Archive | July 19, 2013

Bài 34 – Hủ tục Đốt Vàng Mã

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý khán, thính giả.

Thưa qu‎ý‎ thính giả,

Chúng tôi nhận được thư của một thính giả hỏi về vấn đề đốt vàng mã, xin trích ra như sau:

…”… Vào mùa lễ Vu Lan của đạo Phật, người Trung Hoa và Việt Nam thường đốt rất nhiều tiền vàng và đồ dùng làm bằng giấy, gọi là hàng mã, để gửi xuống âm phủ cho người chết. Xin hỏi rằng phải chăng tục lệ này từ đạo Phật sinh ra, hoặc do đức Khổng tử dạy, hay là do tôn giáo nào mang vào Việt Nam? 

Thưa qu‎ý‎ thính giả,

Tìm hiểu l‎ý lịch vấn đề đồ vàng mã, có lẽ chúng ta phải nhìn ngược lại từ thời mông muội xa xưa, thời mà sự suy nghĩ của con người còn đơn sơ, mới chỉ biết sống túm tụm trong những bộ lạc, đồ dùng thì chỉ có dăm ba món tối cần thiết thí dụ lọ chứa nước, nồi niêu bằng đất, khí giới bằng đá, áo quần bằng da thú, vân vân …. Tóm lại, toàn bộ của cải vật chất chỉ là mấy món đồ đơn giản đủ làm vật dụng sinh nhai hằng ngày và bảo vệ mạng sống trước thú dữ và kẻ thù mà thôi. Ngành khảo cổ đã phát giác ra những ngôi mộ từ thời rất xa xưa, tại đó, lẫn với xương cốt là những món đồ dùng hằng ngày như nồi niêu vò nước vân vân, chứng tỏ chúng đã được chôn theo người chết.

Sau này, theo với đà tiến hóa, lịch sử chôn của cải theo người chết cũng trải qua những bước thăng trầm, có những hồi cực thịnh lên tới mức tối dã man như khi chôn hoặc thiêu cả đến những người còn sống mà sinh thời được người quá cố thương yêu hoặc có những thời nhờ lương tâm thức tỉnh một phần, người ta dùng người giả thay cho người thật, gọi là “mộc nhân thế mạng” (hình người bằng gỗ) hoặc “hình nhân thế mạng” (hình người đan bằng tre dán giấy bên ngoài),và đồ giả gọi là hàng mã thay cho đồ thật để đốt theo người chết. Tuy vậy, cái tư‎ tưởng “thế mạng” vẫn gợi lên hình ảnh dã man về sự giết người, nên Khổng Tử và Mạnh Tử đã nặng lời thống trách rằng: “Kẻ nào sinh ra tục chôn người gỗ theo với người chết là bất nhân” và “Kẻ nào dùng người bù nhìn là tuyệt tự”.

Như thế, vấn đề đốt đồ giả là vàng mã này đã có chiều dài lịch sử gần dài bằng lịch sử loài người, duy không phải trước sau đồng nhất mà biến thiên theo từng thời gian, thoát thai từ chôn đồ dùng thật, chôn sống người thật hoặc hỏa thiêu cho chết theo, hoặc dùng mộc nhân thế mạng, hình nhân thế mạng, dùng đồ bằng giấy thay đồ thật đốt cho người chết, tựu trung cũng từ niềm tin mê muội cộng với lòng xót thương người thân yêu qua đời một cách mù quáng, muốn cho họ có những tiện nghi như khi còn sống mà thôi.

Hành động dã man hỏa thiêu người còn sống trong tang lễ này, lịch sử Việt Nam còn ghi lại câu chuyện đáng buồn xảy ra ở thế kỷ 13, là chuyện Huyền Trân Công Chúa nhà Trần, được gả cho vua Chiêm Thành để đổi lấy 2 châu Ô L‎ý. Chẳng bao lâu vua chết, theo phong tục thì bà phải lên giàn hỏa thiêu chết theo chồng. Nhưng tướng Trần Khắc Chung đã cứu thoát đem về quê hương Việt Nam.

Theo cuốn Champaka số 1 – 1999, người Champa (tức là Chiêm Thành) coi sự việc này là quốc nhục và các vua Champa kế tiếp đã từng dùng vũ lực, vào các năm 1311 – 1312 -1317 – 1318 – 1326 và 1353, để yêu cầu Đại Việt trao trả cho vương quốc này hai châu Ô Lý nhưng không thành.

Sử gia Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt Sử ký Toàn Thư phê phán rằng:

Ngày xưa Hán Cao Hoàng vì nước Hung Nô nhiều lần làm khổ biên cương, mới lấy con gái nhà dân làm công chúa gả cho thiền vu. Kết hôn với người không cùng giống nòi, các tiên nho đã từng chê trách, song dụng ý là muốn binh yên, dân nghỉ, thì còn có thể nói được. Hán Nguyên Đế thì vì chúa Hung Nô là Hô Hàn Tà sang chầu, xin làm rể nhà Hán, nên lấy Vương Tường mà ban cho, cũng là có cớ. Còn như Nhân Tông đem con gái gả cho chúa Chiêm Thành là nghĩa làm sao? Nói rằng nhân khi đi chơi đã trót hứa gả, sợ thất tín thì sao không đổi lại lệnh đó có được không? Vua giữ ngôi trời mà Thượng hoàng đã xuất gia rồi, vua đổi lại lệnh đó thì có khó gì, mà lại đem gả cho người xa không phải giống nòi để thực hiện lời hứa trước, rồi sau lại dùng mưu gian trá cướp về, thế thì Tín ở đâu?

Trong trong Việt Sử Toàn Thư, nhà sử học Phạm Văn Sơn viết:

Việc tướng Trần Khắc Chung lập mưu đưa Huyền Trân trở về nước sau khi Chiêm Vương qua đời, dù sao ta cũng phải nhận là một việc bất tín đối với Chiêm Thành. Vậy thì phản ứng của nước Chiêm là lẽ dĩ nhiên và chính đáng.

Thưa qu‎ý‎ thính giả,

Như thế, niềm tin chôn hoặc thiêu người còn sống, — mà sau này dần dần thay thế bằng đồ giả, gọi là hàng mã, — để tiếp tục làm bầu bạn hoặc hầu hạ người đã chết ở thế giới bên kia không phải là từ đạo Phật hoặc đạo Khổng, mà vốn có từ thời đại cổ xưa, khi sự suy nghĩ của con người còn quá đơn giản.

Để qu‎ý‎ thính giả thấu triệt vấn đề này, chúng tôi xin trích đăng bài giảng của hòa thượng Thích Tố Liên, một vị danh tăng của Phật giáo Việt Nam. Ngài là một trong những cột trụ của Phong Trào Chấn Hưng Phật Giáo ở miền Bắc, trong việc thành lập Tổng Hội Phật giáo Việt nam trên Toàn Quốc và trong công cuộc thành lập Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới vào những năm giữa thế kỷ 20. Ngài vốn dòng dõi Nho gia, đi tu từ trẻ, Phật học và Khổng học đều uyên thâm. Hòa thượng dạy rằng:

…”… Ở đời, cái gì cũng phải có nguyên nhân mới có kết quả, tục đốt vàng mã cũng vậy.

Đọc kinh Dịch nhà Nho, chúng ta thấy rằng tục chôn người chết của người Trung Hoa về đời thượng cổ, một khi có người chết cứ để thế đem chôn, không quan không ván, lại cũng không khoanh phần mộ gì cả.

Đến đời vua Hoàng đế (2679 trước Tây Lịch) mới cho rằng: “Con cháu đối với ông bà, cha mẹ trong việc mai táng cẩu thả như thế là thiếu bổn phận”, bèn mới sai ông Xích Xương sáng chế ra quan, quách để chôn cất. Trải qua đời Hoàng đế, đến đời Đường Ngu, tục lệ chôn cất người chết vẫn chỉ có thế.

Nối nhà Ngu là nhà Hạ (2205 trước Tây Lịch), người Trung Hoa mới bắt đầu dùng đất sét nặn làm mâm bát, dùng tre gỗ làm nhạc khí, như chuông khánh, đàn sáo v.v… để chôn theo người chết. Các đồ vật đó được gọi là minh khí, hoặc gọi là quý khí, tức là những đồ vật đem chôn theo cho thần hồn người chết dùng ở âm phủ, lễ nhạc đối với người chết bắt đầu có từ đấy.

Đã chế ra đồ dùng cho người chết, tất nhiên phải có kẻ hầu hạ người chết, thế là người ta lại chế ra người bù nhìn bằng gỗ đem chôn theo người chết. Đến đời nhà Ân (1765 tr.TL), lại không dùng mâm, bát, đồ đất và nhạc khí bằng tre, gỗ để chôn theo người chết nữa, họ dùng toàn đồ thật chôn theo.

Đến đời nhà Chu (1122 trước Tây Lịch), người Trung Hoa đã bắt đầu văn minh hơn; cố nhiên lễ nhạc đối với người chết cũng được ăn nhịp mà tiến bộ, đối với người chết, đã được người sống phân ra giai cấp sang, hèn trong việc thực hiện lễ nghi chôn cất. Từ vua cho đến các quan lớn khi chết đi, sẽ được dùng cả đồ vật giả theo lệ nhà Hạ và đồ vật thật theo lệ nhà Ân để chôn theo các vua chúa đã chết; còn từ hạng sĩ phu tới bình dân, khi chết chỉ được chôn theo độc nhất một thứ đồ giả thôi. Nếu người hèn hạ nào mà dùng lễ nghi ngang với người sang, tức khắc phải tội “tiếm lễ”.

Không những thế, dã man nhất, độc ác nhất là người ta còn bịa đặt ra những “tuẫn táng”; nghĩa là khi các vua và các quan lớn chết đi, từ vợ con đến bộ hạ của các vua, các quan lớn, đồ yêu quý của người chết khi còn sống, sẽ phải đem chôn sống để làm đồ dùng khi đã chết.

Sách Tả Truyện chép: “Đời vua Văn Công thứ sáu, vua Trần Mục Công tên là Hiếu Nhân chết, ba anh em họ Tứ Xa là Yểm Tục, Trọng Hành và Chàm Hổ đều bị chôn sống theo Mục Công. Người trong nước tỏ lòng thương tiếc ba anh em họ Tứ Xa là người hiền đức, mới làm ra thơ Hoàng Diệu để tỏ ý than vãn, mỉa mai. Trong thơ đại ý nói: “Ba anh em họ Tứ Xa đều là những người hiền đức gấp trăm nghìn người khác, trời đất ơi! Sao nỡ đem chôn sống để đi theo người đã tận số là Mục Công. Nếu ba trăm người như chúng tôi này được chết theo Mục Công để thế mạng cho ba người hiền đức ấy, chúng tôi rất vui lòng mà chết thay”.

Về sau người ta cũng nhận thấy đem người sống chôn theo với người chết là vô nhân đạo, mới chế ra người cỏ Sô Linh. Rồi vì người cỏ không được mỹ thuật, người ta lại dùng đồ gỗ “mộc ngẫu” như trước. Sách Trang Tử chép: “Đời vua Mục vương nhà Chu (1001 trước Tây Lịch) có người tên là Yến Sư chế ra người cỏ để chôn theo người chết. Đức Khổng Tử đọc đến chuyện này liền than rằng: “Kẻ nào sinh ra tục chôn người gỗ theo với người chết là bất nhân”. Thầy Mạnh Tử cũng đau buồn với tục hình nhân thế mạng mà nguyền một câu rằng: “Kẻ nào dùng người bù nhìn là tuyệt tự”.

Đến thời nhà Hán, giới trí thức Nho học cảm động trước lời cự tuyệt thống thiết của Khổng Tử và Mạnh Tử trong tục lệ dùng người sống chôn theo với người chết, mới bỏ tục lệ “tuẫn táng”, không dùng người sống chôn theo với người chết nữa mà làm nhà mồ để cho vợ, con, tôi, tớ người đã chết ra để săn sóc mộ. Còn các đồ ăn mặc của người chết kia, khi còn sống dùng những thứ gì, khi chết cũng đem chôn theo hết. Ngôi nhà mồ kia muốn cho thêm oai vệ, người ta lại đục phỗng đá, voi, ngựa đá để bài trí chung quanh phần mộ.

Từ đời Hán Hoa đến năm Nguyên Hưng nguyên niên (105), ông Thái Lĩnh bắt đầu lấy cỏ cây dó và vải rách, lưới rách đem chế ra giấy. Đã có giấy, ông Vương Dũ liền chế ra vàng bạc, quần áo v.v… đều bằng đồ giấy để cúng rồi đốt đi để thay thế cho vàng bạc và đồ dùng thật trong tang ma, tế lễ. Sách Thông Giám cương mục chép: “Vì vua Huyền Tôn mê thuật quỷ thần mới dùng ông Vương Dũ làm quan thái thường bác sỹ để coi việc chế vàng mã dùng trong khi nhà vua có tế lễ. Chúng ta có thể liệt Vương Dũ vào hàng thủy tổ nghề vàng mã được”.

