Archive | July 17, 2013

Bài 29 – Bài thuyết pháp về Tâm – Thiền sư Bassui

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Một trong những tuyên ngôn đầu tiên của đức Phật, ngay sau khi giác ngộ dưới gốc cây Bồ Đề, là:

“Tất cả chúng sinh đều có đủ đức tính trí tuệ Như Lai, chỉ vì vô minh che mờ Chân Tánh, khiến phải trôi lăn trong sinh tử”.

Trí tuệ Như Lai, Chân Tánh chính là Phật Tánh, Giác Tánh, là Tâm Bản Nhiên mà trong một kỳ phát thanh trước chúng ta đã đề cập tới.

Để quý thính giả có thêm tài liệu về Tâm Bản Nhiên, về vấn đề phá tan vô minh che mờ Chân Tánh, Giác Ngộ giải thoát trong đạo Phật, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị bài pháp của thiền sư Bassui “Dharma Talk On One Mind” do thiền sư Eido Shimano dịch từ Nhật ngữ qua Anh ngữ, Vy Khanh dịch ra Việt ngữ.

Trong bài pháp này, thiền sư Bassui, người đã thân chứng, đã phá tan vô minh, truyền lại cho chúng ta những kinh nghiệm và những giai đoạn tâm thức mà ngài đã kinh qua.

Thiền sư Bassui sinh năm 1327 tại thị trấn Kanagawa, Japan. Có tài liệu cho rằng do một thị kiến trong khi mang thai, bà mẹ tin rằng đứa bé sau này lớn lên sẽ trở thành quỷ mà giết cả cha mẹ, nên ngay sau khi sanh, đứa bé bị mẹ vứt bỏ. May nhờ có một gia nhân bí mật đem về nuôi nấng. Nhưng cũng có tài liệu cho rằng bà mẹ chỉ giả bộ vứt con đi thôi, vì ngay sau khi bà mẹ bỏ con, thì đã có gia nhân đến cứu, do bà mẹ sắp xếp trước, tin rằng làm như thế là đủ để thần linh ma quỷ cho là đứa bé không phải con mình, sau này quỷ sẽ không bắt làm những điều ác nữa.

Vào thời xa xưa mông muội, người ta sợ đủ loại thần thánh ma quỷ, từ thần núi, thần sông, thần cây đa, cây đề, thần ông bình vôi, ma thần trùng, ma xó, vân vân. Sự mê tín đã khiến nhiều loại ma quỷ xuất hiện trong đầu óc họ, cho nên để bảo vệ những em bé sơ sinh yếu đuối, họ dùng những mưu kế để lừa ma quỷ, cứu đứa bé.

Trường hợp như trong câu chuyện thiền sư Bassui, hoặc em bé bị bệnh tật liên miên, họ đem em bé ra bỏ ngoài chợ, hoặc ngã tư đường. Nhưng ngay sau đó bèn có một người đã được sắp xếp trước, bước tới làm bộ ngạc nhiên la lên: “Ô này, có đứa bé bị vứt bỏ, tôi nhặt đem về nuôi”. Và bế đứa bé về nhà mình. Sau đó, khi đem đứa bé trả cha mẹ, thì cha mẹ ruột bèn coi nó là người xa lạ, xưng hô với nó là “chú, thím”, hoặc “anh, chị”, mà không xưng là cha mẹ nữa, vì đứa bé nay đã là một người khác rồi. Đó là một trong những cách để cứu đứa nhỏ, theo niềm tin của họ mà thôi.

Niềm tin này là một trong những thói tật của nhiều người thời xưa, thời mà các loại mê tín ngự trị trong đầu óc của rất nhiều dân tộc, trong số đó có cả dân tộc Việt Nam. Không những thời xưa, mà ngay tới thế kỷ 20, một số bà mẹ Việt Nam vẫn còn nghĩ rằng đó là cách để cứu đứa bé, nếu nó cứ bệnh hoạn, hoặc cho là hai mẹ con kỵ tuổi nhau nên đứa bé khó sống sót nếu không giả bộ vứt bỏ nó đi.

Thưa quý thính giả,

Về thiền sư Bassui, ngay khi còn thơ ấu, mới bảy tuổi, trong đáng tang cha, cậu bé đã chỉ vào mâm thực phẩm lễ vật mà hỏi ông thày cúng:

– Những bánh trái xôi chè này để cho ai ăn đây?

Ông thày trả lời:

– Dĩ nhiên là để cho cha cậu ăn.

Cậu bé hỏi lại:

– Nhưng cha tôi không còn thân thể, chỉ có hộp tro kia, làm sao mà ăn?

Thày cúng trả lời:

– Dù không còn thân thể nhưng linh hồn cha cậu sẽ ăn.

