Archive | September 18, 2013

Một Chuyến Đi

Chiếc xe Jeep chồm lên rồi ngừng lại. Ân nhẩy xuống, tay xách va li của Hạnh:

– Tới rồi chị ạ. Đợi tôi một chút tôi trình giấy nhé.

Rồi Ân buông cái va li, đi vùn vụt. Hạnh leo xuống đất. Trời mới hơi hừng sáng. Sương phủ mờ mờ. Xa xa, từng dãy phi cơ nằm im lìm. Cách chỗ nàng đứng chừng hai chục thước là hai chiếc máy bay lớn mầu trắng bạc, thấp thoáng bóng người qua lại. Văng vẳng bên tai Hạnh có tiếng ồn ào, tiếng gọi nhau ơi ới. Một bà mẹ dắt đứa con đứng bên cạnh cửa máy bay cứ vẫy mãi ông chồng đứng dưới đất. Cạnh đó là một cặp vợ chồng coi bộ như mới cưới. Cô vợ trẻ đưa khăn lên lau nước mắt hoài. Còn anh chồng thì cứ nắm lấy bàn tay vợ mà vuốt. Chắc là anh chàng dỗ dành. Bất giác, Hạnh thở dài. Nàng tưởng tượng ra cái anh chàng ấy trong tương lai, sẽ sống trong một căn nhà chật hẹp, với một bầy con nghịch ngợm bẩn thỉu, anh chàng sẽ cau có, hết cả sự dịu dàng âu yếm như lúc này. Hạnh thấy chán nản cùng cực. Nàng chỉ muốn chóng được lên máy bay, chóng ra tới Huế.

Nàng tưởng tượng tới lúc nằm vào giường chị Dung, trong lòng chị mà nói, mà than thở cho vơi nỗi buồn bực. Nàng sẽ ở lại chơi với chị mãi cho tới bao giờ Khánh đi tìm nàng. Nếu Khánh không tìm, nàng sẽ đi luôn. Nàng chán quá rồi. Chán đời sống buồn tẻ, ngày nào cũng như ngày nào. Chán bộ mặt khó đăm đăm của Khánh. Chán sự cau có gắt gỏng. Nàng muốn đạp đổ tất cả. Tình yêu là như thế sao. Là sự nhàm chán, bình thản đến thế hay sao. Loan muốn đi thật mau, thật mau, để được nằm vào lòng chị cho vơi niềm u uất.

Nàng đã cầy cục cả ngày hôm qua để mua vé máy bay mà không được. Chiến tranh làm đường bộ trở nên gần như vô dụng. Sự di chuyển trông cả vào đường hàng không. Mua vé phải chen chúc như đi lĩnh chẩn. Hạnh đã tìm bao nhiêu người quen nhờ mua hộ mà đành chịu. Sau cùng may gặp Ân, chồng một người bạn cũ, làm phi công. Ân sốt sắng đề nghị sẽ xin cho Hạnh đi bằng máy bay quân sự.

Với Hạnh bây giờ thì tất cả phương tiện nào đưa nàng tới Huế đều tốt. Nàng thèm được nép vào lòng chị, nàng cần được bàn tay xinh xắn gầy gò có nốt ruồi nơi ngón cái của chị vuốt vào mái tóc. Nàng nhắm nghiền mắt lại cho hai hàng nước mắt lăn xuống. Sương lạnh thấm vào người Hạnh. Nàng rùng mình. Có tiếng Ân bên cạnh làm Hạnh mở choàng mắt. Ân chỉ vào cái máy bay gần nhất có người lên xuống tấp nập và nói:

– Tôi vừa cố dàn xếp cho chị đi cái này mà không thể được. Máy bay chở nặng rồi. Thôi chị đành đi chuyến sau vậy.

Hạnh hỏi :

– Chuyến sau thì bao giờ khởi hành hở anh ?

