Archive | July 16, 2013

Bài 27 – Tâm được tịnh rồi, tội liền tiêu

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Vào một buổi bình minh khi sao Mai xuất hiện trên bầu trời, thái tử Tất Đạt Đa bừng tỉnh cơn mê vọng từ vô lượng kiếp, Giác Ngộ triệt để, trở thành một vị Phật. Ngay khi đó, Ngài thấu suốt mọi sự việc, bèn than rằng: “Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có trí huệ đức tướng Như Lai, chỉ vì vọng tưởng chấp trước mà chẳng thể chứng đắc”!

Do thấu triệt sự thực đó, đức Phật khởi tâm từ bi, dùng tất cả thời giờ còn lại trên thế gian gấn năm chục năm, để dạy chúng sinh tu hành tới giác ngộ giải thoát, thành Phật như Ngài.

Tuy thời gian giáo hóa chúng sinh dài gần nửa thế kỷ, tựu trung, cốt tủy tất cả những lời dạy đó được đức Phật tóm tắt bằng tuyên ngôn:

– “Này chư Tỳ kheo, bây giờ cũng như trước đây, Như Lai chỉ dạy về “Khổ” và về “Con Đường Diệt Khổ”.

Có người cho rằng đức Phật nói đời là bể khổ, nghĩa là không có niềm vui nào ở thế gian, nên phải tu hành để sau khi chết sẽ được vào Niết Bàn mới hết khổ.

Nói như thế là đã hiểu lầm rất lớn lời dạy của Đức Phật.

Đức Phật cũng nói đến hạnh phúc, nhưng ngài dạy rằng vì tất cả mọi sự trên thế gian đều không vĩnh viễn, đều vô thường, vì thế, hạnh phúc trên thế gian dĩ nhiên là có, nhưng vì không vĩnh viễn, nên khi nó chấm dứt thì khổ.

Nơi kinh Hạnh Phúc, trong khi các vị Trời và người suy tư và mong mỏi được hạnh phúc, mới bạch lên đức Phật, xin giải nghĩa thế nào là chân hạnh phúc?

Đức Phật dạy đại ý như sau:

– “ Muốn có hạnh phúc chân thật thì phải:

* Biết kính trọng và gần gũi các bậc hiền đức, đáng kính và tránh những kẻ si mê.

* Nên ở khu dân cư hiền hòa, giữ gìn sự ngay thẳng và các giới luật.

*Trong giao tiếp với tha nhân cần phải hòa ái.

* Phải phụng dưỡng cha mẹ và thương yêu gia đình vợ chồng con cái, không gây nên những chuyện vương vấn phiền hà.

* Đối với thân nhân chòm xóm cần phải khiêm cung, cảm thông và giúp đỡ lẫn nhau, mang ơn ai thì nên nhớ.

* Tránh xa rượu chè và các tệ nạn, nên sống theo đạo đức.

* Thường viếng thăm các bậc tu hành đạo cao đức trọng để thảo luận.

* Gìn giữ sự trong sạch thân và tâm, siêng năng tu tỉnh để thông suốt chân lý mới có được niềm vui thanh tao an tịnh.

* Trong giao tiếp với thế gian, gìn giữ để không bị sa ngã, buồn phiền.

Nếu giữ được thân tâm an bình thanh thản như vậy thì đó chính là chân hạnh phúc”.

Thưa quý thính giả,

Trong bộ luận Trung Quán, Luận Sư Long Thọ (Nagarjuna) đã viết rằng chư Phật nói pháp nương theo hai chân lý, là chân lý quy ước và chân lý tuyệt đối. Nếu người học Phật mà không phân biệt được hai chân lý này thì không thể tiến được tới đích là Niết Bàn.

Thật vậy, trong đời sống hằng ngày, chúng ta phải tuân theo chân lý quy ước, do đó, cũng có những hạnh phúc trong vòng quy ước.

Nhưng nếu tu hành thanh tịnh hóa tâm, Thực Chứng được Bản Thể Chân Tâm, thì chúng ta đạt được hạnh phúc Niết Bàn, hạnh phúc đó vượt lên trên những hạnh phúc nhỏ bé trong đời thường.

Để có thêm tài liệu về sự cần thiết tập giữ cho tâm tĩnh lặng, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị bài pháp của đức Đạt Lai Lạt Ma, trích dịch từ cuốn The Art of Happiness, a Handbook of Living, nội dung gồm những cuộc đối thoại giữa đức Đạt Lai Lạt Ma và bác sĩ Howard Cutler về các vấn đề liên quan đến hạnh phúc của kiếp người.