Trong Phật giáo, đức Phật Thích Ca không hề dạy đốt vàng mã để cúng gia tiên. Thế thì tại sao ngày Rằm tháng Bảy là ngày lễ trọng thể của Phật giáo, mà một số tín đồ nhà Phật đốt rất nhiều vàng mã để kính biếu gia tiên?

Nguyên nhân đốt vàng mã vào ngày rằm tháng Bảy là thế này, vào thời vua Đạt Tôn nhà Đường (762 Tây Lịch) bên Trung Hoa, nhằm lúc Phật giáo cực thịnh, một vị sư tên là Đạo Tăng muốn cho dân chúng theo Phật giáo, bèn lợi dụng tục đốt vàng mã của người dân, vào tâu với nhà vua rằng: “Rằm tháng Bảy là ngày của Diêm Vương ở âm phủ xét tội phúc thăng trầm, nhà vua nên thông sức cho thiên hạ, trong việc lễ cúng gia tiên vào ngày Rằm tháng Bảy nên đốt nhiều vàng mã để cúng biếu các vong nhân dùng.

Vua Đạt Tôn đương muốn được lòng dân nên rất hợp ý với lời tâu của Đạo Tăng, liền hạ chiếu cho thiên hạ. Thế là nhân dân Trung Hoa lại được dịp thi nhau đốt vàng mã vào ngày Rằm tháng Bảy để kính biếu gia tiên. Nhưng chẳng bao lâu lại bị giới Tăng sĩ Phật giáo công kích bài trừ, vì cho rằng việc đốt vàng mã vào ngày lễ trọng của Phật giáo đã làm cho cái lệ ngày Rằm tháng Bảy không còn có chính nghĩa nữa.

Phần lớn dân chúng Trung Hoa hồi đó đã tỉnh ngộ, cùng nhau bỏ tục đốt vàng mã, làm cho các nhà chuyên sinh sống về nghề sản xuất vàng mã gần như bị thất nghiệp, nhất là người tên Vương Luân, dòng dõi của Vương Dũ, đã bịa đặt chế ra đồ vàng mã.

Thất nghiệp, Vương Luân mới bàn cùng với các bạn đồng nghiệp âm mưu phục hưng lại nghề nghiệp hàng mã. Một người giả cách ốm mấy hôm, rồi tin chết được loan ra, còn cái xác giả chết kia lập tức được khâm liệm vào quan tài, đã có lỗ hổng và sẵn sàng thức ăn, nước uống. Đương khi xóm làng đến thăm viếng đông đúc, Vương Luân với gia nhân và họ hàng của ông, đem hàng ngàn thứ đồ mã trong đó có cả hình nhân thế mạng ra cúng người chết. Họ bày đàn cúng các quan thiên phủ, địa phủ và nhân phủ.

Trong khi mọi người đang suýt xoa khấn khứa, bỗng trăm nghìn mắt như một, trông thấy hai năm rõ mười, cỗ quan tài rung động lên. Bấy giờ, Vương Luân đã đứng sẵn bên quan tài. Chàng giả chết kia cũng lò dò ngồi dậy, trông trước, trông sau, mới bước từ quan tài ra, với điệu bộ như người chết đi sống lại, rồi thuật chuyện với công chúng rằng:

– “Các thần thánh trong tam, tứ phủ vừa nhận được hình nhân thế mạng cho tôi, với tiền bạc và đồ mã, nên mới tha cho ba hồn bảy vía của tôi được phục sinh về nhân thế”.

Công chúng lúc đó ai cũng tưởng thật, cho rằng hình nhân có thể thế mạng được và thánh thần trong tam, tứ phủ cùng ăn lễ đồ mã, tăng phúc, giảm tội và cho tăng thêm tuổi thọ.

Từ đấy các nghề hàng mã lại được phục hưng một cách nhanh chóng vì không những linh hồn các gia tiên dùng vàng mã, mà đến cả thiên, địa, quỷ, thần trong tam, tứ phủ cũng dùng đồ giả, thì dĩ nhiên là vàng mã phải đắt hàng. Chuyện này còn chép rõ ràng ở sách Trực Ngôn Cảnh Giáo.

Như thế, chúng ta nên thẳng thắn nhìn nhận rằng: “Bịa đặt ra tục mê tín, dị đoan, làm hình nhân thế mạng vào lễ tam, tứ phủ để đầu độc mê tín đến ngày nay là bắt đầu từ Vương Luân”. Người Trung Hoa đã bị cái bả mê tín vàng mã do Vương Luân đầu độc đến nay đã được gần hai ngàn năm. Dân tộc Việt Nam chúng ta mê tín cũng chẳng kém, vì trước đây chúng ta bị họ đô hộ hơn 1.000 năm. Phong tục của người họ như thế nào, người mình cũng dập theo đúng khuôn khổ như vậy, bất luận hay, dở, phải, trái, tà, chính. Đó là do cái tính cẩu thả, phụ họa của người mình.

Nếu chúng ta đã thừa nhận tinh thần của dân tộc Việt Nam đều nhờ Phật giáo và Nho giáo đào tạo nên, vậy thì xin hỏi giới trí thức Việt Nam: “Hiện tại có ai tìm thấy Phật giáo và Nho giáo dạy về thuyết đốt vàng mã ở kinh sách nào? Nếu không tìm thấy tục đốt vàng mã do Phật giáo hay Nho giáo truyền dạy, tôi xin thiết tha yêu cầu người Việt Nam ta bỏ tục đốt vàng mã đi, và khuyên mọi người cùng bỏ tục ấy.”

Thưa qu‎ý thính giả,

Trên đây là lời giảng dạy tha thiết của hòa thượng Thích Tố Liên. Ngài là bậc uyên thâm Phật học và Nho học. Ngài đã nghiên cứu kỹ lưỡng và quả quyết rằng tục đốt vàng mã không do đạo Phật hoặc Khổng Tử bày ra, mà từ rất nhiều nguồn gốc, tựu trung đều do thói tật mê tín.

Theo sách Trung Dung của nhà Nho, đức Khổng Tử dạy: “Kính kỳ sở tồn, ái kỳ sở thân, sự tử như sự sanh, sự vong như sự tồn”, có nghĩa là “dù cha mẹ đã qua đời, người con có hiếu vẫn nhớ lời dạy bảo của cha mẹ như khi các người còn sống, thương kính những người mà khi còn sinh tiền cha mẹ đã thương kính”. Được hỏi về vấn đề con người sau khi chết, Khổng Tử dạy: “Bất tri sinh yên tri tử” có nghĩa là “chưa biết rõ về đời sống làm sao biết về việc sau khi chết”. Được hỏi về cách ứng xử với quỷ thần, Ngài dạy: “Kính quỷ thần nhi viễn chi” , có nghĩa là “kính trọng quỷ thần, nên tránh xa”. Điều đó nói lên quan điểm nhân bản và thực tế của Không Tử, muốn đời sống trở nên tốt đẹp, tạo dựng hạnh phúc cho kiếp người, không lan man về những điều huyền hoặc xa vời.

Thưa qu‎ý‎ thính giả,

Chúng tôi xin cảm ơn qu‎‎ý vị đã gửi câu hỏi cho chúng tôi và mong ước được quý vị tin cậy mà gửi các câu hỏi tiếp theo. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.

Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 33 – “Hoa” trong cuộc đời

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi nhận được thư của bà Hoàng Ngọc Mỹ hỏi về một vấn đề thiết thực trong đời sống, xin trình bày với qu‎ý‎ thính giả để chúng ta cùng nhau thảo luận.

Kính thưa qu‎ý‎ vị,

Trong thư, bà Hoàng Ngọc Mỹ hỏi như sau:

“Mẹ tôi hiện đang bệnh nặng nằm trong nhà thương, có thể sẽ ra đi bất cứ lúc nào. Chúng tôi có người bạn là một Phật tử thuần thành cho biết rằng nếu trong tang lễ mà chúng tôi nhận đồ phúng viếng thì mẹ tôi sẽ mang nghiệp nợ nần, có nhận của người ta thì phải trả người ta, chết rồi không trả được thì những kiếp sau tái sinh sẽ phải trả tất cả những món nợ đồ phúng viếng đó, từ tiền bạc nhang đèn cho tới vòng hoa viếng mẹ tôi. Vì thế gần đây có những đám tang người ta ghi là “Xin miễn phúng điếu kể cả vòng hoa” là để người chết khỏi vướng vào nghiệp nợ nần.

Xin giúp ý kiến sớm để chúng tôi biết nên ứng xử thế nào, nhất là gia đình tôi đông anh chị em, bạn bè, thông gia nhiều, phần lớn theo lối xưa, rất tôn trọng nghi lễ, chắc chắn sẽ phúng điếu ít nhất là vòng hoa. Ngoài ra, chúng tôi có nên đặt sẵn trên bàn thờ cái hộp để đựng tiền và tấm giấy ghi rõ “Tiền phúng điếu sẽ tặng các hội từ thiện” để khỏi mắc nợ chăng?

Kính thưa qu‎ý thính giả và bà Hoàng Ngọc Mỹ,

Kinh Tăng Nhất A Hàm dạy “Tác Ý là Nghiệp”. Như vậy, chúng ta có thể tóm tắt rằng theo giáo l‎‎ý nhà Phật về Nghiệp thì “khởi Tâm, tác Ý là tạo Nghiệp”, ngược lại, nếu “không khởi Tâm, tác Ý thì không tạo Nghiệp.

Trường hợp người đã qua đời không Tác ‎‎Ý trong việc những người khác đến phúng viếng thì không hề tạo ra nghiệp, không gieo nhân trả quả gì cả.

Để qu‎ý‎ thính giả thấu triệt vấn đề Nghiệp, chúng tôi xin lược trích lời giảng của ngài Narada Maha Thera viết trong cuốn The Buddha and His Teachings, do cư sĩ Phạm Kim Khánh dịch như sau:

“Karma, Nghiệp, theo đúng nghĩa của danh từ, là hành động, hay việc làm. Định nghĩa cùng tột của Nghiệp là Tác Ý. Tư tưởng, lời nói, việc làm, thường khởi xuất do “ý muốn làm” tạo động cơ. Phật Giáo gọi ý muốn làm ấy là Tác Ý. Tất cả những hành động có tác ý, dầu biểu hiện bằng thân, khẩu, hay ý , đều tạo Nghiệp. Tất cả những hành động có tác ý, thiện hay bất thiện, đều tạo Nghiệp.

Đức Phật dạy:

“Nầy hỡi các Tỳ Khưu, Như Lai xác nhận rằng chính Tác Ý là Nghiệp. Do có ý muốn mới có hành động, bằng thân, khẩu hay ý “.

Một vài hệ thống tín ngưỡng cũng nhìn nhận rằng mọi chênh lệch trong xã hội đều do Nghiệp, nhưng khi đề cập đến Nghiệp, lại chủ trương rằng mọi hành động, dù có tác ý hay không, đều tạo Nghiệp.

Theo chủ trương ấy, một người giết cha, giết mẹ dầu cố tâm hay vô ý, đều phạm trọng tội như nhau. Cũng như đối với lửa, dầu vô tình hay cố ý thọc tay vào lửa thì phải bị phỏng như nhau, không hơn không kém.

Lập luận như vậy dĩ nhiên sẽ đưa đến một định thức phi lý. Đứa bé trong bào thai vô tình làm cho mẹ đau đớn, hay bà mẹ do vô ý làm đau đứa con trong lòng mình, chẳng lẽ cũng tạo Nghiệp bất thiện chăng?

Trong sự báo ứng của Nghiệp, Tâm là yếu tố tối quan trọng. Tất cả những việc làm, lời nói và tư tưởng đều do Tâm ảnh hưởng. “Khi không điều phục được Tâm tức nhiên không thể kềm chế được việc làm, lời nói, và tư tưởng. Điều phục Tâm tức kềm chế thân, khẩu, ý.”

“Chính Tâm dẫn dắt thế gian, chính Tâm lôi kéo thế gian; và tất cả mọi người đều làm chủ cái Tâm.”

Kinh Pháp Cú có câu:

“Tâm dẫn đầu mọi hành động. Tâm là chủ. Tâm tạo tác tất cả. Nếu nói hay làm với tâm ác thì do đó, đau khổ sẽ theo liền với ta như bánh xe lăn theo dấu chân con bò kéo xe.”

Trên đây là lời giảng của ngài Narada Maha Thera.

