vua Ðường Huyền Tông đã ban sắc lệnh cho toàn quốc, ở mỗi quận đều xây một ngôi chùa, đều đặt tên là chùa Khai Nguyên (Khai Nguyên là niên hiệu thứ nhì của vua Huyền Tông). Ðó là chùa công, do các quan lại địa phương trông coi, dùng làm nơi tổ chức các lễ tiết quốc gia, cầu quốc thái dân an. Việc làm này vừa có ý nghĩa đem ân huệ của Phật ban đến quốc dân, cũng vừa để biểu thị quyền uy của chính quyền trung ương. Năm 755, An Lộc Sơn nổi loạn, kéo binh về chiếm kinh thành, khiến vua Huyền Tông phải chạy vào Tứ Xuyên lánh nạn. Một năm sau thì quân triều đình dẹp yên giặc loạn. Trong một năm chiến tranh này, số người chết — chiến sĩ của cả hai bên và thường dân –, nhiều vô kể. Triều đình bèn ra chỉ dụ cho tất cả các chùa Khai Nguyên trong toàn quốc, thỉnh chư vị cao tăng đại đức, thiết lễ tụng kinh siêu độ cho chiến sĩ và thường dân đã chết trong cuộc chiến vừa qua, đồng thời an ủi các gia đình nạn nhân.

Dân chúng thấy triều đình làm như thế, bèn bắt chước làm theo, cứ mỗi khi trong nhà có người chết, liền thỉnh chư tăng tụng kinh siêu độ. Từ đó mà lễ cầu siêu độ cho người chết trở thành một tập tục trong dân gian.”

Nhân đây, chúng tôi cũng xin kính gửi tới quý thính giả quan điểm của lão pháp sư  Tịnh Không về vấn đề “làm Phật sự độ chúng sinh” và niềm tin “làm lễ cầu siêu là sẽ được siêu độ” này.

Lão hòa thượng Tịnh Không là một vị cao tăng Trung Hoa đương  thời, rất có uy tín, với một quá trình giảng kinh thuyết pháp gần năm chục năm. Ngài là người đi tiền phong trong việc sử dụng hệ thống truyền thanh, truyền hình vệ tinh, mạng lưới thông tin toàn cầu và những phương tiện truyền thông hiện đại khác trong việc truyền bá Phật pháp trên khắp thế giới. Trong giới tu hành, nhiều người suy tôn ngài như một vị Tổ của tông Tịnh Ðộ. Ngài nói:

“Trong Phật pháp, nói Phật sự là giúp đỡ tất cả chúng sinh phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui, những sự việc này đều gọi là Phật sự.

Vậy còn hiện nay thì sao?

Hiện nay thì thời gian tiếp xúc với kinh điển cơ hồ ít hơn, nhìn thấy trong cửa Phật phần nhiều đều là lấy kinh sám “Phật sự siêu độ người chết”, cho rằng đây là Phật sự. Cho nên vừa nghe nói đến tiếng “Phật sự” là rất dễ sinh ra hiểu lầm. Những việc siêu độ vong linh này ở trong Phật giáo xuất hiện rất trễ …, rất trễ. Thời xưa ở Ấn Ðộ chẳng có.  Khi Phật giáo được truyền đến Trung quốc, lúc ban đầu cũng chẳng có. Vậy sự việc này xảy ra như thế nào?

Năm trước, trong buổi Phật học giảng tọa tại trường Ðại Học ở Ðài Loan do lão pháp sư Ðạo An chủ trì, đã có một sinh viên nêu vấn đề này ra để hỏi lão pháp sư. Hôm đó tôi cũng có mặt nên cũng đã có nghe. Lão pháp sư nói rằng sự việc này có thể là bắt nguồn từ giữa niên hiệu Khai Nguyên triều đại nhà Ðường. Vào thời gian đó, có loạn An Lộc Sơn tạo phản, giặc giã nổi lên khắp nơi. Nhờ có danh tướng Quách Tử Nghi tài giỏi mới bình định được nội loạn.

Khi an ninh đã được vãn hồi, nghĩ tới những linh hồn chết thảm còn vất vưởng lang thang nơi đồng hoang cỏ cháy không ai thờ cúng, triều đình cho xây tại mỗi bãi chiến trường một ngôi chùa đều lấy tên niên hiệu Khai Nguyên để đặt làm tên, rồi thỉnh quý vị cao tăng từ khắp các nơi về các chùa Khai Nguyên này để tụng kinh cầu siêu độ cho các vong hồn. Từ đó, tại mỗi bãi chiến trường lớn đều có một chùa Khai Nguyên. Nguồn gốc Khai Nguyên Tự như lão pháp sư Ðạo An đã nói, là do triều đình đề xướng, mở hội truy điệu, thỉnh những vị cao tăng đại đức tụng kinh cầu siêu độ.