Ân chỉ tay qua phía bên kia trả lời ngập ngừng:

– Khởi hành thì cũng ngay bây giờ đây. Nhưng chỉ hiềm vì …

Vừa nói, Ân vừa xách va li lên. Hạnh bỡ ngỡ bước theo. Bỗng nhiên, nàng đứng sững lại. Trước mặt nàng là ba chiếc quan tài phủ cờ chung quanh có mấy người lính ôm súng ngồi la liệt. Ân dừng lại nhìn vào mắt nàng :

– Đó, tôi cũng hơi ngại chị sợ. Vậy nếu chị không muốn thì để tôi xin lại giấy phép cho chị đi ngày mai.

Thoáng nghĩ lại nỗi bực bội âm ỷ từ mấy tháng nay, nhớ lại nét mặt buồn tẻ của Khánh, Hạnh vội vã:

– Thôi, anh cho tôi đi ngay chuyến này.

Vừa lúc đó, một xe nhà binh chở tới mấy đứa trẻ con và bốn người đàn bà. Tất cả đều chít khăn tang trắng và có người mặc áo trắng nữa. Xe vừa ngừng thì một người đàn bà đã lao xuống đâm bổ vào chiếc quan tài nằm giữa gào lên :

– Anh ơi ! Anh nằm đây cả đêm có lạnh không ? Nói đi anh, trả lời em đi. Nói với em một lời đi…

Tiếng khóc khàn khàn như đặc lại ai oán. Hạnh sững sờ cả người. Mấy đứa trẻ trên xe đã tụt cả xuống đất, đứng sau lưng bà ta. Bây giờ thì bà ta ôm lấy quan tài mà khóc. Mấy đứa bé cũng bật lên khóc.

Mé bên kia một người đàn bà ngồi ôm mặt bên chiếc quan tài ngoài cùng. Đầu bà ta gục xuống. Mái tóc loà xòa phủ lên lá cờ ngay cạnh chỗ tấm ảnh một người đàn ông mặc quân phục. Lẫn trong tiếng khóc, Hạnh nghe có tiếng “con ơi”. Tiếng khóc nghe não nuột như từ chốn xa xăm nào vọng về. Hạnh chợt nghĩ đến con mình, bé Nga. Con bé Nga với đôi má xệ, với cái bụng phệ, với bàn chân thô. Không biết lúc này nó đã dậy chưa. Chị vú có có pha sữa cho nó không? Nó có đái dầm ra quần không? Hạnh muốn quay về với nó. Nhưng nghĩ đến chồng, nàng lại bực. Thật ra thì nàng cũng không có cớ gì lớn lao để giận chồng. Chỉ là sự bực bội chán nản mà thôi. Nàng thèm được thay đổi không khí. Thèm được thấy lại mình xưa kia. Nàng nôn nóng nhìn về phía chiếc máy bay.

Những anh lính hồi nãy ngồi la liệt dưới đất đã đứng thành hai hàng dọc nối liền với cửa máy bay. Tất cả đều bồng súng chỉnh tề. Một tiếng hô vang, Hạnh thấy sáu người lính khác cúi xuống từ từ nâng chiếc áo quan ngoài cùng lên vai. Bây giờ Hạnh mới trông thấy người ngồi khóc là một bà cụ già, mái tóc đã bạc. Bà cụ ôm chặt bát hương trong tay, ôm trong đôi cánh tay mà ngày xưa đã dùng để ôm người con khi còn nhỏ. Hạnh nhắm mắt lại. Hình ảnh con bé Nga lại chập chờn ẩn hiện. Hạnh như còn thấy nó nhe răng cười, tay nó vẫy vẫy nàng mỗi khi nàng đi đâu về. Có tiếng người đàn bà thét :

– Ới anh ơi ! Nay anh về quê cha đất tổ. Ngày anh đi, anh hẹn nghỉ phép sẽ về sửa lại cái mái nhà dột, anh nói dối em, anh bỏ em lại, anh đi một mình…

Chiếc áo quan thứ nhì đang từ từ tiến vào lòng máy bay. Dưới sân chỉ còn lại một chiếc và người đàn bà gục đầu suốt từ lúc nãy vẫn như ngồi bất động.

