Archive | July 14, 2013

Bài 22 – Quy Y Tam Bảo – Pháp Danh

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi nhận được thư của ông Phạm thế Hiếu hỏi về vấn đề pháp danh trong đạo Phật. Nhận thấy câu hỏi này có thể cũng là thắc mắc của một số thính giả nên chúng tôi xin phép được trình với quý vị một đoạn trong thư, trước khi có lời giải đáp, như sau:

…”… Một người bạn Mỹ trong sở một hôm hỏi tôi theo tôn giáo nào, tôi nói tôi theo đạo Phật, anh ta bèn khoe anh ta cũng theo đạo Phật có dharma name và hỏi dharma name của tôi. Tôi không biết dharma name là gì nên phải nói đại là quên mất rồi.

Sự thực thì tuy gia đình tôi theo đạo Phật nhưng chúng tôi rất ít khi đến chùa, cũng không hề biết kinh sách gì cả, chỉ Tết mới đi lễ xin lộc Phật, hoặc những ngày giỗ hay có tang ma của người thân thuộc thì mới đến chùa tụng kinh cầu siêu, cho nên sự hiểu đạo của gia đình chúng tôi rất hạn hẹp.

Nay gặp câu hỏi khó nên viết thư này xin quý vị chỉ dẫn để tôi có thể trả lời người bạn trong sở tôi về vấn đề dharma name….”…

Thưa quý thính giả và ông Hiếu,

Theo chỗ chúng tôi được biết thì trường hợp hiểu đạo một cách hạn hẹp như ông Hiếu rất phổ biến trong cộng đồng Phật giáo chúng ta. Đối với một số tôn giáo, ngay khi còn là em bé, đứa nhỏ đã phải trải qua một số nghi lễ để xác nhận tôn giáo mà em sẽ mang theo sau này. Rồi sau đó, khi hiểu biết đôi chút, các em bắt đầu học giáo lý theo tôn giáo của các em

Nhưng đạo Phật thì khác, do chủ trương mọi việc làm đều phải được quyết định trong sự tỉnh thức, cho nên một em nhỏ trong gia đình theo đạo Phật cứ việc sống tự nhiên cho tới khi bắt đầu hiểu biết, khi đó có thể là do cha mẹ dạy hoặc cho các em gia nhập các gia đình Phật tử, hoặc tự các em tìm hiểu đạo Phật qua sách báo, trong thư viện, hoặc nghe những buổi thuyết pháp của đạo Phật, cảm thấy muốn đi sâu vào con đường tu tập của đạo Từ Bi, họ mới tới chùa xin Quy Y Tam Bảo để chính thức là một Phật tử.

Người tự nguyện quy y như thế có nghĩa là chấp nhận sự hướng dẫn của Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo. Phật Bảo là chư Phật, Pháp Bảo là giáo pháp, cụ thể là Tam Tạng Kinh Điển, Tăng Bảo là chư Tăng Ni tu hành thanh tịnh, hiện đang đại diện Chư Hiền Thánh Tăng để hướng dẫn Phật tử trên con đường giác ngộ giải thoát.

Và chỉ sau khi Quy Y Tam Bảo, có nghĩa là đương sự đã quyết tâm nương tựa tinh thần vào Tam Bảo để tu tập, thì người đó mới được vị Tăng đại diện đặt cho một pháp danh, thí dụ Diệu Tâm, Chân Tịnh, vân vân…. Pháp danh dịch sang Anh Ngữ là dharma name

Như thế, trên thực tế, nếu một người không Quy Y Tam Bảo, không đọc kinh sách nhà Phật để ứng dụng vào cuộc sống cho được thăng hoa, giảm bớt nỗi thống khổ, mà chỉ đi chùa cúng bái cầu siêu, một việc vốn không phải là Phật sự chính của đạo Phật, mà do  các Sư thực hiện như một phương tiện tùy thuận chúng sinh, thì có lẽ nên gọi là theo đạo thờ cúng Tổ Tiên, mà trong dân gian gọi là “đạo Ông Bà” mới đúng danh nghĩa.

Tất cả Phật tử đều thờ cúng Tổ Tiên, không có nghĩa rằng những người chỉ thờ cúng Tổ Tiên, không hề biết đến và nương theo giáo lý của đạo Từ Bi để chuyển hóa tâm đều là Phật tử. Chỉ sau khi đã Quy Y Tam Bảo, đã ứng dụng giáo lý nhà Phật trong cuộc sống, thì mới là một Phật tử thực sự.

Có người nói rằng :” Tôi chỉ quy y “Nhị Bảo” là Phật và Pháp thôi, còn Tăng thì cũng như tôi, không cần quy y”.

Nói như thế là sai lầm. Tăng hiện đang sống, đứng trước mặt chúng ta là phàm tăng. Nhưng các vị ấy đại diện tất cả Tăng Bảo của ba thời là quá khứ, hiện tại và vị lai. Chúng ta quy y như thế là quy y tất cả Chư Hiền Thánh Tăng của ba thời do các phàm tăng đại diện.

Tăng Bảo, dù là phàm tăng, cũng có công duy trì và hoằng dương Phật pháp ở đời. Nhờ có Tăng Bảo, đạo Phật mới có thể hiện diện trên thế gian một cách sống động và hữu ích thiết thực, qua những lời dạy của chư Tăng và do chính đời sống gương mẫu của chư vị ấy mà Phật tử noi theo, điều đó gọi là thân giáo.

Nếu có cá nhân Tăng Ni nào vi phạm Giới Cấm, hành xử sai lầm, chúng ta cũng hiểu rằng đó là trường hợp cá biệt, không vì thế mà có sự nhận định sai lầm tới danh dự của tất cả chư Tăng Ni.

Khi quy y Tam Bảo là chúng ta quy y chư Phật, chư Pháp và chư Tăng. Chư Tăng là “tất cả các Tăng”. Cho nên đã quy y Thầy A rồi, khi thấy Thầy B danh tiếng lừng lẫy hơn, bằng cấp cao hơn, ta lại quy y thêm Thầy B là dư thừa, vì khi quy y Thầy A, ta đã đồng thời quy y Thầy B.

Để quý thính giả có thêm tài liệu về Quy Y Tam Bảo, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một phần bài pháp của hòa thượng Thích Thanh Từ dạy về đề tài này.

Hòa thượng nói:

…”… Tam Quy nói đủ là Quy Y Tam Bảo. Tam Bảo là Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo. Phật là chỉ đức Phật Thích Ca Mâu Ni, do trước kia ngài tu hành giác ngộ thành Phật. Pháp Bảo là giáo pháp do Đức Phật nói ra chỉ dạy đường lối tu hành. Tăng Bảo là những vị tu hành theo giới luật và chánh pháp của đức Phật.

Tại sao gọi là Phật Bảo?

Từ một kẻ phàm phu như chúng ta tu hành thành Phật thực là chuyện ít có trên nhơn gian nầy. Thế nên trong kinh thường nói Phật ra đời khó gặp, như hoa Ưu Đàm một ngàn năm mới trổ một lần. Bởi ít có, khó gặp, nên nói là Báu. Hơn nữa, tự bản thân Ngài đã thoát khỏi sanh tử luân hồi và giác ngộ thành Phật, rồi đem chỗ giác ngộ ấy dạy lại cho mọi người cùng ra khỏi sanh tử, là điều cao cả nhất trần gian nên gọi là Báu, tức là Bảo.

Thế nào gọi là Pháp Bảo?

Chánh pháp xuất thế hy hữu do Đức Phật dạy lại, người nghe rất khó hiểu, khó thấu đáo được. Nhưng một khi đã hiểu, ứng dụng tu hành có thể chuyển đời phàm phu trở thành thánh nhân, pháp như vậy còn gì quý báu bằng. Pháp của Phật dạy là chân lý, dù trải qua bao thời gian chân lý ấy vẫn rạng ngời như hòn ngọc báu. Những kẻ đang lạc lầm trong đêm đen, bất thần gặp được ngọn đuốc, vui mừng quý tiếc thế nào, người học đạo gặp được chánh pháp cũng như thế. Người đang bị chìm đắm ngoài biển cả, trông thấy một con thuyền đến vớt, vui mừng sung sướng quý mến thế nào, người học đạo gặp được chánh pháp cũng như thế. Cho nên nói “Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm gặp.”

Thế nào gọi là Tăng Bảo?

Tăng là chỉ cho một nhóm tu sĩ học theo Phật, sống chung nhau đúng tinh thần Lục Hòa. Sống đúng tinh thần Lục Hòa là việc ít có trên nhân gian nầy. Bởi vì người thế gian sống trong đua đòi giành giật hơn thua với nhau, không bao giờ hòa thuận được. Lục hòa là:

Thân hòa cùng ở,
Miệng hòa không tranh cãi,
Ý hòa đồng vui,
Giới luật hòa đồng giữ,
Hiểu biết hòa cùng giải,
Lợi hòa chia đồng.

Sáu điều này là tinh thần của Tăng. Nếu có người đầu tròn áo vuông mà không sống theo tinh thần Lục Hòa cũng không gọi là tăng. Ở trong tập thể từ bốn người trở lên, ai cũng hòa thuận chung sống đúng tinh thần Lục Hòa là một việc rất khó làm. Vì thế, người tu sĩ sống theo tinh thần Lục Hòa, là một điều quí báu trên nhơn gian. Hơn nữa, trên sự tu hành, các vị ấy đã vơi đi phiền não và đạt được phần nào của an ổn thanh tịnh, rồi hướng dẫn mọi người cùng đến chổ an ổn thanh tịnh ấy. Vì thế cho nên gọi là Tăng Bảo.

Thế nào là Quy y?

Quy là trở về, Y là nương tựa. Trở về nương tựa với Phật, Pháp và Tăng gọi là Quy Y Tam Bảo. Từ lâu chúng ta mãi chạy theo dục lạc, tạo nghiệp đau khổ, nay hồi tâm thức tỉnh, nhất định trở về nương tựa với Tam Bảo. Lấy Tam Bảo làm chổ cứu cánh, để không còn tạo thêm nghiệp đau khổ, rồi từ đó đem lại cho chúng ta sự an lạc trong cuộc sống. Đây là sự hồi tâm tỉnh giác, phát nguyện trở về của chúng ta. Sự tỉnh giác nầy là nền tảng của lâu đài trí tuệ, nó là bước đầu trên con đường về quê hương giác ngộ. Đặt nền tảng nầy vững chắc thì lâu đài trí tuệ mới được lâu dài. Đó là sự hệ trọng của tinh thần Quy Y….”…

Phật Pháp Tăng là đối tượng để chúng ta Quy Y. Nguyện noi theo con đường Đức Phật đã đi là Quy Y Phật. Quyết thực hành những lời chỉ dạy của Ngài còn ghi trong kinh điển là Quy Y Pháp. Thuận theo sự hướng dẫn tu hành của chúng tăng là Quy Y Tăng. Tăng là tập đoàn Tăng lữ sống đúng tinh thần Lục Hòa, không phải tính cách cá nhân. Nếu một vị sư đứng ra làm lễ Quy Y cho Phật tử, chính vị ấy đại diện cho tập đoàn. Quy Y Tăng là quy y với những vị sư sống đúng tinh thần Lục Hòa, không phải chỉ quy y riêng vị sư truyền Tam Quy cho mình. Khi quy y một vị Tăng tức là đã quy y tất cả chư Tăng. Được vậy mới đúng tinh thần Quy y Tam Bảo bên ngoài.

Phật pháp bao giờ cũng phải đủ hai mặt, Tam Bảo bên ngoài là đối tượng, Tam Bảo tự tâm là bản chất. Nương Tam Bảo bên ngoài, chúng ta phát triển Tam Bảo của tự tâm. Trong ngoài hỗ tương để viên mãn công phu tu hành, là mục tiêu chính yếu của Đạo Phật.

Về Tam Bảo tự tâm thì Tánh Giác sẵn có nơi chúng ta là Phật Bảo. Lòng từ bi thương xót cứu giúp chúng sanh là Pháp Bảo. Tâm hòa hợp với mọi người là Tăng Bảo.

Tam Bảo bên ngoài là điều kiện tốt thiết yếu với người Phật tử, nhưng có được giác ngộ giải thoát chính là khả năng của Tam Bảo Tự Tâm.

Trên đây là bài pháp của hòa thượng Thích Thanh Từ.

Thưa quý thính giả,

Trong các thời tụng kinh, vào giai đoạn cuối, chúng ta thấy có ba đoạn tụng như sau:

Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng. 

Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh, thấu rõ Kinh Tạng, trí tuệ như biển. 

Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại.

Ba lời nguyện này chính là Quy Y Tam Bảo Tự Tâm, còn gọi là Tự Tánh. Sơ Tổ thiền tông Bồ Đề Đạt Ma ra một tuyên ngôn sấm sét khi bước chân lên đất Trung Hoa rằng:

Bất lập văn tự,

 Giáo ngoại biệt truyền,

 Trực chỉ nhân tâm,

 Kiến Tánh thành Phật.”

Chữ “Tánh” trong câu này chính là “Tự Tánh”, cũng chính là Giác Tánh của mỗi người.

Tự Tâm Quy Y có nghĩa là quay vào nội tâm để tự thanh lọc cho tới khi Giác Ngộ.

Về Quy Y Tam Bảo Tự Tâm, hòa thượng Thích Thiện Hoa dạy như sau:

…”…Quy Y Tam Bảo Tự Tâm nghĩa là quy y Tam Bảo trong tâm chúng ta. Nếu chúng ta chỉ quy y Tam Bảo bên ngoài, mà quên Tam Bảo bên trong tâm chúng ta, thì chúng ta chưa thực hành đúng nghĩa Tam Quy. Thật thế, bên trong tâm chúng ta cũng có đủ Tam Bảo. Chúng ta cần thực hành Tam Tự Quy Y: Tự Quy Y Phật, Tự Quy Y Pháp và Tự Quy Y Tăng.