Từ đó về sau, trong dân gian, khi gia đình có người qua đời, thì cũng thỉnh mời tăng ni đến tụng kinh cầu siêu. Như vậy là đối với Phật pháp, đây chính là việc phụ thêm, chẳng phải là công việc chủ yếu của Phật môn, chẳng phải !

Nhưng hiện nay thì nó lại đã trở thành chủ yếu mất rồi ! Hiện nay tại rất nhiều đạo tràng, người ta lấy việc này làm công tác chủ yếu. Cho dù có giảng kinh thì thời gian làm Phật sự chính yếu này cũng rất ngắn, rất ít. Có những chùa một năm giảng kinh bốn lần, trong bốn mùa Xuân Hạ Thu Ðông, mỗi mùa giảng một tuần, một năm giảng bốn tuần, chia cho bốn mùa. Cho nên Phật sự chính thức là giảng kinh thuyết pháp để chuyển mê khai ngộ cho dân chúng thì lại đã biến thành việc phụ, còn việc bái sám, cầu siêu đã biến thành “Phật sự” chủ yếu mất rồi. Ðiều này chúng ta phải có nhận thức rõ ràng, vào thời trước, Phật sự là giảng kinh thuyết pháp”

Ðối với việc cúng bái cầu siêu, chúng tôi xin nhắc lại ý kiến mà chúng tôi đã đề ra trong một kỳ trước, rằng người Đông Phương chúng ta, từ thời xa xưa, vốn đã có truyền thống cúng bái người đã qua đời, nhất là cúng bái tổ tiên, ông bà, cha mẹ, coi như một hình thức báo hiếu, trước là nói lên lòng thành kính tưởng nhớ chư vị đã khuất, sau là nhắc nhở con cháu nên tiếp nối mỹ tục biết cảm ơn các bậc sinh thành, cũng như mỗi quốc gia đều có những ngày kỷ niệm Chiến Sĩ Trận Vong, để nói lên lòng nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ có công với đất nước vậy. Chúng ta có từ ngữ “Ðạo Ông Bà”, nghĩa là theo truyền thống từ thời xa xưa, khi ông bà, cha mẹ, thân nhân qua đời, gia đình đem hình ảnh và bát hương bày lên bàn thờ, quanh năm hương khói, đến ngày giỗ thì làm cơm cúng, đó là tập tục của hầu hết những dân tộc Ðông Phương, nhất là tại những quốc gia ảnh hưởng đạo Khổng.

Như vậy, theo phong tục cổ truyền, việc cúng giỗ cũng là điều tốt, coi như là ngày kỷ niệm, tưởng nhớ người đã khuất. Chúng ta có thể tổ chức cúng giỗ tại nhà, hoặc tại chùa. Nếu đủ phương tiện để có thể làm lễ trên chùa thì rất tốt. Trước nhất, đây là một duyên lành giữa thân nhân người chết đối với nhà Phật, có dịp cho họ tiếp cận với các vị Sư, nhân đó, có thể hiểu thêm về Phật pháp. Thứ nữa là thân nhân người chết có thể tạo chút phước qua việc cúng dường Tam Bảo, để nhà chùa có thêm khả năng ấn tống kinh sách, phổ biến Phật pháp rộng rãi, thêm phương tiện để hoàn thành các Phật sự. Các vị Sư là những Trưởng Tử Như Lai, là những Ðạo Sư, có nhiệm vụ hoằng dương Chánh Pháp song song với việc tu tập bản thân.

Phật tử cũng vậy, cũng cần tu tập bản thân và giúp phương tiện cho các Ðạo Sư trong công cuộc hoằng truyền và bảo vệ sự trong sáng của đạo Phật.

Liên  Hương (ĐPK)

Nguồn: Thư viện Hoa Sen

Hãy kiên nhẫn, thời gian sẽ giúp

Hỏi:

– “Anh trai em lấy chị gái của Khôi đã hơn một năm. Thỉnh thoảng, em hay sang nhà chị dâu chơi và rất mến anh Khôi. Anh ấy bị mất bàn tay trái do một lần đụng xe khốc liệt. Bây giờ Khôi có một liquor ở gần nhà. Tính anh ấy nhã nhặn, đôi lúc cũng hơi cáu giận do mặc cảm tật nguyền. Một lần Khôi nói Khôi yêu em. Em rất bàng hoàng và rung động trước lời yêu đương đó.

Nhưng gia đình em không đồng ý. Bố em bảo:

“Không được. Thằng anh mày làm rể nhà người ta rồi, mày còn làm dâu nữa để mang tiếng là ham giàu à”.