Thưa qu‎ý‎ thính giả,

Như thế, qu‎‎ý vị hẳn đã thấy rõ là theo giáo l‎ý‎ nhà Phật, người chết không Tác ‎Ý‎ vào việc mua vòng hoa phúng viếng, cho nên không vay nợ ai, sẽ không phải trả nợ ai.

Nếu nói rằng mỗi khi tặng quà cho ai là gieo nợ cho người ta hoặc nhận quà của ai là mắc nợ người ta, chưa kịp trả mà chết bất tử thì sẽ phải trả trong những kiếp lai sinh, thì có lẽ cả cái xã hội loài người sẽ phải xét lại rất nhiều vấn đề.

Thí dụ về vấn đề lễ nghi trong đời sống, người Việt Nam chúng ta vẫn còn duy trì một số tập tục theo truyền thống văn hóa, thí dụ tặng quà lẫn nhau nhân dịp Tết, tặng thân bằng quyến thuộc trà bánh trong lễ hỏi, tiền mừng trong đám cưới, quà mừng mới sanh em bé, tặng hoa mừng khai trương, hoặc theo các phong tục của người Tây Phương như tặng cha mẹ anh chị em áo quần đồ dùng đặc biệt trong dịp mở quà lễ Giáng Sinh, tặng quà tặng hoa mừng sinh nhật, mừng kỷ niệm nhân dịp gì đó, tặng hoa chào đón khách từ xa mới tới, chàng rể tặng hoa cho cô dâu, mở tiệc rượu mừng thăng chức, mừng họp mặt, rất nhiều cơ hội để tiêu tiền, với những món tiền lớn, những chai rượu đắt giá, những áo quần giầy dép theo thời trang lên đến năm bảy trăm hoặc hàng ngàn dollars.

Tất cả những chi tiêu kể trên đều là những chuyện hằng ngày trong đời sống xã hội, nhất là tại những nơi có nền kinh tế tương đối ổn định. Cùng với những chi tiêu đó, người ta cũng thiết lập những hội từ thiện, những nhóm thiện nguyện để làm những việc giúp đỡ người nghèo khổ, tật nguyền, những trường hợp cần thiết, thiên tai, động đất, bão lụt.

Việc giúp đỡ lẫn nhau trong xã hội là bổn phận của mọi người, động lòng trắc ẩn trước những hoàn cảnh thương tâm, gửi tặng phẩm giúp đỡ là việc bình thường, chính những việc đó cùng với mọi sinh hoạt phải chi tiêu tạo thành đời sống xã hội. Cho nên chúng ta không thấy những lời kêu gọi ngưng chi tiêu vào các việc kể trên để dùng tiền làm việc thiện. Bởi vì mọi việc đều có những l‎ý‎ do để tồn tại.

Tuy nhiên, trong khi không có ai thắc mắc đề nghị gì về tất cả các loại chi tiêu, dù đôi khi có thể coi là hoang phí, nhưng lại nổi lên những lời kêu ca than vãn, nhân danh làm việc thiện để đòi ngưng phúng điếu người qua đời.

Vậy phúng điếu có ‎ý nghĩa như thế nào trong văn hóa Đông Phương?

Thưa qu‎ý‎ thính giả,

Phần lớn phong tục tập quán về nghi lễ của dân tộc chúng ta bắt nguồn từ Nho học. Sách Trung Dung của Khổng Tử dạy rằng: “Thờ kính cha mẹ lúc chết rồi cũng như lúc còn sống, kính trọng những người cha mẹ đã kính trọng, qu‎ý mến những người cha mẹ đã quý mến”. Cho nên tang lễ cha mẹ thường được con cái lo liệu rất tươm tất, gọi là báo hiếu công lao dưỡng dục lần cuối, thậm chí suốt 3 ngày sau khi hạ huyệt, con cháu còn dựng lều ở lại ngoài mộ cho vong hồn cha mẹ khỏi bơ vơ sợ hãi.

Mới chỉ khoảng năm, sáu chục năm trước thôi, tang lễ cha mẹ còn được con cái cử hành rất long trọng. Chúng tôi nhớ lại dịp tham dự một tang lễ mà hình ảnh vẫn còn bàng bạc trong tâm.

Đó là tang lễ mẹ thầy hiệu trường trường Tiểu Học mà chúng tôi đang theo học lớp Nhì. Đám học trò chúng tôi chia thành từng nhóm nhỏ bước vào chiếu lạy 2 lạy và 1 vái, theo lời thày giáo dặn. Trong khi chúng tôi xụp lạy thì thày hiệu trưởng và các con đứng ngay bên cạnh bàn thờ cụ thân mẫu cũng xụp xuống lạy chúng tôi 1 lạy. Sau này ra ngoài, chúng tôi được thày giáo giảng cho biết rằng:

– Chúng ta lễ cụ 2 lễ không phải là lễ cái xác mà là vinh danh công đức cụ nuôi dạy con nên người đóng góp công ích cho xã hội là thày hiệu trưởng.  Thày hiệu trưởng đáp lễ không phải là lạy chúng ta mà là để trả hiếu đối với mẹ, cảm tạ sự cung kính của chúng ta khi vinh danh mẹ thày.

Không chỉ thân nhân người quá cố mang khăn tang mà hàng xóm và bạn bè thân tại các làng quê còn theo truyền thống văn hóa cổ cũng để tang nhau 3 ngày, cho tới khi hạ huyệt xong xuôi rồi mới cởi bỏ.

Như thế, sự phúng điếu đối với nền văn hóa Đông Phương mang những ‎ ‎ý nghĩa rất sâu sắc, là biểu tượng của tấm chân tình gắn bó từ trong gia đình ra tới ngoài xã hội, chòm xóm.

Truyền thống phúng viếng tiền là những cách tương trợ lẫn nhau trong trường hợp tang chủ thanh bạch, hoặc phúng điếu đối, trướng là dịp để viết lên những lời ca ngợi vinh danh người qua đời.

Ngoài ra còn có những hình thức phúng tiền, nhưng thực tế không phải là phúng điếu, mà là góp tiền để làm việc ân nghĩa, thí dụ trong tang lễ thày học thời xưa, thày đối với trò như cha đối với con, khi thầy qua đời thì bổn phận tất cả các học trò, dù nay đã làm quan lớn, hay chỉ là một người nghèo, cũng phải tùy tâm đóng góp để tang lễ thày được chu đáo. Hoặc trong các nhóm bạn bè, nếu có ai gặp chuyện tang chế, cần tiền gấp, thì xúm nhau lại góp thành một món, đưa cho tang chủ, đó là tiền tương trợ lẫn nhau.

Dần dần, cùng với sự tiến bộ trong tổ chức xã hội, người ta thành lập các hội tương tế như hội Quảng Thiện Tương Tế, hội Hợp Thiện Tương Tế, hội Việt Nam Tương Tế vân vân. Từ đó, sự đóng góp để tương trợ có quy củ và tiện lợi, mọi người gia nhập hội và khi cần sẽ có hội góp trả lại khoản tiền trang trải cần thiết.

Còn một loại phúng điếu trong trường hợp người qua đời là thân nhân của quan lớn, thì các thuộc hạ cũng đóng góp những món tiền, gọi là phúng điếu, nhưng đích thực là một hình thức hối mại quyền thế, những quan chức tham nhũng nhìn vào phong bao tiền gọi là phúng điếu đó để nâng đỡ cất nhắc cho thuộc hạ. Chuyện này không xảy ra nơi các quan thanh liêm vì họ từ chối không nhận phúng điếu bằng tiền.

Sau này, chuyện phúng điếu bằng tiền ít dần, vì trường hợp cần hỗ trợ tiền đã giảm bớt. Phúng đối, trướng cũng hiếm vì chỉ còn lại rất ít người biết đọc và viết chữ Nho. Thay vào đó người ta dùng vòng hoa phúng điếu. Trên mỗi vòng hoa có quàng một băng vải viết tên người hoặc nhóm người chia buồn với tang gia và lời chúc lành cho hương linh người quá cố.

Có thể tạm coi như vòng hoa phúng điếu làm nhiệm vụ của những bức trướng, đối, nói lên sự liên hệ cuối cùng giữa người còn sống với người đã chấm dứt sự sống, đã vĩnh viễn ra đi  không bao giờ còn gặp lại.

Thưa qu‎ý‎ thính giả,

Những nhận định đúng, sai, hay, dở, trong thế gian đều không phải là chân l‎ý‎ tuyệt đối, đều chỉ là quy ước trong từng xã hội, từng thời đại. Điều xã hội này, dân tộc kia cho là đúng, là phải, chưa chắc đã được các dân tộc khác hoan nghênh. Có những bộ lạc thời xưa khi gả con gái, họ được nhà trai bồi thường con bò, con trâu, rất thực tế, hợp l‎ý. Mất một lao động thì có lao động khác bù vào. Tục lệ đó còn kéo dài cho mãi tới hằng ngàn năm, chuyển dần từ con vật sống thành con vật làm món ăn, thành con heo quay dẫn cưới sau này.

Dần dần, trải qua một thời gian dài, nền văn minh của nhân lọai đã chuyển nếp suy nghĩ của loài người từ thuần vật chất, miễn có miếng ăn để mà sống, có hang động chui vào tránh mưa nắng, che thân để khỏi chết rét, trốn hùm beo thú dữ, nay đã tiến lên thành ra những nền văn hóa ẩm thực, những nền văn minh kiến trúc, nền nghệ thuật thời trang, lấy ngon, lấy đẹp, lấy ấn tượng làm tiêu chuẩn.

Từ suy nghĩ đó, chúng ta nhìn vào vấn đề “có nên nhận sự phúng điếu tiền và vòng hoa chăng?”

Trước nhất, chúng ta bàn về cái hộp đựng tiền phúng điếu đặt trên bàn thờ hoặc bên cạnh bàn thờ với lời cáo bạch “Tiền phúng điếu sẽ tặng các hội từ thiện”

Về điều này, chúng tôi xin thưa rằng nếu tang gia muốn dùng tiền phúng điếu để tặng hội từ thiện thì khi khách đến viếng tang đưa ra bao thư, cứ thản nhiên nhận rồi sau khi tang lễ xong xuôi, sẽ dùng số tiền đó làm việc thiện.  Tiền người ta đã phúng tang lễ thì thuộc quyền sở hữu của tang gia, muốn tiêu vào đâu hoàn toàn tùy ‎ý, không cần phải thông báo cho mọi người biết rằng “chúng tôi không dùng tiền của qu‎ý‎ vị mà sẽ đem tiền này làm chuyện từ thiện”. Đó là cách nói lịch sự, nhưng thực tế có nghĩa là “chúng tôi không cần tiền của qu‎ý‎ vị mà sẽ đem tiền này cho kẻ khó”.

Như thế thì quả thật đã phụ lòng người tới phúng viếng, muốn tỏ chút tâm thành với người đã khuất biết là bao!

Có người lại cho rằng để sẵn cái hộp như thế sẽ khuyến khích người khác làm việc thiện. Nếu với ‎ý‎ nghĩ đó mà để cái hộp trên bàn thờ người quá vãng thì quả là thiếu tế nhị, là mặc nhiên coi như khách chưa biết làm việc thiện, cần được một bài học. Thực tế, ngày nay có rất nhiều người đang âm thầm làm nhiều việc thiện mà không khoe khoang nên mọi người không biết, đó là cách bố thí ba-la-mật, bố thí Tam Luân Thể Không của nhà Phật.

Trong xã hội tân tiến ngày nay, chúng ta có rất nhiều cuộc gây qũy để làm việc thiện, đều rất đáng được hoan nghênh. Tuy nhiên, tang lễ là một nghi lễ vô cùng quan trọng, thiêng liêng, là giây phút đau đớn tử biệt sinh ly, những người thân yêu sẽ xa cách nhau muôn đời, chúng ta nên giữ bầu không khí trang nghiêm, thanh tịnh, không nên coi như một cơ hội để gây quỹ, để kiếm tiền.

Cũng nên tránh cảnh ngỡ ngàng cho khách đi viếng tang không định đưa tiền, nay nhìn thấy cái hộp đâm ra sượng sùng với cảm giác như mọi con mắt chung quanh bàn thờ đang nhìn mình coi có bỏ tiền vào hộp chăng, mà bản thân lại có thói quen dùng thẻ tín dụng khi chi tiêu, nên không đem theo tiền mặt để có thể bỏ đại vào hộp tờ giấy bạc cho khỏi ngượng.

