Archive | August 2, 2013

Về vấn đề Tái Sinh

Câu hỏi thứ nhất:

— Nếu linh hồn người chết đi tái sinh thành kiếp sống mới, thì tại sao mấy trăm năm trước, loài người chỉ có mấy trăm triệu, mà nay theo thời gian đã tăng lên tới 5 tỷ, vậy linh hồn của những người mới này ở đâu mà ra?

Đáp:

Trong những kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã có trình bày về quan điểm của nhà Phật trước vấn đề “linh hồn”, nay chúng tôi xin nhắc sơ lại.

Nhà Phật quan niệm rằng tất cả mọi hiện hữu đều là do sự biến hiện của Thức. Theo kinh Lăng Nghiêm, dòng sinh mệnh khởi đi do một niệm Vô Minh bất giác, nổi lên từ biển Tâm mênh mông, bỗng thấy có “cái Ta” và “cái không phải Ta”, cũng như người đang thức, chớp mắt đã lạc vào giấc ngủ, mộng thấy đủ thứ hiện ra, bị đánh cũng thấy đau, khóc cũng có nước mắt, sợ hãi cũng chạy trốn, vân vân …

Nhưng thời gian của giấc ngủ bình thường chỉ lâu có một đêm, sáng dậy bèn biết ngay rằng chuyện xảy ra trong đêm là nằm mộng, không thật. Đó là những giấc mộng nhỏ, nằm trong giấc mộng lớn là kiếp người.

Trong dòng sinh tử kéo dài triền miên, từ kiếp này qua kiếp khác, người ta không thể tự tỉnh dậy như đối với giấc ngủ một đêm, mà từ cái niệm Vô Minh bất giác đó khởi đi, trải qua mỗi đời sống, lại do những hành động mà tạo thành nghiệp thiện, hoặc ác. Theo tâm lý học của nhà Phật, thì những hành động thiện hoặc ác này đều chứa trong Tàng Thức (là cái kho lưu giữ lại mọi hoạt động của Thức), làm nhân cho những kiếp sau, tiếp tục trôi lăn trong mê vọng của sinh tử luân hồi, mãi đến khi nào thức tỉnh, trở về trạng thái Tâm Thanh Tịnh, thì mới hội nhập lại với Bản Thể Chân Tâm, mới chấm dứt được dòng sinh tử, đó là Kiến Tánh thành Phật. Phật có nghĩa là người giác ngộ, không phải thần linh.

Vì Vô Minh khởi đi từ vô thủy, hiện hành Thức Tâm sinh diệt, còn gọi là Vọng Tâm sinh diệt, không phải là Thật, là Chân, nên nhà Phật không quan niệm rằng có một cái được coi là Thật, là linh hồn trường tồn bất biến, kéo dài từ kiếp này qua kiếp khác đến vô tận, mà chỉ coi dòng đời hiện ra là do sự chi phối của nghiệp nhân thiện, hoặc ác, trong Tàng Thức, khi Tâm trở lại trạng thái thanh tịnh, không còn nghiệp nhân làm chủng tử gây nên đời sau, thì dòng đời sẽ chấm dứt, hóa giải Vọng Tâm, hội nhập Bản Thể Chân Tâm.

Sự kiện dòng đời xuất hiện là do một niệm Vô Minh bất giác nổi lên từ biển Tâm, cũng có thể tạm ví như một đợt sóng nổi lên từ biển cả. Trong biển cả mênh mông, nhiều hay ít đợt sóng nổi lên, tùy theo gíó thổi mạnh hay yếu. Từ biển Tâm, nhiều hay ít dòng đời xuất hiện, tùy theo nhiều hay ít niệm Vô Minh bất giác. Chúng ta có thể tạm dùng thí dụ cụ thể, cũng như máy thu thanh và làn sóng trong không gian. Vào thời kỳ đầu của kỹ thuật truyền thanh, người ta mới chế tạo được máy phát và thu thanh trên một làn sóng, gọi là radio một đài. Sau này, khoa học kỹ thuật tiến bộ, máy thu thanh có thể thu cả trăm làn sóng khác nhau, nên gọi là radio nhiều đài. Như vậy, dù lúc trước chưa sử dụng được nhiều làn sóng để phóng âm thanh vào, không có nghĩa là không có làn sóng. Và khi khoa học tiến bộ hơn nữa, máy móc tinh vi hơn nữa có thể phát, thu hàng ngàn tỷ làn sóng khác nhau, thì cũng không có nghĩa là những làn sóng đó mới được sinh ra, mà nó vốn có sẵn trong không gian mênh mông, cũng như Biển Tâm vốn đã có sẵn những yếu tố để một niệm Vô Minh có thể khởi lên, bắt đầu một dòng sinh mệnh, hoặc hàng ngàn tỷ niệm Vô Minh khởi đầu hàng ngàn tỷ dòng sinh mệnh.