Ánh nắng ban mai chiếu le lói vào thân máy bay. Hạnh nghĩ đến Khánh lúc này chắc đang sửa soạn đi làm. Hình ảnh Khánh hiện lên với nét mặt buồn buồn lúc nàng ra xe hẹn một tháng mới trở về. Khánh nghĩ gì? Hạnh không muốn tưởng tượng lan man thêm nữa.

Trên sân đã vắng. Ân xách chiếc va li dùm Hạnh tiến về phía máy bay. Rồi chàng đỡ Hạnh bước vào. Nàng đưa mắt nhìn. Ngay dưới về phía đuôi, mấy người lính ngồi ngổn ngang, súng dựa vào mấy chiếc ba lô. Có người đang tháo giầy bốt, có người đang moi móc tìm thuốc lá. Trên hai hàng ghế sát thành máy bay từ mé giữa trở xuống, người ngồi chật ních. Nhưng từ giữa máy bay trở về phía đầu chỉ có thưa thớt mấy người mặc đồ tang mà thôi. Giữa hai hàng ghế là ba chiếc quan tài nằm nối đuôi nhau. Rồi tới cái rương bằng thiếc mầu xanh để sát chiếc áo quan thứ ba, trên mặt cũng cắm mấy nén hương.

Hạnh đứng ngập ngừng. Chợt nàng có cảm tưởng như có người nhìn mình. Hạnh ngẩng lên vừa gặp ánh mắt người đàn bà xõa tóc hồi nãy. Ánh mắt thản nhiên lạnh lùng. Bụng bà ta lớn vượt mặt. Nàng cúi xuống xách va-li tiến lại phía bà ta. Cửa phi cơ đóng lại. Máy nổ ầm ỳ. Người đàn bà có bầu sửa lại cái bát hương trên mặt áo quan cho ngay ngắn. Đầu kia, sát phòng máy, bà cụ già giở tràng hạt lẩm bẩm tụng kinh.

Máy bay bò đi từ từ rồi dừng lại, rồi rú lên, phóng nhanh. Thảm cỏ xanh lao vun vút giật lùi. Ruột gan Hạnh nhẹ bỗng. Trước mặt Hạnh, ba dứa trẻ ôm chầm lấy mẹ. Đứa giữa là con gái cỡ năm tuổi, tai đeo đôi khuyên vàng, tóc nó uốn quăn tít giống mẹ. Mẹ nó mặc chiếc áo dài trắng. Tay bà ta đánh móng đỏ nhưng đã tróc loang lổ verni với những ngón thô kệch nổi gân. Trên miệng chiếc giỏ bên cạnh bà, Hạnh còn thấy một chiếc guốc cao gót mầu xanh lá cây.

Phi cơ đang bay lướt trong từng đợt mây. Hơi lạnh tỏa ra làm Hạnh rùng mình. Nàng mở va-li lấy chiếc khăn quàng. Thoang thoảng đâu đây có mùi ung ủng. Ngồi cạnh Hạnh về mé ngoài là một bà trạc bốn mươi. Người bà mập mạp và đẹp. Bà móc túi lấy lọ dầu ra bôi rồi trao cho Hạnh:

– Cô xoa đi. Quái, nghe như có mùi sầu riêng ấy. Cái giống này cứ lúc nào máy bay lên cao là tỏa mùi ra, úi dà, tệ lắm. Tôi đã bị một lần rồi. Của cô đấy hả?

Hạnh lắc đầu. Nàng cảm thấy choáng váng. Bà kia vội dí lọ dầu vào mũi Hạnh. Mắt Hạnh hoa lên. Trước mặt Hạnh, cái áo hoa của bà nhảy múa nhòe nhoẹt. Đôi môi mọng đỏ của bà như cười. Hơi dầu làm Hạnh tỉnh dần. Nàng cảm ơn bà bạn tốt bụng. Bà ta chuyển chai dầu cho Hạnh bảo đưa cho bà có bầu. Chiếc máy bay lắc mạnh. Chiếc bát hương trên quan tài giữa chao đi. Bà có ba đứa con chụp lấy ôm vào lòng rồi oà lên khóc:

– Ối anh ơi ! Anh bảo anh nghỉ phép anh về với em. Anh bảo chúng mình sẽ về quê ngoại. Anh bảo em uốn tóc. Anh bảo em may áo giống bà thiếu úy San. Nay anh đi đâu bỏ em bơ vơ thế này.