Anh trai em cũng bảo không nên. Dù biết gia đình Khôi rất giầu, em không muốn nói là tiền muôn bạc bể, nhưng em yêu anh đâu phải vì điều này. Em thương Khôi thật tình, em thương Khôi không phải vì Khôi giầu, em cũng không phải thương Khôi vì tấm lòng xót thương cho người tàn tật, nhưng càng bị gia đình cấm đoán em càng thấy gắn bó và yêu thương anh ấy hơn. Hiện nay, em vẫn chưa thuyết phục được gia đình để gia đình chấp nhận cho mối tình của hai đứa em. Em buồn quá. Chị giúp em với.”

K.O. San Jose

 Đáp: 

–  “Em và Khôi quen biết nhau đã hơn một năm, lúc đầu là em “rất mến” Khôi, rồi khi nghe Khôi tỏ lời thì em “… rất bàng hoàng và rung động trước lời yêu đương đó.”

Như vậy, em yêu Khôi và Khôi yêu em, chị thấy không có điều gì sai trái trong mối tình này. Em và Khôi không phải là họ hàng bà con, dù là bà con xa. Chuyện anh chị em bên đàng trai kết hôn với anh chị em bên đàng gái rất thường xẩy ra, ngay cả khi anh kết hôn với chị, rồi em lại kết hôn với cháu cũng là bình thường, từ sự qua lại thăm viếng cặp đã kết hôn kia mà chàng và nàng gặp gỡ nhau, rồi tình cảm nẩy nở, chàng và nàng yêu nhau bằng mối tình trong sáng, lành mạnh. Trong đời, chị đã gặp rất nhiều cặp vợ chồng vốn là thân nhân của bên vợ và bên chồng, nhờ tình thân đó, họ biết rõ nhau, rồi đi đến hôn nhân.

Trường hợp em, lý do mà cha phản đối Khôi không phải vì tư cách hay đạo đức của bản thân Khôi, – điều mà cha mẹ nào cũng lo sợ cho con gái, nếu do mù quáng mà lấy một người tư cách, đạo đức tồi bại thì cuộc sống sau này của con mình sẽ phải lãnh nhận những khổ đau không biết tới đâu mà lường – , nhưng lại là  .. “Không được. Thằng anh mày làm rể nhà người ta rồi, mày còn làm dâu nữa để mang tiếng là ham giàu à”…, là lý do không hợp lý, không chính đáng. Những loại lý do vì sợ “mang tiếng là ham giầu”,“không môn đăng hộ đối”,“là con cái của dòng họ mà gia đình mình không ưa”, v.v… và v.v… này đã làm tan nát biết bao nhiêu trái tim, chị mong em sẽ không phải là một nạn nhân.

Em nên kiên nhẫn, không cần vội vã, cứ bình thản trong tình yêu. Em và Khôi cứ việc yêu nhau trong vòng lễ giáo, đó là quyền tự do tối hậu của tất cả mọi người, không ai tước đoạt được. Hơn nữa, thời gian cũng giúp soi sáng mối tình, để biết rõ đây là tình yêu chân chính, tha thiết, hay chỉ là ngọn lửa rơm, lóa lên rồi tắt lịm trước khó khăn.

Chúng ta đang sống trong thế kỷ thứ 21, và trên mảnh đất tự do. Cho nên chỉ cần em kiên nhẫn, thời gian sẽ giúp em, đứng bên phía em. Nếu mối tình của Khôi và em cứ vững bền, trong sáng, không làm điều gì khiến cha em nổi trận lôi đình, thì chắc em sẽ nhận được phần thưởng tốt đẹp cho cuộc đời vì trước thực tế đẹp đẽ như vậy, cha em sẽ chuyển tâm.

Thân chúc em mọi điều tốt lành,

Thuần Nhã (ĐPK)

Yêu

J. Krishnamurti: 

– Với tất cả những kinh nghiệm, với tất cả kiến thức, với tất cả nền văn minh mà quí vị đã có, đã đào tạo nên con người của quí vị, vậy tại sao quí vị lại không có tấm lòng thương xót, trắc ẩn, trong đời sống hằng ngày của quí vị. Để tìm hiểu coi tại sao quí vị lại không có cái tấm lòng thương xót đó, tại sao nó không tồn tại trong trái tim và tâm hồn của con người, có lẽ quí vị cũng nên hỏi: “Mình có yêu ai không?”

Hỏi:

– Thưa ông, tôi muốn biết thực ra thế nào là yêu.