Ngoài ra, nhà Phật không quan niệm chỉ có một thế giới mà chúng ta đang ở, mà cho rằng trong khoảng không gian bao la, có hằng hà sa số thế giới (hằng hà sa số nghĩa là nhiều như số cát nơi sông Hằng bên Ấn Độ, là một biểu tượng số lượng lớn đến nỗi không thể tính đếm được). Có những thế giới mà nhà Phật thường nhắc đến, gọi là Tam Giới, gồm;

– Dục Giới, là nơi ở của những cuộc sống nhiều tham muốn, cụ thể là thế giới của chúng ta;

– Sắc Giới, là nơi lưu trú của những chúng sinh không còn tham muốn, nhưng vẫn còn có hình thể, tướng mạo.

– Vô Sắc Giới, là cảnh giới mà chúng sinh đã hết tham muốn, không còn hình thể, tạm gọi là thế giới vô hình, chỉ còn tâm thức.

Như thế thì sự sinh hay diệt của một kiếp sống có thể giao thoa trong nhiều thế giới, hữu hình và vô hình, nhưng chúng ta chỉ biết đến có mỗi thế giới loài ngưòi này, nên chỉ suy tính quanh quẩn trong thế giới này mà thôi.

Để có thể thấu triệt vấn đề “linh hồn” theo quan điểm của nhà Phật, xin kính gửi tới quý thính giả một bài pháp, lược trích trong cuốn Ðức Phật và Phật Pháp, do hòa thượng Narada Maha Thera biên soạn theo kinh sách nhà Phật, và do cư sĩ Phạm Kim Khánh dịch.

Hòa thượng Narada, sinh năm 1898 tại Tích Lan, xuất gia năm 18 tuổi và nhập học tại đại học đường Tích Lan. Sau này, hòa thượng được cử làm giảng sư về môn Đạo Đức Học và Triết Học tại đại học này. Hòa thượng nổi tiếng về kiến thức sâu rộng, nhất là về đạo hạnh và lòng từ bi. Ngài là tác giả của nhiều sách Phật giáo rất có giá trị, thí dụ cuốn “The Manual of Abhidhamma” là bản chuyển dịch ra Anh văn phần uyên thâm nhất của giáo lý nhà Phật. Kinh Pháp Cú cũng được ngài phiên dịch ra Anh văn và chú giải. Còn cuốn “The Buddha and His Teachings” (Đức Phật và Phật Pháp) là một tác phẩm xuất sắc của tác giả. Cuốn này có thể được xem là sách căn bản cho những ai muốn tìm hiểu Phật giáo.

Trong công cuộc hoằng pháp, hòa thượng được cử đi truyền giáo tại Trung Quốc và các nước Đông Nam Á như Cam Bốt, Lào, Việt Nam, Nam Dương, Mã Lai, vân vân … Tại những nơi này, ngài thường được tiếp đón rất nồng hậu. Quốc vương Cam Bốt tôn vinh ngài là Đức Đại Tôn Giả (Sri Maha Sadhu). Ngoài ra hòa thượng cũng đi hoằng pháp tại các nước Tây phương. Năm 1955, ngài sang Úc, và giúp tổ chức các hội Phật Giáo địa phương tại các bang New South Wales, Victoria, Tasmania và Queensland. Năm 1956, hòa thượng sang Anh quốc, tổ chức lễ Tưởng Niệm 2.500 năm ngày Đại Bát Niết Bàn của đức Phật. Sau đó ngài giúp củng cố Phật sự, và xây dựng ngôi chùa danh tiếng mang tên Chùa Phật Giáo Luân Đôn (London Buddhist Vihara). Ngài cũng đã sang Hoa Kỳ thuyết giảng về đề tài “Đức Phật và Triết lý đạo Phật” tại đài kỷ niệm Washington, trước một cử tọa rất đông đảo.

Ngài là một sứ giả Như Lai rất hăng hái và nhiệt tình, thu hút được nhiều người nghe, và lúc nào cũng khuyến khích thành lập các hội Phật Giáo địa phương, để bồi đắp công trình hoằng dương đạo pháp. Hòa thượng Narada có nhiều gắn bó với đất nước và Phật tử Việt Nam. Ngài đã từng đến Việt Nam vào đầu thập niên 1930, mang theo nhiều nhánh cây bồ đề, đã trồng xuống tại nhiều địa danh trong nước, như Phú Lâm (Chợ Lớn), Cần Thơ, Châu Đốc, Vĩnh Long ở miền Tây Nam bộ, Biên Hòa, Phước Tuy, Vũng Tàu ở miền Đông Nam bộ, ra đến Đà Lạt, Huế ở miền Trung và Vinh, Hà Nội ở miền Bắc.