Thưa qu‎ý‎ thính giả và bà Hoàng Ngọc Mỹ,

Tóm lại, chúng tôi xin góp ‎‎ý rằng:

Về tiền, bà có thể thông báo dứt khoát là “Xin miễn phúng điếu tiền mặt”. Trường hợp lỡ có ai cứ đưa tiền mà gia đình không cần dùng tới thì cũng cảm ơn người ta và để riêng ra, sau tang lễ sẽ lặng lẽ đem số tiền đó đi tặng các cơ quan từ thiện, như thế là bố thí ba-la-mật, không phải là bố thí vì muốn khoe khoang sự cao cả của mình, nói gọn là khoe khoang cái Tôi, cái Bản Ngã.

Cũng xin thưa rằng sẽ không có ai, kể cả người qua đời, phải trả nợ Nghiệp vì qu‎ý‎ vị không Tác Ý đòi ai đưa tiền. Tuy nhiên, trong xã hội con người với nhau, có qua có lại, người ta đưa lễ khi nhà mình có tang thì khi nhà người ta có tang mình cũng đưa lễ theo phép xã giao, không phải là trả nợ.

Về hoa, chúng tôi thiết nghĩ trong bất cứ lễ nghi nào cũng đều trang hoàng bằng hoa và nghi thức cúng bái bằng hương, gọi là hương hoa. Có người nói rằng vì đám tang chỉ có vài ngày là liệng bỏ hoa nên phí. Nếu nói như thế thì trong thực tế, có nhiều trường hợp hoa chỉ được dùng một thời gian ngắn hơn, thí dụ bó hoa chú rể tặng cô dâu, chỉ vài giờ là liệng bỏ, những xe hoa đi diễn hành ngoài đường phố mà giá thành mỗi cái lên đến hàng trăm ngàn dollars, có khi tới vài trăm ngàn, cũng chỉ dùng trong một ngày, hoặc những buổi lễ lớn tổ chức nơi công cộng dùng hoa để trang trí cũng chỉ tồn tại một ngày là tối đa, qua hôm sau hoa sẽ bị vứt bỏ khi quét dọn.

Trường hợp hoa trong nhà quàn, hoa đã làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng của kiếp hoa, là tỏa hương thơm ngát để thay thế người đã nằm xuống tiếp đón những người thân tới thăm nhau lần cuối cùng, rồi từ nay xa cách muôn trùng. Còn đâu nữa chén trà thân ái đưa vào tận tay nhau, còn đâu nữa nụ cười cảm thông trìu mến, tất cả đã qua đi, đã trôi vào dĩ vãng, chỉ còn quanh quất đâu đây hình bóng nụ cười của người quá cố bàng bạc trong không gian mênh mông bát ngát hương thơm.

Chúng ta nỡ nào tước bỏ những bông hoa tiễn biệt cuối cùng đưa người về nơi vĩnh cửu, có chăng thần thức còn phảng phất trong làn khói hương quyện với mùi hoa thoang thoảng, trong tiếng cầu nguyện êm đềm nhè nhẹ bên những người thương yêu đã xa cách ngàn đời.

Thưa qu‎ý‎ thính giả,

Chúng tôi xin cảm ơn qu‎‎ý vị đã gửi câu hỏi cho chúng tôi và mong ước được quý vị tin cậy mà gửi các câu hỏi tiếp theo. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.

Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 32 – Tác hại của Tây Du Ký

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

 Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi nhận được thư của ông Phạm Ngọc Tuấn, trong thư có câu hỏi xin nêu ra sau đây để chúng ta cùng nhau thảo luận::

“Trong lễ Hồng Danh Sám Hối, chúng tôi niệm danh hiệu “Nam mô Đấu Chiến Thắng Phật”. Theo truyện Tây Du, sau khi cùng với Sư Phụ là thày Huyền Trang sang Tây Trúc thỉnh kinh, ngài Tôn Ngộ Không được phong là Đấu Chiên Thắng Phật. Vậy Đấu Chiến Thắng Phật Tôn Ngộ Không này có phải chính là vị Phật trong kinh Hồng Danh Sám Hối không?”

Kính thưa qu‎‎ý vị,

Lời đầu tiên, chúng tôi xin cảm ơn ông Tuấn, vị thính giả đã nêu ra một câu hỏi rất đặc biệt. Nhân câu hỏi này, chúng ta sẽ có dịp thảo luận về một đề tài gây nhiều hiểu lầm trải dài nhiều thế kỷ và lan rộng tại nhiều vùng địa danh trên thế giới.

Thật vậy, tác phẩm Tây Du Ký đã được dịch ra nhiều thứ tiếng như Việt ngữ, Nhật ngữ, Thái ngữ, Anh ngữ, Pháp ngữ vân vân … và đã được nhiều đạo diễn dựng thành kịch bản, thành phim điện ảnh, do đó, nội dung Tây Du K‎‎ý đã tạo dấu ấn vào tâm tư của nhiều thế hệ và nhiều tầng lớp người thưởng ngoạn. Vì thế, chúng ta rất nên tìm hiểu coi dấu ấn và ảnh hưởng của cuốn sách này tác động vào tâm tư độc giả là tốt hay xấu và có lợi hay có hại cho người đọc.

Vậy Tây Du Ký là gì?

Đó là tên cuốn truyện do tác giả Ngô Thừa Ân sáng tác, chỉ dựa vào một chi tiết có thật độc nhất là «Tam Tạng pháp sư Huyền Trang được vua nhà Đường nước Trung Hoa cử sang Tây Trúc (tức là Ấn Độ) thỉnh kinh ». Từ chi tiết có thật đó, tác giả đã viết ra một câu chuyện hoàn toàn bịa đặt, hoang đường, xúc phạm sự tôn nghiêm của đức Phật, hạ thấp phẩm cách chư đại đệ tử Phật và nhất là bôi nhọ pháp sư Huyền Trang, khiến cho độc giả mất thiện cảm với giới tu hành nhà Phật, cản trở con đường tìm hiểu và tu tập theo Phật pháp một cách nghiêm túc.

Nếu tác giả dùng thể tiểu thuyết để hư cấu một câu chuyện thì không có gì đáng nói vì độc giả sẽ coi như đó chỉ là cuốn tiểu thuyết giả tưởng để giải trí. Nhưng vì ông dùng thể ký sự và lạm dụng tên nhân vật chính cùng với câu chuyện có thật là “Đường Tam Tạng thỉnh kinh tại Tây Trúc” trong sáng tác của ông, nên đã tạo ấn tượng vào tâm trí độc giả rằng đây là chuyện đã thật sự xảy ra, khiến cho có những người đã dùng cuốn Tây Du K‎‎ý như tài liệu để học tập, thảo luận, thậm chí có người đã viết thành những cuốn sách bình luận, ca ngợi vai trò của những con khỉ Tôn, con heo Trư trong truyện Tây Du, cố tình gán ghép triết l‎‎ý kiểu «gọt chân cho vừa giầy», gán cho cuốn sách những tư tưởng cao siêu một cách hoang đường đề cao hành động của mấy con vật hư cấu trong khi xóa tan công đức cao cả vĩ đại của ngài Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang.

Cũng vì sự xuyên tạc này của cuốn Tây Du Ký và sự suy tôn cuốn sách một cách vô trách nhiệm của một số người khiến đã nảy sinh những hiểu lầm, đưa tới giảm thiểu sự tôn kính Phật tổ Như Lai và chư Đại Đệ Tử, đồng thời cũng hiểu lầm luôn cả giáo lý nhà Phật cùng với lịch sử Phật giáo.

Cũng xin thưa với quí khán, thính giả rằng từ ngữ “pháp sư” trong nhà Phật có nghĩa là thày dạy Phật pháp, Tam Tạng Pháp Sư là vị thày thông suốt ba kho sách nhà Phật là Kinh Tạng, Luật Tạng và Luận Tạng, không phải là ông thầy có pháp thuật, bày đàn bát quái cúng kiếng quỷ thần, hô gió gọi mưa.

Trước hết, chúng tôi xin tóm tắt nội dung cuộc thỉnh kinh trong thực tế, đã được Tam Tạng pháp sư Huyền Trang ghi lại thành bộ sách “Đại Đường Tây Vực Ký”. Bộ sách này được hòa thượng Thích Như Điển dịch ra Việt ngữ, với lời đề tựa như sau:

“Bộ Đại Đường Tây Vực Ký này sở dĩ chúng tôi dịch trước vì nghĩ rằng chính đây là tấm bản đồ đầy đủ nhất, chi ly nhất mà đương thời từ năm 628 đến năm 645 tại Ấn Độ và Trung Hoa chưa có một người nào viết được một bộ Sử Phật Giáo như thế. Đây là kết quả của 17 năm trường mà Ngài Huyền Trang đã ở tại Ấn Độ. Đi đến đâu Ngài cũng ghi lại từ khí hậu, phong thổ cho đến tập quán và nhất là những câu chuyện liên quan đến cuộc đời đức Phật cũng như chư vị Bồ Tát, A La Hán.

Số nước mà Ngài đã đi qua là 110, ngày nay chúng ta có thể gọi là những tiểu bang, vì ngày xưa mỗi một vùng có một ông Vua nhỏ, hoặc tù trưởng đứng đầu. Còn ngày nay, Ấn Độ chỉ còn một nước mà thôi. Chung quanh đó có một số nước, ngoài Ấn Độ như Ba Tư, Kasmir, Tân Cương v.v… là những nước lớn ta có thể kể riêng. Nhưng tựu chung chỉ đi bộ và dùng voi ngựa mà vượt qua được những chặng đường dài gần 50 ngàn dặm ấy thì quả thật thế gian nầy chỉ có một không hai.

Nhờ bản đồ hành hương của Ngài qua truyện Đại Đường Tây Vực Ký này mà những học giả, những nhà Khảo Cổ người Âu Châu mới tìm đến Ấn Độ để xác nhận, tìm kiếm những di tích ấy vào cuối thế kỷ thứ 18 và cho đến nay thì bốn Thánh Địa căn bản của đức Phật từ khi Đản Sinh cho đến khi Thành Đạo, Thuyết Pháp lần đầu tiên và thị tịch Đại Bát Niết Bàn đã rõ ràng. Bây giờ các nhà Khảo Cổ  người Nhật Bản vẫn còn đang tiếp tục tìm kiếm các di tích cũ ngày xưa cách đây trên 2500 năm về trước. Tất cả đều nhờ vào công đức của Ngài Huyền Trang đã vẽ cho chúng ta một tấm bản đồ cách đây 1375 năm. Đây là tấm bản đồ cũ nhất trong tất cả những tấm bản đồ của thế giới hiện nay”.

Trên đây là lời xác nhận của hòa thượng Thích Như Điển về công trình thỉnh kinh của ngài Đường Tam Tạng. Ngoài ra, trong cuốn “Con Ngựa Già của Đường Tam Tạng“, nhà khảo cổ Vương Hồng Sển cũng viết như sau:

“Thực sự, Tây Du diễn nghĩa là một bộ truyện thần thoại, hầu hết sự kiện, tình tiết đều là bịa đặt.  Nhưng chuyện thầy Trần Huyền Trang (Tam Tạng) đi từ Ðông Ðộ qua thỉnh kinh tại Tây Phương lại là chuyện lịch sử có thật. Trần Huyền Trang là một nhân vật có thật trong lịch sử nhà Ðường. Ông tên thật là Trần Vỹ, sanh vào năm thứ 16 đời Tùy Văn Ðế Dương Kiên (596 sau TL) tại huyện Câu Thi (hiện là Huyện Yêm Sư) Tỉnh Hà Nam. Và chuyện thỉnh kinh Tây Phương cũng là chuyện có thật, đã được chính Huyền Trang thuật lại rất cặn kẽ trong bộ “Ðại Ðường Tây Vực Ký”. Thầy chính là một nhân vật sống đã vào lịch sử một cách vinh quang. Thầy từng làm bề tôi cho vua Ðương Thái Tôn (Lý Thế Dân) là bậc minh quân đem lại hiển vinh cho lịch sử Trung Quốc.

Sự thực thầy Huyền Trang chỉ đi một mình, cỡi một con ngựa già làm chân. Ông đi và ở suốt 17 năm bên Tây phương, gồm 2 năm đi, 2 năm về và 13 năm ở lại du học tại Ấn Ðộ. Ði từ năm 629 mãi đến năm 645 (thế kỷ thứ 7 sau Tây Lịch) mới về đến thành Trường An (Trung Quốc). Tính ra Huyền Trang đã rời Ðại Ðường đến 17 năm, đi trên năm vạn dặm đường, qua 128 quốc gia lớn nhỏ. Khi về, ông đã mang về:

– 150 viên xá lợi (tinh cốt của Như Lai).
– 2 tượng Phật gỗ đàn tô ngân cao 4 thước (một thước ngày xưa dài 40 centimetres)
– 3 tượng Phật bằng đàn hương : cao 3 thước rưỡi, 2thước 9 và 2 thước 3.
– 657 bộ kinh
– cùng một số bảo vật khác nữa, phải dùng voi, lạc đà và 24 ngựa mới chở hết.