J. Krishnamurti:

– Thưa ông, xin cho tôi trân trọng hỏi ông rằng ông có hề yêu ai không? Có thể là ông yêu con chó của ông, nhưng con chó là nô lệ của ông. Để riêng súc vật, nhà cửa, sách báo, thơ văn, tình yêu quê hương v. v… ra một bên, ông có yêu người nào không? Có nghĩa là khi yêu người nào đó, ông không đòi hỏi một sự đáp ứng, không đòi hỏi bất cứ cái gì từ người mà ông yêu, ông không phải là kẻ lệ thuộc vào người đó. Bởi vì, nếu ông là kẻ lệ thuộc, ông sẽ sợ hãi, ghen tuông, bồn chồn khắc khoải, ghét bỏ, giận dữ. Nếu ông bị dính mắc vào người nào, đó có phải là tình yêu không? Ông thử tìm hiểu coi! Và nếu tất cả những điều kể trên không phải là yêu, tôi chỉ hỏi thôi, tôi không nói rằng đó là yêu hoặc không phải là yêu, như thế thì làm sao mà ông có được lòng thương xót, trắc ẩn? Chúng ta đòi hỏi một điều còn to lớn hơn cả tình yêu, trong khi ngay cả đến cái tình yêu bình thường dành cho con người, chúng ta cũng còn không có!

Hỏi:

– Làm sao ông có thể tìm ra được cái tình yêu đó?

J. Krishnamurti:

– Tôi không muốn đi tìm cái tình yêu đó. Tất cả những điều tôi muốn làm chỉ là liệng bỏ tất cả những cái gì không phải là yêu, giải thoát khỏi sự ghen tuông, ràng buộc.

J. Krishnamurti – On Love and Loneliness
Người dịch: Danny Việt (ĐPK)

Tâm trong sáng, hồn nhiên

Trong suốt cuộc đời, chúng ta hiếm khi có được những giây phút cô liêu, tịch mịch. Ngay cả những khi sống một mình, cuộc đời chúng ta cũng tràn ngập với quá nhiều nguồn tác động, quá nhiều kiến thức, quá nhiều kỷ niệm của những kinh nghiệm chúng ta đã trải qua, quá nhiều lo âu, đau khổ và mâu thuẫn khiến cho tâm trí chúng ta ngày càng trì trệ, ngày càng chai lì, hoạt động một cách tẻ nhạt, chán chường.

Có bao giờ chúng ta được sống đơn độc thanh thoát chăng? Hay chúng ta luôn luôn mang theo bên mình cả cái đống bùi nhùi của quá khứ?

Có câu chuyện về hai vị sư , một hôm, trong lúc đi trên con đường từ làng này qua làng khác, hai người gặp một cô gái ngồi bên bờ sông sụt sùi khóc. Một vị bèn bước tới bên cô, hỏi:

– Tại sao cô khóc?

Cô gái đáp:

– Thầy có thấy căn nhà bên kia sông không? Sáng nay con từ nhà lội sang bên này, không có trở ngại gì, nhưng bây giờ nước sông dâng lên, con không lội về được mà lại không có ghe thuyền gì cả.

Vị sư nói:

– Ồ, cô khỏi lo, không thành vấn đề!

Vừa nói, ông vừa bế xốc cô ta lên, lội phăng phăng qua sông, bỏ cô xuống bờ bên kia, rồi cùng người bạn đồng tu tiếp tục lặng lẽ bước.

Vài giờ sau, nhà sư kia lên tiếng:

– Sư  huynh, chúng ta đã nguyện không đụng vào phụ nữ. Việc sư huynh mới làm là một trọng tội. Bộ chuyện sờ vào đàn bà làm cho sư huynh vui thú, khoái lạc lắm hay sao?

Thì vị sư đã giúp cô gái qua sông trả lời:

– Tôi bỏ cô ta lại phía sau đã hai giờ đồng hồ rồi. Còn sư đệ, chú vẫn mang cô ta theo đấy à?

Chúng ta đều thế cả. Suốt đời, chúng ta mang theo đủ loại linh tinh, không bỏ chúng lại phía sau. Chỉ khi nào chúng ta chú tâm vào một vấn đề, giải quyết ngay lập tức, trọn vẹn, không để dây dưa đến ngày sắp tới, đến phút giây sắp tới, khi đó chúng ta sẽ có thời gian thanh tịnh, cô tịch. Trong trường hợp đó thì dù chúng ta đang ở trong căn nhà đông người hoặc trên xe buýt, chúng ta vẫn đang sống trong sự tịch mịch, trống vắng. Tâm trí trong trạng thái trống vắng đó là tâm trong sáng, hồn nhiên.