Cậu bé thắc mắc:

– Nếu đã có cái gọi là linh hồn thì trong thân thể tôi cũng phải có một cái. Vậy hình dáng nó ra sao?

Chắc chắn những câu hỏi như thế không thường xảy ra đối với một đứa bé, dù là một đứa bé mẫn cảm. Nhưng tuổi thơ của thiền sư Bassui thì lại luôn luôn có những câu hỏi nổi lên trong tâm, thí dụ: ”Linh hồn là gì?”, “Ai là kẻ đang nghe, nhìn, hiểu biết đây?”. Chàng tuổi trẻ ấy cứ phải vật lộn với những câu hỏi như thế trong suốt phần đời niên thiếu. Một ngày kia, trong khi đang miên man với câu hỏi không có giải đáp, chàng trai trực nhận được rằng không thể nắm bắt được linh hồn vì bản chất của toàn thể vạn vật vốn là Tánh Không.

Sau này, suốt chiều dài cuộc đời, thiền sư Bassui tích cực hoằng truyền pháp thiền “Trực chỉ nhân tâm, Kiến Tánh thành Phật”, pháp thiền mà Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã từ Tây Trúc không quản khó nhọc, lặn lội sang phương Đông truyền dạy.

Cuối đời, vào tuổi 60, một hôm ngài ngồi kiết già giữa đám đông đệ tử, lên tiếng:

– Đừng bị lầm lạc! Nhìn thẳng! Cái gì đây?

Thiền sư Bassui lớn tiếng nhắc lại câu hỏi một lần nữa rồi lặng lẽ qua đời.

Sau đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả bản dịch bài “Dharma Talk on One Mind”.

“Nếu muốn tự giải thoát khỏi những nỗi thống khổ trong Lục Đạo Luân Hồi thì quý vị phải biết con đường trực ngộ thành Phật. Con đường này chẳng có gì khác hơn là nhận ra được Tâm của quý vị.

Vậy thì, Tâm này là gì?

Tâm này chính là bản chất chân thật tự nhiên vô hình của tất cả các loài sinh vật có tình cảm, nó vốn sẵn sàng, vốn hiện hữu ngay cả trước khi cha mẹ của quý vị được sinh ra, do đó, dĩ nhiên là nó đã có sẵn trước khi bản thân quý vị được sinh ra, nó vốn đã sẵn có đó, không thay đổi và không sinh diệt. Cho nên người ta còn gọi nó là “Bộ mặt trước khi cha mẹ được sinh ra”.

Bản chất của Tâm này hoàn toàn thanh tịnh. Không phải vì chúng ta ra đời mà Tâm này mới được sinh ra và khi chúng ta chết đi thì Tâm này cũng không bị hoại diệt. Tâm này không có sự khác biệt giữa đàn ông và đàn bà, không có mầu sắc của tốt hoặc xấu. Không thể so sánh Tâm này với bất cứ cái gì, cho nên được gọi là Tâm Bản Nhiên, Giác Tánh, Phật Tánh. Vô số lượng ý niệm đã khởi lên từ Tâm Bản Nhiên này như sóng nổi trên biển cả hoặc như hình ảnh phản chiếu trong gương vậy.

Nếu muốn nhận ra được Tâm này thì trước nhất quý vị phải nhìn vào ngọn nguồn mà từ đó các ý niệm khởi lên và trôi chảy. Dù khi ngủ hoặc làm việc, đi đứng hoặc nằm ngồi, phải tự tra vấn tận đáy lòng sâu thẳm: “Tâm của tôi là cái gì?” và thiết tha muốn có lời giải đáp. Đó gọi là “thực tập”, “hành trì”, “khát khao chân lý” hoặc “mong cầu giác ngộ”.

Cái gọi là tọa thiền thì cũng không có gì hơn là nhìn vào Tâm mình. Quán chiếu chính Tâm mình một cách tận lực còn tốt hơn là hằng ngày đọc nhiều vô số lượng kinh chú trong vô số lượng năm. Những loại cố gắng hình thức đó cũng tạo ra được một số phước báu, nhưng khi hưởng hết phước thì lại vẫn phải chịu sự đau khổ của Tam Ác Đạo. Bởi vì việc tìm tòi Tâm mình cuối cùng sẽ đưa tới giác ngộ cho nên cách hành trì này là điều kiện tiên quyết để trở thành Phật.

Dù đã từng phạm các tội Thập Ác hoặc Ngũ Nghịch, quý vị vẫn có thể chuyển hóa tâm thức và giác ngộ thành Phật ngay tức khắc. Nhưng đừng có phạm tội rồi mong đợi được cứu thoát nhờ sự giác ngộ bởi vì không có sự giác ngộ, hoặc Phật hay Tổ nào, có thể cứu kẻ tự lừa dối bản thân để lao mình xuống Ác Đạo.