Trong thời gian mười ba năm lưu trú tại Ấn độ, thầy đi viếng hầu hết các di tích của đạo Phật, đặc biệt nhất là thầy ở lại chùa Na Lan Ðà, học đạo trong sáu năm. Tất cả những kinh điển của phái Ðại Thừa, Tiểu Thừa, Kinh Phệ đà (Veda), các sách thuốc, sách thiên văn, địa lý, kỹ thuật v v… đều tập trung tại chùa này. Chùa do pháp sư Giới Hiền chủ trì và pháp sư có đến trên mười ngàn tín đồ theo học đạo.

Sau sáu năm học tập, thày Huyền Trang trở nên một trong ba người học trò giỏi nhất của vị cao tăng Giới Hiền.

Chẳng những là một nhà sư đạo đức, thày Huyền Trang còn là một học giả uyên thâm, một nhà du thám kỳ tài, một nhà sử học uyên bác, một nhà địa lý học chơn tài, một nhà ngôn ngữ học xuất chúng, nhất là một nhà phiên dịch giỏi không ai bằng. Lúc còn ở Tây Trúc, đi đến đâu, thầy cũng nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình từng địa phương. Khi về Trường An, thầy viết lại thành bộ Ðại Ðường Tây Vực Ký, gồm 12 quyển, trong ấy ghi lại đầy đủ lịch sử, địa lý, phong tục, tập quán v.v. của những nước đã trải qua hoặc từng trú ngụ. Ngày nay, những tài liệu của thầy để lại vẫn còn giúp ích rất nhiều cho các chuyên gia khảo cổ Ấn Ðộ và bất kỳ ai ngày nay cũng công nhận những điều nghe thấy và ghi chép của thầy Huyền Trang rất là đích xác.

Từ ngày về Trường An, thầy Huyền Trang bắt tay vào công việc phiên dịch. Suốt mười chín năm ròng rã, từ năm 645 đến năm 664, thầy dịch được tất cả 75 bộ kinh, khoảng 1335 quyển từ tiếng Phạn dịch qua Hán tự, bộ Ðạo Đức Kinh và một bản dịch “Ðại Thừa Khởi Tín Luận” từ chữ Hán ra chữ Phạn, cùng để lại cho đời một bộ “Ðại Ðường Tây Vực ký” .

Trưa ngày mồng 5 tháng 2 năm 664, thầy Huyền Trang gác bút nghìn thu tại chùa Ngọc Hoa, thọ 69 tuổi. Ngày 14 tháng 4 thi hài thầy Huyền Trang được an táng tại Bạch Lộc Nguyên. Ngày cử hành tang lễ có đến một triệu người ở Trường An và các vùng lân cận đến để tiễn đưa thầy. Ðám táng xong, có đến ba vạn người cất lều cư tang gần mộ phần. Từ xưa đến nay chưa có vị đế vương nào được ngưỡng mộ sùng bái bằng vị Thánh Tăng có một không hai này”.

Trên đây là lời xác nhận của học giả Vương Hồng Sển, nhà khảo cổ danh tiếng của miền Nam Việt Nam.

Thưa qu‎ý khán, thính giả,

Như thế, câu chuyện ngài Tam Tạng pháp sư Huyền Trang sang Tây Trúc thỉnh kinh đã thật sự xảy ra vào thời đại nhà Đường. Duy chi tiết về công cuộc thỉnh kinh gian khổ thì hoàn toàn khác hẳn với những sự mô tả trong cuốn Tây Du K‎‎ý do Ngô Thừa Ân viết.

Vì vậy, để mọi sự được minh bạch, chúng tôi lần giở lại trang sử Phật giáo để kính gửi tới qu‎ý khán, thính giả nội dung chính xác về người thật việc thật, về nhân vật lịch sử Đường Tam Tạng, vị cao tăng đã một mình một ngựa từ kinh đô Tràng An nước Trung Hoa lặn lội vượt qua 50 ngàn dặm đường tới Ấn Độ thỉnh kinh. Sự việc được ghi lại rõ ràng trong cuốn Đại Đường Tây Vực K‎‎ý. Khi đó là vào thế kỷ thứ 7.

Gần một ngàn năm sau, vào khoảng cuối thế kỷ thứ 16, tác giả Ngô Thừa Ân sáng tác cuốn Tây Du K‎ý dựa vào một sự thật độc nhất là pháp sư Huyền Trang sang Ấn Độ thỉnh kinh, ngoài ra, tất cả các chi tiết thí dụ 3 đệ tử là Tôn hành giả, Bát Giới và Sa Tăng cùng các hành vi huyền bí bất thường của họ đều là do tác giả hư cấu.

Chúng tôi xin lược trích ‎‎ý kiến của thày Thích Nhật Từ, chủ biên thư viện điện tử Đạo Phật Ngày Nay như sau:

“… Theo Tây Du K‎ý‎‎ thì chính Phật Tổ Như Lai và Bồ-tát Quán Thế Âm đã bắt giam Tôn dưới chân núi Ngũ Hành ngót 500 năm dài và cũng chính Phật Tổ Như Lai và Bồ-tát Quán Thế Âm một lần nữa tạo ra 81 nạn cho 4 thầy trò Ðường Tăng, để rồi dẫn đến kết thúc của tác phẩm chẳng có nghĩa lý gì: “Như Lai là người chủ mưu cuộc hối lộ cái “bát vàng” trước khi giao chân kinh có chữ về Ðông Thổ”.

Trong truyện Tây Du K‎‎ý, Phật Tổ Như Lai chủ mưu cuộc hối lộ bằng cách “ném đá dấu tay,” ra lệnh cho hai tôn giả Ca-diếp và A-nan-đà, những vị thánh tăng hàng đầu trong hàng đệ tử Phật, đòi “quà thông cảm” với bốn thầy trò Ðường Tăng. Ðiều đó đã làm cho ba vị đồ đệ cương trực của Ðường Tăng bất bình. Nhưng vì thấy tôn giả Ca-diếp và A-nan-đà “xuống nước nhỏ” (nhưng thật chất là đánh lừa), cả ba vị đã hỷ xả mà không làm lớn chuyện! Bốn thầy trò tưởng mọi việc êm xuôi, hớn hở đem kinh về. Gần về đến Ðại Ðường thì bổng đâu chim Ðại Bàng của Phật Di-lặc cướp bay lên không, rồi sau đó bỏ xuống đất. Lúc đó, thầy trò Ðường Tăng mới vỡ lẽ ra là kinh mà họ khổ công mang về là “kinh vô tự.”

Cái gút “kinh vô tự và kinh hữu tự” mà tác giả dựng lên không mang dụng ý thiền học như nhiều người đã cố tình lý giải. Thật ra, nó nhằm tạo ra thái độ căm phẫn của độc giả đối với đức Phật và Bồ-tát, thông qua đó, bôi bác, xuyên tạc Phật giáo. Tôi cho rằng Ngô Thừa Ân đã xúc phạm một cách trịch thượng đến đức Phật, các vị Bồ-tát và các vị thánh tăng. Những điều gì mà đức Phật khuyên người ta nên từ bỏ, xa lìa thì Ngô Thừa Ân lại đem những cái đó gán lên đức Phật”.

Trên đây là ‎ ‎ý kiến của thày Thích Nhật Từ, chủ biên thư viện điện tử Đạo Phật Ngày Nay.                 

Kính thưa qu‎ý‎ vị,

Như chúng tôi đã từng thưa rằng đạo Phật xuất hiện trên đời khởi nguồn từ sự giác ngộ thực tại của đức Phật. Ngay sau khi bừng tỉnh, Ngài trực nhận ra rằng : “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và đều có khả năng giác ngộ như Ngài“. Từ đó cho tới suốt gần 50 năm, đến tận ngày cuối cùng trước khi nhập Niết Bàn, Ngài đã tận tụy đi khắp nơi để truyền dạy giáo pháp, với nguyện vọng là “Mọi chúng sinh đều được giác ngộ giải thoát, đều thành Phật như Ngài.”.

Tuy nhiên, kinh nghiệm chứng đắc của Ngài là do thực tập, không phải là l‎ý‎ thuyết suông mà đạt được, cho nên nếu ai chưa từng hành trì các pháp môn tu thì sẽ thấy rất khó hiểu.

Vì thế, nhà Phật tạm thời phân sự tu tập thành 2 giai đoạn, giai đoạn thứ nhất là “Không làm điều xấu ác” và ” Siêng làm đều tốt lành”. Giai đoạn tu này để chuyển hóa nghiệp xấu thành nghiệp tốt, cùng với các tôn giáo và các nền giáo dục tạo dựng một xã hội lành mạnh, bớt khổ đau, tạo cơ duyên lành cho sự tu giải thoát sau này.

Sau đó, qua giai đoạn thứ nhì là “Tự thanh tịnh tâm ‎‎ý”. Đây là lúc hành giả buông xả hết tất cả mọi bám víu vào thế gian để tiến tới giác ngộ giải thoát như đức Phật.

Hai giai đoạn tu này thuộc về hai chân l‎‎ý, là đối với chân l‎ý‎ quy ước, có phải trái, hay dở, tốt xấu tương đối với nhau thì chuyển hóa từ xấu thành tốt. Nhưng qua giai đoạn “Tự thanh tịnh tâm ‎ý‎” là giai đoạn vượt lên trên cả sự phân biệt tốt xấu, thánh phàm, hay dở, tiêu dung Tham Sân Si, gọi là cảnh giới Bất Nhị, tạm gọi là Chân L‎‎ý Tuyệt Đối, là giai đoạn tu xuất thế gian, mới chính là bản hoài của đức Phật mong mỏi cho chúng sinh đạt tới.

Như thế, hai giai đoạn tu hành rất rõ ràng. Tuy nhiên, nếu không đi sâu vào giáo l‎‎ý và hành trì của nhà Phật thì người ta có thể hiểu lầm, thí dụ cho rằng đạo Phật là “thế lưỡng phân”, hoặc cho là “đạo Phật thì phải phá chấp”. Truyền bá sự hiểu lầm như vậy sẽ gây hoang mang cho quần chúng độc giả, khiến cho có những người luôn luôn chép miệng phê phán “chấp quá, chấp quá”, cho là phải vứt bỏ những quy luật sống của xã hội thì mới là “sống thiền”. Đó là một sự lầm lẫn rất đáng tiếc.

Thực tế, hai giai đoạn tu này có những mục tiêu khác nhau và đường lối tu cũng khác nhau, tạm ví như người họa sĩ khi mới tập vẽ cũng phải dùng thước đo để tạo ra những hình ảnh đầu tiên. Nhưng khi đã qua giai đoạn sơ đẳng, họ phải buông thước, hoàn toàn phóng bút theo cảm quan, hai giai đoạn đó không thể lẫn lộn. Hoặc em bé chưa biết đi thì phải theo quy luật, dùng xe tập đi giúp em đứng vững, khi biết đi rồi thì bỏ xe. Chưa biết đi mà bỏ xe thì em bé sẽ té ngã.

Người tu hành trong giai đoạn chuyển xấu thành tốt thì phải nghiêm chỉnh tuân theo giới luật. Khi đã qua giai đoạn buông xả được mọi chấp trước Tham Sân Si thì mới có thể phá chấp, tự tại trong cảnh giới Bất Nhị. Đó là lúc vượt lên trên mọi quan điểm về Thánh Phàm, là lúc “Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt” (chấm dứt nói năng, nơi tâm suy nghĩ ngưng bặt).

Ở trên, chúng tôi đã nêu ra những lời minh xác của các bậc tôn túc về con người và hành trạng của vị cao tăng là Đường Tam Tạng, qu‎‎ý vị hẳn đã thấy rõ con người ấy hoàn toàn không giống chút nào với Đường Tam Tạng trong Tây Du K‎ý. Và trên thực tế, không hề có 3 đệ tử là Tôn hành giả, Bát Giới và Sa Tăng đi cùng, mà là ngài đi thỉnh kinh một mình.

Thế nhưng trong Tây Du K‎‎ý, Ngô Thừa Ân đã bôi nhọ hình ảnh vị cao tăng, thí dụ để cho tên đồ đệ hư cấu là con khỉ mắng vị Tam Tạng pháp sư (người thông suốt 3 kho Kinh, Luật và Luận)  rằng “ngay đến bài kinh Bát Nhã có 270 chữ nói rằng “vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ýmà thầy cũng không nhớ“, hoặc đưa ra hình ảnh Đường Tam Tạng rất tàn ác, đã dối trá để đánh lừa Tôn hành giả đội chiếc mũ có vòng kim cô rồi sau đó thường nghe lời gièm pha của Trư Bát Giới mà đọc “khẩn cô nhi chú” siết vòng kim cô vào đầu tên đệ tử tận tụy là Tôn hành giả khiến cho hắn đau đớn rên siết lăn lộn kinh hoàng… vân.. vân…

Thưa quý khán, thính giả và ông Phạm Ngọc Tuấn,

Đến đây, qu‎‎ý vị đã thấy tất cả câu chuyện Tây Du K‎ý và các nhân vật như Tôn hành giả, Bát Giới, Sa Tăng là hoàn toàn bịa đặt, hoang đường, không có trong thực tế.