Một nội tâm trong sáng, trống vắng, là điều vô cùng quan trọng để có thể tự do thoải mái trong mọi hành động, tự do đi lại, bay nhẩy. Tóm lại, lòng tốt chỉ nẩy nở từ một nội tâm khoáng đạt, không bị gò bó, cũng như trí tuệ chỉ phát triển khi có tự do. Chúng ta có thể có tự do về vấn đề chính trị, nhưng nội tâm chúng ta không khai phóng cho nên chúng ta không có khoảng trống cho tâm hồn. Thiếu khoảng trống mênh mông, thiếu sự phóng khoáng này trong nội tâm thì không có trí tuệ, không có phẩm chất giá trị nào có thể hoạt động và phát triển. Khoảng trống mênh mông và sự tĩnh lặng của tâm hồn thật là cần thiết vì chỉ khi nào tâm trí ở trong trạng thái cô liêu, tịch mịch, không bị ảnh hưởng, không bị gò ép, không bị tràn ngập với đầy dẫy những kinh nghiệm linh tinh, thì tâm hồn mới sẵn sàng tiếp thu được những điều hoàn toàn mới mẻ.

Người ta chỉ có thể nhận chân sự thật  “như là chính nó” khi tâm trí tĩnh lặng và trong sáng. Mục đích của thiền định ở Đông phương là để đưa tâm trí đến tình trạng kiểm soát được tư tưởng, cũng như liên tục nhắc lại một lời cầu nguyện để cho tâm được an tịnh với hy vọng trong tình trạng đó, người ta có thể thấu suốt, giải quyết được những nỗi đau khổ của kiếp người.

Nhưng trừ phi người ta đặt được nền móng, đó là giải thoát khỏi sự sợ hãi, khỏi sự đau buồn, lo lắng và tất cả những vướng mắc mà họ tự quàng vào, tôi không thấy cách nào có thể làm cho tâm trí thật sự tĩnh lặng.

J. Krishnamurti — Freedom from the Known

Người dịch Danny Việt

(Đỗ Phương Khanh)

“Tưởng như là tình yêu”

Hỏi:

Năm nay cháu gần 19 tuổi, còn bạn trai cháu hơn cháu 9 tháng. Vào đầu mùa Thu năm ngóai cháu gặp H. trong một buổi tình cờ và tình cảm đã đến với cháu ngay lần gặp gỡ đầu tiên ấy. Cháu rất thương H., sẵn sàng bỏ ra nhưng không mong đón nhận lại.

Tụi cháu đã đến với nhau nhưng rất ngắn, chỉ trong vòng ba tháng. Tuy rất ngắn nhưng đã có rất nhiều trắc trở xẩy ra với tụi cháu. Cho đến ngày Christmas, tụi cháu quyết định chia tay. Tuy nói là chia tay, nhưng chúng cháu vẫn gặp mặt, nói phone, thậm chí còn thân hơn lúc go out. Cháu đã có đề nghị quay lại, nhưng H. không có phản ứng. Rồi H. đi San Francisco và đã gặp người con gái khác. H. nghĩ là H. đã yêu cô ấy, nhưng thật sự không phải. Rồi đến một hôm H. nói là vì cháu ép H. quá nên H. cố tình lánh mặt cháu.

Rồi thì cháu tried to go out với một người khác. Nhưng cháu vẫn không thể quên được H. Một hôm, H. nói là H. không biết đó là cảm giác ích kỷ vì cháu đã có người khác hay vì H. vẫn còn thương cháu, nhưng khi xa cháu thì H. lại cảm thấy nhớ cháu. H. đã nói với người bạn không mấy thân gì với cháu. Nhưng chị ấy không nói với cháu mãi cho tới gần đây chị ấy mới nói với cháu. Có lần H. hỏi cháu rằng nếu H. muốn quay lại với cháu thì cháu có nhận lời hay không? Cháu đã không trả lời vì cháu muốn có thời gian suy nghĩ cũng như đó thật sự hơi bất ngờ đối với cháu. Nhưng bây giờ khi cháu nói “Yes” thì H. nói H. muốn suy nghĩ vì H. sợ sẽ làm cháu đau lòng thêm một lần nữa.

Xin nói với cô, cháu và người bạn trai mới đã không còn quan hệ. Thật ra trong chuyện này, H. có phải đang đùa giỡn với cháu phải không cô? Xin cô cho cháu biết chút kinh nghiệm vì cháu thật sự hơi bối rối.

Xin cám ơn cô.

K. Lê

Đáp:

Em hỏi “Thật ra trong chuyện này, H. có phải đang đùa giỡn với cháu phải không cô? “, cô xin trả lời ngay với em là, không riêng gì H., ngay cả em nữa, hai em đều đang đùn giỡn với cái “tưởng như là tình yêu”, nhưng thực ra, không phải là tình yêu!