Đề cập đến vấn đề làm thế nào để có hạnh phúc trong đời sống, ngài Đạt Lai Lạt Ma giải thích rằng:

– …”… Dù có thể đạt được đấy, nhưng hạnh phúc không phải là  chuyện giản dị. Có nhiều mức độ của hạnh phúc. Lấy thí dụ như trong đạo Phật, người ta thường đề cập đến 4 yếu tố đem lại sự thỏa mãn, tạm gọi là hạnh phúc, gồm có giầu có, danh vang thế giới, sự thông tuệ và minh triết. Tổng hợp những điều này lại, là tiêu chuẩn của hạnh phúc mà một người có thể đạt được.

Hãy tạm gác qua một bên những điều cao xa về tâm linh như sự thanh tịnh toàn hảo, sự giác ngộ triệt để. Chúng ta hãy bàn về những niềm vui và hạnh phúc đời thường.

Trong đời sống hằng ngày, cũng có những yếu tố then chốt mà chúng ta thừa nhận là đã mang lại niềm vui và hạnh phúc. Thí dụ như khỏe mạnh, không bệnh tật, cũng là một trong những điều cần thiết phải có của một cuộc sống hạnh phúc. Hoặc sự phong phú về của cải vật chất, tiền bạc tích lũy, cũng được coi là những yếu tố tạo dựng hạnh phúc. Rồi thì tình bạn hoặc tình tri kỷ, tri âm. Chúng ta đều công nhận rằng muốn có một cuộc sống phong phú, mãn nguyện, chúng ta cần có một số bạn bè cảm thông với chúng ta và chúng ta có thể tin cậy được.

Bây giờ chúng ta thấy rằng tất cả những yếu tố kể trên là nguồn mang hạnh phúc lại cho chúng ta. Thế nhưng, để mỗi người có thể ứng dụng triệt để vào mục tiêu tận hưởng hạnh phúc của cuộc đời thì trạng thái tinh thần mới chính là yếu tố quyết định.

Nếu chúng ta đem những lợi điểm của chúng ta , thí dụ sức khỏe hoặc tiền bạc phong phú dùng vào những lãnh vực tích cực như giúp đỡ tha nhân thì đúng là chúng sẽ mang lại cho chúng ta cuộc sống hạnh phúc.  Và chắc chắn là chúng ta cũng sẽ tận hưởng được hương vị của cuộc sống vật chất đầy đủ và thành công này.

Nhưng nếu không có cuộc sống tích cực, lành mạnh, không quan tâm đến yếu tố tinh thần, thì những lợi điểm mà chúng ta có như tiền bạc, sức khỏe, cũng sẽ chỉ ảnh hưởng rất ít vào niềm hạnh phúc trường cửu của chúng ta.

Thí dụ, nếu bạn giữ lại những ý tưởng ghét bỏ, căm hờn trong đáy lòng, thì những tâm niệm đó sẽ tàn phá sức khỏe của bạn, thế là chúng đã làm mất đi một trong những yếu tố mang lại hạnh phúc.

Cũng thế, nếu trong lòng bạn đầy phiền não, bất mãn, thì dù thể chất bạn có mạnh đến đâu cũng không thể gỡ rối cho tâm hồn.

Mặt khác, nếu bạn giữ được sự an tịnh trong nội tâm thì bạn có thể là một người rất hạnh phúc, dù bạn có thể chất yếu đuối đi nữa. Hoặc ngay như bạn có những vật sở hữu quý giá, trong lúc nổi giận, bạn cũng thấy như là muốn liệng bỏ, đập phá tất cả. Trong cơn giận dữ, những vật sở hữu, của cải, chẳng còn có ý nghĩa gì.

Ngày nay, có những xã hội phát triển mà đời sống tiện nghi vật chất lên rất cao, nhưng cũng chính ở những xã hội đó, lại có rất nhiều người không cảm thấy hạnh phúc. Ngay dưới lớp mặt tiền đẹp đẽ của sự sung túc, là những mỏi mệt của tâm hồn, đưa đến thất vọng, đến những sự tranh cãi vớ vẩn, những lệ thuộc vào chất kích thích, hoặc say sưa rượu chè. Đôi khi còn xảy ra những trường hợp thê thảm hơn, là tự sát.