Trong thập niên 1950, khi Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam được thành lập, ngài đến Việt Nam nhiều lần, để thuyết pháp hằng tuần tại chùa Kỳ Viên, Sài Gòn, thu hút đông đảo Phật tử đến nghe, và có rất nhiều người đến xin quy y với ngài. Đặc biệt là vào năm 1963, ngài đã khuyến khích ủng hộ công tác xây cất bảo tháp Thích Ca Phật Đài tại Vũng Tàu, ngày nay được xem như là một di tích lịch sử. Ngoài ra, ngài còn giúp xây dựng một bảo tháp khác ở Vĩnh Long.

Sau đây là lời dạy của hòa thượng Narada, một bậc thầy người ngoại quốc mà Phật tử Việt Nam đã được kết duyên lành, một sứ giả Như Lai đã lặn lội đến những xứ sở xa xôi để chiếu rọi tuệ đăng tới chúng sinh. Hòa thượng Narada dạy rằng:

…”…. Thuyết tái sanh của Phật Giáo không phải là thuyết chuyển sinh linh hồn, hiểu như có sự di chuyển của một linh hồn từ thân xác nầy đến cơ thể vật chất khác. Trong sách vua “Milinda Vấn Đạo”, Đại Đức Nagasena đã dùng nhiều truyện ngụ ngôn để giúp ta lãnh hội dễ dàng quy luật tái sanh của Phật Giáo. Câu truyện mồi lửa rất là rõ ràng. Đời sống xem như một ngọn lửa, và hiện tượng tái sanh như sự mồi lửa từ cây đèn này sang cây đèn khác. Ngọn lửa của đời sống liên tục tiếp diễn, mặc dầu có sự gián đoạn bộc lộ ra bên ngoài mà ta gọi là cái chết.

Vua Milinda hỏi Đại Đức Nagasena:

– Bạch Đại Đức, phải chăng có sự tái sanh, mà không có cái gì được chuyển sinh từ xác thân này đến xác thân khác?

Đại Đức Nagasena trả lời:

– Tâu đại vương, đúng như vậy, sự tái sanh diễn tiến không cần có cái gì được chuyển sinh từ thân này đến thể xác khác?”

Vua đề nghị:

– Xin Đại Đức cho một thí dụ.

Đại Đức Nagasena hỏi:

– Tâu Đại Vương, thí dụ có người dùng lửa của cây đèn này để mồi cây đèn kia. Có phải ngọn lửa của cây đèn này được dời qua cây đèn kia không ?

Vua đáp:

– Bạch Đại Đức, không phải vậy.

Đại Đức Nagasena nói:

– Đúng thế, tâu Đại Vương, tái sanh diễn tiến không cần có sự di chuyển của cái gì từ nơi này đến nơi khác.

Vua lại đề nghị:

– Xin Đại Đức cho thêm một thí dụ khác.

Đại Đức Nagasena nói:

– Tâu Đại Vương, Ngài còn nhớ không, thuở nhỏ đi học, ông thầy dạy làm thơ đã đọc cho Ngài nghe vài vần thơ, để Ngài đọc theo đến thuộc lòng.

Vua trả lời:

– Bạch Đại Đức, quả có như vậy.

Đại Đức Nagasena hỏi:

– Vậy thì, tâu Đại Vương, có phải lời thơ được chuyển từ ông thầy sang trí nhớ của Đại Vương không?

Vua đáp:

– Bạch Đại Đức, không.

Đại Đức Nagasena nói:

– Thì cũng như thế, tâu Đại Vương, hiện tượng tái sanh diễn tiến mà không cần có cái gì chuyển từ chổ này sang qua nơi khác.

Vua Milinda hỏi tiếp:

– Bạch Đại Đức, vậy thì cái gì tiếp nối từ kiếp này sang kiếp khác?

Đại Đức Nagasena trả lời:

– Tâu Đại Vương, chính phần tâm linh và phần vật chất, được sanh ra trong kiếp sống kế.

Vua hỏi:

– Có phải cũng chính tâm linh và thể xác trong kiếp trước được di chuyển và sanh trở lại trong kiếp sống sau không?

Đại Đức Nagasena trả lời:

– Tâu Đại Vương, không phải chính tâm linh và thể xác trong kiếp trước được được sanh trở lại trong kiếp sống sau này. Tuy nhiên, tâm linh và thể xác ở kiếp trước đã hành động, gây nhân, tạo nghiệp thiện hoặc nghiệp ác, thì tùy thuộc nơi nghiệp ấy, tâm linh và thể xác được sanh ra trong kiếp nầy.

Vua hỏi:

– Bạch Đại Đức, nếu không phải chính tâm và thân của kiếp trước được sanh trở lại trong kiếp kế, thì ta có thể tránh khỏi quả báo của những hành động bất thiện do tâm và thân của kiếp trước gây ra trong kiếp trước không?

Đại Đức Nagasena trả lời:

– Tâu Đại Vương, nếu ta còn tái sanh trong một kiếp sống khác, thì tất nhiên còn phải chịu hậu quả của những hành động trong những kiếp quá khứ. Chỉ khi nào ta chấm dứt được sức mạnh của nghiệp lực, thì ta mới chấm dứt được sự lãnh chịu quả báo, của những hành động thiện, hoặc ác, trong quá khứ mà thôi.

