Archive | July 15, 2013

Bài 25 – Ăn mặc khi đến chùa

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi nhận được thư của vị nữ thính giả, hỏi về vấn đề có lẽ cũng là thắc mắc chung của một số người, nên xin phép được nêu ra đây để chúng ta cùng nhau thảo luận. Thư có đoạn như sau:

…”…   gần sở tôi có một ngôi chùa của người Việt Nam. Có những hôm bỗng nhiên nhớ mẹ, nhớ quê hương, tôi muốn ghé qua chùa, vào thắp nén nhang, ngồi nhìn tượng Phật nhớ thời thơ ấu, có quê, có đại gia đình, ông bà cha mẹ.

Nhưng tôi rất ngại vì có một lần tôi đã tới vào buổi chiều, sau giờ tan sở. Hôm đó chùa cũng hơi đông, hầu hết đều mặc áo thụng mầu xám, dường như có buổi lễ gì đó. Họ nhìn tôi với ánh mắt hơi lạ. Rồi một cụ già đưa cho tôi một áo thụng và bảo tôi mặc rồi hãy vào lễ Phật kẻo mặc đồ hở hang, phải tội, lễ xong trả lại vì áo đó của chung để cho ai cần thì mượn.

Tôi rất ngạc nhiên và cảm thấy bị xúc phạm, vì tôi mặc quần jean với áo cộc tay. Tuy tay áo cộc nhưng tôi không nghĩ rằng như thế là hở hang.

Về nhà, tôi nói lại cho mấy người bà con nghe thì họ cười ầm lên, chế giễu:

–        Không phải sợ tội đâu. Các cụ sợ cô giống câu ca dao:

 “Ba cô đội gạo lên chùa

Một cô yếm thắm bỏ bùa cho Sư”,

đó mà.

Xin chỉ dẫn giúp phải mặc đồ như thế nào khi đi chùa thì mới hợp lệ.

Nguyễn Mai Quế

Thưa quý thính giả và cô Mai Quế,

Trong giới tu pháp môn Niệm Phật bên Nhật, có truyền tụng câu chuyện về anh chàng kia, mỗi khi tới chùa là anh nằm lăn ra chánh điện một cách rất thoải mái. Có người trách anh rằng nằm như thế mất trang nghiêm đi, thì anh bèn trợn mắt lên cự lại:

– Tôi về nhà cha mẹ tôi mà, vì anh không nhận ra được đây là nhà cha mẹ, nên anh mới cư xử như đến nhà người lạ.

Nơi kinh Lăng Nghiêm, bồ tát Đại Thế Chí bạch Phật rằng:

– “ Mười phương Như Lai tưởng nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con, nếu con trốn tránh thì dù nhớ cũng chẳng làm gì được; nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con, thì đời đời mẹ con chẳng xa cách. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật, thì hiện nay hay về sau nhất định thấy Phật, cách Phật không xa, chẳng nhờ phương tiện, tâm tự khai ngộ, như người ướp hương thì thân có mùi thơm, ấy gọi là Hương Quang Trang Nghiêm. Nhân địa căn bản của con là dùng tâm niệm Phật, đắc vô sanh nhẫn, nay ở cõi này tiếp dẫn người niệm Phật về cõi Tịnh Độ. Phật hỏi con về viên thông, con do Nhiếp Cả Lục Căn, Tịnh Niệm Tương Tục vào Tam Ma Địa là hơn cả.”.

Bồ tát Đại Thế Chí là biểu tượng của pháp môn tu Niệm Phật Tam Muội. Tam Muội hoặc Tam Ma Địa, Tam Ma Đề, là phiên âm từ chữ Phạn Samadhi, nghĩa là thiền định. Pháp môn tu này do nhớ Phật, niệm Phật tương tục mà Tâm khai ngộ, đắc vô sanh pháp nhẫn, nghĩa là trực nhận được Bản Thể Tự Tánh vốn thường hằng khắp không gian và miên viễn khắp thời gian, không sanh không diệt, cũng chính là Phật Tánh, cũng chính là Pháp Thân Phật, cho nên còn gọi là Như Lai.

Nếu quý thính giả từng đi chùa, tụng kinh, thì đã thấy ngay nơi phần đầu mỗi thời kinh, đều có tụng bài Tán Phật, trong đó có câu:

Thiên nhân chi đạo sư

Tứ sanh chi từ phụ…

nghĩa là:

…”…Thày dạy khắp Trời, người,

Cha lành chung bốn loài…”…

Vì đức Phật là Thày, là cha lành của tất cả các loài như thế, cho nên nếu có Phật tử nào coi đức Phật là Thày, là cha mẹ, khi tới chùa cảm thấy thân thiết như về nhà cha mẹ thì thật là điều đáng quý, quá quý, không nên để cho Phật tử cảm thấy xa cách với nhà Phật. Nếu Phật tử mà xa cách với nhà Phật thì các Trưởng Tử Như Lai, tức là các vị tu sĩ cũng không thể làm tròn được ý nguyện hoằng pháp lợi sanh, là lời nguyện khi mới bước vào đường tu. Thuật ngữ của đạo Phật có từ “gieo duyên”, nghĩa là tạo cơ hội cho người ta tiếp cận với các sinh hoạt của nhà Phật, thí dụ nghe một tiếng niệm Phật, nhìn thấy cuốn kinh, tượng ảnh Phật, nhìn hình ảnh người tu hành thanh tịnh, thăm viếng cảnh chùa, cũng là đã gieo vào tàng thức của người ta những chủng tử có liên quan đến đạo Phật, sẽ trổ thành quả tu hành theo Phật pháp trong tương lai.

Cho nên chúng ta cũng cần quan tâm về cách ứng xử, sao cho mọi người đều thấy thân thiết với sự về chùa, có cảm giác thoải mái như về nhà cha mẹ, lâu không về thì nhớ, mới đúng với bản hoài của “mười phương Như Lai”

Thưa quý thính giả và cô Mai Quế,

Như chúng ta đã biết, đức Phật là một vị đạo sư chứ không phải là Thần Linh. Lại càng không thể nghĩ rằng Phật là một vị Thần Linh sẽ thưởng cho người này được lên Trời và phạt người kia phải xuống Địa Ngục. Quan điểm này đã được hòa thượng Narada Maha Thera trình bày trong cuốn The Buddha and His Teachings. Chúng tôi xin gửi tới quý thính giả bài pháp trích trong cuốn này, do cư sĩ Phạm Kim Khánh dịch ra Việt ngữ.