Cho nên không thể bảo đảm rằng chỉ cần lắm bạc nhiều tiền là đã có thể đem lại niềm vui hoặc sự mãn nguyện, điều mà người ta đang đi tìm.

Trong tình bạn cũng thế, khi bạn đang nổi trận lôi đình, thì dù ngay đến người bạn chí thân của bạn, cũng hiện lên trong tâm trí bạn với cảm giác băng giá, lạnh nhạt, xa cách và khó chịu.

Tất cả những điều trên đây nói lên tầm ảnh hưởng sâu rộng của yếu tố tinh thần mà chúng ta đã có kinh nghiệm trong đời sống hằng ngày, cho nên, chúng ta cần phải rất quan tâm.

Vậy thì hãy tạm để vấn đề tu tập về tâm linh qua một bên, ngay như chỉ với những việc thông thường, chỉ là vấn đề vui thú trong đời sống hằng ngày mà thôi, nếu chúng ta càng giữ được sự tĩnh lặng trong tâm hồn bao nhiêu thì chúng ta càng đạt được niềm hoan hỉ, hạnh phúc bấy nhiêu.”

Ngừng một lát như muốn cho lời giải thích đủ thời gian thấm vào lòng người nghe, ngài Đạt Lai Lạt Ma tiếp:

– Tôi cần phải xác định rõ là khi chúng ta nói về trạng thái tâm hồn an tịnh, hoặc tâm hồn bình ổn, chúng ta đừng lầm lẫn với tình trạng lãnh đạm, vô cảm. Một tâm hồn tĩnh lặng không phải là một đầu óc rỗng tuếch hoặc hoàn toàn trống vắng. Tâm hồn an tịnh hoặc trạng thái bình tĩnh bắt nguồn từ tình thương yêu và lòng trắc ẩn rất sâu đậm, là mức độ cao của sự mẫn cảm.”

Để kết thúc, ngài Đạt Lai Lạt Ma nói:

-“Thiếu sự rèn luyện để có một trạng thái tĩnh lặng trong tâm hồn thì bất kể bạn có bao nhiêu của cải hoặc có những điều kiện sống tốt như thế nào, chúng cũng không thể mang lại cho bạn cảm giác an lạc và hạnh phúc, là những điều bạn đang tìm kiếm.

Mặt khác, nếu bạn có được sự an bình nội tâm, thì dù có thể là bạn đang thiếu những của cải vật chất mà bạn thường tưởng rằng chúng là những điều cần thiết để mang lại hạnh phúc, bạn vẫn có thể sống một cuộc đời rất vui vẻ và hạnh phúc.”

Trên đây là bài pháp của đức Đạt Lai Lạt Ma nói về hạnh phúc trong đời sống hằng ngày.

Thưa quý thính giả,

Về vấn đề tội lỗi, nhà Phật quan niệm rằng nguyên nhân vì vô minh, khởi những tâm niệm xấu ác, di chuyển trong vòng nhân quả, tạo nghiệp nhân, thọ quả báo, tánh của tội lỗi vốn không cố định, cũng ví như căn nhà không có đèn thì tối, nếu bật đèn lên thì bóng tối biến mất, căn nhà sáng trưng, căn nhà không cố định phải tối mãi mãi.

Tâm con người cũng chuyển hóa như thế, lúc nhiều vọng tưởng, tâm viên ý mã thì dễ tạo nghiệp, khi tâm đã thanh tịnh thì nghiệp cũng chuyển hóa thành không.

Có bài kệ như sau:

Tội từ tâm khởi đem tâm sám
Tâm được tịnh rồi, tội liền tiêu
Tội tiêu, tâm tịnh, thảy đều không
Thế mới thật là tâm sám hối.

Yếu tố quyết định của công cuộc xây dựng hạnh phúc trong đời sống, hoặc tu tập tới đạt đạo trong nhà Phật vẫn là chuyển hóa tâm thức.

Thưa quý thính giả,

Nhân đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện Thiền, trích dịch từ cuốnCollection of Stone and Sand”, do thiền sư Muju viết bằng Nhật ngữ, Paul Reps dịch sang Anh Ngữ. Câu chuyện nói về sự chuyển hóa tâm thức của một người say sưa hư hỏng trở thành một vị đạo sư cao quý, như sau:

“Thiền sư Gudo là thày của hoàng đế  đương triều. Dầu vậy, ông thường đi lang thang một mình như tên ăn mày không nơi trú ngụ.