Dr. Ananda Coomasvami, trong cuốn “Buddha and the Gospel of Budhism”, cũng giải thích tiến trình “ tử – sinh “, bằng thí dụ về một loạt những quả bi da “Thí dụ như, nếu một quả bi da lăn đến, đụng một quả khác đang ở yên một chổ, thì quả lăn tới ngưng lại và quả bị đụng bắt đầu lăn. Không phải là quả banh lăn trước được dời sang quả banh bị đụng. Nó vẫn còn nằm lại phía sau, nó chết. Nhưng chính vì sự di chuyển của nó, sức xung kích của nó, cái kết quả dĩ nhiên, hay cái nghiệp lực của quả banh trước, xuất hiện trong quả banh kế, chớ không phải một chuyển động khác mới được tạo ra.”

Cũng như thế, xác thân đã chết, nhưng nghiệp lực tái sanh trong một cơ thể khác, mà không cần có cái gì di chuyển từ kiếp sống nầy sang kiếp khác. Chúng sinh mới được sanh ra, không hoàn toàn là một, nhưng cũng không tuyệt đối khác hẳn với chúng sinh vừa mới chết, bởi vì cả hai cùng nằm trong một luồng nghiệp. Chỉ có sự liên tục của dòng đời, triền miên thay đổi, tiếp diễn trong thể xác mới, là hiện hành trong thân khác, mà thôi. …”…

Trên đây là bài giảng của hòa thượng Narada Maha Thera. Ước mong thày đã gửi được tới quý độc giả đôi chút khái niệm về linh hồn qua nhãn quan của nhà Phật.

Câu hỏi thứ hai:

– Nếu đã có những người chết rồi, khi tái sinh lại nhớ được chuyện kiếp trước, thì tất cả mọi người đều phải nhớ chuyện kiếp trước, sao lại người thì nhớ, người thì chẳng hề nhớ tí nào chuyện kiếp trước cả?

Đáp:

– Cõi đời này là thế giới tương đối, là hư vọng, là tương sinh tương duyên, cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt, không phải là tuyệt đối chân thật, cho nên nếu có người khi tái sinh không nhớ được kiếp sống cũ, trong khi có người khác lại nhớ được, thì cũng là chuyện nằm trong quy luật tương đối, không có chuyện mọi người phải tuyệt đối giống nhau.

Nhà Phật không thuyết phục mọi người bằng những lối giải thích mê tín, áp đặt người nghe phải tin. Vì thế, trước những hiện tượng xảy ra có bằng chứng rõ ràng, người Phật tử ghi nhận một cách công bình, phóng khoáng. Tuy nhiên, nếu chúng ta dùng những chuyện đã xảy ra để chiêm nghiệm, so sánh, thì cũng có thể tự tìm được câu trả lời, tạm coi như hữu lý.

Nhà Phật cho rằng kể từ lúc một niệm Vô Minh bất giác nổi lên, bỗng thấy có “cái Ta” và “cái không phải Ta”, khởi đầu dòng sinh mệnh, trôi lăn trong môi trường tương đối, thì cũng là khởi đầu giấc mộng dài. Trong giấc mộng dài đó, có những khúc ngắn hơn, tạm gọi là giấc mộng trung bình, là thời gian của một đời sống. Trong khoảng thời gian của giấc mộng trung bình là đời sống đó, lại có những giấc mộng ngắn hơn nữa, là khoảng thời gian của những giấc mộng mà chúng ta có hằng đêm.

Không phải tất cả các giấc ngủ hằng đêm của chúng ta đều có mộng. Hoặc giả tỉ tất cả các đêm đều có mộng, thì cũng không phải là mỗi sáng thức dậy, chúng ta đều nhớ lại tất cả những giấc mộng đã qua. Thực tế là có người đang ngủ bỗng la lên ú ớ, rồi choàng dậy, mắt nhìn ngơ ngác, tim đập mạnh, hoảng hốt, sợ hãi, vì những hình ảnh trong cơn ác mộng vừa qua. Có người lại rất ít khi mộng thấy có chuyện gì xảy ra, dù mọi người đều có những giấc ngủ đại khái giống nhau. Có người lại thường thấy mộng đẹp, trong mộng còn cười lên nữa. Nhưng khi tỉnh dậy, hỏi họ mộng thấy gì mà vui cười, thì họ ngơ ngác vì không nhớ gì cả.

Giấc mộng dài trung bình là cuộc đời thì cũng vậy thôi. Có một số ít người “thấy” được những chuyện xảy ra trong kiếp quá khứ của dòng sinh mạng, hiện vẫn còn trong Tàng Thức ở không gian. Nhưng có nhiều người không “thấy” được gì cả. Cũng như có những người có khả năng phi thường về lòng thương yêu, hy sinh vì người khác, trong khi lại có những người ích kỷ vô cùng tột, không hề biết giúp đỡ tha nhân là cái gì.