Sau đây là bốn câu thơ của tác giả Kiều Anh viết về tâm trạng của những người yêu nhau chờ đợi nhau:

” Người hẹn chiều nay sẽ đến thăm

Nôn nao chờ đợi lửa thiêu lòng

Ngoài kia nắng ngả vương mầu nhớ

Ngơ ngác hồn ai, ai biết không?”

Tình yêu chân thật là như vậy, là thấy dường như khắp bầu trời không còn ai ngoài người mình yêu, chờ đợi mà người yêu không đến thì tâm hồn trống vắng, ngơ ngác, dại khờ, gặp nhau thì nhiều khi không cần nói, hai tâm hồn như là đã thông suốt với nhau.

Tình yêu chân thật là sự vắng mặt của tính toán, dùng mưu này kế nọ để giữ nhau, vân vân . . .

Em và H. gặp nhau từ đầu mùa Thu năm ngoái, đến nay cũng là một thời gian khá dài rồi, vậy là khi đó em khoảng 18 tuổi, H. gần 19. Vào tuổi đó, hai em đều mới ở giai đoạn cuối của tuổi teenager, là cái tuổi thấy chuyện gì cũng lạ, thích tìm hiểu, thí nghiệm, v.v… Khi H. gặp em, H. chưa đủ già dặn để mà tính chuyện lâu dài, cậu ta mới chỉ muốn “thám hiểm chuyện trai gái” thôi, cho nên khi H. nói “… là vì cháu ép H. quá nên H. cố tình lánh mặt cháu …”, là H. nói thật đó, em à.

Cô góp ý với em là hiện nay em cũng hãy còn quá trẻ để phải mất quá nhiều thì giờ và tâm trí lo toan chuyện “yêu và nắm giữ người mình yêu”, hao phí những ngày hoa mộng của tuổi xanh. Nếu em cứ lao vào những “cái gọi là tình yêu” kiểu này thì tâm hồn em sẽ trở thành chai đá, dạn dầy với những “trò chơi yêu đương”, không còn sự nhậy cảm để đón nhận khi có mối tình chân thật đến với em.

Hãy quay lưng lại với “cái gọi là mối tình” này đi. Tình yêu gì mà mới chưa tới một năm trời đã đầy dẫy những sóng gió, mưu toan, mất hết cả mộng mơ, em à.

Cô mượn tác giả Lê Nghi Đình Giang bài thơ này để gửi tới em như một lời cầu chúc:

 Yêu và Được Yêu

 Còn gì vui hơn nữa

Khi yêu và được yêu

Mang trái tim thắp lửa

Thay nắng những ban chiều

 

Ôi kho tàng quý nhất

Là tình yêu được trao

Và nhận về ánh mắt

Cho hồn say rạt rào

 

Hỡi không gian xa cách

Hỡi thời gian lãng quên

Thôi chẳng còn đáng trách

Khi lòng ta bình yên

 

Còn gì vui hơn nữa

Khi yêu và được yêu

Có nhau làm điểm tựa

Cho mùa xuân đi theo.

 Thân chúc em sáng suốt.

Thuần Nhã (ĐPK)

Giao cảm với Thiên Nhiên

Nay thì sự nhìn, hay là sự nghe cũng thế, giống nhau, là một trong những điều khó khăn nhất của đời sống. Nếu cặp mắt bạn đã bị mù đi vì những nỗi lo âu của bạn, thì bạn không thể thấy được vẻ đẹp của lúc hoàng hôn.

Phần lớn chúng ta đã mất đi sự giao tiếp với thiên nhiên. Nền văn minh đã hướng con người về phía những thành phố lớn. Càng ngày chúng ta càng trở thành những người thành thị, sống trong những chung cư đông đúc đến nỗi chỉ còn lại một khoảng trống quá bé nhỏ để mà có thể ngước nhìn lên không trung vào những lúc sáng sớm hoặc chiều tà, cho nên, quả là chúng ta đã mất dịp thưởng thức biết bao nhiêu là vẻ đẹp. Tôi không biết bạn có nhận ra rằng thật là quá ít ỏi người trong số chúng ta được ngắm cảnh rạng đông, cảnh hoàng hôn, cảnh đêm trăng, hoặc cảnh ánh trăng lấp lánh trên mặt nước.

Mất sự giao cảm với thiên nhiên, chúng ta tự nhiên ngả về sự phát triển khả năng tri thức. Chúng ta đọc hàng lố sách, chiêm ngưỡng vô số bảo tàng viện, thưởng thức nhiều buổi hòa nhạc, say sưa coi biết bao nhiêu chương trình truyền hình và tham dự quá nhiều những cuộc giải trí. Chúng ta trích dẫn nhiều vô tận những tư tưởng của các danh nhân và thảo luận không ngừng về nghệ thuật. Tại sao chúng ta phải nương tựa vào nghệ thuật nhiều đến thế? Phải chăng đó là một hình thức của sự trốn tránh, của sự kích thích?