 Tự quy y Phật nghĩa là mình tự trở về với Phật tánh sáng suốt của tâm mình. Mỗi người đều có Phật tánh, và đều có thể thành Phật. Đó là lời Phật Thích Ca đã dạy. Nhưng Phật tánh ấy bị mê lầm, vọng tưởng che lấp. Vọng tưởng như mây mờ, Phật tánh như trăng. Mây mờ có thể che khuất, chứ không thể tiêu diệt được trăng sáng.

Phật tánh của chúng ta dù bị vọng tưởng, vô minh che lấp sâu kín đến đâu cũng vẫn thường còn. Vậy thì sao chúng ta lại bỏ quên Phật tánh của chúng ta, mà chỉ chạy theo cầu khẩn Phật bên ngoài; như đứa con nghèo có viên ngọc quý, cha mẹ đã giấu sẵn trong chéo áo mà nó không biết, lại đi xin ăn cùng khắp mọi nơi.

Tự Quy Y Pháp là vâng theo Pháp tánh của mình. Trong tâm có đủ pháp Từ Bi, Trí Tuệ, Bình Đẳng, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn…Chúng ta cần phát huy những đức tánh ấy và hành động theo chúng, tuân theo chúng; như thế là Tự Quy Y Pháp.

Tự quy y Tăng là vâng theo thầy trong tâm mình. Thầy trong tâm mình là đức tánh thanh tịnh hòa hợp của mình, cũng như Tăng già là hiện thân của sự hòa hợp thanh tịnh bên ngoài. Bấy lâu vì mình bị mê muội, không nhận thấy được ông thầy trong tâm, nay nhờ Phật chỉ dạy, mình nhận thấy được ông thầy thanh tịnh ấy, thì mình phải quy y thầy của mình trước đã chứ!

Nói tóm lại, mình phải nương tựa, quay về với Phật trong tâm là tánh sáng suốt; với Pháp của mình là các đức tánh Từ Bi, Hỷ Xả v.v…; với Tăng của mình là sự hòa hợp, thanh tịnh của bản thân. Như thế là Tam Tự Quy Y….”…

Trên đây là lời dạy của hòa thượng Thích Thiện Hoa.

Thưa quý thính giả,

Các pháp môn tu hành của nhà Phật đều chủ yếu là luyện cho tâm được bình tĩnh, thanh tịnh, để nhìn thấu suốt được sự việc xảy ra đúng như thực tế.

Trong quá trình tu tập, các thiền giả đang đi trên đường, dù chưa đắc đạo, cũng có những thành tựu nhỏ như là giữ được sự bình thản trước những nỗi kinh hoàng của cuộc đời, không bị lôi cuốn vào cơn sợ hãi.

Chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện Thiền nói về sự bình tĩnh, trích dịch từ loạt bài  “Zen Stories To Tell Your Neighbors” do soạn giả John Suler gửi lên Internet, như sau:

…”… Trong cuộc nội chiến dưới triều đại phong kiến bên Nhật, có đoàn quân xâm lăng tràn vào thành phố cướp chính quyền.

Tại một làng đặc biệt kia, trong khi mọi người vội vã bồng bế nhau chạy thoát thân trước khi quân giặc tràn tới, thì có một vị thiền sư vẫn điềm nhiên tĩnh tọa.

Nổi cơn tò mò, viên tướng giặc muốn nhìn tận mắt coi ông thiền sư già này thuộc loại gan cóc tía nào mà dám ngang nhiên như thế, bèn thân hành tới tận chùa. Thấy mình không được thiền sư tiếp đón một cách cung kính, tôn trọng, điều mà hắn đã quen được hưởng, viên tướng bèn nổi trận lôi đình, vừa rút gươm ra vừa thét:

– Nhà người điên à? Bộ không biết rằng nhà ngươi đang đứng trước mặt một người có thể đâm ngươi một đường gươm lút cán mà không hề chớp mắt sao?

Vẫn bình thản dường như là bất động, vị thiền sư điềm tĩnh trả lời:

– Thế ông không nhận ra rằng ông đang đứng trước một người có thể bị đâm một đường gươm lút cán mà không hề chớp mắt sao?

Thưa quý thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay.  Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 21 – Giới Cấm uống rượu và men say, ma túy

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Trong nhiều kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình với quý vị bài kệ tóm tắt con đường tu hành của người Phật tử, như sau:

“Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành”

Chúng tôi cũng đã thưa rằng trong ba lời dạy cốt tủy đó, thì lời dạy thứ ba, “Tự thanh tịnh tâm ý”, mới chính là điều tối quan trọng, chỉ khi nào thực hiện điều đó, hành giả đạo Phật mới hoàn tất con đường tu chứng của mình, bởi vì nội dung của “tự thanh tịnh tâm ý” có nghĩa là chấm dứt những lôi cuốn của Tham, Sân và Si, vốn là nguyên nhân của tất cả mọi vướng mắc dây dưa trong vòng luân hồi sinh tử.

Tuy vậy, hai điều trước đó, “không làm những điều ác” và “siêng làm những việc lành” cũng rất quan trọng. Vì đó là phần đạo đức học của Phật giáo, mục đích đào luyện những phần tử tốt lành, những người hiền thiện trong xã hội, đồng thời chuyển dòng nghiệp của họ từ xấu sang tốt, làm nhân tố tốt cho giai đoạn “Tự thanh tịnh tâm ý”.

Để thực hiện điều này, nhà Phật có Ngũ Giới, là năm điều ngăn ngừa, mà mỗi Phật tử đều có phát lời nguyện sẽ tuân thủ, hoặc cả 5 Giới, hoặc nếu cảm thấy chưa đủ khả năng giữ được trọn vẹn cả 5, thì có thể thọ tùy theo nhiều hay ít giới, để tập cho quen từ từ, cuối cùng đạt được mục đích tuân thủ cả Năm Giới.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi xin kính gửi tới quý vị nội dung câu hỏi “Thế nào là Ngũ Giới của cư sĩ tại gia?” và câu trả lời của hòa thượng Thích Duy Lực, như sau:

– Giới thứ nhất là cấm sát sanh. Đã muốn thọ giới của Phật thì trước tiên là cấm sát sanh, bất sứ sinh vật gì thuộc hữu tình đều cấm giết hại.

– Giới thứ nhì là cấm trộm cắp. Đồ vật của người khác, nếu muốn lấy sử dụng phải được sự đồng ý của chủ nó, nếu không được sự đồng ý mà lén lấy thì gọi là trộm cắp. Dĩ nhiên các đồ vật trong gia đình giữa cha mẹ anh chị em thường dùng qua lại lẫn nhau là không phạm, nhưng cái nào cũng có sự giới hạn, ví như con cái ăn cắp tiền của cha mẹ cũng phạm giới trộm cắp.

– Giới thứ ba là cấm tà dâm. Thế nào là tà dâm? Người tại gia thường có gia đình, quan hệ vợ chồng chính thức là chánh, ngoài vợ chồng chính thức ra đều thuộc tà dâm, phải cấm, còn người xuất gia thì bất cứ hành động dâm dục nào cũng đều bị cấm.

– Giới thứ tư là cấm vọng ngữ, gồm bốn thứ: Vọng ngôn, ỷ ngữ, ác khẩu, lưỡng thiệt.

Vọng ngôn là nói dối, tức nói có thành không, nói không thành có;

Ỷ ngữ là lời nói thêu dệt;

Ác khẩu là chửi mắng người khác;

Lưỡng thiệt là thị phi hai đầu, làm cho hai bên bất hòa, khiến thù oán nhau.

– Giới thứ năm là cấm uống rượu, vì uống rượu rồi có thể phạm phải bốn giới trước nên cấm.

Giới nhà Phật có khai, giá, trì, phạm, ví như mình có bệnh, y sĩ nói phải dùng thuốc có pha rượu, tự mình công khai nói ra thì có thể uống. Lại nữa, có trường hợp vì không biết đó là rượu mà uống phải thì chẳng phạm; hoặc trong lúc nấu nướng cần bỏ rượu vào để chế biến cũng chẳng phạm. Ngoài ra, một số thực phẩm có men rượu nhưng ăn vào không bị say như cơm rượu, vân vân, cũng dùng được.

Ngũ Giới này là của cư sĩ tại gia, đã thọ rồi thì phải suốt đời giữ theo giới, nếu sơ ý phạm phải thì sám hối với một người cư sĩ đã thọ Ngũ Giới rằng: “Xin ông hãy chứng minh cho tôi đã lỡ phạm Giới này, từ nay về sau tôi sẽ không phạm nữa”. Vậy là hết tội phá giới, còn tội nhân quả thì chẳng thể sám hối được, giết một mạng phải trả một mạng.

Có người nói: “Thế thì chẳng thà không thọ giới, không phải mắc đến hai tội, vừa tội nhân quả vừa tội phá giới; nếu không thọ giới thì chỉ mắc một tội nhân quả mà thôi”.

Sự thật là nếu không thọ giới thì dễ phạm nhiều tội nhân quả, mắc nợ nhiều; còn thọ giới rồi sẽ cẩn thận hơn, ít phạm tội nhân quả, ít mắc nợ, cho nên có thọ giới vẫn tốt hơn”.

Trên đây là bài giảng về Ngũ Giới  của hòa thượng Thích Duy Lực.

Thưa quý thính giả,

Trong các Giới Cấm kể trên, Giới Cấm uống rượu là gây nhiều thắc mắc nhất. Có người nói rằng “Uống rượu thì có gì là hại, còn bổ máu, dễ tiêu hóa nữa kìa, các cụ dạy thế và cả bác sĩ cũng bảo vậy, sao Phật lại cấm?”

Do đó, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một đoạn trong bài pháp của hòa thượng Thích Thiện Hoa, phần nói về Giới Cấm uống rượu.

Hòa thượng dạy rằng :

“Phật cấm uống rượu vì muốn ngăn ngừa những nguyên nhân sanh ra tội lỗi.

Uống rượu chính nó không phải là một tội lỗi như sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nhưng nó có thể làm nhân cho những tội lỗi kia sanh ra. Khi đã uống rượu say sưa, thì tội nào cũng có thể phạm được. Dưới đây là một câu chuyện để chứng minh điều đó:

Một anh nông phu kia đang cày ruộng giữa đồng, bỗng thấy hiện ra sừng sững trước mặt mình một hung thần to lớn, kỳ dị, hăm giết anh. Anh kinh sợ, khóc lóc xin tha mạng. Vị hung thần bảo:

– Nếu ngươi làm được một trong ba việc này thì ta tha chết cho: hoặc là giết cha ngươi, hoặc là đánh mẹ ngươi hay uống hết lít rượu để trên bàn nhà ngươi.

Anh nông phu suy nghĩ một hồi rồi trả lời:

– Xin Ngài cho con được uống lít rượu.

Ác thần nghe xong, có vẻ hài lòng, rồi biến mất.

Trưa hôm ấy, anh nông phu về nhà, thấy lít rượu mà ông thân sinh mua để đãi khách, vì nhà sắp có giỗ, anh ta vội vàng chụp lấy, nốc cạn một hơi. Cha anh thấy đứa con hỗn láo, nắm gậy xông lại đánh mắng con. Ma men đã thấm, anh ta không còn biết phải trái, giựt gậy của cha, đánh ông một cây chết tốt ! Bà mẹ chạy đến ôm con la làng. Anh ta chưa hả cơn giận, đánh mẹ túi bụi. Làng xóm chạy lại bắt anh dẫn lên quan vì tội giết cha đánh mẹ. Tỉnh lại anh mới biết uống rượu là tội nặng nhất trong 3 điều mà hung thần đã bắt anh làm”.

Kính thưa quý vị,

Hòa thượng Thích Thiện Hoa kể câu chuyện ẩn dụ trên để gây ấn tượng về sự nguy hiểm sẽ phát sinh ra do rượu. Vì uống rượu thì sẽ say sưa, lý trí bị lu mờ, hành động trở thành mê muội, mất sáng suốt.

Vào thời đức Phật chế Giới Cấm, chỉ mới có rượu là chất làm cho tinh thần bị mê mụ, mất sáng suốt. Cho nên để giữ cho tinh thần minh mẫn, mới có Giới Cấm uống rượu.

Nhưng ngày nay nhân loại còn có những chất say độc hại, làm mê mụ tinh thần con người ta hơn cả rượu, thí dụ cần sa, ma túy. Các chất này vốn cũng được dùng trong y dược khoa để điều chế các loại thuốc giảm đau, gây mê, vân vân, với liều lượng rất nhỏ và do sự tinh luyện của những nhà chuyên môn để tránh độc hại.

Nhưng nó lại trở nên vô cùng độc hại khi bị lạm dụng với những liều lượng lớn và cơ thể có thói quen phải dùng liên tục vì tính chất các loại thuốc này là làm cho người ta trở thành nghiện.

Hiện tượng lạm dụng các loại cần sa ma túy phổ biến ở Tây Phương vào khoảng đầu thập niên 60, khi phong trào hippie lan tràn, gây ảnh hưởng sâu xa vào nền văn hóa của nhân loại. Điển hình của một hippie là quần áo  xốc xếch mầu sắc sặc sỡ, tóc dài dù là con trai, biểu dương quan niệm sống tự do buông thả trong nếp suy tư tình cảm và bác bỏ những giá trị văn hóa truyền thống. Họ tìm cảm giác bằng cách hút cần sa, ma túy.