Hòa thượng dạy:

“Để minh định rõ ràng mối tương quan của đức Phật đối với hàng môn đệ và để nhấn mạnh tầm quan trọng của sự kiện tự mình nhận lãnh trọn vẹn trách nhiệm và tự mình nỗ lực kiên trì, Đức Phật minh bạch dạy rằng:

“Các con phải tự mình nỗ lực. Các đấng Như Lai chỉ là đạo sư.” Đức Phật chỉ vạch cho ta con đường và phương pháp mà ta có thể nương theo đó để tự giải thoát ra khỏi mọi khổ đau của vòng sanh tử và thành tựu mục tiêu cứu cánh. Đi trên con đường và theo đúng phương pháp cùng không, là phần của người đệ tử chân thành muốn thoát khỏi những bất hạnh của đời sống.

“Ỷ lại nơi kẻ khác để giải thoát cho mình là tiêu cực. Nhưng đảm đang lãnh lấy trách nhiệm, chỉ tùy thuộc nơi mình để tự giải thoát, quả thật là tích cực.”

“Hãy tự xem con là hải đảo của con. Hãy tự xem con là nương tựa của con. Không nên tìm nương tựa nơi ai khác!”

Các lời lẽ có rất nhiều ý nghĩa kia mà đức Phật đã dạy trong những ngày sau cùng của Ngài quả thật mạnh mẽ, nổi bật và cảm kích. Điều này chứng tỏ rằng cố gắng cá nhân là yếu tố tối cần để thành tựu mục tiêu. Tìm sự cứu rỗi nơi những nhân vật hảo tâm có quyền năng cứu thế và khát khao ham muốn hạnh phúc ảo huyền xuyên qua những lời van vái nguyện cầu vô hiệu quả và nghi thức cúng tế vô nghĩa lý, quả thật là thiển bạc và vô ích.

Đức Phật là một người như chúng ta. Ngài sanh ra là một người, sống như một người, và từ giã cõi đời như một người. Mặc dầu là người, Ngài trở thành một người phi thường, một bậc siêu nhân, do những cá tính đặc biệt duy nhất của Ngài.

Trong thời Ngài còn tại thế, đức Phật chắc chắn được hàng tín đồ hết lòng tôn kính, nhưng không bao giờ Ngài tự xưng là Thần Linh.

Thưa quý thính giả,

Như quý vị đã thấy, chính đức Phật đã xác nhận rằng Ngài không phải là Thần Linh, không ban phúc giáng họa cho ai. Ngài là Đạo Sư, chỉ cho chúng sinh con đường Giải Thoát, mọi người phải tự mình thắp đuốc lên mà đi, tự mình làm thuyền bè, làm hải đảo cho chính mình. Nếu theo lời Ngài dạy mà tự tu tự độ thì sẽ thành đạo quả, thành người Giác Ngộ, thành Phật như Ngài. Muốn biết đường tu, tất nhiên là phải cần đến đạo sư. Chùa chiền chính là nơi những người muốn tu tập tìm về nương tựa.

Thế nhưng bây giờ tại một vài nơi, do vô tình mà người ta đang cản trở con đường của chúng sinh muốn về nhà Phật. Một nơi kia, bà nữ tu sĩ có trách nhiệm dạy mấy cô thiếu nữ rằng:

– Các cô phải cột chặt hai ông quần khi lên chánh điện, kẻo mà có gì ô uế rớt xuống thì cửa Địa Ngục mở sẵn.

Mấy cô sợ quá thì thầm với nhau “không đến chùa thì chẳng bị xuống địa ngục, đến chùa mà mặc skirt, làm sao mà cột được đây”. Thế là từ đó họ đâm ra ngần ngại. Họ bảo nhau:

– Tôi sợ đến chùa thất thố gì lại phải tội, chẳng thà không đến thì chẳng sao. Chỉ Tết nhất hay có đám cầu siêu cầu an mới đến chùa mà thôi.

Than ôi! Một trường học dạy người giác ngộ giải thoát, khai phóng tâm linh, lại đến nỗi trở thành địa điểm mà dân chúng chỉ tới khi có tang ma thì đáng buồn biết bao.

Truyền thống đạo Phật là mở rộng cửa chùa để cứu nhân độ thế. Kẻ lỡ độ đường, người đói khát đều được nhà chùa cưu mang. Những người đó khi đến chùa, hẳn là không thể ăn mặc chỉnh tề, quần manh áo rách cũng được nhà chùa mở lòng cứu giúp.

Có người nói rằng vì trong chùa có những tu sĩ trẻ, người khác phái tới ăn mặc hở hang có thể làm cho tâm người tu bị chao đảo.

Xin thưa rằng, nói như thế là coi thường các pháp môn tu trì của nhà Phật rồi. Thực tế, nếu tu sĩ có hành trì thiền quán, niệm Phật, trì chú, vân vân, thì sẽ tăng trưởng Định Lực, tâm hồn không đến nỗi bị chao đảo khi nhìn thấy người khác phái đâu. Còn nếu không hành trì, để tâm buông lung bay nhẩy, không có Định Lực, mà chỉ giữ Giới qua sự đè nén thì khi gặp cảnh duyên, sẽ nảy sinh những tình huống bất ngờ, do sức bật của sự đè nén tung lên.

Có câu chuyện huyền thoại trong nhà Thiền, rằng tại một tu viện trong rừng kia, có hai thày trò. Ông thày chủ trương cách ly người đệ tử với trần thế để khỏi bị ô nhiễm, nên từ nhỏ đến lớn, ông không cho cậu đệ tử tới nơi phố xá, chợ búa.

Năm đó người đệ tử được 18 tuổi, đến tuổi trưởng thành, ông mới dắt học trò ra nơi thị tứ.

Trên đường, cậu học trò nhìn cái gì cũng thấy lạ, từ con trâu đang cày ruộng, con bò kéo xe, con gà vừa chạy vừa kêu quác quác, đều hỏi thầy để biết tên, ông thầy đều dạy cẩn thận. Đến khi xuống chợ, cậu ta gặp một thiếu nữ, bèn hỏi:

– Bạch thày, đây là con gì?

Thày dạy:

– Đấy là con cọp chợ, nó dữ lắm, đừng tới gần.

Cậu học trò cứ lấm lét nhìn hoài. Trên đường về, cậu đệ tử lặng lẽ âm thầm đi. Nhưng từ đó, cậu ta cứ buồn buồn. Một hôm thày hỏi:

– Sao dạo này con rầu rĩ vậy, con muốn gì?

Cậu đệ tử rụt rè:

– Bạch thầy, con muốn gặp con cọp chợ.

Vậy câu chuyện nói lên cái gì? Xin thưa rằng chỉ là một câu chuyện huyền thoại thôi, nhưng nó nói lên rằng tu hành là phải chuyển hóa từ trong nội tâm. Nếu chỉ tìm cách tránh né tức là một hình thức lấy đá đè cỏ. Cỏ vẫn còn sống và sẽ vươn lên rất mạnh khi nhắc hòn đá ra. Người tu hành nào mà có tu tập theo lời dạy của chư Phật và chư Tổ thì sẽ không có “cô yếm thắm” nào có thể bỏ bùa.