Câu chuyện Người đàn bà đi tìm các con của kiếp trước” (The True story of a Woman Who has Lived Before.) được đài truyền hình BBC và đài ABC, chương trình 20/20 thực hiện, đã nói lên sự “thấy” được quá khứ của người mẹ đi tìm con. Nếu chúng ta không “thấy” được quá khứ của chúng ta, thì cũng có thể hiểu được, rằng chúng ta sống trong thế giới tương đối, không thể có sự tuyệt đối giống nhau, của tất cả mọi người và mọi việc.

Trích Thư Viện Hoa Sen

Cloning và Phật Giáo

Hỏi:

– Nếu Phật đã dạy rằng, vạn vật từ Không mà có, vậy thì tại sao linh hồn sau khi chết lại không trở về Không, mà phải đi lang thang từ kiếp này sang kiếp khác?

Đáp:

Nếu nói rằng “vạn vật từ Không mà có” thì cũng không đúng với quan điểm của đạo Phật. Nhà Phật nói rằng: “Vạn pháp trong thế giới hiện tượng tương đối này đều do nhân duyên hòa hợp mà sanh khởi, cái này sanh thì cái kia sanh. Vì duyên với nhau mà sanh, cho nên khi “cái này diệt thì cái kia diệt”, không có tự thể độc lập của riêng nó, mà sanh diệt tùy thuộc lẫn nhau, chỉ huyễn hiện liên tục, nên còn được phát biểu là : “Vạn pháp đương thể tức không, duyên hợp giả có”. “Có ”nhưng không phải là “thật có”, mà chỉ là “huyễn hiện”, nên gọi là “giả có”.

Nhà Phật quan niệm rằng mỗi dòng sinh mệnh vốn cũng đều từ Tâm, vì một niệm vô minh bất giác khởi vọng mà lưu xuất, vốn từ Tâm chuyển thành Vọng Thức, — nói gọn là Tâm và Thức – bắt đầu dòng sinh tử, rồi từ đó hành động tạo tác, gây nhân thọ quả thiện ác, hình thành nghiệp lực, bị nghiệp lực chi phối, cuốn trôi trong vòng luân hồi sinh tử.

Tâm mênh mông bằng hư không thì Thức cũng mênh mông bằng hư không. Có thể tạm dùng thí dụ cụ thể, dù không đúng hẳn nhưng sẽ giúp dễ hiểu, là ví Tâm với biển cả, Thức với bụi bậm rác rưởi lẫn trong nước biển. Biển rộng mênh mông tới đâu thì rác rưởi cũng trôi nổi tới đó.

Tâm là Bản Thể, thuộc bình diện tạm gọi là tuyệt đối. Thức chỉ là bình diện ô nhiễm của Tâm, còn gọi là thức tâm sinh diệt, thuộc về thế giới hiện tượng tương đối, huyễn hiện theo quy luật “duyên hợp giả có”, tính chất nó là vô thường.

Nhà Phật quan niệm rằng mỗi sinh vật đều do hai thành phần tạo nên, đó là phần tâm thức và phần vật chất, tức là cơ thể chúng sinh. Tâm và Vật duyên sanh trong đời sống. Tâm có thể ví như làn sóng điện và vật chất, thí dụ cơ thể con người, có thể ví như chiếc máy thu thanh. Làn sóng dàn trải trên không gian, máy thu thanh vặn đúng tần số thì bắt được tín hiệu. Khi máy cũ, hư hỏng, không còn sử dụng được nữa, thì mua máy mới, lại tiếp tục vặn lên, bắt làn sóng điện, cũng giống như một sinh vật chấm dứt sự sống thì Thần Thức sẽ lại nhập vào một phôi thai khác để tiếp tục một đời sống mới, do nghiệp lực chi phối, tới tận khi nào tu hành cho tới cảnh mà đức Phật mô tả khi Ngài giác ngộ là:

“Xuyên qua nhiều kiếp sống trong vòng luân hồi, Như Lai thênh thang đi, đi mãi.
Như Lai mãi đi tìm mà không gặp, Như Lai đi tìm người thợ cất cái nhà này.
Lặp đi lặp lại đời sống quả thật là phiền muộn.
Này hỡi người thợ làm nhà,
Như Lai đã tìm được ngươi.
Từ đây ngươi không còn cất nhà cho Như Lai nữa.
Tất cả sườn nhà đều gẫy,
Cây đòn dong của ngươi dựng lên cũng bị phá tan.
Như Lai đã chứng nghiệm quả Vô Sanh Bất Diệt và Như Lai đã tận diệt mọi Ái Dục”. 

Cái sườn của căn nhà tự tạo ấy là những ô nhiễm như tham, sân, si, ngã mạn, tà kiến, những hành động bất thiện, vân vân.

Cây đòn dong chịu đựng cái sườn nhà là vô minh, căn nguyên xuất phát mọi dục vọng.