Phong trào lan nhanh trên thế giới do nếp sống đồi trụy buông thả dễ lôi cuốn con người vào con đường sa ngã, và từ thời gian đó, nhân loại rơi vào một hiểm họa là nạn nghiện cần sa, ma túy.

Sự nguy hiểm của nghiện ma túy là khi đã lậm, liều lượng sẽ phải tăng dần để thỏa mãn nhu cầu đạt được sảng khoái của kẻ nghiện. Đồng thời, đã nghiện ma túy rồi thì sự từ bỏ rất là khó khăn, trừ trường hợp nạn nhân có ý chí thật là mãnh liệt.

Nhưng chuyện có ý chí từ bỏ này rất hiếm xảy ra vì bản chất của ma túy là nó tác hại vào tinh thần kẻ nghiện, khiến cho nạn nhân trở thành trì trệ, lười biếng, lừ đừ. Và người nghiện trở nên hung dữ khi cơn ghiền đến mà không có thuốc. Khi đó, họ có thể làm những hành động vô cùng tàn nhẫn ngay cả đối với người thân như cha mẹ anh chị em hoặc bạn bè để có tiền mua thuốc, thậm chí trở thành kẻ bất lương, cướp bóc nữa.

Kết quả tai hại của nạn nghiện ma túy này rất là tàn khốc, cho chính người lạm dụng, cho những người thân của đương sự và cho xã hội nữa.

Từ đó suy ra, chúng ta thấy Giới Cấm uống rượu này bao gồm tất cả “các chất làm say sưa, mất sáng suốt”. Như thế, các loại cần sa, ma túy, vân vân …, cũng phải được cho vào danh sách những chất bị Giới Cấm uống rượu chi phối.

Thưa quý thính giả,

Nhân nói về Giới Cấm uống rượu, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị câu chuyện thương tâm, hậu quả của một tai nạn do say rượu lái xe, được đăng trên Internet, do bà V.A. Bailey kể lại, đạo hữu Vy Khanh dịch ra Việt ngữ, như sau:

“Tôi vội vã chạy tới một cửa hàng bách hóa để quơ đại vài món quà Giáng Sinh vào giờ cửa tiệm sắp đóng. Nhìn đám người ùn lên phía trước, tôi vừa bực bội với sự trễ nải của mình vừa cố gắng xấn xổ vượt qua được đám đông chen chúc trong cái gian hàng đồ chơi trẻ con này. Giá mà tôi lăn kềnh được ra đây, ngủ thiếp đi, tỉnh dậy để phát hiện ra rằng ngày Lễ Giáng Sinh đã qua rồi thì hay biết mấy!

Bỗng nhiên, tôi  nhận ra tiếng của chính tôi đang lẩm bẩm đọc giá tiền những món đồ chơi bày trên kệ và tưởng tượng cảnh mấy đứa cháu được ôm những món đồ chơi đó trong lòng. Thuận chân, tôi tiến về khu bán búp bê. Phía xéo với tầm mắt, tôi thấy một em bé trai trạc 5 tuổi đang ôm một con búp bê xinh xắn. Đứa bé nâng niu món đồ chơi trong vòng tay, còn tay kia thì cứ vuốt mãi lên mái tóc mềm như tơ của con búp bê. Tôi không thể dời mắt khỏi quang cảnh đó mà cứ chăm chú nhìn cậu bé, trong lòng thắc mắc không biết cậu ta giữ con búp bê đó cho ai vậy. Rồi tôi thấy cậu ta quay qua phía một phụ nữ đứng bên cạnh mà hỏi:

– Cô có chắc là số tiền của cháu không đủ để mua con búp bê này không?

Người cô trả lời, giọng có vẻ sốt ruột:

– Cháu biết là cháu không đủ tiền mua nó mà.

Rồi cô ta dặn cháu đừng đi đâu cả, phải đứng tại đó chờ cô ta đi mua mấy món đồ, sẽ trở lại trong vòng vài phút. Nói rồi cô đi khuất khỏi tầm mắt chúng tôi.

Cậu bé vẫn đứng đó tay ôm con búp bê. Ngập ngừng một chút, tôi cất tiếng hỏi cậu bé rằng cậu định mua con búp bê cho ai. Cậu bé trả lời:

– Đây là con búp bê mà em cháu thích được tặng vào dịp Giáng Sinh này lắm. Em cháu biết chắc là Santa Claus sẽ mang tới cho em.

Tôi bảo cậu bé:

– Có lẽ Santa Claus sẽ mang tới cho em cháu thật đấy.

Cậu bé lắc đầu:

– Không, Santa sẽ không thể tới được nơi mà em cháu hiện nay đang ở. Cháu phải đưa con búp bê cho mẹ cháu để mẹ mang tới cho em.

Tôi hỏi:

– Vậy em cháu ở đâu?

Cậu bé nhìn tôi bằng cặp mắt thê thảm nhất, trả lời:

– Em cháu đã về với Chúa. Bố cháu nói rằng mẹ cháu cũng sắp phải đi với em rồi.

Tim tôi thót lại. Cậu bé nói tiếp:

– Cháu dặn bố cháu nói với mẹ là mẹ đừng đi vội. Cháu dặn bố cháu nói với mẹ là hãy chờ cháu từ tiệm trở về.

Rồi cậu bé hỏi tôi có muốn coi hình của cậu ta không. Tôi nói rằng tôi rất muốn. Cậu ta lôi ra mấy tấm hình mà cậu mới chụp ở ngoài cửa tiệm, nói:

– Cháu muốn mẹ cháu đem theo mấy tấm hình này để mẹ không bao giờ quên cháu. Cháu yêu mẹ cháu lắm. Cháu ước gì mẹ cháu sẽ không phải rời bỏ cháu. Nhưng bố cháu nói rằng mẹ cháu cần phải đi với em cháu.

Tới đây, cậu bé lặng lẽ cúi gục đầu xuống. Trong khi cậu ấy không nhìn thấy, tôi thò tay vào ví lôi ra một nắm tiền giấy cuộn trong lòng bàn tay rồi đề nghị:

– Này, hay là chúng mình đếm lại tiền của cháu một lần nữa coi sao?

Cậu bé có vẻ phấn khởi:

– Dạ, cháu biết chắc là phải đủ mà.

Thế là tôi nhẹ nhàng tuồn nắm tiền trong lòng bàn tay tôi nhập vào với tiền của cậu bé và bắt đầu đếm. Dĩ nhiên là bây giờ thì số tiền dư sức để mua con búp bê. Cậu bé nhìn lên cao, cất tiếng nhẹ nhàng:

– Xin cảm ơn Chúa đã cho con đủ tiền mua búp bê.

Rồi cậu nói với tôi:

– Cháu vừa mới cầu xin Chúa cho cháu đủ tiền mua con búp bê này để mẹ cháu có thể đem theo cho em cháu. Chúa đã nghe thấy lời cầu xin của cháu. Cháu đã muốn xin đủ tiền để mua được hoa hồng bạch cho mẹ cháu nữa mà cháu lại không hỏi. Vậy mà Chúa lại cũng cho cháu đủ tiền để mua được cả búp bê cho em cháu và hoa hồng cho mẹ cháu nè. Mẹ cháu thích hoa hồng bạch lắm, cô à.

Người cô của cậu ta đã trở lại. Tôi cũng đẩy xe đồ của tôi đi luôn. Đầu óc tôi cứ bận bịu với hình ảnh cậu bé trong khi tôi tiếp tục mua sắm, nhưng tinh thần tôi bây giờ không giống như trước khi tôi gặp cậu ta.

Tôi bỗng nhớ tới một câu chuyện đăng trên báo mấy ngày trước đây, câu chuyện về một người say rượu lái xe, tông vào xe kia làm cho một cô bé chết ngay và mẹ cô ta bị thương nặng. Gia đình người bị nạn đang bối rối trước quyết định có nên tháo bộ máy trợ sinh ra khỏi cơ thể bà ta chăng. Nhưng dĩ nhiên là cậu bé này chẳng liên quan gì đến câu chuyện đó cả, tôi tự nhủ thế.

Hai ngày sau tôi đọc báo thì biết được rằng gia đình người đàn bà trong tai nạn xe hơi đã quyết định tháo máy trợ sinh và bà ta đã chết. Tôi vẫn chưa quên câu chuyện cậu bé và cứ thắc mắc không biết hai chuyện có liên quan gì đến nhau không.

Chiều hôm đó, không nhịn được nữa, tôi đi mua mấy bông hoa hồng trắng và đến nơi quàn xác người đàn bà.

Thì ô kìa, nằm lặng lẽ trong bộ áo cuối cùng của cuộc đời, người đàn bà trẻ ôm trong tay một bông hoa hồng bạch cạnh con búp bê xinh xắn và trên ngực là tấm hình cậu bé chụp trước cửa tiệm bách hóa.

Tôi ra về với đôi mắt đẫm lệ, cuộc đời tôi thay đổi từ lúc đó. Tình yêu mà cậu bé thơ ngây dành cho em nhỏ và mẹ cậu ta mới thiêng liêng sâu sắc làm sao! Một tình yêu bao la như thế, đằm thắm như thế, mà chỉ trong thoáng chốc, một người say rượu, lái xe trong tình trạng tâm trí không sáng suốt, đã xé tan nát trái tim cậu bé ra thành từng mảnh.

Thưa quý thính giả,

Câu chuyện buồn về say rượu lái xe đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 20 – Tôn trọng các Tôn Giáo khác

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Trong thời gian qua, chúng tôi nhận được một số câu hỏi liên quan đến những vấn đề rất thực tế, đồng thời cũng rất nhậy cảm, xảy ra trong đời sống hằng ngày. Đó là những câu hỏi như:

– “Tôi thấy đạo Phật hay quá nên muốn rủ bà con và bạn hữu đang theo đạo khác đổi sang đạo Phật”,

hoặc

– “Phải làm gì khi những người trong gia đình không theo đạo Phật chống đối lại ta?”.

Những câu hỏi này thuộc về những vấn đề rất tế nhị, cũng như vấn đề tình yêu, chính trị, vân vân, để trong lòng thì thắc mắc, mà nói ra thì dễ đụng chạm vào niềm tin của nhau. Nhưng đó chính là những chuyện xảy ra trong đời sống hằng ngày, nên chúng ta cũng nên đem ra thảo luận hơn là tránh né.

Kính thưa quý vị,

Bình thường, mọi người đều thích làm việc phước thiện, nhất là làm việc phước thiện mà lại không tốn kém gì, chỉ mất công nói, nghĩ rằng có thể giúp người khác, mình lại được phước, thì rất nên nói. Cho nên đã có nhận xét rằng: “Trong mỗi người Việt Nam có 2 thày thuốc, một bác sĩ Tây y và một Đông y sĩ”. Điều này quả có đúng phần nào, vì mỗi khi thấy ai có vẻ gầy yếu, xanh xao, là lập tức có lời mách giúp về các loại thuốc nào đó, có khi cả Đông và Tây y.

Mách thuốc một cách thoải mái như thế, là vì người nói không biết tình trạng thực tế về sức khỏe của người nghe. Người nói có những kinh nghiệm về cơ thể của riêng họ và thuốc đó giúp cho họ khỏe. Nhưng khi mách cho người khác, họ không hề biết cơ thể người khác cần những chất gì. Cho nên, điều mình cho là tốt, chưa chắc đã phù hợp với người khác. Chuyện tôn giáo cũng vậy, những tôn giáo khác cũng có những điều phù hợp với tâm hồn tín đồ của họ. Nếu mình không thâm hiểu sâu xa tôn giáo của người khác, mà tích cực rủ rê họ đổi qua tôn giáo của mình, thì đó là điều thiếu sáng suốt.

Kính thưa quý vị,

Nay xin trở lại câu hỏi: “Tôi thấy đạo Phật hay quá nên muốn rủ bà con và bạn hữu đang theo đạo khác đổi sang đạo Phật”.

Về câu hỏi này, chúng tôi xin trích lời dạy của đức Đạt Lai Lạt Ma trong cuốn Beyond Dogma, khi được hỏi về vấn đề có nên khuyến khích người khác đổi từ đạo này qua đạo khác, Ngài đã trả lời như sau:

– Trong lúc chúng tôi trò truyện riêng, một tín hữu Thiên Chúa Giáo đã nêu lên lời khắc trên trụ đá của vua A Dục là:

“Sự không khoan dung đối với các tôn giáo khác đã tàn phá chính tôn giáo của mình và lòng kính trọng các tôn giáo khác có liên quan đến sự phong phú của một tôn giáo”.

Câu nói của vua A Dục đã biểu lộ sâu xa tinh thần bình đẳng, hiếu hòa, đức khiêm tốn và sự tôn trọng người khác của Phật giáo, vốn rất cần thiết trong đời sống đa chủng tộc, đa văn hóa trên thế giới. Sự kiện có nhiều tôn giáo khác nhau trên một thế giới đa dạng gồm trên 5 tỷ người, nó cũng phong phú và hữu ích như trong một dược phòng có nhiều loại thuốc khác nhau. Người bị đau bụng không thể dùng thuốc trị nhức đầu mà khỏi bệnh được.

Có người cho là đạo Phật không tích cực truyền bá, khiến cho Phật tử rơi rụng dần trước làn sóng hăm hở của một số nhà truyền giáo của đạo khác. Điều đó không hẳn là đúng. Đạo Phật không chủ trương bành trướng, mà đặt trọng tâm vào sự chuyển hóa con người về phương diện tinh thần để loại trừ Tham Lam, Sân Hận và Si Mê. Người Phật tử rất ca ngợi bất cứ ai theo bất cứ tôn giáo nào mà là người tốt, siêng làm việc thiện, không làm việc ác, không làm nô lệ cho ba điều độc hại kể trên. Đạo Phật không đòi hỏi tất cả mọi người đều phải là Phật tử.