Một lần trên đường đến thủ phủ Edo, trung tâm văn hóa và chính trị của thời đại Tướng Quân, ông tiến về phía làng Takenaka. Lúc đó trời đã về chiều và mưa rơi nặng hạt, cả người thiền sư Gudo ướt sũng, đôi dép rơm bở ra thành từng mảnh. Ông bỗng nhìn thấy 4, 5 đôi dép trên thành cửa sổ của một nông trại ngay gần làng, liền tiến lại định mua một đôi khô ráo.

Nhưng bà chủ nhà không bán mà biếu ông một đôi, đồng thời mời ông ở lại qua đêm tại nông trại vì cả người ông đã ướt sũng nước. Thiền sư Gudo nhận lời ở lại và cảm ơn bà ta. Ông tiến đến trước bàn thờ và tụng một bài kinh. Sau thời kinh, bà chủ giới thiệu mẹ và bầy con của bà ta với vị khách quý.

Thấy mọi người trong gia đình đều có vẻ buồn bã, không vui, thiền sư bèn hỏi lý do. Bà chủ nhà tiết lộ:

– Chồng tôi là một người ham mê cờ bạc, rượu chè. Nếu ông ta đánh thắng, thì ông ta đem tiền đi nhậu say sưa, rồi về đánh đập vợ con. Khi thua thì ông ta mượn tiền mọi người. Hôm nào say quá, ông ta vắng nhà qua đêm luôn, không về. Tôi còn có thể làm gì bây giờ?

Thiền sư trả lời:

– Vậy tôi sẽ giúp ông ta. Bà cầm chút tiền này đi mua một vò rượu và đồ nhắm ngon để sẵn đây rồi cứ việc đi nghỉ. Tôi sẽ tọa thiền trước bàn thờ là được rồi.

Khoảng nửa đêm, ông chủ nhà ngất ngưởng trở về, giọng lè nhè gầm gừ:

– Này con mụ vợ, ta đã về đây, có gì cho ta bỏ vào bụng không?

Thiền sư Gudo lên tiếng:

– Có đây, tôi có đồ ăn cho ông đây. Tôi mắc mưa bất thình lình nên bị ướt hết. Vợ ông đã có lòng tốt cho tôi tá túc đêm nay. Cảm tạ sự tử tế của bà ấy, tôi đã mua vò rượu và cá, ông có thể nhắm nháp.

Ông chủ nhà vui vẻ xách vò rượu lên tu một hơi, rồi đổ kềnh xuống sàn nhà, thiếp đi. Thiền sư Gudo tọa thiền ngay bên cạnh ông ta.

Sáng hôm sau khi thức giấc, ông chủ nhà đã quên mất tiêu mọi chuyện xảy ra đêm qua. Nhìn thấy thiền sư Gudo đang tọa thiền ngay bên cạnh, ông cất tiếng hỏi:

– Ông là ai, từ đâu tới?

Thiền sư trả lời:

– Tôi là Gudo ở Kyoto đang trên đường đến Edo.

Ông chủ nhà cảm thấy quá sượng sùng, thiết tha xin lỗi vị thiền sư đồng thời cũng là thày của hoàng đế.

Thiền sư cười, an ủi:

– Ông à, tất cả mọi sự trên đời này đều vô thường, không vĩnh viễn tồn tại. Cuộc đời rất ngắn ngủi. Nếu ông cứ cờ bạc rượu chè thì sẽ không còn thời giờ để hoàn tất việc gì, ngoài ra, ông còn làm cho cả gia đình đều khổ.

Người chồng bỗng như chợt tỉnh mộng thốt lên:

– Ngài nói đúng. Làm sao tôi có thể trả cái ơn ngài đã dạy tôi bài học tuyệt vời này. Để tôi mang đồ của ngài và tiễn ngài một đoạn đường.

Thiền sư chấp nhận lời thỉnh cầu:

– Nếu ông muốn thì tốt thôi.

Hai người lên đường. Đi được khoảng ba dặm, thiền sư bảo người đàn ông trở về. Nhưng ông ta năn nỉ:

– Để tôi đi 5 dặm nữa thôi.

Rồi họ tiếp tục đi. Một lát sau, thiền sư dục người đàn ông:

– Bây giờ thì trở về nhé.

Ông ta trả lời:

– Để tôi đi thêm 10 dặm.

Một thời gian phỏng chừng đã đi được quá mười dặm, thiền sư lên tiếng:

– Thôi về đi ông.