Giác ngộ là phá vỡ được cây đòn dong vô minh bằng trí tuệ, là đã làm sập được căn nhà.

Nếu chưa giác ngộ mà vì một lý do nào đó, căn nhà đổ nát, có nghĩa là phần vật chất, tức cơ thể của sinh vật chết đi, Thần Thức sẽ bị cuốn hút bởi cận tử nghiệp, là chập tư tưởng cuối cùng, hội nhập nhân duyên quan hệ với cha mẹ tương lai mà đầu thai, bắt đầu một đời sống mới. Như thế, vì chịu sự chi phối của nghiệp báo, cho nên Thần Thức không thể tự do “trở về Không” được.

Muốn “sinh tử tự tại” để có thể “tùy Nguyện mà thọ sanh” như các vị bồ tát đầu thai vào cõi nhân gian để hoàn thành nguyện ước cứu độ chúng sanh, thì bản thân con người phải tu hành cho tới “Tâm tịnh tội tiêu”. Tội đây chính là những điều mình đã tạo tác trong quá khứ, chính là nghiệp báo vậy.

Đạo Phật không cho rằng “có một linh hồn trường tồn bất biến đi trong cõi u minh hoặc đầu thai từ kiếp này sang kiếp khác”, mà chỉ có cái “Thần Thức”, bị dòng nghiệp lực cuốn đi đầu thai vào cái lúc chấm dứt mỗi kiếp sống, hoặc sau khi chết một thời gian ngắn, khi nghiệp và duyên hội đủ điều kiện để đầu thai mà thôi.

Câu hỏi tiếp như sau:

– Nếu con người có linh hồn, thì Phật pháp làm sao để giải thích vấn đề cloning, lấy cell của một người để tạo nên một người mới, con người mới này có xài chung một linh hồn với người donor hay không?

Đáp:

Phật giáo không chấp nhận sự kiện “có một linh hồn trường tồn bất biến” mà mỗi sinh vật đều đươc hình thành bởi hai nguyên tố là phần tâm thức và phần thể xác. Giáo lý của nhà Phật dạy rằng các loài sinh vật có tới 4 cách sanh sản, đó là:

– Thai sanh, là sanh sản bằng bào thai, như người và một số loài vật

– Noãn sanh, là sanh sản bằng trứng, như gà, vịt, chim, … vân vân.

– Thấp sanh, là sanh sản bằng sự ẩm ướt, như các loại côn trùng, mốc … vân vân…

– Hóa sanh, như một số loài sâu, thí dụ con tằm hóa ra con nhộng, rồi hóa ra con ngài mà bay đi, vân vân…

Tất cả những loài này đều không có ai đem linh hồn phân phát cho mầm sống, mà chính là Thần Thức đã hội nhập ngay vào sinh vật để sử dụng cái cơ thể vật chất mới được hình thành. Cơ thể vật chất đó sẽ là công cụ để phần Thức sử dụng trong suốt cuộc đời, cho đến khi cái chết xảy đến, thì Thức sẽ từ bỏ cái công cụ để — nay được gọi là Thần Thức — gá vào một phôi thai nào đó vừa mới thành hình, tùy theo nghiệp lực của dòng sinh tử và nhân duyên từ quá khứ đối với cặp cha mẹ đưa đẩy.

Giáo lý nhà Phật không nói đến chuyện cloning, vì vào thời đức Phật còn tại thế thì chuyện này chưa xảy ra. Nhưng chiếu theo pháp Tứ Y mà đức Phật đã dạy, có câu “Y nghĩa, bất y ngữ”, chúng ta có thể nương theo sự hiểu biết về Phật pháp mà suy luận. Như vậy, để trả lời câu hỏi này, chúng tôi có thể thưa như sau:

– Theo quan điểm của nhà Phật thì cloning thuộc về nhóm “thấp sanh”, vì phôi thai không được hình thành qua sự gần gũi của cha mẹ như là người bình thường thuộc dạng thai sanh. Sự sống của phôi thai là nhờ ở khoa học kỹ thuật, kết hợp hài hòa những điều kiện về ấm áp và ẩm ướt, cùng với sự kích thích khiến cho phôi thai phát triển, tương tự cách sinh trưởng của các nhóm côn trùng, mốc meo, vân…vân.

Cũng như ba loại sinh khác, phôi thai do cloning này cũng có Thần Thức của một dòng sinh mạng, thí dụ từ một sinh vật mới chết, nhập vào. Kể từ giây phút đó, Thần Thức là phần tâm linh của sinh vật mới được cloning này. Tất cả mọi hành vi tạo tác sau này của sinh vật đó, về mặt tâm thức, đều không liên quan gì tới người “gốc” (donor). Không có chuyện “xài chung một linh hồn với người donor”.