Đức Phật đã dạy: “Mọi người đều có Phật tánh” và “ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”, chúng sinh đây gồm tất cả mọi loài sinh vật có giác tánh, không ngoại trừ bất cứ ai.

Do tin sâu nhân quả, người Phật tử tin rằng những người tốt lành, dù theo tôn giáo nào, hoặc không theo tôn giáo, mà không làm điều xấu ác, siêng làm việc lành thiện, gây nghiệp nhân thiện, thì sẽ được hưởng quả thiện trong đời sống. Thiện quả đó sẽ là nhân tốt, tạo thành duyên lành trên con đường thành Phật trong tương lai của họ.

Chúng ta thấy trong đời sống, có những nhà chính trị cho rằng lý thuyết về cải tạo xã hội của họ là đúng, đã dùng bạo lực để cưỡng bách nhiều dân tộc phải đi theo đường lối của họ, khiến cho cả triệu người tan nát gia đình, nước mất nhà tan. Không kính trọng và tìm hiểu tôn giáo khác, mà chỉ biết tự tôn về tôn giáo của mình, về những cái gì thuộc về mình, là mù quáng, sản phẩm của vô minh, có thể gây nên những va chạm, thù ghét lẫn nhau.

Kính thưa quý vị,

Để có thêm ý kiến của đạo sư Phật giáo, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một bài pháp của ni sư Thubten Chodron, trích dịch trong cuốn Buddhism for Beginners, liên quan đến đề tài này.

Ni Sư  Thubten Chodron sinh năm 1950, là người Hoa Kỳ, trưởng thành tại miền Nam tiểu bang California, tốt nghiệp trườngUniversity of California at Los Angeles về  bộ môn Lịch Sử và từng là một cô giáo dạy tại học khu Los Angeles.

Vào năm 1975, ni sư Thobten Chodron, lúc đó còn đang là cô giáo, có dịp tham dự một khóa thiền do hai vị sư Tây Tạng hướng dẫn. Do cơ duyên này, khi hai vị thày rời Hoa Kỳ, cô giáo cũng lên đường tới tu viện của hai vị tại Nepal để tiếp tục hành thiền. Tại đó, cô giáo được thọ giới Sa Di, và tới năm 1986 thì cô Sa Di được thọ giới Tỳ Kheo Ni tại Đài Loan.

Ni sư Thubten Chodron tu học Phật pháp theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng một thời gian dài tại Ấn Độ và Nepal dưới sự dạy bảo của đức Đạt Lai Lạt Ma và các bậc cao tăng Tây Tạng.

Sau thời gian tu học, ni sư đã từng đi nhiều nơi để giảng dạy Phật pháp như tại Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Do Thái, Ý, Pháp, Tân Gia Ba, Mã Lai Á và viết nhiều sách như Open Heart & Clear Mind, How to Free Your Mind, Taming the Monkey Mind, Cultivating a Compassionate Heart, Blossoms of the Dharma, vân vân….

Nhận thấy sự cần thiết phải có một nơi để người Tây Phương thường trú tu tập Phật pháp, ni sư đã thiết lập tu viện Sravasti, tọa lạc tại một vùng rừng gần tỉnh Newport, tiểu bang Washington. Tu viện rộng 240 acres. Nếu quý thính giả muốn tìm nơi để tu học hoặc tĩnh tâm một thời gian thì có thể vào website:

www.sravasti.org

để tìm hiểu chi tiết. Chủ trương của tu viện là cung cấp cho mọi người một nơi để tu tập, hành thiền, không chú trọng tới lợi nhuận, cho nên ai đến tu chỉ cần tôn trọng kỷ luật, chuyên cần tu hành. Tu viện không đòi hỏi tiền bạc, nhưng theo truyền thống Phật giáo, chúng ta có thể thực hành bố thí bằng cách cúng dường vào quỹ chung một số tiền tùy tâm, tùy theo sức mình, để chi tiêu điện nước và các thứ linh tinh, duy trì mức sống thanh đạm cần thiết. Tu viện không đặt trọng tâm vào lợi nhuận, chỉ quan tâm đến vấn đề tu học.

Thưa quý thính giả,

Sau đây, chúng tôi xin trích dịch mấy câu hỏi được ni sư Thubten Chodron trả lời trong cuốn Buddhism for Beginners. Cuốn này đã được đức Đạt Lai Lạt Ma giới thiệu như sau:

“Cuốn Buddhism for Beginners được viết cho người muốn tìm hiểu những điều căn bản nhất của đạo Phật, và cách ứng dụng những điều căn bản đó vào đời sống hằng ngày. Nó sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho độc giả”.

Hỏi:

– Làm thế nào để nói chuyện với thân nhân bè bạn thuộc các tôn giáo khác về đạo Phật? 

Ni sư  Thubten Chodron trả  lời:

– Vào thời gian đầu mới tiếp cận, chúng ta chưa có niềm tự tin về khả năng nhận xét và sự hiểu biết đủ để thẩm định giá trị của đạo Phật, đồng thời cũng chưa cảm thấy có niềm tin vào giáo pháp, cho nên chúng ta rất nhậy cảm với những ý kiến của mọi người về con đường tâm linh mà chúng ta mới bước vào.

Theo với thời gian, khi chúng ta thâm nhập sâu sắc hơn, cảm thấy thoải mái và gần gũi với Phật pháp hơn, thì lúc đó chúng ta cảm thấy dễ dàng hơn khi nói về đạo Phật với gia đình, bè bạn và thân thuộc. Dĩ nhiên là chúng ta không nên trở thành kẻ truyền giáo, không nên dùng những thuật ngữ khó hiểu để gây ấn tượng với mọi người. Tốt hơn, chúng ta nên dùng cách đơn giản để trả lời những câu hỏi sao cho dễ hiểu và hợp lý đối với họ. Có nhiều cách để nói về đạo Phật mà không cần phải dùng tới những thuật ngữ nhà Phật. Tóm lại về căn bản, đạo Phật là một đường lối sống hợp lý trong cuộc đời bình thường.

Khi bạn bè tâm sự với chúng ta về những vấn đề khó khăn trong đời sống của họ, chúng ta thảo luận với họ những cách hóa giải giận dữ, ghen tuông, níu kéo, ràng buộc, quyến luyến, vốn làm khổ mình, mà không nên dùng ngay cả đến chỉ một từ thôi, là từ “Phật giáo”. Nói nhiều quá sự người khác muốn nghe là thiếu khôn khéo. Cho nên chúng ta cần chú ý nghe câu hỏi, rồi trả lời chính xác, tránh lạc đề, hoặc nói lan man sang những đề tài, có thể là mình thích nhưng chưa chắc mọi người đều thích.

Khi thảo luận với những người khác tôn giáo, chúng ta có thể nói về những đặc điểm chung mà đạo Phật và các tôn giáo khác cũng có giống nhau, thí dụ tất cả các tôn giáo đều tôn trọng đạo đức, tình thương yêu, lòng trắc ẩn, vân vân, trước khi đi sâu và những điểm thâm áo của đạo Phật. Đừng bắt đầu câu chuyện bằng những vấn đề như tái sinh, nghiệp quả, đức Phật, giáo pháp, tăng đoàn, hoặc những từ ngữ và quan điểm xa lạ. Đồng thời, chúng ta cũng nhấn mạnh với họ rằng, theo quan điểm của nhà Phật, sự đa dạng trong tôn giáo trên thế giới là điều tốt, vì như thế, mọi người có thể tùy theo khuynh hướng của mình mà chọn lựa đường lối tư tưởng và phương pháp hành trì thích hợp. Đạo Phật không đòi mọi người đều phải là Phật tử.

Phát biểu tư tưởng theo lối này sẽ khiến cho những người khác tôn giáo đang đối thoại với mình cảm thấy thoải mái, vì họ thấy rằng mình tôn trọng đức tin của họ và không tìm cách cố gắng đòi họ bỏ đạo của họ để theo mình.

Những người có bạn đời khác tôn giáo có thể mời họ đến thăm đạo sư hoặc  bạn đạo của mình, nếu họ thích.

Có một số người bỏ bê gia đình vì họ cảm thấy say sưa trong mục đích lớn lao là cứu giúp tất cả chúng sinh và trở thành một vị Phật. Họ thực tập nhẫn nhục với tất cả chúng sinh nhưng lại bỏ rơi gia đình, hy vọng mọi người trong nhà phải làm tất cả những việc linh tinh trong khi họ lặng lẽ tọa thiền. Như thế là không thích hợp.

Trong khi thực tập Phật pháp, hành giả muốn giảm thiểu những dính mắc, vướng víu của gia đình, nhưng họ không nên bỏ rơi gia đình. Phật pháp gồm có sự phát triển tình thương yêu và lòng trắc ẩn đối với tất cả mọi người mà chúng ta tiếp cận hằng ngày, chứ không phải chỉ đối với tất cả mọi chúng sinh trên khắp hành tinh xa xôi mà chúng ta chẳng bao giờ nhìn thấy.

Hỏi:

– Chúng ta phải làm gì nếu thân nhân và bạn bè không ủng hộ, thậm chí còn  chống đối sự hâm mộ đạo Phật của chúng ta?

Ni sư Thobten Chodron đáp:

– Trước nhất, chúng ta hãy chấp nhận sự khác biệt giữa mọi người mà đừng nổi giận. Nếu tỏ thái độ khó chịu với họ thì chỉ làm cho tình thế thêm căng thẳng mà thôi. Tuy vậy, chúng ta cũng không vì áp lực của gia đình mà phải từ bỏ niềm tin hoặc chấm dứt tu tập. Tỏ thái độ chống đối bằng cách bầy biện nghênh ngang chuyện tu tập của mình là một thái độ thiếu tế nhị, nhưng cũng không vì sợ hãi mà phải giấu giếm.

Chúng ta phải tùy thuận với ngoại cảnh trong khi vẫn giữ được tính cách liên tục và sống động của sự thực tập giáo pháp và an tịnh nội tâm. Thí dụ, nếu gia đình không cảm thấy thoải mái với bàn thờ và tượng ảnh đức Phật thì chúng ta hãy để những hình ảnh đó trong kinh sách và chỉ khi nào tọa thiền hãy mang ra.

Trong nhiều trường hợp, chính nhân cách và hành động của mình nói lên giá trị của tôn giáo mình. Khi nào những người thân của mình nhận ra rằng chúng ta kiên nhẫn, khoan dung hơn, họ sẽ tò mò tìm hiểu coi chúng ta đã làm gì để có những sự đổi thay ấy.

Nếu khi đến thăm cha mẹ, chúng ta giúp dọn dẹp nhà cửa, liệng bỏ rác rưởi, có thể khiến cho cha mẹ cảm thấy hoan hỉ mà nghĩ : ”Ui da, đã bốn chục năm rồi, hôm nay tôi mới thấy con trai tôi giúp đỡ công việc trong nhà. Đạo Phật chuyển hóa con người hay thật!”

Đã lâu lắm rồi, người vợ không theo Phật giáo của một học trò tôi đã giúp đỡ và khuyến khích chồng cô ta tham dự khóa thiền 9 ngày hằng năm. Tại sao vậy? Bởi vì sau mỗi kỳ tham dự khóa thiền tĩnh tâm trở về, chồng cô ta ôn hòa hơn, trò chuyện thân mật, cảm thông và thương yêu mọi người trong gia đình hơn.

Dự đoán người nào trong gia đình hoặc bằng hữu của mình sẽ thích thú với đạo Phật thì khó lắm. Có thể chúng ta cho rằng người bạn rất thân sẽ hâm mộ, nhưng không phải vậy. Cũng thế, chúng ta có thể cho là một người thân của ta không thích thảo luận về đạo nhưng rồi lại phát hiện ra rằng cô ta là người dễ tiếp thu.

Cho nên, nếu cứ chỉ muốn nói về những đề tài mà mình thích thì sẽ khiến cho mọi người xa cách, chi bằng nói với họ những đề tài phù hợp với khả năng thưởng ngoạn của họ, như thế sẽ dễ dàng cảm thông và gần gũi nhau hơn.”

Thưa quý thính giả,

Trên đây là những ý kiến của ni sư Thobten Chodron, đã trình bày cho chúng ta thấy quan điểm của nhà Phật trong vấn đề giao tế giữa mọi tôn giáo với nhau, đó là, nên kính trọng tôn giáo của nhau mà đừng làm cho bằng hữu hoặc thân nhân khác tôn giáo cảm thấy xa lạ với mình.

Sau đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một câu chuyện thiền, trích dịch từ loạt bài mang tên là “Zen Stories To Tell Your Neighbors” do soạn giả John Suler gửi lên Internet, như sau:

“Có một vị đạo sư danh tiếng dừng chân trước cổng cung điện của nhà vua. Do danh tiếng của ông nên không có một người lính ngự lâm nào cản ông lại , mà họ còn hộ tống ông đến trước bệ rồng vua đang ngự.

Nhà vua nhận ngay ra đây là vị đạo sư danh tiếng, bèn hỏi:

– Ông muốn gì?

Vị đạo sư trả lời:

– Tôi muốn một chỗ trong cái quán trọ này để ngả lưng đêm nay.

Vua ngạc nhiên:

– Nhưng đây là cung điện của trẫm, không phải là cái quán trọ.