Mọi người nhìn về phía bà. Tiếng bà gào át cả tiếng máy bay:

– Anh ơi ! Anh mua guốc cho em làm gì. Em có thích uốn tóc hồi nào đâu. Bây giờ anh ở đâu…

Mấy anh lính choàng dậy càu nhàu vu vơ. Mé đầu máy bay bà cụ già tụng kinh lớn hơn. Hạnh nghe loáng thoáng… “vạn kiếp nan tao ngộ… “. Khuôn mặt bà cụ nhăn nheo. Nước mắt bà cụ lăn chậm chạp trên hai gò má đen sạm. Bà cụ tụng kinh không ngừng. Ba đứa bé thì ngơ ngác nhìn tất cả mọi nơi, từ trần xuống sàn máy bay. Thỉnh thoảng thằng lớn nhất lại nhìn ra cửa. Hạnh đoán có lẽ chúng đi máy bay lần đầu. Con bé giữa mặc áo đầm nylon. Bà mẹ cúi xuống lục ở cái giỏ lấy ra hai quả xoài đặt lên lá cờ phủ áo quan rồi lại kể lể:

– Hôm anh đi em đã bảo anh ăn xoài. Anh kêu đau bụng không ăn để nhường cho con. Bây giờ anh ăn đi anh ơi ! Anh thích ăn xoài mà.

Bỗng nhiên, bà có bầu ngồi canh Hạnh gục xuống. Hạnh vội đỡ bà ta lên. Mặt bà ta xanh xám. Bà mặc áo hoa ngồi bên trái Hạnh vội dốc lọ dầu vào đầu bà có bầu rồi phân trần:

– Đấy cái hơi độc thế đấy. Phải đổ dầu vào kẻo nguy.

Lúc này thì hầu như cả mọi người đều biết là không phải hơi sầu riêng. Nhưng không ai xác nhận rõ là mùi gì cả. Máy bay lượn làm chiếc áo quan ngoài cùng hơi nghiêng về phía Hạnh. Nàng hoảng hốt rút chân lên, e dè nhìn vào những vết loang lổ trên lá cờ.

Mé sau, cái rương xanh xô vào phía mấy người lính. Một anh đẩy cái rương lại chỗ cũ rồi chép miệng:

– Cái ông này thì còn được vài ký thịt, quá lắm là thêm bàn tay thôi chứ gì mà cũng chạy tới chạy lui.

Người bên cạnh cãi :

– Bậy nào, đâu đến nỗi.

Người thứ nhất trợn mắt:

– Cậu thì biết cái cóc gì. Hồi nãy, chính tớ rinh lên mà. Nhẹ hểu à.

Hạnh vỗ vỗ lưng bà bụng bầu. Bà ta đã tỉnh tỉnh. Đầu bà ngả vào vai Hạnh. Hạnh gục đầu vào cửa sổ nhìn xuống. Dưới kia là dòng sông uốn khúc, nhỏ như trong mô hình triển lãm với những thửa ruộng như ô bàn cờ. Những mái nhà nhỏ bé làm Hạnh liên tưởng đến những mái nhà, mái chùa mà dạo bé Hạnh vẫn loay hoay ngắm nghía ở trong bể non bộ của ông ngoại. Tất cả lướt qua phía dưới, thanh bình và êm đềm quá. Nhưng những mái nhà hiền lành kia liệu có bao bọc những cuộc đời êm đềm hạnh phúc, hay cũng đầy dẫy những trái tim tan nát như những gia đình này. Bất giác Hạnh gợn lên niềm nhớ thương chồng con. Nàng cũng có một mái nhà mà sao nàng lại bỏ đi. Đời sống bình thản và hiền lành. Nó không có gì ầm ỹ đặc sắc. Nhưng khi sự ầm ỹ đặc sắc xẩy đến, như sự chết, sự chia ly, thì trái tim đã tan nát rồi.