Thưa quý thính giả,

Sau đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một câu chuyện Thiền, trích dịch từ cuốn Collection of Stone and Sand, tác giả là thiền sư  Muju ở thế kỷ 13, Paul Reps dịch sang tiếng Anh. Câu chuyện như sau:

“Vào những kỳ đả thiền thất do thiền sư Bankei chủ trì, có rất đông thiền sinh từ nhiều miền trên nước Nhật về tham dự.

Tại một trong những kỳ thiền thất như thế, có một đệ tử bị bắt về tội ăn cắp. Sự việc được trình lên thiền sư Bankei với lời đề nghị kẻ phạm pháp phải bị tống xuất. Nhưng thiền sư Bankei bỏ qua. Sau đó, người đệ tử lại tái phạm và bị bắt, và cũng như lần trước, thiền sư Bankei lại bỏ qua.

Sự việc này chọc giận đám đệ tử, khiến cho họ phải làm thỉnh nguyện thư, xin đuổi tên ăn cắp, nếu không cả nhóm sẽ bỏ đi.

Sau khi đọc xong thỉnh nguyện thư, thiền sư Bankei gọi tất cả học trò đến trước mặt mà bảo rằng:

– Quí vị là những sư huynh sáng suốt nên quí vị biết phân biệt đúng và sai. Nếu muốn, quí vị có thể đi nơi khác để tham thiền học đạo. Nhưng người sư đệ đáng thương này thì ngay đến thế nào là đúng, là sai, cũng còn không biết. Nếu tôi không dạy hắn thì ai sẽ dạy? Cho nên tôi sẽ cho hắn ở đây dù tất cả quí vị ra đi.

Trên gương mặt của người sư đệ tội lỗi, nước mắt tuôn ra như thác đổ. Lòng ham muốn trộm cắp trong khoảnh khắc tiêu tan hoàn toàn”.

Thưa quý thính giả,

Thiền sư Bankei là một bậc thầy chân chính, xứng đáng là đạo sư của nhà Phật. Là bậc thày cao quý, ngài đã hạ bàn tay nhân từ xuống để cứu vớt người lầm lạc, mở lối thoát cho người đệ tử tội lỗi có cơ hội chuyển tâm.

Kinh Hoa Nghiêm nói:

Nếu người muốn biết rõ

Tất cả Phật ba thời

Phải quán pháp giới tính

Tất cả do tâm tạo.

 Ba thời là quá khứ, hiện tại và tương lai. “Tất cả do tâm tạo”, mà tâm thì vô thường, không cố định. Cho nên đối với nhà Phật, dù người xấu tới đâu, hoặc ngay đến cả kẻ cướp, nếu chịu buông dao xuống mà nhất tâm tu hành, thì cũng thành Phật.

Chỉ có tấm lòng rộng mở mới chuyển hóa được con người. Nếu cửa chùa luôn rộng mở, không xét nét cách ăn mặc và những chuyện lặt vặt, miễn sao tác phong người đến chùa cũng tương đương với về nhà cha mẹ họ, thì họ nên được hoan nghênh để mọi người cảm thấy thoải mái khi về chùa.

Nếu không có sự hài hòa trong giao tế thì thế hệ sau, khi các cụ không còn nữa, con cháu không còn phải vì nể nang cha mẹ mà tới chùa, e rằng cửa chùa sẽ vắng vẻ. Lúc đó chúng ta nghĩ tới câu “bản hoài của mười phương Như Lai thương nhớ chúng sinh như mẹ nhớ con”, sẽ cảm thấy chua xót biết bao.

Thưa quý thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay.  Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Mời xem youtube bài này:

http://www.youtube.com/watch?v=AbFQErjDpnc&feature=youtu.be

Bài 24 – Phát Bồ Đề Tâm nghĩa là gì ?

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi nhận được một câu hỏi của quý thính giả gửi về như sau:

– Tôi đi lễ chùa thường thấy các Phật tử nói câu “phát Bồ Đề Tâm”, thí dụ “Bà phát Bồ Đề Tâm lấy cho tôi con dao” hoặc “”Ông phát tâm Bồ Đề khiêng giúp cái bàn này ra sân”, vân vân. Những chữ như tâm thiện, tâm ác, tâm từ bi, vân vân, thì tôi đã biết nhưng tâm Bồ Đề thì tôi không hiểu là gì, xin giải đáp giùm.

Nguyễn văn Dũng.

Thưa quý thính giả và ông Dũng,

Cụm từ Phát Bồ Đề Tâm là để chỉ một một tâm nguyện vô cùng thiêng liêng cao quý, là niệm khởi đầu tiên trên con đường tu hành của người Phật tử để chuyển hóa tâm thức từ trạng thái mê vọng trôi lăn trong vòng sinh diệt triền miên trở thành giác ngộ Trí Tuệ Bát Nhã.

Tâm Bồ Đề là Tâm Giác Ngộ, là Phật Tánh. Phát Bồ Đề Tâm là “Khởi lên tâm nguyện tu hành thành Phật để cứu độ chúng sinh”. Nếu chúng ta tưởng rằng Phát Bồ Đề Tâm là làm những việc thiện tạo phước trong vòng tương đối như “lấy giúp con dao”, “khiêng hộ cái bàn”, là vô tình chúng ta đã làm mất đi ý nghĩa của một tâm nguyện cao thượng về công đức tu hành, mục tiêu cốt tủy của đạo Phật.

Chúng tôi xin nhắc lại cuộc đối thoại của Sơ Tổ thiền tông Bồ Đề Đạt Ma và Lương Võ Đế về vấn đề công đức và phước đức mà chúng tôi đã trình với quý thính giả, như sau:

Lương Võ Đế hỏi:

–  Từ khi lên ngôi, trẫm đã xây chùa, chép kinh, độ tăng nhiều vô số kể, vậy có công đức gì không?

Ngài Ðạt Ma đáp:
– Ðều không có công đức.

Vua hỏi lại :
– Tại sao không có công đức?

Ngài đáp:
– Xây chùa, chép kinh, độ tăng là tạo nhân hữu lậu, chỉ được hưởng thiện quả nơi cõi Trời, cõi người, quả theo nhân như bóng theo hình, là phước đức, không phải công đức. Công đức là do tu hành, trí rỗng rang, tâm sáng suốt, từ nơi bản tánh, không do nơi công nghiệp thế gian.

Như thế, làm việc thiện là phước đức, là tạo nhân lành, sẽ trổ thành quả phước trong vòng sinh tử. Phát Bồ Đề Tâm là công đức do tu hành, có công năng giải thoát kiếp người ra khỏi dòng nghiệp lực triền miên sinh tử luân hồi.

Nơi kinh Hoa Nghiêm, đức Phật đã dạy: “Nầy thiện nam tử! Bậc Bồ Tát phát Bồ Đề Tâm là khởi Tâm Đại Bi cứu độ tất cả chúng sanh”.