Chúng tôi cũng xin thưa rằng câu “Nam Mô Đấu Chiến Thắng Phật” trong Hồng Danh Sám Hối là trích từ kinh Đại Bảo Tích, tôn xưng đức tu hành chân chính, chiến thắng được Tham Sân Si của bản thân, phá trừ được Ngã Chấp, thoát được mọi khổ não trong biển sinh tử, không liên hệ gì tới con khỉ trong câu chuyện bịa đặt Tây Du K‎ý do Ngô Thừa Ân sáng tác.

Nhà Phật không kêu gọi hành giả tu Phật chiến đấu với mọi người hoặc mọi thế lực bên ngoài mà phải luôn luôn thức tỉnh, tự thanh lọc tam độc Tham Sân Si, tự chiến đấu với bản thân để tiêu dung Bản Ngã, hóa giải lòng vị kỷ, sự thù hận và si mê. Hoàn tất quá trình tu chứng đó là trở thành Đấu Chiến Thắng Phật.

                                                                                                        Thưa qu‎ý‎ khán, thính giả,

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.

Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Tuệ Đăng (ĐPK)

Bài 31 – Ba lọai Bố Thí: Tài Thí, Pháp Thí và Vô Úy Thí

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Trong một kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình với quý vị rằng do thấu triệt Tứ Diệu Đế, đức Phật cũng phát hiện ra rằng Tham Lam và Ái Nhiễm là nguyên nhân của Khổ, là lý do chính đã nhận chìm con người trong vòng sanh tử luân hồi.

Tham lam và ái nhiễm đưa tới thói gom góp, tích lũy từ vật chất tới tình cảm, chỉ muốn mọi thứ là của riêng mình, của thân nhân mình, của bè đảng mình, của đất nước mình, vân vân. Thói tật này phát sinh từ niệm vô minh đầu tiên, mà thuốc chữa là xả bỏ, hoặc còn gọi là bố thí.

Vì thế, người nào muốn đi trên con đường sáng dưới Ánh Đạo Vàng thì phải thực hiện hạnh tu xả bỏ, từ xả bỏ những điều tương đối dễ xả bỏ như của cải vật chất, danh vọng, rồi tới điều khó xả bỏ hơn như tình cảm tinh thần.

Chỉ có xả bỏ thì tâm mới không bị ràng buộc loanh quanh trong thói quen thu thập, cất giữ.

Chỉ có xả bỏ thì tâm hồn mới được giải thoát khỏi sự kìm kẹp của sở hữu, Tham Sân Si, thảnh thơi bước trên con đường tự do, khai phóng tâm linh.

Trong Lục Độ ba-la-mật, nghĩa là sáu nhánh thực hành để đưa chúng sinh sang bờ bên kia, tức là thoát khỏi bờ sinh tử, sang được bờ Niết Bàn, thì Bố Thí là pháp môn tu đầu tiên. Bố Thí là cách tu tập để thực hiện hạnh xả bỏ.

Bố thí có 3 loại là:

– Tài Thí tức là bố thí tài vật,

– Pháp Thí tức là bố thí Phật pháp, nghĩa đen là dạy giáo lý nhà Phật cho người ta biết đường tu hành để giác ngộ giải thoát,

– Vô Úy Thí tức là giúp cho người ta qua khỏi sự sợ hãi.
Thưa quý thính giả,

Để thông suốt nội dung của ba loại bố thí này, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị bài pháp của hòa thượng Thích Thiện Hoa, trích trong bộ Phật Học Phổ Thông, khóa thứ Tư. Thày dạy rằng:

“Bố là cùng khắp: thí là cho, là trao tặng. Bố thí là cho cùng khắp, cho tất cả mọi người, mọi vật, mọi nơi.
Ba la mật nguyên âm tiếng Phạn là Paramita. Người Trung hoa dịch nghĩa là “Bỉ ngạn đáo”, nói theo tiếng Việt là “đến bờ bên kia”.

Bố thí Ba la mật, tức là một môn tu hành bằng phương pháp bố thí, co công năng như một chiếc thuyền, đưa mình và người từ bờ mê lầm của chúng sinh sang bờ giác ngộ của chư Phật.

Bố thí Ba la mật gồm các loại sau đây: Tài thí, Pháp thí và Vô úy thí. Dưới đây chúng ta lần lượt tìm hiểu ý nghĩa của các loại bố thí ấy:

Thứ nhất là tài thí. Tài thí tức là đem tiền bạc, của cải, vật thực của mình ra cho. Tài thí có hai loại là nội tài và ngoại tài.

Nội tài là những vật chí thân quí báu nhất của mình như thân mạng, đời sống của mình. Bố thí nội tài ở đây tức là hy sinh thân mạng để cứu vớt kẻ khác ra khỏi nguy nan. Trong các chuyện tiền thân của đức Phật Thích Ca, chúng ta đã thấy nhiều gương thí nội tài, như cấu chuyện Ngài lái buôn kia, trong khi đi biển bị thuyền chìm đã tự hy sinh thân mạng bằng cách buông tay khỏi cột buồm mà mình đang bám vào, để nhường chỗ cho những hành khách xấu số khác khỏi chết đuối.

Thí nội tài là một cử chỉ hy sinh cao đẹp nhất mà chỉ những người giàu lòng từ bi, bác ái mới làm được. Nếu còn xem thân mạng mình là quý, là trọng hơn thân mạng kẻ khác thì chắc chắn không bao giờ thực hiện được loại bố thí này.

Ngoại tài là những vật thường dùng của mình như thức ăn đồ mặc, tiền bạc, xe cộ, ruộng vườn, nhà cửa v.v…Ðem những vật ấy ra cho những người túng thiếu, nghèo khổ thì gọi là bố thí ngoại tài.

Thứ hai là pháp thí. Ðem lời hay, lẽ phải, những chân lý đúng đắn, những lời dạy quí báu của đức Phật để chỉ bày, khuyên bảo người khác. Hoặc y theo giới luật của Phật tu hành chân thật để làm khuôn mẫu cho người bắt chước, bỏ dữ theo lành, cải tà quy chánh đều là pháp thí.

Pháp thí có một giá trị rất lớn lao hơn cả tài thí, vì tài thí chỉ giúp người khác bớt túng thiếu về phương diện vật chất trong một thời gian, hay nhiều nhất là cứu giúp một đời người. Nhưng pháp thí giúp đỡ người rất nhiều về phương diện tinh thần, không riêng gì đối với người nghèo khó, mà cả người giàu sang, chức tước; không phải chỉ có ảnh hưởng tốt trong một giai đoạn, mà gieo nhân lành cho nhiều đời kiếp về sau.

Vì những lẽ đó, nên người Phật tử chân chính không bao giờ bỏ mất một dịp nào mà không làm pháp thí, cả về phương diện khẩu giáo nghĩa là dùng lời lẽ đúng Phật pháp để chỉ dạy lẫn phương diện thân giáo nghĩa là dùng đời sống chân chính hợp đạo để làm gương.

Thứ ba là vô úy thí. Vô úy nghĩa là không sợ. Vô úy thí là làm cho người khác không sợ, hết sợ. Phép thí này mới nghe thì tưởng như là không quan trọng gì cả. Nhưng nếu suy nghĩ một cách chín chắn, chúng ta sẽ thấy đức Phật thật vô cùng thâm thúy khi chế ra pháp thí này.

Chúng ta hãy nghĩ lại mà xem, có phải trong một đời người, cái sợ đã chiếm nửa cuộc đời rồi không?
Khi nhỏ chúng ta sợ la rầy, sợ đánh đập, sợ ma quỉ. Khi tráng niên sợ thiếu ăn, thiếu mặc, sợ thiếu công danh, sự nghiệp. Khi già sợ đau, sợ ốm, sợ chết…Chỉ toàn sợ và sợ.

Ðó là chưa nói đến gặp thời buổi loạn lạc, còn phải sợ sưu cao, thuế nặng, sợ quan lại tham nhũng, sợ trộm cướp, lưu manh, sợ tù tội, sợ chém giết…Bao nhiêu thứ sợ chồng chất lên đầu người, làm cho họ không dám ngửng lên, lưng họ còm xuống, đầu gối họ sắp quỵ.

Ðời sống đã khổ, lại càng khổ thêm vì sợ. Cho nên làm cho người hết sợ, chính là đã cứu cho họ bớt đi quá nửa khổ đau trong kiếp sống. Lòng từ bi của đức Phật không nỡ thấy chúng sinh khổ sở vì sợ, nên đã chế ra phép thí vô úy.

Muốn thực hành pháp môn này, hành giả trước tiên phải luyện cho mình một đức tính đừng sợ gì cả. Mà kẻ tu hành chân chính, hiểu rõ giáo lý của Phật, thì còn sợ nỗi gì? Tiền của, họ không tham lam cho nên không sợ mất; danh lợi, họ không màng, nên không sợ thiếu, sanh mạng, họ xem như giả tạm, nên không sợ chết.

Do cái tâm lý đó mà cõi lòng họ không xao động, nét mặt họ luôn luôn bình tĩnh trước mọi sự đổi thay, gian nan nguy hiểm. Người tu hạnh thí vô úy sẵn sàng nhảy xuống nước vớt người sắp chết chìm, nhảy vào lửa để cứu người sắp chết thiêu, xông vào đám cướp để cứu người lương thiện, đến gõ cửa công, để minh oan cho người vô tội…

Tóm lại, người tu hạnh thí vô úy thì đi đến đâu là đem đến đó một niềm an lạc, bình tĩnh vui vẻ cho mọi người và mọi vật.”

Trên đây là lời dạy của hòa thượng Thích Thiện Hoa.

Kính thưa quý vị,

Nếu chúng ta nghiên cứu kỹ ba loại bố thí này thì dường như Vô Úy Thí là loại chúng ta có nhiều cơ duyên để bố thí, dễ dàng thực hiện và nhiều hoàn cảnh để có thể bố thí nhất .

Về Tài Thí, trong những xã hội có hệ thống phúc lợi hoàn hảo, cũng không có nhiều dịp chúng ta phải mở túi tiền ra giúp, hoặc chia sẻ miếng cơm manh áo cho người khác. Cũng có những trường hợp thí dụ thiên tai, hỏa hoạn, chúng ta được kêu gọi giúp đỡ các nạn nhân đấy, nhưng không phải mỗi ngày chúng ta đều gặp. Hoặc ngay như trên thế giới hằng ngày đều có những nạn nhân cần trợ giúp, nhưng chính chúng ta cũng không thể luôn luôn móc túi lấy tiền làm chuyện cứu trợ được, dù trong lòng chúng ta rất muốn. Đó là lực bất tòng tâm.

Về Pháp Thí, ngày nay ngành truyền thông phát triển rất rộng rãi, sách báo truyền thanh truyền hình, các hệ thống điện tử toàn cầu với những thư viện điện tử, diễn đàn điện tử, lan rộng từ thành thị tới thôn quê, nên rất nhiều người đã tham dự được vào các loại tiện nghi này để đọc kinh sách, thảo luận, nghe giảng pháp. Nhờ thế, có một số người, nhất là giới trẻ, do tham cứu từ internet mà trình độ Phật học của họ khá thâm sâu, cho nên cơ hội để chúng ta thực hiện Pháp Thí cũng hiếm.

Trái lại, Vô Úy Thí là một hạnh bố thí rất cần thiết mà lại rất dễ thực hiện, không cần phải có nhiều tiền, thậm chí không tốn một xu, thì chúng ta lại ít lưu tâm tới.

Thưa qu‎í thính giả,

Ở trên, thày Thiện Hoa đã phân tích rõ ràng cho chúng ta thấy thế nào là Vô Úy Thí và sự cần thiết thực thi hạnh bố thí này. Qua lời thày giảng, quí vị đã thấy là đạo Phật rất quan tâm và coi trọng hạnh Bố Thí Vô Úy.