Hãy tưởng tượng cảnh một đứa trẻ nằm ngủ cạnh cha mẹ, trong giấc mơ thấy bị đánh đập, hoặc bị bệnh nặng đau đớn. Cha mẹ nó không thể giúp dù nó đau khổ tới đâu, vì không ai có thể xen vào giấc mơ của người khác được. Nhưng nếu đứa trẻ thức dậy thì nó sẽ hết đau khổ ngay lập tức một cách tự động. Thì cũng như vậy, người nào nhận ra được Tâm mình chính là Phật thì ngay lập tức sẽ tự giải thoát khỏi mọi nỗi thống khổ của cảnh bị trôi lăn không ngừng trong dòng sông sinh tử. Nếu đức Phật có thể ngăn chặn được thì quý vị có nghĩ rằng Ngài lại để cho ngay cả đến một chúng sinh phải rơi vào địa ngục chăng? Nếu không Giác Ngộ, không ai có thể thấu triệt được những điều ấy.

Ngay lúc này, cái gì là chủ thể ngắm nhìn mầu sắc bằng mắt, nghe tiếng động bằng tai, giơ tay, nhấc chân. Chúng ta biết đó là những chức năng tâm ý thức của chính mình, nhưng không ai biết đích xác chúng đã được thực hiện như thế nào. Có thể khẳng định rằng không có thực thể nào đằng sau những hoạt động này, thế nhưng rõ ràng là chúng được thực hiện một cách tự phát đột khởi. Hoặc có thể khẳng định rằng quả thật đã có những hoạt dụng của thực thể nào đó, nhưng là thực thể vô hình.

Nếu coi như đây là một vấn đề khó hiểu, mọi suy luận để tìm câu trả lời đều ngưng bặt, ta sẽ hoang mang, không còn biết phải làm gì. Trong tình trạng thuận lợi này, nỗi niềm thống thiết mong lời giải đáp của ta càng lúc càng sâu sắc hơn một cách không mệt mỏi, lên đến cực độ.

Khi nỗi thắc mắc thâm nhập tới tận đáy lòng, sẽ xảy ra đột biến nơi tâm thức, hiển lộ chính Tâm này là Phật, là pháp giới Tánh Không.

Trong mộng, quý vị có thể quên đường về nhà. Quý vị nhờ ai đó chỉ lối hoặc cầu xin Trời Phật, nhưng cũng vẫn không về nhà được. Nhưng ngay khi tỉnh ngủ, ra khỏi giấc mơ, quý vị sẽ thấy mình đang nằm trên giường của chính mình và nhận chân được rằng chỉ có một con đường độc nhất để trở về là tự mình thức dậy, ra khỏi giấc mơ. Điều này gọi là “Trở về bản thể” hoặc “Tái sinh nơi an tịnh”. Đây là loại tỉnh thức nội tâm chỉ cần thực tập là người ta có thể đạt được. Hầu như tất cả những người hâm mộ tọa thiền và gắng sức trong hành trì thì dù là cư sĩ hay tu sĩ cũng đều có thể đạt được tới trình độ này. Nhưng dù chỉ tới trình độ này thôi, cũng không đạt được nếu không tọa thiền.

Dầu vậy, bạn sẽ mắc một sai lầm quan trọng nếu như mới tới đây mà bạn đã tưởng rằng mình Triệt Ngộ, không còn điều hoài nghi về bản chất của thực thể. Như thế thì bạn cũng giống như một kẻ tìm được mỏ đồng đã vội bỏ ước vọng tìm ra mỏ vàng.

Đến giai đoạn tỉnh giác này, hãy tự tra vấn sôi nổi hơn nữa với câu:

“Thân tôi như bóng ma, như bọt nổi trên dòng nước. Tâm tôi tự nhìn vào chính nó thì rõ ràng là vô hình, chỉ như khoảng không gian trống rỗng, vậy thì từ nơi đâu trong đây nhận ra được âm thanh? Ai đang nghe?”

Cứ tự hỏi như thế bằng tất cả sự tha thiết, không hề buông lơi lòng nhiệt thành thì cái đầu óc lý sự sẽ kiệt quệ, dần dần chỉ còn lại nỗi thắc mắc mênh mông về câu hỏi không có giải đáp. Cuối cùng, ý thức về thân của bạn sẽ mất luôn. Những khái niệm và tư tưởng từ bao lâu nay chất chứa trong tâm bạn sẽ biến mất sau khi sự tra vấn tiến đến mức cùng cực, như là tất cả những giọt nước biến mất khỏi cái bình vỡ đáy, ngay đó hiển lộ tình trạng Triệt Ngộ như hoa bất thình lình nở bung trên cành cây héo tàn.