Nhưng người đàn ông dõng dạc trả lời:

– Thưa ngài, tôi sẽ đi theo ngài suốt cuộc đời này.

Ngày nay, có một dòng thiền rất phát triển tại Nhật, truyền thừa từ một bậc thày danh tiếng vốn là truyền nhân của đại sư Gudo. Tên của bậc thày đó là Mu-nan, có nghĩa là “người không bao giờ quay lại”.

Thưa quý thính giả,

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 

Bài 26 – Sống đạo trong gia đình

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Như quý vị đã biết, nội dung tu tập của đạo Phật có thể tóm gọn lại trong bốn câu kệ:

Không làm điều xấu, ác

Siêng làm điều tốt, lành

Thanh tịnh hóa tâm ý

Lời chư Phật dạy rành

Trong đó, hai câu đầu “Không làm điều xấu ác” và “Siêng làm điều tốt lành” là phần tu hành để chuyển hóa tâm niệm và hành động từ xấu trở thành tốt, ta thường gọi là Tu Phước, là giữ gìn 5 Giới và làm 10 điều Thiện.

Câu thứ 3, “Thanh tịnh hóa tâm ý”, là mục tiêu cốt tủy của đạo Phật, là Tu Huệ. Giai đoạn tu Huệ này mà hành trì tích cực thì có thể Ngộ Đạo, giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, kiến Tánh thành Phật, như đức Phật.

Như thế, những Phật tử dù đang sống trong gia đình, thậm chí trong đại gia đình có đông người, nếu muốn áp dụng đạo Phật vào đời sống hằng ngày, vẫn có những hướng dẫn chi tiết, tỉ mỉ, do đức Phật và các vị đạo sư thiết lập, để Phật tử cư sĩ có thể thực hiện ngay trong tầm tay, mà không cần phải vào chùa hoặc lên núi tu hành mới có thể áp dụng được lời Phật dạy.

Thưa quý thính giả,

Ðạo Phật đã bị hiểu lầm rất nhiều, người thì cho rằng Tăng Ni nhà Phật chỉ lo cúng đám làm chay cho người chết, kẻ lại nghĩ rằng đạo Phật chỉ thích hợp với các bậc tu sĩ ở ẩn.

Với mục đích trình bày minh bạch sự trong sáng của đạo Phật, đồng thời cũng để quý vị có một bài pháp rất chi tiết để áp dụng hằng ngày, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một bài giảng, trích từ cuốn What the Buddha Taught, tác giả là hòa thượng Walpola Rahula, do đạo hữu Vy Khanh dịch ra Việt ngữ.

Hòa thượng dạy rằng:

…”… Có một số người cho là đạo Phật quá cao siêu, một đường lối tu quá nghiêm túc, khắc khổ, khiến cho những người dân bình thường sống trong thế giới ngày nay không thể kham nổi. Như thế, nếu muốn thực hành giáo pháp, muốn làm một Phật tử chân chính, người ta phải rút lui vào các tu viện, hoặc những nơi vắng vẻ.

Rõ ràng đây là một sự hiểu lầm rất đáng tiếc, do thiếu hiểu biết về giáo lý nhà Phật. Người ta thường vội vã có những kết luận sai lầm như thế, sau khi nghe một vài mẩu chuyện, hoặc tình cờ đọc một cuốn sách, mà vì thiếu sự tìm hiểu rộng rãi, tác giả đã viết về đạo Phật một cách phiến diện.

Giáo lý của nhà Phật không phải chỉ dành riêng cho giới tu sĩ trong tu viện, mà là của tất cả mọi người, kể cả những nam nữ cư sĩ sống trong gia đình. Tuân theo Bát Chánh Ðạo là sống trong tinh thần Phật giáo. Dù là tu sĩ hay cư sĩ, mọi người đều có thể áp dụng nguyên tác này vào cuộc đời, không phân biệt.

Ðại đa số dân chúng trên thế giới không thể trở thành tu sĩ, hay rút lui vào các hang động hoặc rừng sâu núi thẳm để ẩn tu. Vậy nếu những người này mà không ứng dụng được lời dạy của đức Phật vào đời sống hằng ngày của họ thì dù những lời dạy ấy có cao siêu, tinh khiết đến đâu đi nữa, đối với họ cũng là vô dụng. Tuy nhiên, nếu bạn hiểu đúng tinh thần của giáo pháp, — không phải chỉ hiểu theo từ ngữ  —  thì chắc chắn bạn có thể thực hành Phật pháp trong khi vẫn sống cuộc đời bình thường.