Nếu bạn tiếp cận được với thiên nhiên, nếu bạn được ngắm nhìn sự chuyển động nơi cánh con chim, nhìn vẻ đẹp của bầu trời từng giây phút trôi qua, chiêm ngưỡng cảnh đồi rợp bóng, hoặc vẻ đẹp trên gương mặt người nào đó, bạn có nghĩ rằng bạn còn muốn đến viện bảo tàng để mà ngắm tấm hình nào nữa hay chăng?

Có câu chuyện về một vị đạo sư kia, thường giảng đạo cho các đệ tử vào mỗi buổi sáng. Một buổi sáng, khi ông ta vừa mới ngồi xuống nệm, sửa soạn thuyết pháp, thì có một con chim nhỏ sà xuống, đậu ngay ở ngưỡng cửa sổ, vươn cổ lên hót líu lo bằng tất cả nhiệt tình. Sau khi say sưa hót, nó tung  cánh bay lên trời cao trong khi vị đạo sư tuyên bố:

“Bài thuyết pháp của buổi sáng nay đã hoàn mãn”.

Tôi thấy dường như những điều khó khăn nhất của chúng ta chính là sự nhìn thật rõ chính chúng ta, không những về ngoại cảnh, mà còn về cuộc sống nội tâm nữa. Khi chúng ta nói rằng chúng ta ngắm cái cây hoặc bông hoa, có thật sự là chúng ta nhìn chúng không? Hay là chúng ta chỉ thấy cái hình ảnh về nó do từ ngữ tạo nên? Có nghĩa là, khi bạn nhìn cái cây hoặc vầng mây trong ánh nắng chiều rực rỡ, liệu bạn có thật sự “thấy” ?

Thấy đây không chỉ là thấy bằng cặp mắt và tri thức, nhưng là cái thấy một cách hoàn toàn, một cách trọn vẹn.

J. Krishnamurti – Freedom from the Known

Người dịch Danny Việt (ĐPK)

Thuộc về tổ ấm khác

 Hỏi :

 Vợ tôi mất cách đây 3 năm để lại 2 con, một cháu lên 5, một cháu vừa đầy tháng. Rất may, T., em gái của vợ tôi từ miền Đông dọn qua đây đang xin việc. Trong lúc chờ đợi, cô ấy đã giúp tôi trông nom đứa nhỏ. Tôi rất áy náy vì đã nhờ vả T. quá nhiều, song cô ấy bảo có chậm vài tháng xin việc cũng không sao, cái chính là giúp tôi thu xếp việc nhà ổn thỏa.

 Từ ngày có mặt T., không khí nhà tôi vui vẻ hẳn lên. Con gái lớn của tôi đi học về là bám riết lấy dì không rời một bước. Còn thằng bé không có dì hát ru thì không ngủ. Tôi cũng thuờng hay chợt nghĩ đến T. Nhiều đêm nằm phòng bên cạnh, hình dung khuôn mặt T. với má lúm đồng tiền, vầng trán cao tinh nghịch, tiếng ru ngọt ngào, bỗng dưng tôi cảm thấy một tình cảm ấm áp đang dâng lên trong lòng. Ba năm trôi qua, khi con trai tôi đủ lớn để đến nhà trẻ. Mấy lần cô ấy định dọn ra ở riêng, nhưng sau đó lại đổi ý. T. bảo xa mấy đứa nhỏ nhớ lắm.

 Rất nhiều lần tôi muốn bày tỏ tình cảm của mình với T., nhưng lại không thể thốt được nên lời vì cô ấy đã có người yêu đang học năm chót bên miền Đông và họ sẽ cưới nhau khi cậu ấy qua đây.

 Tuần qua, T. thông báo sẽ ra ở riêng và chuẩn bị đón người yêu qua. Nghe vậy, tôi lên cơn sốt, bệnh nằm liệt giuờng. Lúc T. đến chăm sóc, tôi đã nắm tay cô ấy và khóc, nói T. đừng đi. Không biết cô ấy có hiểu được tình cảm của tôi hay không, nhưng T. hứa sẽ chăm sóc tôi cho đến khi bình phục. Tôi phải làm sao đây, nếu tôi có thể thuyết phục được T. để lấy làm vợ thì người ta có dị nghị tôi lấy em của nguời vợ đã mất không?

 Dấu tên, San Jose 

Đáp:

 Đọc xong thư bạn, Thuần Nhã thấy phần trả lời dễ nhất là câu: “… nếu tôi có thể thuyết phục được T. để lấy làm vợ thì người ta có dị nghị tôi lấy em của nguời vợ đã mất không?”, thưa bạn, không ai cấm được người khác dị nghị, khi tự điển còn có những chữ  “ngồi lê đôi mách”, ” gossip”, v.v… Vấn đề là những lời dị nghị ấy có giá trị không, có đáng cho chúng ta quan tâm không?