Tới đây là quý vị đã đạt được sự giải thoát chân thật. Tuy nhiên, đến giai đoạn này là lúc mà quý vị phải liên tục xả bỏ những gì đã nhận thức, dẹp luôn khái niệm về nhận thức, dẹp luôn chủ thể nhận thức, nghĩa là quyết tâm thấu suốt tận đáy, Tự Tánh sẽ hiển lộ ngày càng bừng sáng hơn và trong suốt, trong khi những vọng niệm u mê tan biến như viên ngọc được chà bóng sáng choang, cuối cùng sẽ chiếu rực rỡ khắp cả vũ trụ.

Quý vị đừng nghi ngờ! Nếu trong đời hiện tại mà niềm khao khát giác ngộ của quý vị chưa đủ mạnh để đưa đến được trạng thái này, thì chắc chắn quý vị sẽ dễ dàng Tự Ngộ trong kiếp tới, với điều kiện là quý vị giữ được sự tra vấn miên mật cho tới khi lâm chung, y như là một việc đang làm dở dang hôm nay thì ngày mai sẽ dễ dàng hoàn tất.

Khi tọa thiền, nếu có niệm tưởng khởi lên, đừng coi thường cũng đừng trân trọng, chỉ tìm tâm mình, đó là ngọn nguồn của tất cả những tư tưởng và ý niệm. Phải hiểu rằng tất cả những gì xuất hiện trong ý thức hoặc trước mắt đều là ảo giác, không phải là thực thể bền vững. Vì thế không nên sợ hãi hoặc say mê những loại hiện tượng này. Nếu quý vị giữ được tâm mình trống rỗng như khoảng không gian, không bị ô nhiễm vì ngoại cảnh thì không ma quỷ nào có thể làm phiền, ngay cả trong giờ phút lâm chung.

Trong lúc tọa thiền, quý vị đừng giữ lại gì trong tâm, kể cả những lời khuyên này. Quý vị phải quyết liệt chỉ làm một việc là hỏi “Tâm này là gì?” hoặc “Cái gì đang nghe những âm thanh này?”

Khi Ngộ được Tâm này, quý vị sẽ biết chính nó là cội nguồn của chư Phật và của tất cả hữu tình chúng sinh. Bồ tát Quán Thế Âm có tên gọi như thế vì ngài đã chứng đắc Nhĩ Căn Viên Thông, thông suốt nguồn gốc âm thanh của tất cả thế gian.

Làm việc hoặc nghỉ ngơi, luôn cố gắng nhận ra ai đang nghe. Dù câu hỏi đã gần như chìm vào vô thức, quý vị cũng không thể tìm ra ai đang nghe và tất cả mọi cố gắng của quý vị sẽ chỉ là hư ảo. Ấy thế mà vẫn nghe thấy âm thanh, cho nên lại càng tự hỏi thâm sâu thêm nữa. Cuối cùng thì tất cả mọi dấu vết của tự thức đều tan biến và quý vị sẽ cảm thấy như bầu trời trong vắt không một sợi mây. Quý vị sẽ không còn thấy có cái “Tôi” đồng thời cũng không tìm ra được người đang nghe. Tâm này như khoảng không gian nhưng cũng không có một vết tích nào để có thể được gọi là trống rỗng.

Trạng thái này thường bị nhận lầm là Giác Ngộ. Nhưng hãy tiếp tục tự hỏi một cách kịch liệt hơn nữa “Bây giờ ai đang nghe?” Cứ tiếp tục như thế, thắc mắc càng lúc càng thống thiết hơn, chẳng còn để ý tới gì khác, thì ngay cả đến cái cảm giác trống rỗng cũng sẽ biến mất và quý vị sẽ không còn nhận thức về bất cứ điều gì, chỉ còn lại khoảng không gian đen tối mênh mông. Đừng ngưng tại đây, cứ tiếp tục tự hỏi bằng tất cả sức bình sinh “Ai đang nghe đây?”. Chỉ khi quý vị đã đẩy thắc mắc đến chỗ hoàn toàn kiệt quệ thì câu hỏi sẽ bùng vỡ, bạn sẽ cảm thấy như một người trở về từ cõi chết. Đó là Chân Ngộ. Bạn sẽ nhìn thấy tận mặt tất cả chư Phật trong pháp giới và tất cả chư Tổ từ thời quá khứ tới nay.

Đến đây, hãy tự trắc nghiệm bằng công án:

Một vị tăng hỏi Triệu Châu:

“Thế nào là ý của tổ sư Bồ Đề Đạt Ma từ Tây Trúc sang Trung Hoa?”