Vị đạo sư mỉm cười:

– Xin bệ hạ cho biết ai là chủ nhân của nơi này trước bệ hạ?

Vua trả lời:

– Là phụ hoàng của trẫm, nhưng ngài đã băng hà.

Vị đạo sư lại hỏi:

– Tâu bệ hạ, thế trước phụ hoàng của ngài thì ai là chủ nơi này?

Vua đáp:

– Thì ông nội của trẫm, ngài cũng băng hà rồi.

Vị đạo sư hỏi lại:

– Tâu bệ hạ, vậy thì đây là nơi người ta chỉ ở có một thời gian ngắn rồi ra đi, vậy có đúng là tôi đã nghe ngài nói rằng nó không phải là quán trọ không vậy?

Thưa quý thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 19 – Năm Giới Cấm của cư sĩ

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Trong nhiều kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình với quý vị bài kệ tóm tắt con đường tu hành của người Phật tử, như sau:

“Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành”

Chúng tôi cũng đã thưa rằng trong ba lời dạy cốt tủy đó, thì lời dạy thứ ba, “Tự thanh tịnh tâm ý”, mới chính là điều tối quan trọng, chỉ từ thực hành điều đó, hành giả đạo Phật mới hoàn tất con đường tu chứng của mình, bởi vì nội dung của “tự thanh tịnh tâm ý” có nghĩa là chấm dứt tất cả những lôi cuốn của Tham, Sân và Si, vốn là nguyên nhân của tất cả mọi nỗi vướng mắc dây dưa trong vòng luân hồi sinh tử.

Tuy vậy, hai điều trước đó, “không làm những điều ác” và “siêng làm những việc lành” cũng rất quan trọng. Vì đó là phần đạo đức học của Phật giáo, mục đích đào luyện những phần tử tốt lành, những người hiền thiện trong xã hội.

Để thực hiện điều này, nhà Phật có Ngũ Giới, là năm điều ngăn ngừa, mà mỗi Phật tử đều có phát lời nguyện sẽ tuân thủ, hoặc cả 5 Giới, hoặc nếu cảm thấy chưa đủ khả năng giữ được trọn vẹn cả 5, thì có thể thọ tùy theo nhiều hay ít giới, để tập cho quen từ từ, cuối cùng đạt được mục đích tuân thủ cả Năm Giới.

Kính thưa quý vị,

Hôm nay chúng tôi xin kính gửi đến quý thính giả một bài pháp nói về Ngũ Giới. Bài này được trích dịch từ cuốn Loving and Dying, tác giả là thày Visuddhacara.

Thày Visuddhacara sinh năm 1953, nguyên quán tại Mã Lai Á. Năm 1982, thày bắt đầu học Phật pháp và hành trì thiền Vipassana. Sau đó, vào năm 1983, thày xin từ chức phóng viên nhà báo mà thày đã theo đuổi 12 năm, để thọ giới Sa Di, y chỉ thày bổn sư là tỳ kheo Sujiva tại Kota Tinggi, Mã Lai Á, theo truyền thống Phật giáo Nam Tông.

Bốn năm sau, thày qua Miến Điện và được truyền đại giới bởi hoà thượng thiền sư Sayadaw U Pandita tại Mahasi Meditation Centre, Rangoon vào năm 1987.

Thày đã hướng dẫn nhiều khóa thiền Vipassana tại các nước như Mã Lai, Singapore, Hong Kong, Úc, Ý, Tiệp Khắc, Tích Lan và là tác giả nhiều sách luận giải Phật giáo, về quan điểm của nhà Phật trong đời sống và về thiền quán như “Curbing Anger Spreading Love”; “Drinking Tea — Living Life”; “Loving and Dying”; “Hello with Love and Other Meditations”, “Metta — the Practice of Loving-kindness for a Happier Life”.

Sau 16 năm trong vị trí tỳ kheo, vào năm 2003, cảm thấy không đủ duyên duy trì đời sống tu sĩ, thày thẳng thắn xin xả giới để trở lại cuộc sống của một cư sĩ bình thường.

Sau đây là bài pháp của thày Visuddhacara nói về Ngũ Giới:

“Giới thứ nhất, như chúng ta đã biết, là không sát sinh, không chấm dứt mạng sống của mọi loài chúng sinh, dù là con vật nhỏ bé. Đây là một giới tuyệt vời. Nó có nghĩa là chúng ta tôn trọng đời sống. Không những tôn trọng đời sống, mà chúng ta còn thương yêu, trìu mến. Đối với tất cả muôn loài, sự sống đáng quý trọng nhất. Cứu giúp một sinh vật được sống, là chúng ta tặng món quà cao quý nhất. Nếu giữ gìn chu đáo giới này, chúng ta sẽ càng ngày càng trở nên từ bi hơn, không chỉ là giảm bớt sự giết chóc, mà chúng ta còn  giảm thiểu sự làm tổn thương đến bất kỳ sinh vật nào.

Thực tế là trong cái thế giới bất hoàn hảo này, kẻ mạnh ăn hiếp kẻ yếu, sự giết chóc lan tràn khắp nơi. Chúng ta có thể thấy điều này ngay trong thế giới loài vật, con cọp ngốn con nai ra sao, con rắn nuốt con ếch cách nào, rồi thì con ếch đớp con ruồi, con chim mổ con sâu, cá lớn nuốt cá bé. Và con người thì tàn sát loài vật, tôm cá, thậm chí giết hại lẫn nhau.

Nhưng chúng ta không ngồi đây mà lên án hoặc chỉ trích. Chúng ta hiểu những khiếm khuyết của con người và sự bất toàn trong bản chất của đời sống. Đức Phật cũng hiểu như vậy. Ngài dạy rằng chỉ khi nào ta có thể thanh tịnh hóa được tâm mình và chứng ngộ Niết Bàn thì khi đó chúng ta mới có thể tự chấm dứt được sự lôi cuốn vào đời sống bất như ý được gọi là vòng luân hồi Sinh Tử này. Đó là điều chỉ có bản thân chúng ta biết rằng có thể làm được hay chăng mà thôi.

Khi tâm chúng ta đã hóa giải được Tham Sân Si thì chúng ta mới có thể trực ngộ được lời dạy của đức Phật. Vậy thì trước khi trực ngộ, chúng ta có niềm tin, tốt hơn hết hãy noi theo con đường đức Phật đã đi mà tích cực thanh tịnh hóa tâm. Chúng ta hãy cố gắng giữ gìn Giới Thứ Nhất với tất cả khả năng có thể, không giết hại mà phóng sinh, cứu giúp sự sống và vun bồi cho sự sống.

Giới thứ hai là không trộm cắp và gian lận, không lấy vật gì một cách bất lương. Chúng ta phải kiếm sống bằng con đường lương thiện. Có người nói rằng sống lương thiện thì không thành công hoặc giầu có. Tôi không đồng ý với quan điểm đó. Tôi bảo đảm là có nhiều người sống rất đàng hoàng, lương thiện và đã thành công. Hơn thế nữa, họ được thụ hưởng một cuộc sống an vui hạnh phúc với lương tâm trong sạch.

Mặt khác, những kẻ bất lương thường kéo dài đời sống trong nỗi trống trải và cuối cùng sẽ bị trừng phạt. Dù họ có thoát khỏi được pháp luật, nhưng họ vẫn luôn luôn sợ hãi rằng tội lỗi sẽ bị phát hiện, lương tâm luôn bị cắn rứt và khi đối diện giây phút cuối của cuộc đời, họ lo sợ chờ đợi quả báo trong tương lai.

Như thế, một cuộc sống lương thiện luôn luôn là con đường tươi sáng nhất. Đừng nghe những ý kiến khác. Sống lương thiện sẽ tốt hơn. Dù chúng ta có gặp những trở ngại trên cuộc đời, chúng ta cũng không nên dùng những thủ đoạn bất lương để đạt mục đích. Chẳng thà nghèo mà lương thiện còn hơn dùng thủ đoạn bất chính để làm giầu. Chúng ta sẽ sống hạnh phúc với lương tâm trong sạch, an vui cho tới ngày cuối cùng của cuộc đời.

Giới Thứ Ba là phải có tinh thần trách nhiệm trong vấn đề tình dục. Nếu đôi bạn thật sự tôn trọng cuộc sống lứa đôi, thương yêu và tin cậy nhau, thì tình yêu của họ sẽ bền chặt, kẻ thứ ba không thể chen vào. Trong vấn đề tình dục, tinh thần trách nhiệm rất quan trọng. Chính vì sự vô trách nhiệm mà các vấn nạn xảy ra. Bọn ma cô tàn phá cuộc đời những cô gái trẻ người non dạ và những người đàn ông không kiềm chế được lòng ham muốn thú vui xác thịt trở thành đồng lõa với những hành vi đồi bại.

Nhưng chúng ta không ngồi đây để lên án họ, mà chúng ta khuyến khích tình yêu chân thật và sự tử tế. Thật ra, nếu chúng ta thanh tịnh hóa được tâm mình và kiềm chế được dục vọng, thì trên thế giới sẽ giảm thiểu những sự tàn bạo và đau khổ. Như thế, căn bệnh AIDS kinh hoàng, mà nay đã trở thành mối đe dọa cho cả thế giới, cũng có thể bị ngăn chặn lại.

Giới Thư Tư là không nói dối mà nói sự thực. Một lần nữa xin nhắc rằng đừng nghe những kẻ nói là nếu không dối trá hoặc huênh hoang khoác lác về mình thì sẽ không thành công. Chân thực là 1 trong 10 đức hạnh cao quý của một người tu bồ tát đạo. Tất cả Phật tử đều phải triển khai những đức hạnh này nếu họ muốn giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Đức Phật muốn chúng ta nghiêm túc gìn giữ Giới hạnh này, không dối trá dù trong lúc đùa bỡn. Cho nên chúng ta cần cố gắng tối đa gìn giữ Giới Không Dối Trá.

Ngoài ra, dù có thể không phải là mục tiêu chính của chúng ta, tiếng tốt về một người thành thật sẽ lan ra xa khiến cho ngay đến một kẻ chuyên môn phỉ báng, gièm pha, cũng phải thừa nhận và tôn trọng.

Giới Thứ Năm là không uống rượu và không dùng các chất ma túy, vì chúng có thể làm cho trí óc bị mê mụ, đồng thời cơ thể cũng bị suy nhược.

Có người cho rằng Giới này có thể cho phép uống rượu trong giao tế, nhưng tôi không nghĩ như thế. Đức Phật không muốn chúng ta mất sự tỉnh thức mà vì thế sẽ làm hại đến sự giữ gìn các giới luật khác. Ngoài ra, rượu làm hại sức khỏe. Đối với các chất ma túy độc hại thí dụ bạch phiến, thì tất cả chúng ta đều đồng ý là phải cấm ngặt. Nhưng một số người lại cho rằng thuốc lá không thuộc vào lãnh vực bị Giới cấm. Vào thời Phật tại thế, người ta chưa phát minh ra thuốc lá.

Dầu vậy, dưới ánh sáng của khoa học ngày nay, rất nhiều chứng liệu y khoa cho thấy sự tai hại của thuốc là và nhiều quốc gia trên thế giới đã ban hành những lệnh cấm hoặc hạn chế sử dụng, cho nên chúng ta có thể chắc chắn rằng nếu đức Phật xuất hiện vào thời nay, thì Ngài cũng sẽ nghiêm khắc yêu cầu chúng ta tránh xa, vì Ngài không muốn chúng ta tự làm tổn hại sức khỏe, đồng thời cũng không muốn chúng ta nghiện ngập một loại mê thảo, tuy thuộc loại nhẹ, nhưng đã được chứng minh là độc hại.

Khi chúng ta giữ gìn cẩn thận Năm Giới quan trọng này, là chúng ta đã giúp cho mọi người chung quanh cảm thấy an toàn và hạnh phúc.

Tại sao vậy?

Vì họ không còn phải sợ hãi chúng ta, họ sẽ cảm thấy thoải mái khi gần gũi chúng ta. Họ được bảo đảm là chúng ta không làm hại, không trộm cắp hoặc gian lận đối với họ. Chúng ta sẽ không tà dâm với người hôn phối của họ, không dối trá, và hơn thế, chúng ta sẽ không say sưa bét nhè hoặc dùng ma túy. Họ không còn phải lo ngại rằng con cái họ sẽ bắt chức thói quen xấu rượu chè hút xách, cũng không lo ngại sẽ bị nguy hiểm cho sức khỏe của bản thân vì hít phải khói thuốc do chúng ta thải ra. Họ cảm thấy tin cậy chúng ta vì thấy ngay đến rượu chúng ta cũng không sa vào. Chúng ta là những người có đời sống tâm linh và giữ gìn giới hạnh một cách nghiêm túc. Chúng ta không làm hại ai. Những người có đời sống tham dục có thể nghĩ rằng sống như chúng ta thì rất đáng chán và chúng ta là những người dại dột. Nhưng chẳng sao cả, chúng ta sống hạnh phúc trong niềm an lạc.

Như vậy, giữ Năm Giới là điều rất tốt. Ngoài ra, chúng ta thực tập những đức tính như lòng quảng đại và sự tử tế. Chúng ta quan tâm và chia sẻ trong khả năng của chúng ta. Chúng ta cũng thực tập sống tỉnh thức như lời đức Phật dạy. Chúng ta thực hành thiền tập để thâm hiểu sự hiện hữu, về Vô Thường, Khổ và Vô Ngã.

Thành tựu những mục tiêu trên là chúng ta đã sống một cuộc đời đáng sống, như thế, chúng ta không có gì phải lo sợ về sự chết. Chúng ta không còn phải hối tiếc điều gì”.