Không riêng đạo Phật, mà nhiều nhà tư tưởng lớn trên thế giới cũng rất quan tâm đến nỗi thống khổ của sự sợ hãi trong kiếp người và tìm cách giúp người ta tháo gỡ nỗi khổ này, điển hình là nhà tư tưởng J. Krishnamurti. Chúng tôi xin gửi tới quí thính giả một đoạn trích trong cuốn On Fear của ông, do Danny Việt dịch ra Việt ngữ, như sau:

“Để hiểu sợ hãi, ta phải nói về sự so sánh trước. Tại sao ta so sánh? Về mặt kỹ thuật, so sánh phát hiện sự tiến triển, tương quan với nhau. Năm chục năm trước chưa có bom nguyên tử, chưa có máy bay siêu âm, bây giờ chúng ta có những cái đó, và trong tương lai năm chục năm nữa, chúng ta sẽ có những cái mà hiện nay chúng ta không có. Cái đó được gọi là sự tiến bộ, luôn luôn so sánh, tương quan, và tâm trí chúng ta bị vướng mắc vào cái lối suy nghĩ kiểu đó.

Không phải chỉ từ ngoại cảnh, mà ngay từ trong nội tâm, trong cái cấu trúc về tâm lý của chúng ta, chúng ta suy nghĩ theo kiểu so sánh. Chúng ta nói :” Tôi thế này, trước kia tôi thế này, và tôi sẽ khá hơn trong tương lai”. Cái lối suy nghĩ kiểu so sánh như vậy, chúng ta gọi là sự tiến bộ, sự phát triển, và cuộc đời chúng ta, từ phẩm hạnh, đạo đức, tôn giáo cho đến làm ăn buôn bán, giao dịch trong xã hội, chúng ta đều dựa trên nền tảng đó. Chúng ta quan sát bản thân chúng ta một cách so sánh với cái xã hội vốn dĩ cũng thoát thai từ một sự phấn đấu trong so sánh như chính chúng ta.

So sánh sản sinh ra sợ hãi, bạn hãy tự quan sát sẽ thấy. Tôi muốn trở thành nhà văn viết hay hơn, hoặc trở thành người đẹp và thông minh hơn. Tôi muốn có nhiều kiến thức hơn mọi người. Tôi muốn thành công, muốn trở thành nhân vật quan trọng, muốn có danh tiếng trên thế giới. Thành công và danh tiếng là những điều so sánh rất căn bản về mặt tâm lý, mà do đó, chúng liên tục sản sinh ra sự lo sợ . Và sự so sánh cũng làm tăng thêm những mâu thuẫn, phấn đấu vốn được coi như những điều quan trọng.

Bạn nói rằng bạn phải cạnh tranh để sinh tồn trong cái thế giới này, do đó bạn so sánh và thi đua trong công việc làm ăn, trong gia đình và “cái-gọi-là” nội dung có tính cách tôn giáo . Bạn phải vào được thiên đường và ngồi ngay bên cạnh một đấng cứu độ đặc biệt nào đó của bạn. Sự so sánh về tâm linh phản ảnh trong việc một tu sĩ muốn được suy tôn lên cấp cao hơn và cuối cùng tiến lên tới giáo chủ.

Suốt đời, chúng ta mài miệt trau giồi cái loại tâm linh đó một cách siêng năng, cần mẫn, phấn đấu để khá hơn, hoặc đạt được vị trí cao hơn người khác. Cấu trúc của đời sống xã hội và đạo đức của chúng ta đặt nền tảng trên những cái đó.

Trong cuộc đời chúng ta, cái tình trạng so sánh, cạnh tranh và sự phấn đấu không ngừng nghỉ để trở thành một nhân vật, tôi cảm thấy rằng chính cái đó là cội rễ của toàn bộ sự sợ hãi, bởi vì chính nó đã sản sinh ra lòng thèm muốn, tật đố kị, thói ghen tị, căm thù.

Ở đâu có sự căm thù thì ở đó chắc chắn là không có tình thương yêu và sẽ càng ngày càng tăng thêm sự sợ hãi”.
Kính thưa quí‎ thính giả,

Trên đây là nhận định của nhà tư tưởng Jiddu Krishnamurti về tai hại của sự sợ hãi.

Có câu chuyện Thiền lưu truyền tại Nhật như sau:

“Trong một trận chiến đấu sinh tử mà quân lính của phe nhà đông hơn phe địch gấp bội. Tuy nhiên, tinh thần binh sĩ lại rất nao núng, chưa đánh mà chỉ muốn rút lui, vì họ nghe nói bên địch là đạo quân bách chiến bách thắng, rất tinh nhuệ trong kinh nghiệm chiến trường.

Tướng chỉ huy bèn tập họp ba quân trước một ngôi đền thờ Thần có tiếng là linh thiêng, rút trong túi ra đồng tiền giơ lên, dõng dạc tuyên bố:

– Chúng ta cầu nguyện rồi tôi sẽ tung đồng tiền này lên xin Thần cho biết số phận chúng ta trong trận quyết tử này. Nếu khi rớt xuống mà mặt ngửa lên có hình đầu người tức là chúng ta sẽ thắng. Nếu mặt không có đầu người ngửa lên thì chúng ta sẽ vâng theo số mệnh mà rút lui.

Quân sĩ nhắm mắt cầu nguyện, rồi vị tướng tung lên đồng tiền, khi rớt xuống, mặt ngửa lên có hình đầu người. Toàn quân reo hò, khí thế bốc lên ngùn ngụt, sự sợ hãi tan biến.

Khi đoàn quấn chiến thắng ca khúc khải hoàn trở về, viên phó tướng tâm tình với đại tướng:

– Thế mới biết không gì có thể thay đổi được số mệnh.

Đại tướng cười, móc túi lấy ra đồng tiền, thì ra cả hai mặt của đồng tiền đều là hình đầu người”.

Thưa quí thính giả,

Câu chuyện cho thấy rằng chúng ta có thể chế ngự được sự sợ hãi. Thí dụ sự sợ ma. Nếu hỏi những người rất sợ ma rằng họ gặp ma chưa thì phần đông đều trả lời rằng bản thân họ chưa gặp ma nhưng họ “nghe nói”. Mà những ngưởi kể chuyện ma cho người khác nghe thì cũng chưa chắc đã gặp ma, hay là cũng lại chỉ “nghe người ta kể lại”. Chuyện ma thì hấp dẫn, vì làm cho tâm tư‎ người nghe bị kích động.

Hồi trước tại Saigon, trong mục truyện dài của một tờ nhật báo có viết về chuyện con ma vú dài tại nhà tù Chí Hòa. Câu chuyện hoang đường nhưng rất hấp dẫn người đương thời, sau này dính liền tên vị chủ nhiệm báo, họ gọi ông là “chủ nhiệm vú dài”. Những tù nhân có đầu óc bình thường đã từng tạm trú tại nhà tù Chí Hòa, không ai gặp con ma vú dài nào cả.

Đã thấy rõ sự sợ hãi đem lại thống khổ cho con người, vậy chúng ta nên tận dụng mọi cơ hội để có thể Bố Thí Vô Úy. An ủi khi người có những mối lo hoặc tránh kể chuyện ma cho các cụ già sống cô đơn cũng là những cách Vô Úy Thí rất thực tế vậy.

Thưa quí‎ thính giả,

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới. Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 30 – Pháp môn Tịnh Độ

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả. 

Thưa quý khán, thính giả, 

Trong những kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình bày với quý vị bài kệ tóm tắt con đường tu hành của người Phật tử, như sau: 

“Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành”

 … trong đó, “Tự thanh tịnh tâm ý” thì mới chính là mục tiêu cốt tủy của đạo Phật.

 Kinh Phật dạy rằng: “Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu”, câu đó có nghĩa là khi tâm đã tịnh là đã bạch hóa được nghiệp chướng tích lũy từ vô lượng kiếp. Tội là những nghiệp ác. Tâm đã tịnh rồi thì cũng có nghĩa là tất cả nghiệp thiện và ác đều đã tiêu dung, không còn nghiệp nhân để tái sinh, là chấm dứt được dòng sinh tử, ra khỏi vòng luân hồi. Tóm lại, là hoàn tất được bước thứ tư trong bốn Chân Lý Thâm Diệu, là Diệt Khổ.

 — Vậy thì, làm thế nào để có  thể  “tự thanh tịnh tâm ý? 

Về phương diện này, nhà Phật có những pháp môn phương tiện để hành giả, là những người thực hành các pháp tu, đạt được kết quả cụ thể, thí dụ các môn phái Thiền, Tịnh hoặc Mật tông. Kỳ này, chúng tôi xin trình bày pháp môn Tịnh Độ.

 Thưa quý khán, thính giả, 

Đạo Phật là con đường chuyển hóa Tâm, không nhờ vào thần quyền, cho nên người Phật tử bước trên đường tu tập phải thông suốt hai phần là lý thuyết và thực hành, nhà Phật gọi là Lý và Sự, xong việc là “sự lý viên dung”. Toàn bộ giai đoạn tu tập này được gói trọn trong công thức Văn, Tư và Tu. Văn là nghe lời dạy từ kinh sách của Phật và chư Tổ là bước thứ nhất, Tư là suy nghĩ để hiểu cho rõ là bước thứ 2, rồi tới bước thứ 3 là thực hành các phương pháp Tu.

 Lại có câu “Tín Giải Hành Chứng”. “Tín” là tin rằng đạo Phật là con đường giải thoát, “Giải” là hiểu rõ phần lý thuyết của đạo Phật, “Hành” là hành trì các bước tu tập thì sẽ tới giai đoạn thứ tư là “Chứng Đạo”

  Cổ đức dạy rằng ”Tu mà không học là tu mù. Học mà không tu là túi đựng sách”. Tuy thế, hiểu được phần Lý thì chóng, gọi là giải ngộ. Nhưng tu tới Chứng Đạo thì phải tốn nhiều công phu hành trì, nên có câu “Lý tuy đốn ngộ nhưng Sự thì phải tiệm tu”, có nghĩa là phần lý thuyết thì hiểu nhanh, nhưng phần thanh lọc tâm ý thì phải mất nhiều công phu.

 Nếu chỉ qua đọc kinh sách mà hiểu được phần lý thuyết, nhưng không thực Tu thực Chứng thì tâm thức không chuyển hóa, đôi khi lại tăng trưởng lòng kiêu ngạo, chư Tổ gọi là “chưa tới tưởng đã tới”, trở thành tăng thượng mạn, uổng phí một đời được sinh ra trong nhà Phật.

 Như vậy, chúng ta sẽ tìm hiểu pháp môn Tịnh Độ về cả hai mặt lý thuyết và thực hành, trước nhất là phần lý thuyết.  

Kính thưa quý vị,

 A Di Đà Phật hoặc Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật còn gọi là Vô Lượng Quang Thọ Phật, có nghĩa là vị Phật chiếu sáng khắp không gian vô biên và thọ mạng dài vô tận. Phật là Giác. Cho nên A Di Đà Phật cũng chính là Phật Tánh, hoặc Giác Tánh của chúng sinh, vốn mênh mông cùng khắp không gian và thường hằng từ vô thủy tới vô chung, không có ngằn mé. Tánh Giác đó vốn sáng suốt mênh mông, nhưng vì một niệm bất giác vọng động, tâm ý thức trùng trùng duyên khởi chuyển thành chúng sinh, tạo nghiệp trả quả báo, trôi lăn trong vòng sinh tử luân hồi.

 Pháp môn Tịnh Độ là một trong những con đường mà đức Phật đã dạy cho chúng sinh biết cách thanh lọc ô nhiễm để Ngộ lại Giác Tánh.

 Thưa quý khán, thính giả,

 Để có thêm tài liệu về pháp môn Tịnh Độ và về Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị bài pháp của thiền sư Thiên Như Duy Tắc, trích từ Ngữ Lục của ngài: 

“Ngày nay, có một số người, tăng cũng như tục, mong nhờ Niệm Phật để được thác sinh cõi Tịnh độ và tự hỏi Niệm Phật có khác Thiền chăng. Theo ý tôi, họ không hề nhận ra Thiền và Niệm Phật không phải đồng mà là đồng; vì đích của Thiền là thấu hiểu ý nghĩa của sự sống, đích của Niệm Phật thì cũng vậy. Thiền chỉ thẳng lòng người, thấy tánh thành Phật; trong khi đó, Niệm Phật nhắm đi tới cõi Tịnh Độ vốn dĩ không chi khác hơn chính là tự tâm, và nhắm thấy rõ tự tính vốn dĩ chính là đức A-Di-Đà (Amitabha).

“Nếu thế, làm sao phân biệt Niệm Phật và Thiền?

Kinh nói, như đi vào một thành lớn mà khắp bốn phía đều có cửa; từ những nẻo khác nhau, người ta tìm thấy lối vào riêng biệt của mình vì cửa không chỉ có một. Nhưng, một khi vào rồi, họ cùng ở trong một thành như nhau. Thiền và Niệm Phật mỗi bên có một căn khí riêng; đấy là tất cả.