Triệu Châu trả lời:

“Cây bách trước sân”.

Nếu với công án này mà quý vị còn có một chút xíu thắc mắc, dù là nhỏ nhiệm, thì quý vị vẫn còn cần phải tiếp tục câu hỏi

“Ai đang nghe đây?”

Không giác ngộ ngay trong đời này thì quý vị còn chờ đến bao giờ? Chết mất rồi sẽ khó tránh phải chịu khổ lâu dài trong Tam Ác Đạo. Cái gì ngăn trở quý vị giác ngộ giải thoát. Không có gì ngăn trở ngoại trừ khát vọng nửa chừng của chính quý vị đối với chân lý.

Hãy suy tư và dành tất cả sức bình sinh vào điều này”.

Thưa quý thính giả,

Trên đây là bài thuyết pháp của thiền sư Bassui, nói với những người tu hành nghiêm túc, những người muốn đi tới tận mục tiêu cuối cùng mà đức Bổn Sư Thế Tôn đã mong mỏi chúng sinh đạt được. Chúng tôi nguyện ước quý vị thính giả đã có cơ duyên với nhà Phật, đã nghe được bài này, phát tâm bước lên con đường chân chính, đi thẳng tới đích Triệt Ngộ, giải thoát tất cả những nỗi thống khổ do nghiệp chướng từ vô lượng kiếp.

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới. Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 28 – Bản Tâm bất sinh bất diệt

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Trong những kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình bày với quý vị bài kệ tóm tắt con đường tu hành của người Phật tử, như sau:

“Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành”

“Không làm những điều ác” và “Siêng làm những việc lành” là phần đạo đức thế gian, không riêng đạo Phật, mà hầu hết các tôn giáo và các nền giáo dục trên khắp thế giới đều dạy. Duy câu “Tự thanh tịnh tâm ý” thì mới chính là đặc điểm riêng biệt của đạo Phật. Bởi vì, nội dung của “tự thanh tịnh tâm ý” có nghĩa là chấm dứt tất cả những lôi cuốn của Tham, Sân và Si, vốn là nguyên nhân của tất cả mọi nỗi thống khổ trên đời.

Kinh Phật nói: “Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu”, câu đó có nghĩa là khi tâm đã tịnh là đã bạch hóa được nghiệp chướng tích lũy từ vô lượng kiếp. Tội là những nghiệp ác. Tâm đã tịnh rồi thì cũng có nghĩa là tất cả nghiệp thiện và ác đều đã tiêu dung, không còn nghiệp nhân để tái sinh, là chấm dứt được dòng sinh tử, ra khỏi vòng luân hồi. Tóm lại, là hoàn tất được bước thứ tư trong bốn Chân Lý Thâm Diệu, là Diệt Khổ, là giác ngộ giải thoát, thành Phật.

Vậy thì, Tâm là gì?

Thưa quý thính giả,

Nơi kinh Surangama, phiên âm là kinh Thủ Lăng Nghiêm, qua lời giảng giải của đức Phật cho vua Prasenajit, Ngài đã khai mở tâm thức của ông ta, khiến cho ông nhận ra được Bản Tâm bất sanh bất diệt. Chúng tôi xin trích dịch đoạn kinh quan trọng này từ bản Anh ngữ của cư sĩ Charles Luk, như sau:

“Lúc đó, vua Prasenajit đứng dậy bạch Phật:

– Bạch đức Thế Tôn, trước khi được ngài chỉ dạy, đệ tử đã gặp hai người là Katyâyana và Vairatiputra, cả hai đều nói rằng thân này sau khi chết thì hoại diệt. Sự hoại diệt đó được gọi là Niết Bàn. Dù nay đệ tử đã được gặp đức Thế Tôn, nhưng vẫn chưa hiểu rõ điều này. Tất cả chúng đệ tử đây vẫn còn đang trong vòng luân hồi sinh tử, cầu mong làm thế nào để có thể nhận ra được cái Tâm vượt khỏi vòng sinh tử.

Đức Phật nói với vua Prasenajit rằng:

– Đại vương, nay ta hỏi về cái cơ thể máu thịt của nhà vua, nó vĩnh viễn hiện hữu, không thể phá hủy được như là kim cương, hay là nó thay đổi và hư hoại.

Nhà vua bạch rằng:

– Bạch đức Thế Tôn, cơ thể của đệ tử liên tục thay đổi và cuối cùng sẽ hoại diệt.

Đức Phật hỏi:

– Đại vương, ông chưa chết sao biết cơ thể sẽ hoại diệt?