 Trong câu chuyện này, riêng lý do cô T. là em gái người vợ đã qua đời của bạn, thì bạn không có điều gì sai trái, ngược lại, nếu chuyện đó thực sự xẩy ra, thì quả là điều may mắn cho bạn, cho hai cháu nhỏ, và cả cho tâm linh chị nhà, khi bỏ chồng con nửa đường đứt gánh, với bao nhiêu thương cảm, tiếc nuối, tủi hờn, biết rằng thần thức chị nhà đã siêu sinh được  chưa? Giả như chuyện cõi vô hình là có thật, và thần thức chị chưa siêu sinh, còn lảng vảng nơi dương thế vì thương chồng, thương con, thấy em gái ruột thịt vì lòng thương cháu, ở lại lo lắng săn sóc chồng con mình, là những người mình thương yêu mà nay đành bất lực, không còn làm gì cho họ được nữa, hẳn hương linh cũng được an ủi. 

Ngoài ra, tình cảm mà T. dành cho các cháu ngay khi các cháu còn rất nhỏ sẽ khiến cho các cháu đỡ bị hụt hẫng, chúng sẽ vô tư, dễ dàng chấp nhận T. như một người mẹ vậy. Trong văn học Việt Nam, có rất nhiều bậc danh nho, đạo cao đức trọng, khi vợ chết, tục huyền với em gái vợ. Ngay cuốn tiểu thuyết có tên là Nhà Nho, do một nhà nho trước tác,  cũng cho nhân vật chính là một nhà thâm nho, đỗ tới tiến sĩ, lấy luôn cả hai chị em gái, ngay khi bà chị (vợ cả) còn sống sờ sờ. Cái đó, “nhà nho” ta khi xưa gọi là “hoa thơm đánh cả cụm”.

 Nhưng vấn đề cần phải đắn đo, suy nghĩ, không phải về phía dư luận, mà lại thuộc về phía T. bạn ạ.

 Trong câu chuyện này, nếu quả là T. đã có bạn trai, mà người đó lại hào hiệp đến nỗi sẵn sàng chấp nhận chuyện T. dọn đến ở chung với anh rể góa vợ để nàng có dịp tận tình giúp anh rể và hai cháu mồ côi mẹ, nhất là đối với cháu vừa mới lọt lòng, hoàn cảnh thật là đau thương, thì hành động này thật là trong sáng và tốt lành.

 Cảm tình tốt đẹp ấy nay lại bị bạn hồi đáp bằng cách định lôi cuốn T., “nếu tôi có thể thuyết phục được T. để lấy làm vợ …”, thì tôi hơi trách bạn đấy, trách là bạn không đủ hào sảng để đáp lại thịnh tình của con người tốt lành kia, nhẫn tâm đoạt mất người yêu của anh ta.

 Tôi nghĩ rằng, vai chính quyết định tương lai sẽ là T.

 Nếu tình yêu của cô ấy đối với bạn trai không đủ sâu đậm, chưa phải là tình yêu, mới “tưởng như là tình yêu” mà nay lại đem lòng yêu bạn, thì cô ấy sẽ tự giải quyết, và ngả vào vòng tay bạn.

 Nếu như cô ấy đến với cha con bạn chỉ thuần túy là vì tình nghĩa anh em, dì cháu, trong khi cô ấy đang yêu, đang có những chương trình riêng với người cô ấy yêu, thì bạn nên sáng suốt mà đem lòng biết ơn cô ấy và cả bạn trai của cô ấy nữa, đừng tìm cách làm sứt mẻ tình cảm của hai con người dễ thương và tốt bụng kia, khiến cho cô ấy phải khó xử, mà tình anh em cũng thành ra có những vướng mắc sau này.

Nếu chị nhà không qua đời, thì cảnh “… nhiều đêm nằm phòng bên cạnh, hình dung khuôn mặt T. với má lúm đồng tiền, vầng trán cao tinh nghịch, tiếng ru ngọt ngào,…”…  có lẽ đã không lạc lõng vào tâm hồn bạn. Bởi vì thực tế là “má lúm” đó, “vầng trán ” đó, “tiếng ru ” đó không phải thuộc về tổ ấm của bạn, mà là của một tổ ấm khác, tổ ấm của T. và người yêu của cô ta, xin bạn hãy tỉnh lại.

 Cầu chúc bạn gặp được bạn đời như ý mà không làm cho cặp uyên ương nào khác phải tan vỡ.

 Thuần Nhã (ĐPK)