Có thể có một số người cảm thấy nếu ở ẩn tại một nơi xa xôi vắng vẻ, chấm dứt các hoạt động xã hội, thì sự hành trì Phật pháp sẽ dễ dàng và thoải mái hơn. Nhưng lại cũng có thể có người thấy rằng đời sống ẩn dật đó thật là tẻ nhạt, khiến cho cả tâm hồn và thể xác của họ đều uể oải, không thể giúp cho cuộc sống tinh thần và nội tâm của họ được thăng hoa.

Sự ẩn dật chân chính không có nghĩa là phải xa lánh hẳn thế gian. Tôn giả Sariputta, một đại đệ tử của Phật nói rằng, một người có thể tu khổ hạnh trong rừng nhưng tâm vẫn đầy những tư tưởng ô nhiễm, bất tịnh, trong khi một người khác có thể sống trong làng mạc hay thành thị, không thực hành khổ hạnh, mà tâm lại thanh tịnh, trong sáng. Ngài nói, so sánh giữa hai người ấy, thì người sống cuộc đời thanh tịnh nơi làng mạc, thành thị, lại cao cả và giá trị hơn người kia rất nhiều.

Dường như đối với một số người thì sự lui về ẩn tu trong một nơi vắng vẻ, không bị quấy nhiễu phiền phức, sẽ cảm thấy thoải mái. Nhưng nếu có thể thực hành Phật pháp tại nơi ồn náo, sống giữa đồng loại để giúp đỡ và phục vụ họ, thì lại càng can đảm và đáng khuyến khích hơn. Trong vài trường hợp, người ta có thể sống ẩn dật để tịnh tu một thời gian cho đời sống nội tâm thêm sâu sắc, đạo lực thêm bền chắc, ngõ hầu trau giồi cho nhân cách tăng trưởng, thêm khả năng để sau này giúp đỡ mọi người.

Mặc dầu vậy, nếu có người nào mà lại đem cả cuộc đời dành cho sự sống trong cô độc, chỉ nghĩ đến hạnh phúc và “cứu rỗi” cho riêng mình, không quan tâm đến đồng loại, thì điều này chắc chắn không phù hợp với lời dạy của đức Phật, vốn đặt nền tảng trên tình thương, lòng trắc ẩn và sự phục vụ tha nhân.

Kinh Sigala-Sutta đã nói lên sự quan tâm sâu sắc của đức Phật đối với cách hành xử của người cư sĩ tu tại gia, trong những mối dây liên hệ với gia đình và thân bằng quyến thuộc, như sau:

Có một chàng thanh niên tên Sigala, vâng theo lời dặn dò của người cha trước khi qua đời, hằng ngày thường quay mặt về sáu Phương là Ðông, Nam, Tây, Bắc, Trên, Dưới, để sì sụp lễ lạy.

Ðức Phật bảo anh ta rằng theo Phật pháp, sáu Phương có nghĩa khác. Phật pháp dạy rằng Phương Ðông là cha mẹ, Phương Nam là thầy dạy, Phương Tây là vợ con, Phương Bắc là bạn bè, quyến thuộc, láng giềng, Phương Dưới là người làm công và thợ thuyền, Phương Trên là tu sĩ và đạo sư. Ngài dạy Sigala phải tôn kính sáu Phương này. Ở đây chữ  tôn kính có ý nghĩa rất đặc biệt, vì người ta chỉ tôn kính cái gì thiêng liêng, cao quý, đáng kính. Ðạo Phật coi sáu nhóm người này như là những điều thiêng liêng, xứng đáng được tôn kính.

Nhưng làm thế nào để tỏ lòng tôn kính?

Ðức Phật dạy rằng chỉ có thể tỏ lòng tôn kính chân thành bằng cách làm tròn bổn phận đối với họ. Những bổn phận này được đức Phật giảng giải rõ ràng cho Sigala như sau:

– Thứ nhất: cha mẹ là thiêng liêng đối với con cái. Cha mẹ là Trời. Từ ngữ “Trời” để biểu tượng sự cao quý và thiêng liêng nhất, theo tư tưởng Ấn Ðộ. Cho nên ngay tại thời đại này, trong những gia đình theo đạo Phật thuần thành, sáng chiều hằng ngày, con cái vẫn có những hành động để tỏ lòng tôn kính cha mẹ. Họ phải làm một số bổn phận đối với cha mẹ theo giáo lý nhà Phật: Săn sóc khi cha mẹ già yếu, làm những điều cần thiết để giúp đỡ cha mẹ, giữ gìn danh dự và truyền thống gia đình, bảo vệ tài sản cha mẹ để lại, và khi cha mẹ qua đời thì cử hành các nghi thức trong tang lễ của cha mẹ.