Phát Bồ Đề Tâm như trên đã nói, có thể tóm tắt trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện:

“Chúng sanh vô biên, thệ nguyện độ,

Phiền não vô tận, thệ nguyện đoạn,

Pháp môn vô lượng, thệ nguyện học

Phật đạo vô thượng, thệ nguyện thành”.

Trong cuốn Niệm Phật Thập Yếu, hòa thượng Thích Thiền Tâm căn dặn rằng “Không phải chỉ nói suông “Tôi phát Bồ Đề Tâm” là đã phát tâm, hay mỗi ngày tuyên đọc Tứ Hoằng Thệ Nguyện, gọi là đã phát Bồ Đề Tâm. Muốn phát Bồ Đề Tâm hành giả cần phải phát tâm một cách thiết thực, và hành động đúng theo tâm nguyện ấy trong đời tu của mình”.

Đại sư Thật Hiền, một vị cao tăng đã thiết tha kêu gọi mọi người Phát Bồ Đề Tâm như sau:

– …Tôi từng nghe, cửa chính yếu để nhập đạo thì sự phát Tâm đứng đầu, việc khẩn cấp để tu hành thì sự lập nguyện đứng trước. Nguyện lập thì chúng sanh độ nổi, Tâm phát thì Phật đạo thành được. Cái tâm quảng đại không phát, cái nguyện kiên cố chẳng lập, thì dẫu trải qua đời kiếp nhiều như cát bụi, cũng y nhiên vẫn ở trong phạm vi luân hồi. Tu hành dẫu có, cũng toàn là lao nhọc, khổ sở một cách vô ích. Do đó mà kinh Hoa Nghiêm đã nói, quên mất Tâm Bồ Đề mà tu hành các thiện pháp thì gọi là hành động theo ma vương. Quên mất còn thế, huống chi chưa phát. Nên muốn học Như Lai thừa thì trước phải phát Bồ Đề nguyện, không thể chậm trễ”.

Trong những kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình bày với quý vị bài kệ tóm tắt con đường tu hành của người Phật tử, như sau:

“Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành”

“Không làm những điều ác” và “Siêng làm những việc lành” là phần đạo đức thế gian, không riêng đạo Phật, mà hầu hết các tôn giáo và các nền giáo dục trên khắp thế giới đều dạy. Phật giáo thực hiện lãnh vực này bằng Ngũ Giới, dạy hàng Phật tử phải tin sâu quy luật Nhân Quả, ở hiền gặp lành, vân vân.

Duy câu “Tự thanh tịnh tâm ý” thì mới chính là đặc điểm riêng biệt của đạo Phật. Bởi vì, nội dung của “tự thanh tịnh tâm ý” có nghĩa là chấm dứt tất cả những lôi cuốn của Tham, Sân và Si, vốn là nguyên nhân của tất cả mọi nỗi thống khổ trên đời.

Kinh Phật nói: “Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu”, câu đó có nghĩa là khi tâm đã tịnh là đã bạch hóa được nghiệp chướng tích lũy từ vô lượng kiếp. Tội là những nghiệp ác. Tâm đã tịnh rồi thì cũng có nghĩa là tất cả nghiệp thiện và ác đều đã tiêu dung, không còn nghiệp nhân để tái sinh, là chấm dứt được dòng sinh tử, ra khỏi vòng luân hồi. Tóm lại, là hoàn tất được bước cuối cùng trong bốn Chân Lý Thâm Diệu, là Con Đường Diệt Khổ.

Thực hiện đường tu “Tự thanh tịnh tâm ý” chính là thực hiện toàn bộ nội dung của “Phát Bồ Đề Tâm”

Để thấu triệt sự quan trọng của hạnh nguyện “Phát Bồ Đề Tâm”, chúng tôi xin trích dịch để kính gửi tới quý thính giả bài pháp của đạo sư Chagdud Tulku, một vị đạo sư Phật giáo thuộc truyền thống Tây Tạng.

Đạo sư Chagdud Tulku là một thiền sư danh tiếng đồng thời là một nhà nghệ sĩ và cũng là y sĩ của Tây Tạng, sinh năm 1930 tại miền Đông nước này. Theo truyền thống Tây Tạng, thày được xác nhận là tái sinh của vị sư trụ trì Chagdud Gonpa. Thày được sự rèn luyện của nhiều đại hành giả về phương diện triết học và hành thiền theo môn phái Phật giáo Kim Cang Thừa. Vào năm 1959, khi Trung Quốc xâm lăng Tây Tạng, theo lời khuyên của đại sư Dudjom, thày rời khỏi Tây Tạng để sang thiết lập một số trại tỵ nạn tại Ấn Độ và Nepal.

Vào năm 1979, do lòng nhiệt thành của nhiều sinh viên Mỹ, thày tới Hoa Kỳ. Từ đó, xuyên qua hội Chagdud Gonpa, thày thiết lập nhiều trung tâm tu thiền Kim Cang Thừa tại nhiều nơi trong nước Mỹ, Canada, Âu Châu và Brazil.

Bài giảng của đạo sư Chagdud Tulku về Phát Bồ Đề Tâm, trích dịch từ cuốn Gates to Buddhist Practice, như sau:

“Để đi vào con đường tâm linh, chúng ta cần phải có mục tiêu để hướng tới, cũng như mũi tên cần có đích nhắm. Với Bồ Đề Tâm, cánh cửa tiếp theo để thực hành trong truyền thống Đại Thừa và Kim Cang Thừa của Phật giáo, chúng ta tiến đến thành quả là sự giác ngộ vì lợi ích chúng sinh trong từng giây phút. Đó là mục tiêu cao quý nhất.

Bồ Đề Tâm là nền tảng của tất cả mọi công việc chúng ta làm, giống như rễ một cây thuốc có cành, lá và hoa, tất cả đều tạo ra những chất dinh dưỡng. Phẩm chất và sự thanh tịnh trong hành trì của chúng ta tùy thuộc vào Bồ Đề Tâm Nguyện thẩm thấu trong mỗi phương pháp tu tập. Có Tâm Bồ Đề thì mọi việc đều hoàn tất mỹ mãn. Không có tâm nguyện này thì mọi sự đều không đi tới đâu.

Đó chính là lý do ngay từ bài học đầu tiên, chúng ta đã được dạy rằng chúng ta phải đặt mục tiêu của sự tu hành là để giải thoát cho tất cả chúng sinh. Chúng ta phải chuyển hóa động lực rèn luyện tâm linh từ lợi ích cho bản thân sang vì lợi ích cho toàn thể chúng sinh.

Bồ Đề Tâm gồm ba yếu tố:

– Thứ nhất là niềm trắc ẩn trước sự đau khổ của chúng sinh

– Thứ hai là nguyện tu tập tới giác ngộ vì lợi ích của chúng sinh, đó là Bồ Đề Tâm Nguyện.