Thưa quý thính giả,

Trên đây là bài pháp của thày Visuddhacara nói về Năm Giới của Phật tử cư sĩ.

Có người thắc mắc:

– Đồng ý rằng sát nhân, trộm cắp, tà dâm là những trọng tội. Nhưng rượu thì có gì là hại đâu, người ta còn dùng nó để giao dịch nữa kìa.

Về điều này, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện ẩn dụ, như sau:

“Vào thời kỳ đức Cổ Phật Ca Diếp xa xưa, có một cư sĩ thọ trì Ngũ Giới, giữ gìn rất nghiêm túc. Một hôm, từ tỉnh xa trở về nhà, đang lúc quá khát, khô cả miệng, nhìn thấy trên bàn có một chén đầy lóng lánh, ông tưởng là nước, vội bưng lên uống thẳng một hơi, uống rồi ông mới biết là rượu,

— thế là ông phạm giới uống rượu.

Uống xong, ông ta lăn ra ngủ. Lát sau rượu ngấm, men rượu bốc lên bừng bừng, ông vùng dậy nhìn ra ngoài sân. Lúc đó có con gà nhà hàng xóm chạy qua, ông bèn chụp bắt,

— thế là ông phạm thêm giới trộm cắp.

Trong tay có con gà rồi, ông chạy vào nhà bếp cắt cổ vặt lông nó, tính nấu cháo ăn,

— thế là ông phạm thêm giới sát sinh.

Bà hàng xóm mất gà chạy sang tìm. Hơi men đang bốc, ông ôm ngay bà vào lòng tính chuyện hành lạc,

— thế là ông phạm thêm giới tà dâm.

Chòm xóm xúm lại bắt ông lên công đường nhờ quan xét xử. Ông bèn chối bay,

— thế là ông phạm thêm giới vọng ngữ.

Chỉ vì một chén rượu mà ma men làm hại đến nỗi ông ta phạm liên tục một hơi đủ 5 giới răn của nhà Phật.

Thưa quý thính giả,

Dù câu chuyện trên không thực sự xảy ra, chỉ là ẩn dụ thôi, nhưng điều câu chuyện muốn gửi gấm là gợi cho chúng ta một hình ảnh rõ ràng về tai hại của chất men rượu, làm mê mụ tâm trí, ảnh hưởng vào cuộc đời người dùng nó.

Vì thế, đức Phật dạy nên tránh uống rượu để tâm trí luôn luôn được tỉnh thức.

Thưa quý thính giả,

Sau đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một câu chuyện Thiền nói về Tử và Sinh, trích dịch từ cuốn Zen Fables for Today, Stories Inspired by the Zen Masters, soạn giả là Richard McLean. Câu chuyện như sau:

“Hai thai nhi sinh đôi nằm trong bụng mẹ thảo luận về tâm linh. Thai nhi A phát biểu:

– Này, tường bị thu hẹp lại hay là cậu to phồng ra đấy?

Thai nhi B trả lời:

– Chẳng biết nữa, nhưng chắc chắn là chật chội quá rồi.

A chán nản:

– Đời buồn tẻ thật!

B an ủi:

– Ồ, cũng không tệ lắm đâu. Chúng mình không phải ăn, thở gì hết ráo.Tối ngày chỉ trôi nổi bồng bềnh trong nước ấm thôi mà.

A bực dọc:

– Bộ ý nghĩa của sự hiện hữu trên đời chỉ có thế sao?

B hòa hoãn:

– Thôi mà, đừng có suy nghĩ lung tung quá.

A tiết lộ:

– Ta nghe nói có một cái gì đó tên gọi là Sinh.

B gạt ngang:

– Ui da, tin đồn nhảm. Nè, nhích cái cẳng ra và im mồm lại cho tớ ngủ một tí.

Sáng sớm hôm sau, cơn chuyển bụng của bà mẹ đánh thức hai thai nhi. Một đứa kêu thất thanh:

– Trời ơi, động đất!

Đứa kia la lớn:

– Nhà đang xập!

Đứa nọ hét:

– Tôi đang bị trôi …

Đứa kia hỏi:

– Trôi đi đâu?

Đứa nọ rên rỉ:

– Không biết, cứu tôi với!

Đứa kia hoảng hốt:

– Tôi không thể cứu cậu.

Đứa nọ thổn thức:

– Vĩnh biệt người anh em, tôi sẽ… tôi sẽ …

Âm thanh tắc nghẽn, tiếp theo là tiếng thét kinh hoàng của đứa còn lại khi nó cảm thấy chính nó cũng đang bị trôi đi:

– Ôi da, kinh khủng quá. Chắc chắn là chết, tận thế mất rồi !”.

Phần dịch câu chuyện Thiền đến đây là hết, vì soạn giả chỉ viết đến đây. Nhưng cũng chắc chắn là quý thính giả có thể tưởng tượng ra cảnh tiếp theo, đó là tiếng khóc inh ỏi của hai trẻ sơ sinh mạnh khỏe, vang lên giữa tiếng reo vui tưng bừng náo nhiệt của mọi người đang nóng lòng chờ đón hai cháu bé mới ra đời.

 Thưa quý thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 18 – Bố Thí Chân Chính

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Như chúng tôi đã trình với quý vị trong những kỳ trước, đạo Phật xuất hiện trên đời bắt nguồn từ sự Giác Ngộ của đức Phật. Do công năng tu chứng, đức Phật thấu triệt được Bốn Chân Lý Thâm Diệu, còn gọi là Tứ Diệu Đế, gồm:

Chân lý thứ nhất là  Khổ Đế, cho rằng mọi hình thái tồn tại đều mang sẵn mầm mống của khổ não, bất như ý.  Sinh, già, bệnh, chết, mong cầu mà không toại nguyện, ưa thích mà phải rời xa, ghét bỏ mà phải gần gũi và cái thân ngũ uẩn thì chợt vui, chợt buồn, khi khỏe, khi đau, đều là khổ.

Chân lý thứ hai là Tập Đế, tức nguồn gốc hay nguyên nhân dẫn đến thực trạng đau khổ. Nguyên nhân của khổ là lòng ham muốn, tham lam, ái nhiễm, tìm cầu sự thoả mãn dục vọng. Các loại ham muốn này đều là nguồn gốc của khổ đau và nghiệp chướng, dẫn tới luân hồi

Chân lý thứ ba là Diệt Đế, sự chấm dứt khổ đau. Nếu lòng tham lam ái nhiễm được tận diệt thì sự khổ cũng được tận diệt.

Chân lý thứ tư là Đạo Đế, con đường hay phương pháp thực hành dẫn đến chấm dứt khổ đau. Phương pháp này là con đường diệt khổ tám nhánh, là  Bát Chánh Đạo.

Như thế, do giác ngộ Tứ Diệu Đế, Ngài cũng phát hiện ra rằng Tham Lam và Ái Nhiễm là nguyên nhân của Khổ, là lý do chính đã nhận chìm con người trong dòng sanh tử luân hồi.

Tham lam và ái nhiễm đưa tới thói gom góp, tích lũy từ vật chất tới tình cảm, chỉ muốn mọi thứ là của riêng mình, của thân nhân mình, của bè đảng mình, của đất nước mình, vân vân. Thói tật này phát sinh từ niệm vô minh đầu tiên, mà thuốc chữa là xả bỏ, hoặc còn gọi là bố thí.

Vì thế, người nào muốn đi trên con đường sáng của Ánh Đạo Vàng thì phải thực hiện hạnh tu xả bỏ, từ xả bỏ những điều tương đối dễ xả bỏ như của cải vật chất, danh vọng, rồi tới điều khó xả bỏ hơn như tình cảm tinh thần. Chỉ có xả bỏ thì tâm mới không bị ràng buộc loanh quanh trong thói quen thu thập, cất giữ.  Chỉ có xả bỏ thì tâm hồn mới được giải thoát khỏi sự kìm kẹp của sở hữu, tham sân si, thảnh thơi bước trên con đường tự do, khai phóng tâm linh.

Trong Lục Độ ba-la-mật, nghĩa là sáu nhánh thực hành để đưa chúng sinh sang bờ bên kia, tức là thoát khỏi bờ sinh tử sang được bờ Niết Bàn, thì Bố Thí là pháp môn tu đầu tiên. Bố Thí là cách tu tập để thực hiện hạnh xả bỏ.

Bố thí có 3 loại là Tài Thí tức là bố thí tài vật, Pháp Thí tức là bố thí Phật pháp, nghĩa đen là dạy giáo lý nhà Phật cho người ta biết đường tu hành để giác ngộ giải thoát và Vô Úy Thí tức là giúp cho người ta qua khỏi sự  sợ hãi.

Bố thí tài vật thì bất cứ ai cũng có thể làm được.

Bố thí Pháp bảo thì khi xưa chỉ có chư vị Tăng Ni là thâm hiểu giáo lý nhà Phật, nên mới làm được. Ngày nay có nhiều cư sĩ rất uyên thâm Phật học, lại kiêm luôn thực hành các pháp môn tu, nhất là tu Thiền và Niệm Phật, nên ngoài chư vị Tăng Ni, giới cư sĩ cũng đóng góp vào lãnh vực bố thí Pháp một cách tích cực.

Bố thí vô úy là đem lại sự không sợ hãi cho người khác. Có nhiều cách để thực hiện vô úy thí, như:

— Bản thân mình không giết hại, gây nên nỗi kinh hoàng cho các sinh vật có cảm giác.

— Thuyết phục những người đam mê sát sinh giảm bớt những hành động tàn nhẫn, gây đau thương cho chúng sinh

— An ủi, chia sẻ nỗi đau buồn của những người hoạn nạn, lâm nguy, giúp người ta vượt thoát nỗi sợ hãi  … vân vân ….

Bố thí cao quý nhất là bố thí theo pháp “Tam luân không tịch”, nghĩa là không khởi tâm chấp rằng có mình là người bố thí, có người thọ nhận vật được bố thí và có vật để bố thí.

Tại sao bố thí  “Tam luân không tịch” lại cao quý nhất?

Thưa quý thính giả,

Bố thí “Tam luân không tịch” cao quý nhất là vì:

— Bố thí mà không nghĩ rằng “có ta bố thí”, thì tâm sẽ không  nổi lên sự tự đắc về hành vi thiện của mình,

— Bố thí mà không nghĩ rằng ”có kẻ kia đang thọ nhận cái ta cho”, thì tâm sẽ không nổi lên sự tự kiêu của kẻ ban ơn,

— Bố thí mà không nghĩ rằng “có vật được ta đem cho”, thì tâm không nổi lên niềm tự mãn về hành động hào hiệp của mình.

Giải thoát ra khỏi những kiến chấp về hành động có nghĩa là cuồng tâm sinh diệt ngưng hoạt động. Có câu “cuồng tâm ngưng nghỉ tức là Bồ Đề”. Bồ Đề là giác ngộ. Cuồng tâm ngưng nghỉ là giác ngộ, giải thoát.

Nơi kinh Kim Cang, Phật dạy:

“Tu Bồ Đề ! Bồ Tát khi bố thí hay làm các việc lợi ích cho tất cả chúng sanh, không nên sanh tâm trụ chấp các tướng. Tu Bồ Đề ! Như Lai nói các tướng không phải thật mà chỉ giả gọi là các tướng. Như Lai nói chúng sanh, không phải thật chúng sanh, chỉ giả gọi chúng sanh”.

Hòa thượng Thích Thiện Hoa lược giải như sau:

…”…Hành giả khi làm lợi ích cho các chúng sanh, mà tâm còn trụ chấp các tướng, nghĩa là còn thấy mình bố thí, người thọ thí và vật bố thí, tất nhiên hành giả còn chấp ngã (nghĩa là thấy có mình, có người), chấp pháp (nghĩa là thấy có vật bố thí), thì hành giả chỉ được phước hữu lậu nhiễm ô, nên không phải là bố thí Ba-la-mật (nghĩa là bố thí rốt ráo).

Bởi thế nên Phật dạy, các vị Bồ Tát, khi bố thí, hay làm lợi ích cho chúng sanh, phải nhập Kim Cang Bát Nhã mà làm; nghĩa là không còn chấp các tướng: ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, thì được phước đức vô lậu thanh tịnh. Bố thí như vậy, mới phải là bố thí Ba-la-mật (bố thí rốt ráo)”.

Kính thưa quý vị,

Có người nói rằng:

– Tôi cũng muốn bố thí, nhưng nghèo quá lấy gì mà cho?

Thực tế, dù nghèo tới đâu mà khởi tâm muốn bố thí, vẫn có thể thi hành. Thí dụ có tù nhân kia, mỗi bữa vẫn dành lại vài hột cơm để bố thí cho con gián bò loanh quanh trong phòng giam ông ta.

Trong cuốn Hoa Sen Trên Tuyết, dịch giả Nguyên Phong viết về chuyến đi của bác sĩ Alan Havey và một người bạn tên Dennis tới Lamayuru, một thị trấn nhỏ ở phía Bắc xứ Ấn Độ, giáp ranh với Tây Tạng, kể lại câu chuyện về bố thí như sau:

…” …Chúng tôi đi dọc theo con đường chính duy nhất của thành phố, con đường vắng tanh không một bóng người.  Mọi nhà đều đóng cửa im ỉm, thỉnh thoảng có vài con chó hoang gầy ốm chạy rong.

Chúng tôi nhìn thấy một bà lão hành khất, thân hình còm cõi chỉ còn da bọc xương đang lê lết trên vỉa hè, tôi bèn dúi cho bà 5 rupee nhưng bà vẫn dơ tay ra trước mặt như muốn xin thêm một cái gì.  Dennis rút ổ bánh mì đựng trong chiếc túi đeo trên vai đưa ra, bà lạo mừng rỡ chụp lấy ăn ngay, thì ra bà lão quá đói.