Máy bay đi trong đám mây. Hạnh nhìn thấy như từng quả núi nhỏ bằng mây trắng vây phủ quanh nàng. Nàng nhớ lại thuở bé cứ ước ao sau làm nữ hiệp để đằng vân đi cứu nhân độ thế. Nàng ngậm ngùi nghĩ đến chồng. Nàng lại tự trách mình sao hay đòi hỏi. Giá nàng biết tự quên mình thì có lẽ Khánh sung sướng hơn nhiều. Nàng chợt nhớ lại vẻ ngượng nghịu của Khánh lúc nàng bóng gió so sánh cảnh nghèo nàn của nàng với sự giầu sang của các bạn. Nàng thấy mình quá tàn nhẫn….

Vai Hạnh nhẹ bỗng hẳn đi. Bà có bầu đã ngồi dậy. Hạnh liếc bà ta. Mắt bà cứ nhìn đăm đăm về phía đầu quan tài. Có tiếng bà lẩm bẩm rất bình thản:

– Tôi đi tìm nhà tôi từ ngoài mặt trận. Tôi đi tìm khắp các nhà thương, nhà xác. Tôi lật từng cái xác để tìm nhà tôi đã mười hai ngày. Lật từng cái xác…

Mắt bà như bất động. Mặt bà cũng bất động, chỉ có miệng bà mấp máy :

– Từng cái xác, từng cái xác đã thối, đã xình…

Hạnh bỗng rợn cả người. Nàng kinh hoàng nhìn bà ta. Bà ta gầy gò xanh xao là thế, bụng chửa vượt mặt, lại yếu đuối như thế, sao bà có thể làm được công việc cực nhọc nhường ấy. Đôi mắt bà nhìn vào phía quan tài không chớp, vẻ quê mùa của bà làm cho Hạnh khó tìm thấy cái sức mạnh nào đã đẩy bà đi mười hai ngày trời để mà lật từng cái xác tìm chồng.

Phi cơ chao đi. Một quả xoài rơi xuống sàn, thằng bé út chộp lấy. Bên này, bà có bầu vội đỡ lấy bát hương vào lòng thì thầm:

– Anh ơi ! Em còn làm gì cho anh, còn làm gì cho anh được nữa, anh ơi!

Hạnh xiết chặt tay bà. Bà mới đáng thương chứ không phải người nằm trong kia. Nằm đấy là yên nghỉ rồi. Vậy mà bà không nghĩ tới mình, chỉ nghĩ tới sự gì còn có thể làm được cho chồng. Chao ôi! Lòng người đàn bà này sao mà rộng rãi và đầy tình thương yêu đến thế.

Bỗng bà ngồi thẳng dậy đăm đăm nhìn áo quan. Hạnh tưởng như xuyên qua lớp gỗ, đôi mắt người chồng đang mở ra tha thiết nhìn vợ. Đôi mắt đầy yêu thương trìu mến. Đôi mắt của Khánh vẫn nhìn nàng. Hạnh phúc ở bên cạnh nàng như đôi tay đối với người lành mạnh. Đối với người lành mạnh, sự hiện hữu của đôi tay không có nghĩa gì cả. Nhưng nếu có một tai nạn xẩy đến thì sự mất mát đôi tay mới thật sự là một tai họa hãi hùng và đã quá trễ rồi.

Hạnh nhìn suốt một lượt từ bà cụ già tới bốn mẹ con, những người lính, lá cờ, tất cả đều mơ hồ nhòe nhọet một mầu mờ nhạt, hai hàng nườc mắt lăn dài. Nàng quay về phía cửa sổ máy bay nhìn xuống, dưới kia là Ngũ Hành Sơn xa lạ. Hạnh muốn chiếc máy bay quay trở lại. Nàng thấy tiếc những thời giờ phí phạm đang trôi. Nàng muốn chắt chiu níu giữ thời khắc của tình yêu như người biển lận xót những đồng tiền phung phí.