Về phần cha mẹ, họ cũng có những bổn phận đối với con cái, phải giữ gìn, dạy bảo cho con cái tránh xa những đường tà, khuyến khích con cái làm những việc tốt lành và ích lợi, cho con cái được hưởng một nền giáo dục chu đáo, tìm những gia đình lương thiện cho con cái kết hôn và khi con cái đã trưởng thành thì chia gia tài cho họ.

– Thứ hai: liên hệ giữa thầy và trò. Người học trò phải kính trọng và vâng lời thầy, phải chú ý đến những sự cần thiết của thầy, nếu thầy cần, phải chăm lo học hành. Về phía thầy, phải tận tâm dạy bảo học trò một cách chu đáo, giới thiệu bạn tốt cho trò và khi trò tốt nghiệp thì cố gắng tìm việc làm để bảo đảm kế sinh nhai cho trò.

– Thứ ba: liên hệ giữa chồng và vợ. Tình yêu giữa vợ chồng được coi gần như một nếp sống đạo, có tính cách thiêng liêng. Giữa vợ và chồng phải có sự tin cậy, kính trọng, hy sinh, và có những bổn phận đối với nhau. Chồng phải luôn luôn tôn trọng vợ, không được thiếu sự kính nể đối với vợ, phải thương yêu và chung thủy đối với vợ, phải bảo đảm vị trí và tiện nghi của vợ, và nên làm vui lòng vợ bằng cách tặng nàng y phục và nữ trang. (Sự kiện đức Phật không quên đề cập đến việc tặng quà cho vợ khiến chúng ta thấy được sự mẫn cảm và tế nhị đầy nhân bản của Ngài đối với niềm cảm xúc của những con người bình thường). Về phía người vợ, phải tề gia nội trợ chu đáo, làm vui lòng khách khứa, bạn bè, thân nhân và người làm công. Vợ phải yêu thương và chung thủy với chồng, phải biết giữ gìn gia sản, phải khôn khéo và hoạt bát trong công việc.

– Thứ tư: liên hệ giữa bạn bè, bà con, hàng xóm láng giềng: Mọi người phải niềm nở và tử tế đối với nhau, nói năng vui vẻ, hòa nhã, phải làm việc có lợi ích cho nhau và đối xử bình đẳng với nhau, không cãi cọ mà giúp đỡ lẫn nhau khi cần và đừng bỏ rơi khi người ta gặp hoàn cảnh khó khăn.

– Thứ năm: liên hệ giữa chủ và người làm công: người chủ có nhiều bổn phận đối với người giúp việc hoặc người làm công, phải lượng sức của người ta để mà giao việc phù hợp, tiền lương phải tương xứng, phải cung cấp thuốc men và thỉnh thoảng tặng thưởng cho người ta. Về phía người làm công thì phải chăm chỉ làm lụng, không lười biếng, phải lương thiện và vâng lời chủ, không ăn gian nói dối và phải tận tụy trong công việc

– Thứ sáu: liên hệ giữa tu sĩ và cư sĩ: với niềm kính quý, người cư sĩ phải quan tâm đến những nhu cầu vật chất của tu sĩ,người tu sĩ phải truyền bá sự hiểu biết cho cư sĩ với tấm lòng từ bi, lân mẫn và hướng dẫn họ đi trên chánh đạo, không lọt vào tà đạo.

Như vậy, chúng ta đã thấy rõ rằng dù là một người dân bình thường sống trong gia đình, tham dự những sinh hoạt ngoài xã hội, họ vẫn được thụ hưởng sự giáo hóa của đức Thế Tôn, vẫn có thể tu tập, tạo sự an lạc trong nếp sống của một người Phật tử …”…

Trên đây là lời dạy của hòa thượng Walpola Rahula.