– Thứ ba là thực hiện Bồ Đề Tâm Nguyện, đó tức là Bồ Đề Tâm Hành. …”…

Thưa quý thính giả,

Trên đây là bài pháp của đạo sư Chagdud Tulku, nói về Phát Bồ Đề Tâm và tu Bồ Tát Hạnh. Trong thực tế, con đường tu hành của người Phật tử được các bậc đạo sư chỉ dạy rất cặn kẽ và chi tiết. Chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một bài pháp của hòa thượng Thích Tịnh Không dạy về cách ứng dụng pháp môn tu Bồ Tát Hạnh trong đời sống hằng ngày. Sau đây là lời dạy của thày:

Gương mẫu tu học của Ðại Thừa là năm mươi ba lần tham vấn trong kinh Hoa Nghiêm.  Năm mươi ba lần tham vấn này gồm có mọi người trong các ngành nghề, nam nữ già trẻ, thế gian và xuất thế gian, hết thảy đều tu Bồ Tát hạnh, vả lại còn là Bồ Tát cao cấp — Phổ Hiền hạnh.  Thế thì chúng ta rốt cuộc có học được hay chưa?  Trong sanh hoạt mỗi ngày từ sáng đến tối có phải chúng ta đang tu Bồ Tát hạnh hay không?  Có tu hạnh Phổ Hiền không?  Nếu có thì mới hy vọng thành Phật, nếu không thì vẫn phải chịu sanh tử luân hồi.

Phải tu học như thế nào?  Dùng những điểm chính yếu để nói thì là làm thế nào áp dụng Lục Ðộ vào trong đời sống hằng ngày.  Làm được Lục Ðộ trong sanh hoạt thì bạn sẽ là Bồ Tát, nếu làm được mười nguyện trong sanh hoạt thì bạn sẽ là Phổ Hiền Bồ Tát rồi đó.  Nên biết cội gốc của Ðại Thừa là phát Bồ Ðề Tâm, Bồ Ðề Tâm là gì?  Tức là độ hết thảy chúng sanh.  Dùng ngôn ngữ ngày nay thì độ hết thảy chúng sanh nghĩa là dốc toàn tâm, dốc hết sức để giúp đỡ hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ, Tâm ấy là Tâm Bồ Ðề.

Làm thế nào để thực hiện?  Lục Ðộ và thập nguyện là phương pháp.  Phải thực hiện Lục Ðộ và thập nguyện trong đời sống, sự nghiệp, đó tức là hành Bồ Tát đạo.  Lục Ðộ tức là Bồ Tát đạo, thập nguyện tức là Phổ Hiền Bồ Tát đạo.  Việc hành Phổ Hiền hạnh nói trong kinh Vô Lượng Thọ nghĩa là tu thập nguyện vương.

‘Bố thí’ nói theo ngôn ngữ hiện nay tức là ‘hy sinh, cống hiến’.  Tự mình chịu hy sinh, chịu cống hiến cho đại chúng, chịu cống hiến cho đoàn thể.

‘Trì giới’ tức là tuân giữ pháp luật, tuân giữ luật lệ, quy củ.

‘Nhẫn nhục’ tức là nhẫn nại.  Phải biết nhẫn nại trong công việc, đặc biệt là những sự việc liên quan đến người khác; chúng sanh có phiền não, ân oán, bất bình tích lũy từ vô lượng kiếp đến nay.  Chúng ta bất kỳ lúc nào cũng có thể gặp được nên phải nhẫn nhịn; đối với hoàn cảnh tự nhiên cũng phải biết nhẫn nhịn.

‘Tinh tấn’ tức là cầu tiến bộ.  Không thể nào ‘dậm chân tại chỗ’ hoài, lưu lại trong một phạm vi, một giới hạn hoài. Chúng ta phải suy nghĩ từ phương diện này – trong sanh hoạt thường ngày làm thế nào để cầu Giác, cầu Huệ, tu Lục Ðộ, Thập nguyện.

‘Thiền định’  tức là tự mình làm chủ được mình, có cách nhìn của mình, chẳng bị ngoại cảnh lay động, đó là thiền định.

‘Trí huệ’ tức là đối với hết thảy những điều thiệt – giả, tà – chánh, thị – phi, thiện – ác của người, sự, vật đều hiểu rõ ràng, minh bạch, chẳng mê hoặc, chẳng điên đảo.  Như vậy chính là trí huệ.

Thế nên nếu có thể thực hiện Lục Ðộ, Thập Nguyện trong đời sống của mình thì bạn sẽ vui vẻ. Bất luận làm công việc gì thì cũng là tu Bồ Tát hạnh, hành Bồ Tát đạo.  Người hành Bồ Tát đạo này sẽ tràn đầy pháp hỷ, đây tức là chuyển phiền não thành Bồ Ðề, chuyển mê hoặc thành giác ngộ.

Phàm phu thế gian nếu cảm thấy bị áp lực trong công việc làm của mình thì sẽ khổ chẳng thể nói nổi, luôn luôn than phiền, có tâm trạng ấy thì nhất định phải luân hồi trong lục đạo.  Pháp Bồ Tát Ðại Thừa cao minh, vừa chuyển biến tâm niệm thì đã thành Bồ Tát.  Họ biết làm việc cần cù là để kết pháp duyên với hết thảy chúng sanh, là để thành tựu Bố Thí Ba la mật cho mình.  Cho nên khi tâm niệm vừa chuyển thì khoái lạc vô cùng, hạnh phúc vui vẻ, liền được thoát khổ.

Giới luật trong Phật pháp được dùng để yêu cầu chính mình chứ chẳng phải yêu cầu kẻ khác, đây là một cách rất cao minh, chẳng giống với pháp luật thế gian dùng để kềm chế đại chúng.  Thế nên phải học Lục Tổ Huệ Năng đại sư, phải ‘thường nhìn thấy lỗi của mình, chẳng thấy lỗi của thế gian’, được vậy thì tâm sẽ chuyển biến thực sự, hướng vào trong và quán chiếu.

Căn bịnh lớn của chúng sanh là ‘chẳng thấy lỗi của mình, chuyên thấy lỗi của kẻ khác’.  Chuyên thấy lỗi của kẻ khác thì sẽ tăng trưởng phiền não, sẽ chẳng có cách chi để hướng vào trong mà quán chiếu.  Nếu chúng ta chỉ lo hướng vào trong mà quán chiếu, chẳng đếm xỉa đến sự dụ hoặc của ngoại cảnh, ‘chiếu’ như vậy là trí huệ, có thể hoá giải hết phiền não, tập khí. »

Thưa quý thính giả,

Trên đây là lời dạy của hòa thượng Thích Tịnh Không.