Nàng thiết tha muốn trở về để được xà ngay vào lòng Khánh. Và Khánh sẽ hôn lên tóc nàng. Rồi nàng sẽ ôm con đi tắm. Con bé Nga bé bỏng của nàng, với hai cái má xệ xệ, cái bụng phệ phệ và bàn chân mũm mĩm thô kệch.

Mơ hồ, Hạnh thoáng thấy chị Dung mỉm cười trìu mến.

Đỗ Phương Khanh
(Trong tập truyện ngắn Hương Thu)

Vài nét về Đỗ Phương Khanh

Image

Đỗ Phương Khanh sinh ngày 9 tháng 8 năm 1936 tại Hành Thiện, Xuân Trường, Nam Định, xuất hiện lần đầu với truyện ngắn Đi Mua Giầy trên Giai Phẩm Văn Hóa Ngày Nay của Nhất Linh kể từ số 4 (tháng 8-1958). Bà có 3 truyện ngắn được Nhất Linh chọn in trên Giai Phẩm này ở các số kế tiếp. Sau khi Văn Hóa Ngày Nay đình bản, bà qua cộng tác với tạp chí Tân Phong của nhà văn Nguyễn thị Vinh với nhiều truyện ngắn khác, sau xuất bản thành tập truyện Hương Thu do Đông Phương ấn hành.

Sau biến cố Tết Mậu Thân 1968, bà về làm quản lý cơ sở ấn loát Hồng Lam ở Sài Gòn do Linh Mục Cao văn Luận làm Giám Đốc.

Đầu thập niên 70, bà giữ vai trò quản lý trị sự cho tuần báo Thiếu Nhi đồng thời phụ trách trang Vườn Hồng và sinh họat với Gia Đình Thiếu Nhi là một tập hợp độc giả của tuần báo này cho tới năm 1975.

Cũng trong thời gian này, Đỗ Phương Khanh phụ trách trang Nhi đồng cho nhật báo Hòa Bình với bút hiệu Mai Loan và là người phụ trách trang Phụ Nữ của nhật báo Dân Chủ cho tới năm 1975.

Bà cũng là Giám Đốc vườn trẻ Anh Vũ, một cơ sở mẫu giáo chuyên dạy trẻ em theo phương pháp Montessori từ năm 1973 tới 1975.

Tháng 4 năm 1980, bà cùng hai ái nữ vượt biên, tới được bờ biển Mã Lai và nhập trại tỵ nạn Pulau Tengah tại Mã Lai, sáu tháng sau đi đoàn tụ với gia đình (nhà văn Nhật Tiến) ở Hoa Kỳ vào tháng 10-1980.

Tại Hoa Kỳ, bà dịch những tài liệu về Bảo Vệ Lòai Vật và những câu chuyện của J. Krishnamurti với những bút hiệu Danny Việt, Vy Khanh …, đồng thời biên soạn “Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng” phát thanh hằng tuần trên Little Saigon Radio và Hồn Việt TV với bút hiệu Liên Hương.

Bà hiện cư ngụ tại Nam California.

 

Đừng quá “khác” khi xưa

Hỏi :

 Tôi năm nay gần 40 tuổi, lập gia đình được vài năm và có 2 cháu rất xinh xắn. Chồng tôi đi làm còn tôi ở nhà chăm sóc con còn rất bé đã được hai năm. Đời sống gia đình vừa đủ. Đi làm về chồng tôi giúp tôi việc nhà và chăm sóc con.

Vì 2 cháu còn quá bé, hai vợ chồng rất bận rộn và ít có thời gian cho nhau. Nói là ít chứ không phải là không có, nếu chồng tôi dành thì giờ ít ỏi này cho tôi. Tôi tôn trọng sở thích riêng của ảnh và hiểu rằng mỗi người cần có thời gian riêng cho công việc của mình, nhưng nếu thỉnh thoảng ảnh biết nghĩ tới tôi mà dành cho tôi chút thời giờ thì tôi không nghĩ đòi hỏi này là quá đáng. Tôi cố gắng thay đổi quan hệ vợ chồng và nhiều lần nói chuyện để hiểu nhau. Chồng tôi tỏ ra hiểu biết, xin lỗi và hứa thay đổi. Nhưng chỉ thấy nói mà chẳng thấy làm.