Tóm lại, trên đây là vấn đề thành tố của một sinh vật, đứng trên lập trường thuần lý, chiếu theo quan điểm của nhà Phật, gồm có hai phần : “phần vật chất là thể xác và phần phi vật chất là tâm linh”. Như vậy một sinh vật do cloning cũng sẽ sinh hoạt như một người bình thường, có phần vật chất và phần tâm linh riêng biệt, như bất cứ một người bình thường nào, cũng có tâm hồn, có sự suy tư riêng biệt.

Tuy nhiên, mục tiêu của đạo Phật là diệt khổ, nên trước mỗi vấn đề, người Phật tử đều cân nhắc kỹ càng, để tránh tạo nên nỗi đau khổ cho chúng sinh. Trước mắt, chúng ta thấy một người được sanh ra từ cloning dường như không có gì khác với người thường. Nhưng vì bản thân sự kiện cloning nó đã có những sự khác thường đối với đồng loại sinh trưởng bình thường, cho nên chúng ta cần tìm hiểu thêm về vấn đề tâm sinh lý và môi trường xã hội đối với sinh vật ra đời một cách khác thường là cloning, liệu sau này có vì thế mà sinh ra điều gì đáng tiếc cho kiếp người do cloning chăng.

Trong quá trình cloning, người ta lấy một nhân tố di truyền từ một tế bào của donor đem đặt vào một trứng đã được rút nhân tố di truyền ra. Nếu là sinh sản theo thường lệ thì sự kết hợp của hai nhân tố này trong cái trứng của người đàn bà sẽ quyết định sự giống hay khác nhau về hình thể của đứa bé đối với cả cha và mẹ hoặc dòng họ của bên nội và bên ngoại, theo di truyền. Nhưng khi cloning, nhân tố di truyền của người mẹ trong cái trứng đã được lấy ra, chỉ có độc nhất một nhân tố của donor được đặt vào trong trứng, nên phôi thai chỉ tăng trưởng từ một nhân tố di truyền gốc, vì thế sau này cơ thể vật chất của nó sẽ giống y hệt người donor.

Cơ thể trông thì giống hệt, nhưng sự hình thành đã không bình thường, chúng ta cũng chưa có đủ thời gian và dữ kiện để chứng minh rằng cơ thể đó sẽ phát triển bình thường. Trong khoảng thời gian gần một trăm năm của đời người, chưa thể biết sẽ có những biến chuyển nào xẩy tới cho kẻ ra đời do cloning. Đấy là nói riêng về vấn đề cơ thể vật chất.

Về mặt tinh thần, tuy con người đó có một Thần Thức mang theo nghiệp lực gá vào cơ thể để hoạt động, thì nghiệp quá khứ là của dòng nghiệp đó. Nhưng do sự ra đời bất thường, những va chạm trong đời sống do mặc cảm về sự bất thường này có thể xảy ra, sẽ gây nên đau khổ cho người đó và nếu như vì mặc cảm quá sâu sắc, hắn có thể gây nên những nhân ác mới, như những người vốn mang mặc cảm đã gây nên nhiều tội ác trong lịch sử của nhân loại, thí dụ Hitler, …vân vân…. Từ những điều ác mới gây ra do mặc cảm vì sự ra đời bất thường, dòng nghiệp lực của hắn sẽ trở thành xấu đi. Nếu chuyện đó xảy ra thì cũng là một điều đáng tiếc.

Ngoài ra, theo nhận xét của những nhà xã hội học, trẻ em mồ côi, hoặc xuất thân từ những gia đình đổ vỡ, thường dễ nảy sinh mặc cảm cô đơn. Từ mặc cảm, các em có thể phát sinh những phản ứng tiêu cực, dù trên thực tế, mọi người chung quanh đối xử với các em rất bình thường.

Qua suy nghĩ đó, chúng ta có thể dự đoán về đời sống tinh thần của một em bé cloning trong lòng xã hội. Thí dụ có một chuyện xảy ra trong lớp học, một em bé bình thường có thể phát biểu một câu bất thường, cả lớp không thấy có gì lạ, chỉ cho là em bé đó đang có chuyện gì không vui nên phản ứng thế chăng. Nhưng nếu là một em bé cloning, thì mọi người có thể phát sinh ngay một dấu hỏi trong đầu: “Liệu có phải vì nó là đứa bé cloning nên mới sinh ra chuyện này chăng?”.

Hoặc dù cho không ai tỏ thái độ gì, nhưng chỉ tình cờ thôi, một tia nhìn lơ đãng của bạn trong lớp cũng có thể khiến cho em bé cloning vốn đã có mặc cảm, phát sinh ra những tư tưởng tiêu cực. Chuyện kỳ thị chủng tộc, mầu da, vân vân, đã xảy ra và vì thế đã bùng nổ những cuộc đấu tranh dữ dội, đó là vì nạn nhân là một đám đông. Nhưng các em bé từ cloning mà bị kỳ thị, hoặc có cảm giác bị kỳ thị, thì nỗi đau khổ và phản ứng chống đối trong cô đơn sẽ có thể là rất tệ hại và đáng thương biết mấy. Những điều này khi xảy ra sẽ thành nghiệp nhân mới tạo trong kiếp này của dòng sinh mệnh, chứ không phải là nghiệp nhân mà Thần Thức khi gá vào sinh vật cloning đã mang theo từ kiếp trước. Như thế là chúng ta đã góp phần tạo nên nỗi thống khổ cho chúng sinh.