Như quý vị đã biết, đạo Phật là một con đường tu tập để chuyển hóa tâm, từ xấu trở thành tốt, rồi từ tốt trở thành thanh tịnh, giải thoát. Đức Phật không đề cao phép lạ, mà Ngài dạy Phật tử phải tự tu tự độ, tự mình thắp đuốc lên mà đi, tin sâu nhân quả, gieo nhân thiện thì lãnh quả thiện, giao nhân thanh tịnh thì đắc quả giác ngộ giải thoát, ai ăn thì người đó no, không ai có thể ăn giùm cho người khác no được.

Chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện Thiền nói lên ý đó, được trích dịch từ cuốn Zen Fables for Today, Stories Inspired by the Zen Masters, soạn giả là Richard McLean. Câu chuyện như sau:

“Có một vị sư sống trong một khu đầm lầy, nơi được coi là rất nguy hiểm khi mùa mưa tới, nước có thể tràn ngập. Mặc cho những lời cảnh cáo liên tục, đồng thời nước cũng đang dâng lên, vị sư vẫn từ chối, không chịu rời cái cốc nhỏ của ông ta. Ông giải thích với các đội cấp cứu rằng:

-Trong giấc mơ, tôi đã được một vị thần hứa rằng ông ấy sẽ bảo vệ tôi.

Thế rồi hàng xóm của ông lũ lượt kéo nhau bỏ đi.

Rồi tới nhân viên hành chính ra đi với cái xe.

Cuối cùng tới phiên đội cấp cứu ra đi với cái ghe.

Ông vẫn nói chắc nịch:

– Vị thần đã hứa với tôi.

Khi ông sư bị chết đuối, người đầu tiên ông gặp chính là vị thần trong mộng của ông.

Vị thần hỏi:

– Ông làm gì ở đây?

Ông sư trả lời:

– Ngài đã hứa với tôi …

Vị thần điềm nhiên:

– Ông già đần độn ơi, tôi vẫn giữ lời hứa đấy chứ. Tôi gửi đến cho ông nào là hàng xóm này, xe cấp cứu này, ghe cấp cứu này…”

Ông tu sĩ nghệt mặt ra:

– Trời ơi …

Một đời tu mà ông sư đã không hiểu giáo lý, nhà Phật dạy rằng phải tự tu tự độ. Tiếc rằng ông sư đã không dùng những phương tiện có sẵn để tự mình thoát khỏi nơi nguy hiểm.

Thưa quý thính giả,

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

 

 

Bài 23 – Sơ Tổ Thiền Tông Bồ Đề Đạt Ma

 Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Trong một kỳ phát thanh trước, chúng tôi có đề cập tới một tuyên ngôn của Sơ Tổ Thiền tông Bồ Đề Đạt Ma, được giới Phật học cho là “tuyên ngôn sấm sét”, đó là:

Bất lập văn tự

Giáo ngoại biệt truyền

Trực chỉ nhân tâm

Kiến Tánh thành Phật.

nghĩa là :

Không lập văn tự

Truyền ngoài giáo lý,

Chỉ thẳng tâm ngưòi

Thấy Tánh thành Phật.

Tại sao lại gọi là “Tuyên ngôn sấm sét”?

Bởi vì tuyên ngôn đó đưa ra một quan điểm hoàn toàn xa lạ đối với các nhà trí thức Phật giáo đương thời, vốn là những học giả không những học rộng hiểu nhiều về thế học, uyên bác về các nguồn tư tưởng Đông Phương, mà hiện đang say sưa thảo luận về kinh điển nhà Phật.

Vậy Bồ Đề Đạt Ma là ai mà lại có hành tung đặc biệt như thế?

Chúng tôi sẽ xin lần dở trang Phật giáo sử để trình với quý thính giả.

Kính thưa quý vị,

Vào thời vua Hán Minh Đế nước Trung Hoa, khoảng giữa thế kỷ thứ nhất Dương lịch, Phật giáo từ Ấn Độ đã lan truyền đến Trung Quốc. Tính từ đó tới ngày ngài Bồ Đề Đạt Ma đặt chân lên nước Lương năm 520 Dương lịch, là đã được khoảng 500 năm rồi.

Sau năm trăm năm thâu thập kinh sách và tài liệu rồi phiên dịch từ tiếng Phạn ra tiếng Hán, nay đã tới lúc các học giả Phật giáo say sưa nghiên cứu, chia môn lập phái, tìm tòi nghĩa lý ẩn tàng trong ngón tay mà không để ý tới phần thực hành để đạt được mặt trăng, theo như lời căn dặn của nhà Phật “kinh sách là ngón tay chỉ Chân Lý là mặt trăng, thấy mặt trăng rồi thì buông ngón tay xuống mà tu hành để đạt tới Chân Lý”.

Là những học giả của một dân tộc hâm mộ từ chương, giới trí thức Trung Hoa thời đó rất say sưa nghiên cứu phần lý thuyết có tính chất triết học của nhà Phật, đàm luận về những sự huyền diệu, thâm sâu, uyên áo, chẻ sợi tóc ra làm tư, coi Phật giáo như một triết thuyết, phí bỏ mất phần cốt tủy của đạo Phật, là phần tu chứng với mục tiêu giải thoát được kiếp người ra khỏi những phiền não ràng buộc, giác ngộ lại Bản Thể, chấm dứt mọi đau khổ triền miên trong dòng sinh tử.

Vào thời gian đó, tại vương quốc miền Nam Ấn kia, có một vĩ nhân ra đời. Đó là vương tử thứ ba của quốc vương, tên là Bồ Đề Đa La. Nhân một dịp quốc vương thỉnh Tổ Thiền tông thứ 27 là Bát Nhã Đa La vào cung để cúng dường trai tăng, vương tử Bồ Đề Đa La gặp được Tổ và sau khi đàm luận về Đạo Học, vương tử bái Tổ tôn ngài lên làm thày.

Sau khi vua cha tạ thế, vương tử Bồ Đề Đa La xuống tóc đi tu. Thấy học trò tinh tường Phật pháp, Tổ Bát Nhã Đa La đổi tên vương tử là Bồ Đề Đạt Ma. Trước khi qua đời, Tổ Bát Nhã Đa La căn dặn học trò sau này phải qua Trung Hoa để giúp cho những người học Phật tại đó đi đúng con đường đức Phật dạy để đạt được kết quả của sự tu hành, tiến tới giác ngộ giải thoát. Nhưng Tổ cũng dặn là hiện nay chưa thể đi ngay, phải chờ vài chục năm nữa mới lên đường.

Sau khi Tổ tịch rồi, ngài Bồ Đề Đạt Ma còn ở lại quê hương hoằng pháp một thời gian. Nhiều chục năm trôi qua, một hôm nhớ lời sư phụ dặn dò, ngài vào từ biệt quốc vương là cháu của ngài để lên đường sang Trung Hoa, đem ánh sáng giác ngộ chiếu vào miền đất vốn thấm nhuần tư tưởng Lão Trang, lại được giáo lý nhà Phật khai tâm, nhưng quá ham mê phần lý thuyết mà không thực hành, nay cần sự chỉ dẫn để có thể tự tu tự độ.