Trong lúc bà đang ăn ngấu nghiến thì một con chó hoang ở đâu chạy đến.  Trước cặp mắt kinh ngạc của chúng tôi bà lão bẻ đôi ổ bánh mì chia cho con chó.

Cảnh tượng một bà lão không có một thứ gì ngoài bộ quần áo rách tơi tả, đang lả đi vì đói lại thản nhiên chia sẻ nửa phần ăn của mình cho một con chó hoang đã làm chúng tôi xúc động.  Bà lão hành động một cách tự nhiên, không ngại ngùng hay suy nghĩ hình như bà không hề phân biệt giữa mình và con chó.

Trong lúc tôi đang ngơ ngác về cảnh tượng này thì Dennis bất chợt run bắn người rồi thốt lên:

– “Đó mới thật là tình thương tuyệt đối”.

Hắn quỳ xuống trút tất cả mọi thứ trong chiếc túi ra cho bà lão hành khất.  Hành động bất ngờ của Dennis làm tôi ngạc nhiên nên trên đường về tôi đã hỏi:

– “Tại sao bạn cho rằng đó là một thứ tình thương tuyệt đối?”

Hắn trả lời ngay không do dự:

– “Khi cho mà không suy nghĩ, không đòi hỏi gì trả lại, không hối tiếc hay phân biệt một cái gì đó mới thật là tuyệt đối”.

Tôi đã suy nghĩ về vấn đề này rất lâu và không biết có người nào thực sự bố thí một cách tuyệt đối như vậy không?  Tôi đã đi khắp nơi và chỉ thấy bất cứ cái gì cho ra cũng đều hy vọng một điều gì trả lại, đ ôi lúc điều muốn đạt được lại nhiều hơn điều người ta cho ra là đàng khác… Sự ích kỷ được che đậy khéo léo và nguỵ tạo dưới nhiều danh nghĩa tốt đẹp nhưng tựu chung vẫn là một hình thức ích kỷ”….”…

Thưa quý thính giả,

Thời xưa, giới tu sĩ nhà Phật sống rất thanh bạch, mỗi vị chỉ sở hữu 3 tấm y  và một bình bát. Ấy vậy mà hằng ngày quý vị tu sĩ vẫn thực hiện được hạnh bố thí bằng cách trước khi thọ thực, quý vị lấy từ bát của mình ra 7 hạt cơm, gửi vào đó những lời thành tâm chú nguyện, rồi tung ra ngoài không gian để bố thí cho các loài chúng sinh vô hình mà mắt người không nhìn thấy.

Nhà Phật có câu “Tác ý là Nghiệp”. Khi tâm đã khởi lên một ý, thì tùy theo ý tốt hay xấu mà Nghiệp đã được tạo. Chỉ cần khởi lên một ý tốt, muốn giúp đỡ người, dù cho hoàn cảnh không làm được, ý nghiệp thiện cũng đã thành hình. Trong sự bố thí cũng vậy, khởi lên ý muốn bố thí, là Nghiệp tốt đã hình thành, không căn cứ vào sự bố thí nhiều hay ít.

Trong lễ Vu Lan, Phật tử vì lòng hiếu thảo với cha mẹ, thân nhân, mà dâng lễ cúng dường trai tăng, tạo duyên lành với nhà Phật, mở lòng ra thực hiện hạnh xả bỏ là điều rất đáng quý. Mặt khác, nhờ người Phật tử cúng dường những nhu cầu cần thiết mà chư Tăng Ni có thể an tâm tu hành cho tới giác ngộ để cứu độ chúng sinh bằng phương tiện bố thí Pháp, giữ cho ngọn tuệ đăng luôn luôn chiếu sáng con đường giải thoát trên thế gian.

Như thế, người Phật tử cúng dường cũng là thực hiện hạnh tu xả bỏ, có đà rồi, sẽ tiếp tục đi thêm những bước trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ…. vân vân…

Có một thắc mắc được nêu lên rằng:

– Nếu nhờ lễ Vu Lan cúng dường trai tăng mà thân nhân thoát khỏi địa ngục, thì đó có phải là một hình thức hối lộ không?

Kính thưa quý vị,

Đạo Phật quan niệm rằng tất cả pháp giới đều chỉ do tâm tạo.  Thế thì địa ngục cũng do tâm tạo.  Tâm tham lam, bủn xỉn, độc ác thì tạo thành cảnh giới địa ngục.  Tâm chuyển thì cảnh giới địa ngục tan rã.

Theo đúng giới luật, khi chư vị Tăng Ni thọ thực thì không được “tán tâm tạp thoại”, nghĩa là nghĩ vẩn vơ, nói chuyện lăng nhăng, bởi vì nếu phạm giới này thì “tín thí nan tiêu”, nghĩa là phẩm vật dâng cúng mà mình thụ hưởng sẽ khó mà tiêu hóa được.

Cho nên, chính là lúc thụ trai đó, chư vị Tăng Ni lặng lẽ không nghĩ thiện, ác, một hình thức thiền định, là lúc tâm lực mạnh nhất. Như câu “Cuồng tâm ngưng nghỉ tức là Bồ Đề”, khi tâm tất cả mọi người đều lặng lẽ, không suy nghĩ, thì sức tâm thanh tịnh đó tỏa ra, ảnh hưởng vào pháp giới, chuyển hóa được những tâm tham lam, keo kiệt, bủn xỉn đang trong cảnh giới địa ngục kia. Và ngay chính sát-na tâm chuyển đó, địa ngục tự tan rã, chứ không phải là do chư Tăng Ni “ăn hối lộ rồi xin xỏ” cho thân nhân gia chủ được ra khỏi địa ngục. Vì thế mới có câu:  “Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu”.

Vậy thì, là Phật tử, nhân lễ Vu Lan, rất nên cúng dường trai tăng để giúp chư vị Tăng Ni khỏi lo lắng về phần vật chất, an tâm tu hành đến giải thoát.  Phẩm vật cúng dường ít nhiều không khác gì nhau. Chỉ có cái niệm tâm lúc cúng dường, kính trọng người tu hành, mong cho chư vị đạt đạo để Phật pháp trường tồn mới là quan trọng.  Nếu không có tiền để cúng dường mà chỉ có lòng vui mừng theo, gọi là tùy hỉ khi thấy có người làm việc thiện, thì phước đức cũng bằng người cúng dường, đó là lời Phật dậy.  Câu này rất có ý nghĩa, vì người có tâm tùy hỉ là đã hóa giải được tâm ganh tị nhỏ mọn rồi!

Ngoài sự cúng dường trai tăng hoặc tùy hỷ với người cúng dường, xin đừng giết loài vật để cúng cô hồn. Niệm tâm thanh tịnh tỏa trong không gian không chỉ hạn hẹp chuyển hóa thân nhân mình, mà chuyển hóa tất cả pháp giới.  Nếu mình lại giết chúng sinh để cúng, thì mình lại làm cho pháp giới ô nhiễm vì tăng thêm sự đau khổ, thêm lòng thù hận.

Nếu tin lời Phật nói: “Tất cả chúng sinh đều là cha mẹ đời quá khứ, và sẽ là Phật trong tương lai”, mà mình còn giết chúng sinh thì hóa ra mình giết cha mẹ đời quá khứ. Cho nên, có nhiều người đã sáng suốt nhận định ra việc này, họ ăn chay tháng bảy để từ từ tăng thêm đến ăn chay trường, đó là hình thức báo hiếu rộng lớn nhất, không chỉ đối với cha mẹ đời này, mà với cả cha mẹ đời quá khứ nữa.

Kính thưa quý vị,

 Nhân đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một câu chuyện Thiền, trích dịch từ cuốn “Collection of Stone and Sand”, do thiền sư Muju viết bằng Nhật ngữ, Paul Reps dịch sang Anh Ngữ, như sau:

“Ngày xưa ở nước Nhật, có thiền sư Tetsugen khởi lên tâm nguyện ấn tống một số kinh mà vào thời đó chỉ có những ấn bản bằng chữ Hán. Chữ được khắc ngược nổi lên những phiến gỗ, rồi người ta quết mực vào và in lên giấy. Thiền sư Tetsugen dự định sẽ in 7 ngàn cuốn, là một số lượng rất lớn vào thời đó.

Thiền sư bắt đầu đi quyên góp khắp nơi. Có người phát tâm tặng hàng trăm đồng tiền vàng, nhưng phần lớn ông chỉ gom góp được những số tiền nhỏ bé gồm những đồng xu. Nhưng dù ít hay nhiều, thiền sư cũng cảm ơn họ bằng sự hoan hỉ một cách bình đẳng.

Sau mười năm, sư đã gom góp được đủ số tiền để ấn tống kinh theo dự định.

Nhưng đúng vào thời gian đó thì nước sông Uji dâng lên, gây ra nạn lụt, theo sau nạn lụt là nạn đói. Thiền sư bèn đem tất cả số tiền quyên góp được phát ra để cứu dân chúng khỏi chết đói.

Rồi thiền sư lại bắt đầu cuộc quyên góp lần thứ hai.

Nhiều năm trôi qua, thiền sư vẫn còn đang quyên góp cho đủ số tiền in kinh, thì bệnh dịch lại lan tràn trong dân gian. Sư lại một lần nữa, đem tất cả số tiền phát cho dân chúng, để cứu họ thoát khỏi nạn dịch bệnh.

Bây giờ, Sư lại bắt đầu kỳ quyên góp thứ ba. Sau 20 năm, nguyện ước ấn tống kinh của thiền sư Tetsugen mới thành sự thực. Ngày nay chúng ta còn có thể chiêm ngưỡng những phiến gỗ khắc lời kinh để in những ấn bản đầu tiên ấy tại tu viện Obaku ở Kyoto.

Người Nhật nói với con cháu rằng thiền sư Tetsugen đã ấn tống kinh tới 3 kỳ, hai kỳ đầu không thể nhìn thấy đã vượt trội hơn kỳ thứ ba”.

Thưa quý thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 17 – Lễ Mother’s Day

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Trong một dịp tham dự lễ mừng Mother’s Day tại nhà một người bạn, chúng tôi nghe thấy một bà khách thì thào với bà bên cạnh, giọng dè bỉu:

– Ui da, người Tây Phương cả năm mới có một ngày Mother’s Day để nghĩ đến mẹ, người Việt mình một năm 365 ngày đều là Mother’s Day, đều lo cho cha mẹ, đâu phải chỉ có mỗi ngày hôm nay mà phải bày vẽ, bắt chước họ, rõ thật là “phú quý sinh lễ nghĩa”!

“365 ngày đều là Mother’s Day, đều lo cho cha mẹ”, có thật là như vậy không ạ?

Xin thưa rằng chuyện đối xử với cha mẹ ngày nào cũng đẹp như Mother’s Day là chuyện xảy ra vào thời xa xưa, những người ngàn thu cũ đã làm như thế, chứ còn thời nay thì quả là rất hiếm hoi rồi. Hiếm hoi không hẳn là vì người thời nay không có hiếu bằng người thời xưa, nhưng là vì những điều kiện khách quan nó không còn cho phép chúng ta dành nhiều thời giờ cho cha mẹ nữa.

Có một vị thính giả gửi thư tới chúng tôi, tâm sự rằng gia đình ông có mẹ già, hai vợ chồng và 1 đứa con 3 tuổi. Mẹ ông hiện đang ở trong nursing home. Cụ thì vẫn còn tỉnh táo, vẫn còn đọc báo, nghe radio được. Nhưng một chân cụ bị liệt, phải đi xe lăn. Hai vợ chồng ông đều đi làm, cháu bé gửi nhà trẻ. Cụ thì không thể ở nhà một mình, cho nên ông phải gửi cụ vào nhà dưỡng lão để có người săn sóc, vài ngày một lần, tan sở làm ông ghé qua thăm mẹ.

Nhưng từ khi cụ vào nhà dưỡng lão thì tinh thần cụ sa sút hẳn đi. Nhân viên ở đó cho ông biết rằng cụ rất ít nói, thường nằm quay mặt vào tường. Ngày nào thăm mẹ, ông cũng đều buồn bã ra về, vì cụ cứ muốn gặp cháu bé và than rằng nhớ con nhớ cháu. Mà nơi gửi cháu bé thì lại không tiện đường và giờ giấc để ông đón cháu trước khi đi thăm mẹ. Ông hỏi chúng tôi có cách nào để trọn vẹn mọi bề thì cố vấn cho ông.

Kính thưa quý vị,

Hiện nay, những chuyện đại gia đình phải gửi cha mẹ già vào nursing home xảy ra rất nhiều. Cũng là vì hoàn cảnh của đời sống, thường là hai vợ chồng đều phải đi làm. Những nhà có cha mẹ già thì khi các cụ còn khỏe mạnh, lại được các cụ giúp đỡ trông nom cháu bé, hoặc đưa đón cháu đi học, các cháu bé vừa được hưởng tình thương yêu âu yếm của ông bà, mà ông bà cũng không cảm thấy lẻ loi, cô đơn và vô dụng lúc tuổi già.

Thế nhưng khi các cụ không còn khả năng tự lo cho mình, thì thật là đáng buồn cho cả các cụ và con cái. Đưa cha mẹ vào nursing home là chuyện chẳng đặng đừng, những người con có hiếu như ông thính giả kể trên, trong lòng đầy ắp nỗi áy náy, buồn bã và thương xót cha mẹ già, mà các cụ thì lại càng đáng buồn hơn khi tuổi đã cao, bỗng nhiên mất hẳn chỗ dựa tinh thần là con cái, mất niềm vui nghe cháu bé cười nói bi bô, một mình cô đơn ở nơi xa lạ.