Cloning con người là một vấn đề quá mới mẻ nên chúng ta cũng chưa biết rằng khi các em bé đó lớn lên, những vấn đề khác về cơ thể có diễn tiến bình thường như một người do thai sanh không. Nếu thí dụ qua một vài thế hệ cloning, cơ thể con người vì đã được cấu tạo một cách bất thường, có thể thiếu hoặc dư chất gì đó, mà biến đổi như những trái cây được tháp giống, tuy trông vẫn giống trái nguyên thủy, nhưng hình thể to lớn bội phần.

Côn trùng là loài thấp sinh vẫn bình thường sinh trưởng từ thời cổ đại là vì chúng “thấp sanh” một cách thiên nhiên. Cloning là thấp sanh nhân tạo, sự kiện khác nhau này có nảy sinh vấn đề gì gây nên tai hại là điều các nhà khoa học chưa thể bảo đảm một cách chắc chắn.Vấn đề hiện nay đang làm nhức nhối lương tâm của loài người là nạn nghèo khổ, thất học, thiếu ăn, thiếu nước, chiến tranh, vân vân, … và nhất là nạn nhân mãn, phá thai, tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là tại Phi Châu. Nếu thay vì nghiên cứu để sinh sản ra người do cloning, hãy dùng khả năng khoa học để nghiên cứu phương cách giải quyết những vấn nạn kể trên, khiến cho toàn thể nhân loại đều được sống một cuộc đời đáng sống, có lẽ còn là việc cấp thiết hơn nhiều.

Có một mẩu tin của đài BBC trong tháng 9 năm 2005, như sau:

“Ngồi trong trung tâm nhận đồ ăn của Mauritania, Phi Châu, em bé Mohamed Nour’s – một tuổi – có cái bụng chướng to nhưng không phải là vì chứa thức ăn và xương khớp cổ tay của em thì nhô ra coi còn lớn hơn cả cánh tay em nữa. Ấy vậy mà mẹ em vẫn quả quyết một cách hãnh diện: “Tôi vẫn cho cháu ăn uống đầy đủ, tôi ăn gì thì nó ăn nấy, mỗi ngày một lần. Mới hôm qua chúng tôi đã ăn cháo yến mạch, còn ngày hôm trước và kể cả 3 ngày hôm trước nữa thì chúng tôi ăn cháo bột mì”.

Em bé Mohamed Nour’s này cũng chưa phải là những người dân khốn khổ ở khu vực Đông Nam của Mauritania, phần đất đã lãnh nhận trận mất mùa thê thảm, giết chết hàng ngàn người ở Niger.

Suy dinh dưỡng triền miên là vấn đề lớn nhất ở những vùng như địa phương này. Nó không thuộc loại đói đến chết lăn ngay ra, nhưng nó ẩn tàng trong những bữa ăn thiếu thốn. Các cháu thiếu hầu như tất cả các loại sinh tố và khoáng chất cần thiết để một đứa trẻ có thể tăng trưởng cơ thể và tinh thần một cách bình thường. Tỷ lệ tử vong của nạn suy dinh dưỡng triền miên là cứ 1000 em thì có 109 em bị chết trong tuổi ấu niên, trong khi ở Tây Ban Nha, trong số 1000 em, chỉ có 3 em chết non. Các bà mẹ không nhìn thấy sự nguy hiểm đang rình rập các cháu bé suy dinh dưỡng, vì sự nguy hiểm cứ lùi lũi tiến đến một cách yên lặng. Dù có thấy con mình gầy rạc, nhưng nó không ốm lăn ra, thế là họ yên chí rằng chúng khỏe mạnh rồi. Nhưng thật ra thì đứa bé đang mất dần sức sống và từ từ lăn xuống huyệt mộ.

Trong một thế giới mà sự ngu dốt, nghèo khổ, đói khát còn tràn ngập, có lẽ Phật tử chúng ta cũng thấy cần dành thì giờ, tiền bạc và những bộ óc thông minh để tìm cách cải tiến về nhiều mặt khác, ngõ hầu làm giảm bớt nghèo khổ, tăng trưởng mức sống thì như thế có lẽ lại phục vụ hữu hiệu cho loài người hơn là chuyện cloning.

Nguồn: Thư Viện Hoa Sen

Mời click vào link xem video trình bày bài Cloning và Phật Giáo:

http://www.vietfreefun.com/forum/showthread.php?194553-Cloning-v%C3%A0-Ph%E1%BA%ADt-Gi%C3%A1o

.