Quốc vương hạ lệnh sửa soạn thuyền và thủy thủ rồi tiễn ngài lên đường.

Sau ba năm lênh đênh trên sông nước, vùng đất Trung Hoa đầu tiên mà ngài đặt chân lên thuộc tỉnh Quảng Châu, đó là vào năm 520, đời nhà Lương. Quan tỉnh dâng sớ về triều tâu bày sự việc.

Vị vua đương thời là Lương Võ Ðế, một nhà Phật học uyên thâm, thường khoác áo cà sa ra ngoài ngự bào để giảng kinh thuyết pháp. Nhà vua cũng là một đại thí chủ đương thời.

Con trai lớn của Lương Võ Ðế là thái tử Chiêu Minh cũng là một học giả Phật giáo, thường cùng với pháp sư Lâu Ước, đại sĩ Ðạo Phó và Lương Võ Ðế bàn luận về “thánh đế đệ nhất” (là chân lý tuyệt đối) và “tục đế” (là chân lý quy ước).

Thái tử Chiêu Minh cũng nghiên cứu kinh Kim Cang rất sâu sắc, đã thiết lập một đài bằng đá để ghi dấu công cuộc phân chia kinh Kim Cang ra làm 32 chương của ông. Sau này có một người Việt Nam là nhà thơ Nguyễn Du nhân đi sứ sang Tầu có đến thăm đài và làm một bài “Vịnh đài đá phân kinh của Luơng Chiêu Minh thái tử”, có ý chê thái tử không hiểu phần cốt tủy thâm áo của kinh nên mới làm công việc huênh hoang hình tướng này.

Được tin có ngài Bồ Ðề Ðạt Ma tới nước mình, Lương Võ Đế sai sứ đi đón, rước vào kinh. Trong buổi tiếp kiến, nhà vua hỏi:

–  Từ khi lên ngôi, trẫm đã xây chùa, chép kinh, độ tăng nhiều vô số kể, vậy có công đức gì không?

Ngài Ðạt Ma đáp:
– Ðều không có công đức.

Vua hỏi lại :
– Tại sao không có công đức?

Ngài đáp:
– Xây chùa, chép kinh, độ tăng là tạo nhân hữu lậu, chỉ được hưởng thiện quả nơi cõi Trời, cõi người, quả theo nhân như bóng theo hình, là phước đức, không phải công đức. Công đức là do tu hành, trí rỗng rang, tâm sáng suốt, từ nơi bản tánh, không do nơi công nghiệp thế gian.

Vua hỏi lại:
– Thế nào là thánh đế đệ nhất nghĩa? (ý Võ Đế muốn hỏi về chân lý tuyệt đối)

Tổ đáp:
– Quách nhiên vô thánh (ý ngài Đạt Ma muốn trả lời là người giác ngộ thì tâm trí rỗng rang, sáng suốt, vượt lên trên khái niệm về thánh, phàm)

Vua gặng thêm:
– Ai đang đối diện với trẫm?

Tổ đáp:
– Không biết !

Lương Võ Ðế sai người tiễn khách. Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma băng qua sông Giang Bắc, thẳng đường qua nước Ngụy, lên núi Tung Sơn ngồi quay mặt vào vách đá chùa Thiếu Lâm chín năm, người đương thời gọi ngài là Bích quán  Bà La Môn, nghĩa là ông Bà La Môn nhìn vách.

Tương truyền, sau khi ngài Bồ Ðề Ðạt Ma ra đi, Lương Võ Ðế gặp hòa thượng Chí Công, bèn kể lại câu chuyện. Hòa thượng Chí Công hỏi:

– Bây giờ bệ hạ đã biết người ấy là ai chưa?

Võ Ðế đáp:
– Không biết.

Hòa thượng nói:
– Ðó là đại sĩ Quan Âm tới truyền tâm ấn Phật.

Võ Ðế hối tiếc, sai sứ đi thỉnh, nhưng ngài Bồ Ðề Ðạt Ma không quay trở lại. Sau này hồi tưởng chuyện cũ, Lương Võ Ðế tự soạn văn bia như sau:

Hỡi ôi!
Thấy như chẳng thấy
Gặp như chẳng gặp
Ðối mặt như chẳng đối mặt
Xưa đâu nay đâu
Oán bấy hận bấy . . .

Tại sao mà đến nỗi vua Lương Võ Ðế mang hận như vậy?

Ðó là vì nhà vua không phân biệt được giữa phước đức hữu lậu do làm việc thiện sẽ được hưởng phước báo trong vòng nhân quả tương đối và công đức vô lậu do tu hành có công năng vượt qua được dòng sông sinh tử. Vì sự hiểu lầm này mà nhà vua coi trọng vấn đề bố thí làm phước, tưởng như thế là đã đủ trên con đường tu hành, mà không quan tâm đến vấn đề tu chứng.

Về phần ngài Bồ Đề Đạt Ma, ngài là một thiền sư đắc đạo, ngài dạy cái cốt tủy, thuộc về Phật thừa. Ngài dạy người tu để giác ngộ thành Phật. Cho nên Lương Võ Đế không hiểu được ngài.

Thưa quý thính giả,

Bây giờ chúng ta cùng nhau thảo luận về câu kệ nổi tiếng là “sấm sét” của ngài:

“Không lập văn tự

Truyền ngoài giáo lý,

Chỉ thẳng tâm ngưòi

Thấy Tánh thành Phật.”

Muốn tìm lý do nảy sinh câu kệ này, chúng ta phải đi ngược lại từ thời đức Phật tại thế.

Một hôm, trên pháp hội Linh Sơn, đức Phật giơ cành hoa lên. Cả pháp hội đều ngơ ngác nhìn, duy có tôn giả Ma Ha Ca Diếp mỉm cười. Đức Phật nói: “Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn Diệu Tâm, Thực Tướng Vô Tướng, pháp môn vi diệu, nay trao lại cho Ma Ha Ca Diếp.”

Đó là mệnh lệnh truyền thừa từ đức Phật sang qua tôn giả Ca Diếp, tôn giả trở thành đệ nhất Tổ Thiền Tông. Sự truyền thừa này được gọi là “truyền Tâm ấn”.

Đức Phật giơ cành hoa, tôn giả Ca Diếp mỉm cười, vậy khi đức Phật nói là trao lại cho Ma Ha Ca Diếp “chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn Diệu Tâm, Thực Tướng Vô Tướng, pháp môn vi diệu”, câu đó có nghĩa gì?

Trong câu của ngài Bồ Đề Đạt Ma “Không lập văn tự, Truyền ngoài giáo lý, Chỉ thẳng tâm người, Thấy Tánh thành Phật”, và “trí rỗng rang, tâm sáng suốt, từ nơi bản tánh”, những câu đó có nghĩa gì?