Tôi cũng không thể trách ảnh được. Một ngày 24 tiếng mà công chuyện và đi làm đòi hỏi và chiếm hết thì giờ. Ngủ ngày vài tiếng là quý lắm. Dù biết vậy nhưng tôi cũng vẫn thấy buồn. Gần 40 tuổi, không trẻ không già, nhưng cuộc sống sao thấy khô khan và nhàm chán quá.

Tôi hy vọng vài năm sau, khi 2  cháu lớn một chút, cuộc sống giữa 2 vợ chồng sẽ đỡ buồn chán. Nhưng đợi vài năm sao thấy quá xa xôi và liệu sau thời gian chờ đợi này sẽ có gì thay đổi ???

Tôi mong chị sẽ có vài lời giúp tôi sống sao để thấy mỗi ngày không chỉ có tã, sữa và tối đi ngủ thui thủi một mình, mà là một ngày đỡ đen tối và chán nản. Cám ơn chị.

 HN. – Norwalk 

Đáp:

Đọc thư bạn, Thuần Nhã lại nghĩ đến hình ảnh tiêu biểu của những gia đình Việt nam tại quê nhà cách nay chừng sáu, bảy chục năm. Đó là vào thời mà những loại ca dao như:

“Con gái là con người ta,

Nàng dâu mới thực mẹ cha MUA về ”

“Trai ƠN vua đứng mũi thuyền rồng,

 Gái ƠN  chồng tay bồng con thơ “, 

… thường xuyên được nhắc tới. Bạn thấy không, thời đó, được bế con là đã phải “ơn ” chồng rồi đó! Người phụ nữ sau khi lấy chồng chỉ còn biết chúi mũi vào công việc hầu hạ nhà chồng, đầu tắt mặt tối, xốc xếch lấm lem, không biết đến “hạnh phúc lứa đôi” là cái gì đâu.

Nhắc lại chuyện xưa tích cũ cho giãn thần kinh một chút thôi, bạn ạ. Bây giờ Thuần Nhã xin cùng bạn tâm tình. Vì thư bạn viết kín đáo, nên Thuần Nhã xin tóm lược lại vài ý, như sau:

– Vợ chồng bạn mới kết hôn chừng 3 hoặc 4 năm và có hai cháu, hoặc là sinh đôi, hoặc là chỉ cách nhau một năm, cháu bé mới 2 tuổi.

Vì hai cháu quá nhỏ, nên bạn rất bận bịu, do đó, sau khi tan sở trở về, anh nhà cũng phụ giúp bạn một tay.

Sau khi được anh nhà phụ giúp trong việc săn sóc các cháu, ba mẹ con bạn ôm nhau đi ngủ, không có chuyện vợ chồng âu yếm mặn nồng gì, vì anh nhà cũng cần thời giờ cho những sở thích của anh (thí dụ say sưa với computer chẳng hạn), sau khi đã dành gần hết cả ngày cho sở làm và phụ bạn trong việc nhà.

Hẳn là sự xa cách của anh đã tới mức quá đáng cho nên bạn đã phải nhiều lần nói chuyện với anh, mong hai người sẽ hiểu nhau hơn. Anh nhà tỏ ra hiểu biết, nói lời xin lỗi, nhưng không biểu lộ bằng hành động thực tế là anh bù đắp, sưởi ấm cõi lòng bạn.

Bạn HN thân mến,

Bây giờ Thuần Nhã thử đứng vào vị trí anh nhà để nhìn vấn đề nhé.