“Ở Niệm Phật, các người có thể phân biệt đằng nào linh nghiệm đằng nào không. Tại sao? Nếu việc tụng niệm của tín giả chỉ ở ngoài môi miệng còn tâm thì chẳng nghĩ tưởng chút gì đến Phật, thứ tụng niệm ấy không linh nghiệm. Trái lại, nếu miệng và tâm cùng chung hướng về Phật trong khi tụng đọc danh hiệu Ngài, khiến cho tâm với Phật không rời nhau từng bước một, Niệm Phật chắc chắn sẽ có kết quả. Giả dụ đây là một người tay cầm tràng hạt, miệng niệm danh hiệu Phật; nhưng nếu cứ vọng tưởng cuồng tâm, chạy xuôi chạy ngược, thì là một người chỉ tụng ở miệng chứ không ở tâm, luống công vô ích, nhọc mà chẳng được gì. Tốt hơn là nghĩ tưởng đến Phật trong tâm hồn dù môi không mấp máy, vì như thế mới là đồ đệ chân chính của Niệm Phật.

“Há không thấy Kinh nói rằng mười phương Như Lai thương nhớ chúng sinh như mẹ thương con; chúng sinh chìm đắm trong biển sinh tử như con trẻ lưu lạc nơi xứ lạ quê người. Phật như một bà mẹ từ ái thương nhớ chúng, và dù ngài không nói đến từ tâm của mình, tấm lòng của ngài vẫn luôn luôn nhớ tưởng những đứa con lạc mất không thôi. Nếu con cũng nhớ tưởng mẹ như thế, tại sao mẹ con không có ngày hội diện?

“Bởi vậy kinh nói nếu tấm lòng của chúng sinh nhớ tưởng đức Phật, chắc chắn sẽ thấy ngài trong hiện tại hay tương lai. Hiện tại là đời sống này, tương lai là đời sống sẽ đến. Nếu thế, kẻ nào hết sức mong mỏi Phật và nhớ tưởng ngài kẻ ấy nhất định sẽ đến trước mặt ngài. Vậy thì “thấy Phật” và “tham Thiền kiến tánh” khác nhau ở chỗ nào đâu? “

Kính thưa quý vị,

Kinh căn bản của pháp môn Tịnh Độ đã được dịch ra Việt ngữ là các kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ, kinh Niệm Phật Ba La Mật. Tuy nhiên, nơi kinh Lăng Nghiêm cũng có một chương nói về pháp Niệm Phật Tam Muội như sau:

“Đại Thế Chí Pháp Vương Tử cùng với 52 vị Bồ Tát đồng tu, liền đứng dậy, đảnh lễ bạch Phật rằng:

– Con nhớ hằng sa kiếp trước, có Phật Vô Lượng Quang ra đời, thuở đó, mười hai vị Như Lai kế nhau thành Phật trong một kiếp. Vị Phật sau cùng hiệu là Siêu Nhựt Nguyệt Quang, dạy con tu “Niệm Phật Tam Muội”, ví như có người thì chuyên nhớ, người thì chuyên quên, nếu hai người ấy nhớ nhau, không kể gặp hay chẳng gặp, thấy mặt hay chẳng thấy; cứ nhớ mãi sâu vào tâm niệm, cho đến đời này, đời khác, thì như hình với bóng, chẳng cách xa nhau.

 Mười phương Như Lai tưởng nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con, nếu con trốn tránh thì dù nhớ cũng chẳng làm gì được; nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con, thì đời đời mẹ con chẳng xa cách. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật, thì hiện nay hay về sau nhất định thấy Phật, cách Phật không xa, chẳng nhờ phương tiện, tâm tự khai ngộ, như người ướp hương thì thân có mùi thơm, ấy gọi là Hương Quang Trang Nghiêm.

Bản nhân của con là dùng tâm niệm Phật, đắc vô sanh nhẫn, nay ở cõi này tiếp dẫn người niệm Phật về cõi Tịnh Độ. Phật hỏi con về viên thông, con do “nhiếp cả lục căn, tịnh niệm tương tục” vào tam-ma-địa là hơn cả.”

Thưa quý khán, thính giả,

“Nhiếp cả lục căn tịnh niệm tương tục” có nghĩa là chuyên tâm niệm Phật liên tục, trong lúc niệm không quan tâm đến bất cứ chuyện gì khác.

Pháp môn Niệm Phật bị một số người nông cạn coi thường, cho là pháp môn của mấy bà già trầu hoặc người không đủ trình độ tu Thiền mới theo pháp dễ là Niệm Phật. Đó là một sai lầm rất đáng tiếc. Thực tế, con đường giải thoát của đức Phật chỉ dạy cho chúng sinh gồm nhiều lối đi, miễn là tới được mục tiêu phá trừ mê vọng là cứu cánh giải thoát.

Tham Thiền tới Kiến Tánh là mê vọng tan rã. Niệm Phật tới Ngộ được Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật mà đức Phật dùng phương tiện thiện xảo gọi là cõi Tây Phương Tịnh Độ thì cũng như Kiến Tánh vậy.  

Để quý thính giả thấu triệt quan điểm này, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị bài pháp của thiền sư Hám Sơn, một vị thiền sư Kiến Tánh ở thế kỷ thứ 16. Ngài được tôn xưng là một vị thánh tăng. Ngài để lại rất nhiều bài pháp cho nhiều tầng lớp Phật tử. Sau khi qua đời, nhục thân ngài không bị hư hoại, hiện còn thờ trong tháp bằng kính tại tổ đình Tào Khê chùa Nam Hoa tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, cùng với 2 nhục thân bất hoại của Lục Tổ Huệ Năng và thiền sư Đan Điền.

Sau đây là bài giảng của thiền sư Hám Sơn, lược trích trong cuốn Mộng Du Tập do sư cô Hạnh Huệ dịch:

“Cội gốc sanh tử tức là các thứ vọng tưởng hàng ngày của chúng ta, các thứ nghiệp phiền não thương ghét, tham lam, giận hờn của chúng ta, nếu còn một mảy may không dứt thì tức là còn gốc rễ sanh tử. Nay muốn tham thiền đốn ngộ liễu thoát sanh tử, hãy tự suy nghĩ xem có thể một niệm dứt ngay phiền não của nhiều kiếp như chặt đứt một cuộn chỉ hay chăng ? Nếu chẳng thể dứt sạch phiền não thì dẫu cho đốn ngộ, cũng thành nghiệp ma, đâu nên xem thường ? Các vị tổ xưa kia đốn ngộ, cũng nhiều đời tích lũy công phu tu tập dần dần (tiệm tu) mà được, cho nên “đốn ngộ” này nói thì dễ mà thật ra rất khó. Nếu không có hai, ba mươi năm hạ thủ công phu, thì làm sao có thể ở trong chốn phiền não lẫy lừng mà được một niệm đốn ngộ.

Điều thiết yếu là phải tự biết căn khí mình như thế nào ? Đến như một môn niệm Phật, người đời không biết sự nhiệm mầu của nó, xem là thiển cận, kỳ thật mỗi bước thực hành cho đúng thì như thế nào ? Chúng ta từ khi có sanh tử đến nay, niệm niệm vọng tưởng phan duyên tạo nghiệp sanh tử, đâu từng có một niệm quay trở về soi lại tự tâm, đâu từng một niệm chịu đoạn dứt phiền não. Nay nếu có thể đem tâm vọng tưởng chuyển làm niệm Phật thì niệm niệm dứt phiền não. Nếu niệm niệm dứt được phiền não thì niệm niệm ra khỏi sanh tử.

Nếu một niệm niệm vững chắc không đổi dời nhất tâm bất loạn, so với tham thiền còn có kết quả hơn. Tóm lại, chỉ do một niệm thiết tha chân thực mà thôi. Nhưng tham thiền nhất định cần phải chết đi hết tâm thế tục không còn một niệm vọng tưởng, còn niệm Phật là lấy tưởng tịnh chuyển tưởng nhiễm, dùng tưởng trừ tưởng, là Pháp Hoán Chuyển, cho nên đối với căn khí của chúng ta ngày nay dễ thực hành hơn.

Phật là Giác, nếu niệm Phật không quên Phật, tức là niệm niệm minh giác. Tâm nếu quên Phật liền là Bất Giác. Nếu niệm đến trong mộng cũng niệm được tức là thường giác không mê muội ! Hiện tại nếu tâm này không mê muội thì lúc lâm chung tâm này không mê muội, ngay chỗ tâm này không mê muội tức là kết quả. Nay công việc bận rộn không thể tham thiền, duy có niệm Phật là tốt nhất, bất kể rỗi rảnh, bận rộn, chỗ nào cũng niệm được, chỉ cần một lòng không quên, không còn có pháp nào hay hơn !.

Niệm Phật tức là tham thiền, không phải hai pháp. Ngay lúc niệm Phật, trước tiên phải buông bỏ hết thảy các thứ vọng niệm, tạp loạn phiền não, tham, sân, si, buông bỏ đến chỗ không còn gì để buông bỏ, chỉ đề khởi một câu “A DI ĐÀ PHẬT”, rõ rành phân minh trong tâm không gián đoạn như sợi chỉ xỏ xâu chuỗi.

Nếu tâm tha thiết vì việc sanh tử niệm niệm như cứu lửa cháy đầu, chỉ e một phen mất thân người muôn kiếp khó được lại, cần phải cắn chặt lấy một câu danh hiệu Phật này, nhất định phải chiến thắng vọng tưởng, bất cứ chỗ nào cũng niệm niệm hiện tiền, chẳng vì vọng tưởng ngăn che. Hạ thủ công phu thiết tha như thế lâu ngày thuần thục tự nhiên tương ưng, chẳng cầu thành khối mà tự thành khối.

 Nếu gặp lúc tâm bất an do các cảnh giới nghịch thuận phiền não buồn vui quấy nhiễu, chỉ cần đề khởi một câu niệm Phật này lập tức thấy phiền não tiêu diệt. Vì niệm niệm phiền não là gốc khổ sanh tử, nay dùng niệm Phật tiêu diệt phiền não, ấy là Phật độ chỗ khổ sanh tử. Nếu niệm Phật tan được phiền não thì có thể thoát sanh tử. Nếu niệm Phật đến trình độ làm chủ được trên phiền não thì ở trong mộng làm được chủ. Nếu ở trong mộng làm được chủ thì ở trong lúc bệnh khổ làm được chủ, thì lúc lâm chung rõ ràng biết được chỗ đi. Việc này không khó làm, chỉ cần một niệm tâm tha thiết vì sanh tử, nắm chặt một câu Phật hiệu, không còn nghĩ ngợi gì khác, lâu ngày thuần thục, tự nhiên được đại an lạc, cái vui ngũ dục thế gian không thể sánh được. Ngoài pháp môn Tịnh Độ nầy, không còn có pháp môn nào thẳng tắt giản dị hơn.”

Thưa quý khán, thính giả, 

Trên đây là lời căn dặn của thiền sư Hám Sơn. Ngài là một thiền sư Kiến Tánh, từ Trí Tuệ Bát Nhã nói lên những lời tha thiết khuyên tu pháp Niệm Phật, chúng ta rất nên tôn trọng lời dạy vàng ngọc này.

 Có một câu hỏi rằng nên niệm sáu chữ Nam mô A Di Đà Phật hay 4 chữ A Di Đà Phật?

 Xin thưa rằng, niệm Phật cần nhuần nhuyễn, sao cho tiếng niệm Phật luôn luôn âm thầm hiện lên trong tâm thức. Phật hiệu hiện lên thì phiền não vọng tưởng không quấy nhiễu được, gọi là “niệm Phật thì không niệm chúng sinh”. Tổ Tịnh Độ thứ 13 là đại sư Ấn Quang chỉ dùng 4 chữ là A Di Đà Phật để âm thầm niệm, gọi là “mặc trì”, tức là niệm không thành tiếng. Ngài kinh nghiệm rằng niệm như vậy mau thành khối. Chúng tôi cũng được một số đạo hữu cho biết rằng do âm thầm niệm 4 tiếng mà Phật hiệu luôn trôi chảy hiện lên trong tâm thức, thay thế cho những suy nghĩ vọng động.

 Tuy nhiên, nếu quý vị muốn, hoặc đã quen với cách niệm 6 chữ là Nam mô A Di Đà Phật, thì cứ tiếp tục niệm như thế, cả hai cách niệm đều có kết quả. Điều cần thiết là phải chí thành khi niệm, không để tâm rong ruổi theo vọng tưởng phiền não thế gian.

 Kính thưa quý khán, thính giả,

 Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

 phatphaptuedang@yahoo.com

 Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý khán, thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

 Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.