Cho nên, khi cha mẹ còn sống, nếu có dịp nào làm gì cho cha mẹ, thì chúng ta cứ làm, ngày giỗ, ngày Tết, ngày sinh nhật, ngày Vu Lan mùa Báo Hiếu, hay bất cứ dịp nào, cứ nên gặp gỡ, vui vẻ với cha mẹ. Tuổi già sẽ ập đến với các người, ngày cha mẹ trở nên lẫn lộn, nhìn con mà hỏi “Ông, bà là ai?” rồi cũng đến thôi. Ngày đó dù có muốn đem bình hoa tặng, thì cha mẹ cũng chẳng còn nhận ra mình là ai nữa.

Thưa quý thính giả,

Nhân đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả bài pháp của thày tỳ kheo Thích Thiện Minh về lễ Vu Lan và lòng hiếu kính cha mẹ.

Thày dạy rằng:

…“…. Nói đến Vu Lan là phải nói đến mùa báo hiếu; mùa mà những người con nam nữ nhớ đến công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ và muốn làm việc gì đó để đền ơn đáp nghĩa. Bởi vì công ơn cha mẹ quả thật trên đời này không có gì thiêng liêng bằng. Công ơn ấy đã thấm trong ta từ thuở tượng hình, đến với ta qua hơi ấm, qua bàn tay trìu mến, qua dòng sữa bổ dưỡng và qua giọng hát ngọt ngào.

Cha mẹ là hình ảnh đầu tiên mà ta nhìn thấy khi ta mở mắt chào đời và cũng là người làm cho ta nhớ mãi nụ cười, ánh mắt và hương vị yêu thương của cha mẹ dành cho mình.

Hơn nữa, nói đến cha mẹ là phải nói đến sự hy sinh cho các con cả cuộc đời và cả tâm hồn lẫn thể xác. Chính vì tình thương và lòng hy sinh cao cả như thế, phận làm con chúng ta phải hiểu để đền ơn đáp nghĩa với đấng sinh thành dưỡng dục ta nên người.

Về phương diện đền ơn cha mẹ, Đức Phật có dạy: “Dù là tại gia hay xuất gia, dù là Thanh Văn hay chư Phật đều có bổn phận đền ơn cha mẹ. Vì tâm hiếu là tâm Phật”.

Do đó, theo quan điểm của Phật giáo Nam tông, không hẳn chỉ là ngày Rằm tháng 7 âm lịch mới là ngày mà những người con phải làm cái gì đó cho cha mẹ đã quá văng, mà bất cứ lúc nào, giờ nào, ngày tháng năm nào đều cũng có thể làm cha mẹ vui lòng hoặc làm việc tích đức để hồi hướmg cho họ ở bên kia thế giới.

Đối với người tại gia cư sĩ, trong một đoạn kinh, Đức Phật dạy cách báo hiếu cha mẹ có những đoạn như sau:

— Phụng dưỡng cha mẹ : Tức phải hết lòng cung kính cha mẹ, không làm cho cha mẹ buồn khổ, không nói lời vô lễ mà thể hiện sự phụ dưỡng bằng tinh thần như thăm viếng cha mẹ trong những khi họ cô đơn, bệnh hoạn xế chiều; hoặc là sự cung phụng bằng vật chất như vật thực, thuốc thang, chỗ ở, y phục…

— Làm việc thay thế cho cha mẹ : Là chúng ta phải gánh vác tất cả những việc gì mà trước đây cha mẹ đã vì ta mà gánh chịu. Đây cũng là lẽ thưòng tình của đời sống xã hội, không riêng gì Phật giáo. Đã là người con trưởng thành thì cần phải làm thay thế cho cha mẹ, để cho cha mẹ có thời gian thụ hưởng những ngày nhàn rỗi cuối cuộc đời.

— Gìn giữ gia phong tốt đẹp : Là gìn giữ gia phong đạo đức tốt đẹp; lược bỏ đi những phong tục cổ hủ vô bổ cho gia tộc cũng như cho xã hội. Chẳng những thế, cần phải làm phát huy thêm những truyền thống tốt đẹp để làm vang xa tiếng tốt của gia tộc.

—  Tạo phước hồi hướng khi cha mẹ đã quá vãng: Theo Phật giáo, khi cha mẹ còn hiện tiền thì người con phải làm sao cho cha mẹ luôn sống trong niềm an lạc hạnh phúc. Và khi cha mẹ đã quá vãng thì người con cần phải tạo thật nhiều công đức để hồi hướng phần công đức đó đến cha mẹ

Về phía người xuất gia, Đức Phật cũng cho phép nuôi dưỡng cha mẹ. Có một vị Tỳ Kheo chuyên đi khất thực nuôi cha mẹ; câu chuyện được bạch lên Đức Phật. Sau khi phán hỏi sự tình, Đức Phật chẳng những không quở trách mà còn hết lời tán thán hiếu hạnh của vị Tỷ Kheo. Ngài kết luận “Người nào muốn đạt đến cứu cánh Phật đạo, người ấy phải tuyệt đối hiếu kính cha mẹ”.

Lịch sử chép rằng, Đại đức Xá Lợi Phất, trước khi Niết bàn, cũng chọn căn phòng ngày nào Ngài đã chào đời và tìm đủ mọi cách để giảng đạo độ mẫu thân– vốn là tín đồ của Bà La Môn giáo — quay về quy ngưỡng chánh pháp. Và sau đó bà đắc quả Tu Đà Hoàn. Còn Đại đức A Nan Đa thì chọn dòng sông Kohinì làm nơi tịch diệt và Xá lợi của Ngài lại được chia đôi như ý nguyện, một phần đưa về hữu ngạn nội tổ, phần còn lại đưa về tả ngạn ngoại tổ. Thật là một đời sống hiếu hạnh trọn vẹn.

Tiêu biểu nhất là Đức Phật của chúng ta. Sau khi thành đạo, hay tin phụ vương lâm trọng bệnh, Ngài vội vàng cùng với chúng Tăng đệ tử trở về hoàng cung, ngự tại vườn Thượng Uyển, mỗi ngày Đức Phật vào cung vấn an phụ hoàng ba lần trong suốt thời gian vua cha thọ bệnh. Cuối cùng vua cũng đắc quả vị A La Hán. Khi vua băng hà, chính tự thân Đức Phật đã tắm rửa phụ hoàng, thay đổi xiêm y, làm lễ nhập kim quan; luôn cả ngày trà tỳ, Ngài cũng đưa tiễn kim quan với sự tiếp tay của chư Thánh tăng. Sau lễ trà tỳ Ngài thu nhặt Xá lợi phụ vương đem về làm lễ nhập tháp.

Thưa quý thính giả,

Trên đây là bài pháp của thày Tỳ Kheo Thích Thiện Minh. Chúng tôi cũng xin gửi tới quý thính giả thêm một hình ảnh nữa về bà mẹ, qua bức thư của đạo hữu Viên Diệu gửi tới, như sau:

… “….Tình cờ, trong lúc soạn tủ sách, Viên Diệu lượm được bài này. Nhân mùa Vu Lan, Viên Diệu xin gửi tới quý đạo hữu, để cùng ngậm ngùi với tác giả.

Bài này phần trên là Anh ngữ, phần dưới là Việt ngữ. Viên Diệu không được biết rằng phải chăng tác giả là người Việt Nam viết luôn hai thứ tiếng, hay là nguyên bản tiếng Anh do người ngoại quốc viết và có người Việt Nam nào đó đã dịch ra Việt ngữ. Sau đây là phần tiếng Việt:

KHI MẸ ĐI RỒI, ĐỜI CÓ NGHĨA GÌ ĐÂU !

– Khi con mở mắt chào đời, Mẹ ôm con trong cánh tay .
– Con cảm ơn Mẹ bằng tiếng khóc lèo nhèo không dứt.

– Khi con 1 tuổi, Mẹ cho con ăn uống, tắm rửa cho con.
– Con cảm ơn Mẹ bằng những đêm dài khóc lóc triền miên

– Khi con 2 tuổi, Mẹ tập cho con những bước đầu đời .
– Con cảm ơn Mẹ bằng ngoảnh mặt chạy đi khi Mẹ gọi .

– Khi con 3 tuổi, Mẹ nấu nướng thức ăn cho con với cả tấm lòng.
– Con cảm ơn Mẹ bằng xô cả cái mâm xuống sàn nhà

– Khi con 4 tuổi, Mẹ cho con vài cây bút mầu .
– Con cảm ơn Mẹ bằng vẽ đầy lên mặt cái bàn đẹp

– Khi con 5 tuổi, Mẹ mặc cho con quần áo đẹp để con dự những ngày lễ hội .
– Con cảm ơn Mẹ bằng vẩy ngay bùn đất lên áo .

– Khi con 6 tuổi, mẹ đưa con đến trường.
– Con cảm ơn Mẹ bằng kêu khóc “Con không muốn đâu”

– Khi con 7 tuổi, Mẹ mua cho con quả banh.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách ném nó vào cửa sổ nhà hàng xóm

– Khi con 8 tuổi, Mẹ mua cho con cây cà-rem.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách trây đầy vạt áo .

– Khi con 9 tuổi, Mẹ trả tiền cho con học đàn dương cầm.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách chẳng thèm tập dượt.

– Khi con 10 tuổi, Mẹ lái xe suốt ngày đưa đón con từ sân banh đến phòng tập thể dục, từ cuộc họp bạn này đến cuộc họp bạn sinh nhật khác.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách nhẩy ào ra khỏi xe mà không ngoảnh
mặt nhìn lại .

– Khi con 11 tuổi, Mẹ chở con và các bạn đi xem xi-nê .
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách yêu cầu Mẹ ngồi ở băng ghế khác.

– Khi con 12 tuổi, Mẹ không muốn con coi một vài chương trình nơi truyền hình.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách chờ cho Mẹ rời khỏi nhà.

– Khi con 13 tuổi, Mẹ muốn con cắt tóc vừa với dáng dấp của con.
– Con cảm ơn Mẹ bằng câu: ” Mẹ quê quá!”

– Khi con 14 tuổi, Mẹ trả tiền cả một tháng trại hè cho con.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách không viết cho Mẹ được một lá thư .

– Khi con 15 tuổi, lúc Mẹ đi làm về, muốn ôm con vào lòng.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cánh cửa phòng đóng lại .

– Khi con 16 tuổi, Mẹ dậy cho con lái xe .
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách tận dụng mọi cơ hội để lái xe đi biệt.

– Khi con 17 tuổi, Mẹ đang chờ một điện thoại quan trọng.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách ôm điện thoại suốt đêm dài .

– Khi con 18 tuổi, Mẹ xúc động thấy con xong được Trung Học.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách theo bạn bè vui chơi cho đến hừng sáng.

– Khi con 19 tuổi, Mẹ trả tiền chi phí Đại Học, chở con đến trường, giúp con với những túi vật dụng.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách chào từ giã Mẹ phía ngoài cửa phòng vì con không muốn bối rối trước mặt bạn bè.

– Khi con 20 tuổi, Mẹ muốn biết con đã có bạn trai chưa .
– Con cảm ơn Mẹ bằng câu :” Không phải việc của Mẹ”

– Khi con 21 tuổi, Mẹ đưa ý kiến về việc tương lai của con.
– Con cảm ơn Mẹ bằng câu :” Con không muốn sẽ giống y như Mẹ”.

– Khi con 22 tuổi, Mẹ muốn ôm con trong ngày lễ ra trường của con.
– Con cảm ơn Mẹ bằng câu hỏi: ” Mẹ có cho tiền để con đi du lịch Âu Châu không?

– Khi con 23 tuổi, Mẹ cho con bàn ghế khi con dọn vào căn gia cư đầu tiên.
– Con cảm ơn mẹ bằng câu :” Chúng xấu xí quá!”

– Khi con 24 tuổi, gặp người yêu của con, Mẹ hỏi :” Cậu có ý nghĩ gì về tương lai?”
– Con cảm ơn Mẹ bằng sự giận dữ, gầm gừ :” Thôi đi Mẹ!”

– Khi con 25 tuổi, Mẹ đã giúp cho chi phí về đám cưới của con, vừa rơi lệ, vừa nói: ” Mẹ rất thương con”.
– Con cảm ơn Mẹ bằng cách dọn đi xa nửa vòng đất nước.

– Khi con 30 tuổi, Mẹ gọi điện thoại với một vài lời khuyên về cách nuôi cháu
– Con cảm ơn Mẹ bằng câu: “Thời buổi bây giờ đã khác rồi”.

– Khi con 40 tuổi, Mẹ nhắc nhớ con về ngày sinh nhật của các thân nhân.
– Con cảm ơn Mẹ bằng câu trả lời :” Con rất là bận”

– Khi con 50 tuổi, Mẹ trở bệnh, già, yếu, cần sự giúp đỡ của con.
– Con cảm ơn Mẹ bằng kể lể về gánh nặng cha mẹ già đối với con cái …

Và rồi một ngày kia, Mẹ lặng lẽ qua đời .

Tất cả những điều con chưa hề làm cho Mẹ xẹt qua tâm trí con như tiếng sấm rền.

Hãy ru con … Hãy ru con suốt đêm dài …

Bàn tay Mẹ ru thủa con còn nằm trong nôi có thể ru cả thế giới này …

… Mẹ ơi !

Thưa quý thính giả,

Bài tâm cảm về Mẹ đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.