Mãi đến tuổi trên dưới bốn mươi, hai bạn mới kết hôn. Như thế, hai bạn hẳn là cũng xây đắp nhiều kỳ vọng cho đời sống lứa đôi, muốn có những ngày sống tươi vui, tràn ngập hạnh phúc của thời gian trăng mật. Thế nhưng hai bạn đã sớm có ngay hai cháu với công việc nhà bận bù đầu, có thể là đã đưa tới tình trạng vì không có thời giờ, bạn cũng bỏ rơi luôn sự vén khéo, gọn gàng, chải chuốt của thời con gái. Thay vào đó, có thể bạn đã trở thành một bà mẹ xốc xếch, bận rộn lu bù, cằn nhằn về những việc linh tinh không hoàn tất, v. v …

Hằng ngày nhìn vào cái cảnh tượng như thế, chính anh nhà cũng thấy nản, mà không muốn nói ra. Sự kiện  “Tôi cố gắng thay đổi quan hệ vợ chồng và nhiều lần nói chuyện để hiểu nhau. Chồng tôi tỏ ra hiểu biết, xin lỗi và hứa thay đổi. Nhưng chỉ thấy nói mà chẳng thấy làm.”… nói lên rằng có thể là anh ấy đã nản, không muốn cãi, chỉ ừ  ào cho qua chuyện mà thôi.

Cái khổ cho phụ nữ chúng ta sống vào thời đại này là chúng ta không còn được quyền ngồi nhà cho chồng nuôi như khi xưa nữa, nhưng cũng nhờ vậy mà chúng ta thoát ra được khỏi cái cảnh ông chồng phát tiền chợ cho, mình chỉ biết lo cơm nước, con cái, còn ông ta thì tự do bồ bịch bên ngoài, thậm chí còn ngang nhiên lập phòng nhì, phòng ba,..v….v… Và đời sống tinh thần của người phụ nữ  thời nay cũng được nâng cao, trong hôn nhân, người phụ nữ cũng có quyền đòi hỏi hạnh phúc như nam giới, chứ không còn là công cụ để chiều chồng và làm máy đẻ.

Thuần Nhã góp ý với bạn là, tạm thời trong thời gian các cháu còn nhỏ quá, bạn ở nhà săn sóc các cháu, nhưng cũng sửa soạn sẵn những phương tiện để có thể sớm gửi các cháu vào trường vườn trẻ, khi các cháu đủ tuổi, rồi kiếm việc để đi làm, bạn ạ. Hầu hết phụ nữ chúng ta trong thời buổi này đều phải đi làm, trước là nhờ có hai pay checks, sự chi tiêu cũng bớt phải tính toán quá, nó làm mụ người đi. Sau nữa là, nhờ có ra ngoài, đời sống tinh thần cũng bớt bó chặt trong bốn bức tường, bạn cũng có thêm những hiểu biết vòng quanh thế giới để chiều về quanh bàn ăn, hai người còn có thêm đề tài thảo luận với nhau, nhờ vậy mà cuộc sống tinh thần thêm phần linh động. Sự kiện bạn có đi làm nó cũng khiến cho chính bạn thấy thêm tự tin, bớt bị mặc cảm, tủi thân.

Trong khi chờ đợi chuyện sẽ đi làm, xin bạn quan tâm đến những câu chuyện với nhau, nên bớt nói về tiền bạc hoặc những đề tài nặng về vật chất, và xin bạn để ý cách ăn mặc, trang điểm, sao cho đừng quá khác khi xưa, lúc hai người còn đang trong thời kỳ hò hẹn.

Có một cặp vợ chồng, bạn của Thuần Nhã, bỏ nhau. Người chồng than với Thuần Nhã là anh ta không bỏ người anh ta yêu khi xưa, mà bỏ một người khác, vì vợ anh ta ngày nay đã khác hẳn người mà anh ta đã từng say mê, cả về tính tình lẫn hình thức bề ngoài.

Thuần Nhã không so sánh họ với trường hợp bạn, nhưng tục ngữ có câu: ” Lượm kinh nghiệm của người khác mà xài thì mình đỡ phải trả giá”,

… cũng hay, bạn nhỉ.

Thân chúc bạn sớm tìm lại những ngày hạnh phúc như khi trước.

Thuần Nhã (ĐPK)