Nhà vua bạch Phật:

– Bạch đức Thế Tôn, dù rằng cái cơ thể không vĩnh cửu mà luôn luôn đổi thay hư hoại này của đệ tử chưa chết, nhưng đệ tử quan sát thấy nó thay đổi và hoại diệt liên tục, không lúc nào ngưng, dù là một thoáng thời gian, âm thầm hoại diệt như lửa cháy tàn dần trở về hư vô.

Đức Phật hỏi:

– Đại vương, nay ông đã già, so sánh hình dáng hiện nay với hình dáng khi ông còn là cậu bé khác nhau ra sao?

Nhà vua trả lời:

– Bạch đức Thế Tôn, khi đệ tử còn nhỏ, da dẻ sáng mịn, đến khi thành niên khí lực sung mãn tràn đầy sức sống. Đến nay tuổi già sức yếu, thân hình còm cõi, thần khí chậm lụt, đầu tóc bạc trắng, da mặt nhăn nheo. Cho nên đệ tử biết rằng thời gian sống trên đời chẳng còn lâu dài gì nữa. Không thể đem cái cơ thể hao gầy của đệ tử ngày nay để so sánh với cơ thể sung mãn đầy sức sống, khi đệ tử còn trẻ được.

Đức Phật hỏi:

– Đại vương, hình dáng ông không phải là bỗng nhiên bị suy tàn, đúng không?

Vua Prasenajit bạch Phật:

– Bạch đức Thế Tôn, tuy nó âm thầm thay đổi liên tục một cách lặng lẽ khiến cho đệ tử không thể nhận ra một cách rõ ràng, nhưng cùng với bốn mùa đổi thay, dần dà hình dáng đệ tử thay đổi tàn tạ đi như ngày hôm nay.

Tại sao vậy?

Bạch đức Thế Tôn, khi đệ tử được 20 tuổi, tuy là còn trẻ trung, nhưng lúc đó đệ tử đã già hơn năm lên 10. Rồi khi 30 tuổi, lại già hơn năm 20. Cho đến ngày hôm nay, đệ tử được 62 tuổi, thì đã già yếu hơn khi mới năm chục tuổi. Bạch đức Thế Tôn, đấy là đệ tử nói về sự âm thầm thay đổi tính theo từng thập niên. Nhưng nếu quan sát kỹ, thì sự thay đổi xảy ra không phải là hằng năm, hằng tháng hoặc hằng ngày, mà nó xảy ra trong từng thoáng thời gian ngắn ngủi, từng sát na tâm thức sinh diệt. Do đó, đệ tử có thể thấy rõ một ngày kia thân này sẽ tàn tạ, sẽ chết.

Đức Phật dạy:

– Đại vương, ông quan sát sự thay đổi liên tục nơi thân ông và biết rằng ông sẽ chết. Nhưng ông có biết tại nơi ông, có cái gì không chết chăng?

Nhà vua chắp hai tay, bạch Phật:

– Bạch đức Thế Tôn, đệ tử thật là không biết.

Đức Phật dạy tiếp:

– Để ta sẽ chỉ ra cho ông thấy Tâm Bản Nhiên bất sanh bất diệt, ở ngoài vòng sinh tử. Đại vương, lần thứ nhất trong đời, ông thấy sông Hằng lúc được mấy tuổi?

Nhà vua bạch:

– Khi đệ tử 3 tuổi, được mẹ dẫn đi lễ thần Jiva. Khi qua sông, đệ tử biết đó là sông Hằng.

Đức Phật hỏi:

– Đại vương, ông mới nói rằng khi ông 20 tuổi, thì già hơn lên 10, cho đến khi 60, ngày qua tháng lại, năm tháng chồng chất, cơ thể ông âm thầm từng ý niệm đã đổi thay. Vậy năm ông lên 3, “tánh chất của sự thấy” có giống “tánh chất của sự thấy” năm ông 13 tuổi chăng?

Nhà vua bạch Phật:

– “Sự thấy” 3 tuổi cũng giống năm 13 tuổi, ngay cho tới nay đệ tử đã 62 tuổi, “sự thấy” cũng vẫn giống hồi đó.

Đức Phật dạy:

– Đại vương, ngày nay ông 62 tuổi, tóc bạc mặt nhăn, hiển nhiên là nhiều nếp nhăn hơn năm ông còn bé. Vậy ngày hôm nay ông thấy sông Hằng, ông có nhận ra rằng “tánh chất của sự thấy” hôm nay già hơn và “tánh chất của sự thấy” năm ông lên 3 trẻ hơn chăng?

Nhà vua bạch:

– Bạch đức Thế Tôn, “tánh chất của sự thấy” luôn luôn vẫn như nhau.