Thưa quý thính giả,

Đệ tử Phật không phải là chỉ có Tăng Ni, mà là có tứ chúng, nghĩa là 4 nhóm, gồm Tăng, Ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ. Như thế, quý vị hẳn đã thấy rõ, rằng sự học hỏi và hành trì Phật pháp không phải là việc riêng của Tăng Ni, mà tất cả Phật tử trong 4 nhóm kể trên đều có nhiệm vụ phải tìm hiểu để học hỏi và thực hành giáo pháp, áp dụng vào cuộc sống với thân nhân, bè bạn của mình.

Có một câu chuyện Thiền kể rằng, gia đình kia có hai mẹ con. Người con hâm mộ chuyện tu hành quá, một hôm bỏ nhà lên đường tầm đạo.

Sau rất nhiều ngày dầm mưa giãi nắng trong rừng, anh ta gặp một ông già, ông hỏi:

– Anh đi tìm gì mà vào tận đây?

Anh chàng trả lời:

– Con đi tìm Phật.

Ông cụ bảo:

– Vậy anh hãy đi ngược lại con đường cũ, khi nào thấy có người đi đôi dép ngược, khoác chiếc mền rách, thì đó chính là Phật.

Anh ta quay trở về, lại mất một thời gian. Cho đến lúc đã quá mệt mỏi, anh ghé vào một căn nhà bên đường, bỗng nhận ra chính là nhà mình, bèn lên tiếng gọi:

– Mẹ ơi, mở cửa cho con.

Bà mẹ sau bao nhiêu ngày mong nhớ con đến phát bệnh, đang nằm trên giường, nghe tiếng con gọi, mừng quá quơ vội cái mền khoác lên người, hai chân xỏ vội vào đôi dép, không kịp thấy là đã đi dép ngược, lẹp xẹp chạy ra mở cửa cho con.

Cửa mở, người con nhìn thấy hình ảnh vị Phật mà ông già mô tả, khoác chiếc mền rách, đi đôi dép ngược, chính là mẹ mình đang đứng trước mặt.

Nhà Phật rất tôn trọng sự tu tập từ trong gia đình, thờ cha kính mẹ. Câu chuyện tôn giả Mục Kiền Liên tìm mẹ mà mỗi năm cứ đến ngày lễ Vu Lan, trong dân gian lại làm lễ kỷ niệm, đã nói lên sự tôn trọng đức hiếu của đạo Phật.

Sau đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện Thiền, nói về sự tập trung tinh thần, trích dịch từ loạt bài  “Zen Stories To Tell Your Neighbors” do soạn giả John Suler gửi lên Internet, như sau:

“Sau nhiều cuộc thi bắn cung đại thắng, kẻ thắng cuộc trẻ tuổi kiêu ngạo bèn thách đấu với vị thiền sư già, vốn là một cung thủ danh tiếng trong vùng.

Chàng trai trình diễn kỹ thuật nhuần nhuyễn của anh ta bằng cách đứng từ xa bắn mũi tên thứ nhất vào tâm điểm, rồi tiếp theo là mũi tên thứ hai chẻ dọc xuyên suốt từ đuôi cánh tên thứ nhất, rồi khinh khỉnh hỏi vị thiền sư:

– Đấy, ông già nhìn đi, liệu có dám so tài không?

Với vẻ thản nhiên, vị thiền sư  không rút mũi tên của mình ra khỏi bao, thay vào đó, ông ra hiệu cho chàng trai theo ông đi lên núi.

Chàng trai nổi lòng tò mò, muốn biết ý định của ông già, bèn bước theo ông leo tuốt lên núi cao, cho tới một khe vực sâu hun hút, được bắc cầu để qua bờ bên kia bằng một tấm ván mỏng.

Lặng lẽ bước vào giữa chiếc cầu ván mong manh và rung rinh, vị thiền sư nhắm một cành cây thật xa, rút mũi tên ra khỏi bao và bắn tới một cách thật gọn gàng, trúng đích.

Với vẻ phong nhã, vị thiền sư bước trở lui vào bờ vực và nói với cậu trai:

– Bây giờ đến phiên anh.

Vẻ mặt đầy nét kinh hãi, chàng trai nhìn trừng trừng xuống vực thẳm, trông như là không có đáy. Cậu ta không dám cả gan bước chân lên chiếc cầu gập ghềnh và cũng không còn nghĩ tới chuyện rút tên ra để tranh tài.

Cảm nhận tình cảnh nan giải của đối thủ,vị thiền sư ôn tồn:

– Anh rất giỏi về kỹ thuật bắn cung, nhưng anh chưa đủ khả năng tập trung tinh thần để có thể buông mũi tên ra”.

Thưa quý thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay.  Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.