Sau này, khi Lục Tổ Huệ Năng ở nơi Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, làm bài kệ:

Bồ-đề vốn không cây,

Gương sáng chẳng phải đài,

Xưa nay không một vật,

Chỗ nào dính bụi nhơ

Lục Tổ còn dạy trong phẩm Bát Nhã:

“Phải biết đối với kẻ ngu, người trí, Phật tánh không có sai khác, chỉ do mê ngộ bất đồng, vì thế có ngu , có trí. ……..

Phàm phu tức là Phật, phiền não tức là Bồ-đề.

Niệm trước mê tức là phàm phu, niệm sau ngộ tức là Phật.

Niệm trước chấp cảnh tức là phiền não, niệm sau lìa cảnh tức là bồ-đề. ……..”

Thưa quý thính giả,

Niết Bàn Diệu Tâm, Tâm Bồ Đề cũng chính là Phật Tánh, Giác Tánh.

Tổ Lâm Tế là một vị Tổ Sư của rất nhiều Tăng Ni Việt Nam. Có thể đôi khi quý thính giả tham dự tang lễ chư vị Tăng Ni, nghe thấy những câu “Lâm Tế chính tông…” trong tiểu sử người qua đời, câu đó có nghĩa là vị sư này xuất gia với bổn sư thuộc dòng thiền Lâm Tế.

Tổ Lâm Tế nói:

“Sơn tăng chẳng có một pháp cho người, chỉ là trị bệnh mở trói”.

“Nếu các ngươi thôi nghỉ cái tâm niệm niệm tìm cầu thì với chư Tổ chư Phật chẳng khác. Các ông muốn nhận biết chư Tổ, chư Phật chăng ? Chính là ngươi đang nghe pháp trước mắt đây.

“Chư đạo hữu ! Các ông phải biết, Tâm pháp vô hình thông suốt mười phương, ở mắt gọi là thấy, ở tai gọi là nghe, ở mũi gọi là ngửi, ở miệng gọi là nói bàn, ở tay gọi là nắm bắt, ở chân gọi là chạy nhảy, vốn là một cái tinh minh, phân thành sáu hòa hợp. Một tâm đã không thì mọi nơi đều giải thoát”.

“Tâm pháp vô hình thông suốt mười phương” cũng chính là Diệu Tâm, Giác Tánh…

Như quý vị đã thấy, điều chung trong các câu của đức Phật và ba vị Tổ Sư đều nói về Tâm. Đức Phật nói Diệu Tâm, chính là Giác Tánh, là Tánh. Ngài Bồ Đề Đạt Ma dùng chữ Tánh, Lục Tổ Huệ Năng dùng chữ Tâm Bồ Đề, cũng tức là Giác Tánh.

Đặc biệt Tổ Lâm Tế còn nói rõ hoạt dụng của Diệu Tâm như sau:

“Tâm pháp vô hình thông suốt mười phương, ở mắt gọi là thấy, ở tai gọi là nghe, ở mũi gọi là ngửi, ở miệng gọi là nói bàn, ở tay gọi là nắm bắt, ở chân gọi là chạy nhảy, vốn là một cái tinh minh, phân thành sáu hòa hợp”.

Trong Luận Đại Thừa Khởi Tín, luận sư Mã Minh dạy:

“Cái tâm này (tâm chúng sanh) có hai phần:

Một là Tâm Chân Như,

Hai là Tâm sanh diệt.

Hai tâm này không rời nhau và đều bao trùm tất cả pháp”.

HT Thích Thiện Hoa giảng rằng:

“Chân Như là “Thể”, còn Sanh diệt là “Tướng” và “Dụng”. Tướng và Dụng không rời Thể, Thể không rời Tướng và Dụng; cũng như nước không rời sóng, sóng không rời nước. Bởi Thể, Tướng và Dụng không rời nhau, nên mỗi một phần đều bao hàm được tất cả pháp.

Nếu người nào lìa các vọng niệm, thì người ấy nhập được Chân Như. Nghĩa là “Vọng” hết, thì “Chân” hiện. Đoạn này đồng một ý nghĩa với bốn chữ “bất tuỳ phân biệt” trong Kinh Lăng Nghiêm”.

Thưa quý thính giả,

Vọng niệm nổi lên trong tâm con người ta luôn luôn liên tục từ sát na này tiếp nối sát na khác như là dòng suối, nên còn gọi là dòng suối ý thức. Nếu có thể bất thình lình nguồn tư tưởng triền miên đó ngưng một sát na thì dòng suối đứt đoạn, gọi là “lìa vọng chứng chân”, đương sự bừng tỉnh cơn mê, trong một thoáng thấy lại được Bản Tánh, cũng là Giác Tánh, Diệu Tâm, vân vân. Sự kiện này là “kiến tánh”, thiền Nhật Bản gọi là Satori.

Đức Phật giơ cành hoa lên là phương tiện thiện xảo của Ngài, tâm tôn giả Ca Diếp lúc đó đã lắng đọng, cho nên chỉ một hành động của đức Phật, nhà Thiền gọi là cơ xảo, tâm tôn giả Ca Diếp chợt bừng tỉnh. Cơ xảo giơ cành hoa của đức Phật như thế, Thiền tông gọi là “tháo đinh nhổ chốt”, Tổ Lâm tế gọi là “trị bệnh mở trói”, đều là gỡ cái nút thắt trong tâm của hành giả tu Thiền, khiến cho Tâm hành giả bừng tỉnh mà thôi.

Tâm trò bừng tỉnh thì thông suốt với tâm rỗng rang của Thày, nên gọi là “Tâm ấn Tâm”, và sự truyền thừa đó gọi là “Truyền Tâm Ấn”.

Ở đây chỉ có Tâm rỗng rang của hai thày trò thông suốt nhau, không có gì được truyền từ thày sang trò, vì thế nhà Phật đã có câu “dĩ tâm ấn tâm, dĩ không môn vi pháp môn”, nghĩa là “tâm thông suốt với tâm, cửa không là cửa pháp”. Nếu trong tâm lại còn có bất cứ cái gì để mà có thể truyền từ tâm thày sang trò thì tâm còn ô nhiễm, sao gọi là Phật như câu “Năng lễ sở lễ tánh không tịch” được.

Pháp môn này gọi là “Trực chỉ nhân tâm kiến Tánh thành Phật”, và phương tiện thiện xảo đó là “chỉ thẳng tâm người”.

Như vậy, nhiệm vụ ngài Bồ Đề Đạt Ma tới Trung Hoa là để chỉ thẳng cho các học giả Phật giáo thấy mục tiêu cốt tủy của đạo Phật không phải là nghiên cứu ngón tay chỉ mặt trăng là phần lý thuyết, mà phải thực hành để đạt được mặt trăng là “kiến Tánh thành Phật”.

Kính thưa quý vị,

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.