Đức Phật dạy:

– Đại vương, dù da mặt ông nhăn nheo, già đi, Tánh Thấy của ông vẫn trước sau như nhau, không già. Vậy thì, cái gì có già đi thì có thay đổi, cái gì không già đi thì không thay đổi. Sự thay đổi đi tới hoại diệt, sự không thay đổi thì bản chất vốn ngoài vòng sinh tử. Tại sao ông lại nói theo lời của bọn tà đạo Maskari cho là đời này sau khi chết trở thành hư vô.

Sau khi nghe lời dạy của đức Phật, vua Prasenajit nhận ra được rằng sau khi chết không phải là cõi hư vô, mà sẽ tái sinh vào đời sống mới. Nhà vua và toàn thể chư đệ tử đều rất vui mừng được nghe một bài pháp vô cùng quý giá về Tâm Bản Nhiên bất sanh bất diệt mà họ chưa từng được nghe.

Thưa quý thính giả,

Tâm Bản Nhiên ở đây chính là Bản Thể Tuyệt Đối, Phật Tâm, Phật Tánh, Giác Tánh, Giác Tri Kiến, Tri Kiến Phật, Chân Tâm, Tâm Chân Như, Trí Tuệ Bát Nhã (Prajna Paramita), Niết Bàn, Tánh Không, Buddha Nature, Buddha Mind, True Mind, True Nature, … vân vân …

Theo Luận Đại Thừa Khởi Tín của Luận Sư Mã Minh thì Tâm chúng sanh có hai phương diện là Tâm Chân Như và Tâm Sanh Diệt, còn gọi là Chân Tâm và Vọng Tâm. Nền tảng của “Tâm Sinh Diệt” là Tàng Thức, nghĩa là cái kho, còn gọi là Thức Thứ Tám trong Tâm Lý Học, mà thuật ngữ nhà Phật gọi là Duy Thức Học. Nhà Phật quan niệm rằng tất cả các hiện tượng trên thế gian đều do Tâm Thức biến hiện mà thành, cho nên gọi là Duy Thức.

Theo kinh Viên Giác của nhà Phật, thì “Tất cả chúng sinh vốn là Phật” cũng như vàng vốn sẵn là vàng, nhưng là vàng quặng, lẫn tạp chất, nên phải gạn lọc, xả bỏ tạp chất cho sạch để trở về bản chất vàng, chứ không phải dùng chất khác mà làm thành vàng được. Tu hành cũng vậy, chỉ là xả bỏ chất độc hại là Tham Sân Si, chấm dứt vọng tâm điên đảo, thanh tịnh hóa Tâm, là trở về Bản Thể Phật Tánh, mà Sơ Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma dùng chữ của thế gian cho dễ hiểu, gọi là “Kiến Tánh thành Phật”.

Theo quan điểm của nhà Phật thì dòng sinh mệnh khởi đi do một niệm vô minh bất giác bỗng nổi lên từ Biển Tâm mênh mông, cũng như người đang thức, chớp mắt đã lạc vào giấc ngủ. Trong mơ, thấy đủ thứ hiện ra, bị đánh cũng thấy đau, khóc cũng có nước mắt, sợ hãi cũng chạy trốn, vân vân … Nhưng thời gian của giấc ngủ bình thường chỉ lâu có một đêm, sáng dậy bèn biết ngay rằng chuyện xảy ra trong đêm là ngủ mơ, không thật.

Dòng sinh tử của con người kéo dài triền miên, từ cái niệm vô minh bất giác đó khởi đi, hết đời này tới kiếp khác, tạo nghiệp thiện, hoặc ác, tất cả đều chứa trong Tàng Thức (là cái kho), làm nhân cho những kiếp sau, tiếp tục trôi lăn trong mê vọng của sinh tử luân hồi, mãi đến khi nào thức tỉnh, trở lại được trạng thái Tâm Thanh Tịnh, thì mới hội nhập lại với Bản Thể Chân Tâm được, đó là Kiến Tánh thành Phật. Phật có nghĩa là người giác ngộ, không phải là thần linh.

Thưa quý thính giả,

Tất cả các con đường tu học của Phật giáo đều nhấn mạnh vào sự thanh tịnh hóa và luyện cho Tâm được an định. Tâm có an định thì mới có thể nhìn rõ sự việc trên thế gian, cũng như thùng nước có đứng lặng thì mới nhìn thấy cây kim dưới đáy. Do Tâm an định, đời sống tinh thần được an lạc, ứng xử sáng suốt, chuyển hóa nghiệp xấu trở thành tốt, tạo nền tảng cho sự tu hành rốt ráo đến kiến Tánh thành Phật, giải thoát khỏi tất cả nỗi thống khổ.

Để đạt được điều này, nhà Phật có những pháp môn tu, thí dụ Ngũ Đình Tâm Quán, Thiền Chỉ Quán, Thiền Tứ Niệm Xứ, Thiền Tông, Thiền Minh Sát, Tịnh Độ Tông, Mật Tông, vân vân… Hành trì theo đường lối của các pháp môn tu này sẽ giúp hành giả gỡ bỏ những vướng mắc Tham Sân Si vốn đã xuất hiện từ vô thủy.

Như thế, đạo Phật không bi quan, không lạc quan, chỉ phân tích rõ ràng thực tế vận chuyển của cuộc đời và dạy những pháp môn tu tập để mọi người được tỉnh thức thật sự, tiếp cận với đời sống ngay trong hiện tại một cách vững vàng, sáng suốt.

Thưa quý thính giả, 

Nhân đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện Thiền, trích dịch từ cuốn “Only Don’t Know, The Teaching Letters of  Zen Master  Seung Sahn”, câu chuyện như sau:

“Hồi đó, trên dẫy núi mênh mông có một con gấu đen to lớn, khỏe và đẹp, ngênh ngang tung hoành. Nó sống cuộc đời  đầy tự do và hạnh phúc. Ngoài những lúc lăn ra ngủ, nó dùng hầu hết thời giờ để đi kiếm thức ăn. Cũng có khi nó kiếm được ê hề, nhưng cũng có khi nó đi không rồi lại về không. Cuộc đời nó cứ thế mà trôi, tự do tự tại.

Thế rồi một ngày kia, có một đám người tới bắt nó đem về nhốt vào chiếc chuồng nhỏ của một gánh xiếc lớn. Chẳng mấy chốc nó đã được một nhà luyện thú dậy cho biết cách đóng trò trong gánh xiếc này. Mỗi lần con gấu biểu diễn đúng theo lời dậy thì nó được cho ăn no nê.

Ngoài giờ đóng trò, nó chỉ đi tới đi lui trong chuồng. Cái chuồng thì nhỏ, nên nó biết rõ đến nỗi thuộc làu từng chi tiết. Đồ ăn thì luôn luôn ê hề cho nên chẳng bao lâu nó đã quên biến mất quãng đời liệt oanh, khi mà nó một mình một giang sơn nơi rừng sâu núi thẳm.

Nhiều năm trôi qua, một đêm kia có mấy kẻ phá hoại lẻn vào gánh xiếc phá bung tất cả các chuồng để thả thú ra. Con gấu bỗng nhiên được tháo cũi xổ lồng, vội vã bỏ gánh xiếc chạy thục mạng một mạch về vùng núi xưa, nơi đã một thời là giang sơn của nó.

Nhưng dẫy núi xưa đó sao nay có vẻ xa lạ quá khiến cho nó không còn dễ dàng kiếm được đồ ăn như trước nữa. Thế là nó bèn quay ra biểu diễn vài màn nhào tới lộn lui, rồi lại nhào lui lộn tới.

Có mấy con gấu đi ngang qua dừng lại coi, rồi hỏi rằng nó đang làm gì, thì nó trả lời:

– Ồ, tao đang làm trò xiếc để sẽ được cho ăn  đấy mà.

Cả đám gấu khán giả lăn ra cười:

– Rõ thật là cái thằng ngốc! Mày đang ở trên núi. Ai sẽ đem thức ăn đến để thưởng công biểu diễn xiếc cho mày. Hãy tự đi mà kiếm ăn, thằng ngu kia!

Nhưng bây giờ thì con gấu đã trở nên quá gắn bó với cái chuồng của nó, khiến cho nó quên tuốt luốt tất cả mọi sinh hoạt của đời sống tự do tự tại.

Loài người thì cũng thế. Mỗi người đều có một cái lồng mà họ bị dính mắc vào — cái lồng của bác sĩ, cái lồng của luật sư, cái lồng của giáo sư, cái lồng của công việc, cái lồng của tình bằng hữu, cái lồng của tình gia đình.

Vì con người sống trong những cái lồng này cho nên họ không còn thật sự thấu hiểu thế nào là tự do nữa. Điều đó có nghĩa là họ không hiểu biết phần còn lại của vũ trụ. Họ chỉ thấu suốt được cái đời sống loanh quanh hẹp hòi, đóng khung trong cái lồng của họ.”

Thưa quý thính giả,

Cái lồng mà thiền sư Seong Sahn nói đó, áp dụng vào thực tế trong đời sống, chính là cái khung, cái khuôn khổ, nếp sống vật chất và tinh thần cứng ngắc mà mỗi người tự nhốt mình vào, tự mình làm mất tự do của chính mình.

Kính thưa qu‎‎ý vị,

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.