Archive | July 13, 2013

Bài 16 – Giao dịch tương xứng giữa Tăng Ni và cư sĩ

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi nhận được thư của một vị gửi về, xin trích đoạn sau đây:

…”… Tuy gia đình theo đạo Phật nhưng ngoài bà tôi ra, bố mẹ và các anh chị em tôi rất ít khi tới chùa. Năm ngoái, nhân làm lễ cầu siêu cho ông tôi mới mất, cả gia đình tôi đều tham dự một buổi lễ cúng dường trai tăng. Có điều khó hiểu, xin Chương Trình Tuệ Đăng giải đáp giúp. Đó là tôi thấy trước khi các Tăng Ni ăn cơm, có mấy Phật tử, trong số đó có cả bà tôi, quỳ xuống xụp lạy các sư ngay trước bàn ăn. Tôi rất lấy làm khó chịu khi nhìn thấy bà mình xì xụp lễ lạy người ta như thế. Bà tôi bảo vì bà tôi “cúng dường trai tăng” nên phải “cúng” các vị sư, tức là Tăng. Chẳng lẽ đạo Phật lại phân chia giai cấp như triều đình phong kiến vậy sao?

Bà tôi bảo rằng năm nay là giỗ đầu ông tôi, bà tôi muốn cúng dường trai tăng như năm ngoái. Mấy anh chị em tôi đều không muốn tham dự nữa. Xin quý vị cho biết ý kiến…”…

Kính thưa quý vị,

Trong một kỳ trước, chúng tôi đã trình với quý vị rằng đạo Phật rất trọng giới tu sĩ. Tại sao vậy?

Xin thưa rằng, vì tu sĩ đạo Phật có nhiệm vụ phải hoàn tất rất là lớn lao, chứ không phải là chỉ làm chuyện cúng tế, cầu xin các đấng bề trên giúp cho tín đồ. Việc cúng tế cầu xin này không hề là mục tiêu của đạo Phật, tức là đạo Giác Ngộ, mà chỉ là chuyện phụ, trên đường hoằng truyền Phật pháp, nhà Phật vì tùy thuận theo ý muốn của chúng sinh nên làm những chuyện đó mà thôi. Nhiệm vụ chính của Tăng Ni nhà Phật là dạy chúng sinh thực hành các môn tu theo Phật pháp, làm công tác người cầm đuốc soi đường cho chúng sinh tu hành cho tới giác ngộ giải thoát khỏi vòng luân hồi triền miên sinh tử.

Chúng tôi cũng đã thưa rằng “… các vị Sư trong nhà Phật được tôn là Trưởng Tử Như Lai, là con lớn của đức Phật — với ý nghĩa về mặt tinh thần – có nhiệm vụ dìu dắt đàn em là tất cả chúng sinh đang còn lạc lõng trong biển luân hồi sinh tử.

Trưởng Tử Như Lai là người noi theo gương giáo hóa chúng sinh của đức Phật, làm công việc đức Phật ủy thác, là Đạo Sư. Vì thế, từ ngữ Sư trong nhà Phật rất cao quý. Vì sứ mạng cao quý như thế cho nên trong đạo Phật, giới Tăng Ni tu sĩ được coi là một trong Tam Bảo.

Nhiệm vụ của Phật tử, gọi là cận sự, tức cư sĩ, là phải cung kính cúng dường chư Tăng Ni 4 món cần thiết trong đời sống, gọi là “Tứ sự cúng dường” gồm y phục, thực phẩm, nơi ở và thuốc men.

Tại sao lại phải đặc biệt cung kính khi cúng dường?

Đó là để tỏ rõ lòng tôn kính vị Sư, bậc Thày dẫn dắt ra khỏi biển sinh tử, trở lại Bản Thể Chân Tâm, chấm dứt mọi nỗi thống khổ trong cuộc đời.

Cho nên đôi khi chúng ta trông thấy trong những buổi lễ dâng y, hoặc trai tăng, thí chủ dâng lễ vật đồng thời còn xụp lạy những Tăng Ni thọ nhận, cũng là vì theo truyền thống cung kính cúng dường đó.

Thưa quý thính giả,

Như thế, chúng ta minh định rõ vai trò cao quý của chư Tăng Ni trong nhà Phật, để có thể ứng xử với nhau cho đẹp và tương xứng với vị trí của Tăng Ni và cư sĩ khi giao dịch với nhau.

Nhưng thế nào là “tương xứng với vị trí của Tăng Ni và cư sĩ khi giao dịch”?

Trước nhất, chúng tôi xin minh xác rằng từ “cúng” trong cúng dường không có nghĩa là cúng bái. Cúng dường là do chữ cung dưỡng mà đọc trại ra. “Cung dưỡng” có nghĩa là “cung cấp và nuôi dưỡng”. Cúng dường trai tăng nghĩa là mời chư tăng thọ nhận một bữa cơm trước giờ Ngọ, không hẳn phải là cơm chay, chỉ cần ăn trước giờ ngọ nên gọi là Ngọ trai.

Do truyền thống “Tam Bảo gồm Phật, Pháp và Tăng là phước điền của chúng sinh, thọ nhận bất cứ loại thực phẩm nào do thí chủ phát tâm cúng dường, để chúng sinh trồng cây phước, vì thế không từ chối tấm lòng của chúng sinh, không chọn lựa khi thọ nhận phẩm vật được cúng dường” nên đôi khi chúng ta thấy các sư Nam Tông thọ Ngọ trai bằng thực phẩm từ thịt chúng sinh, miễn là thịt đó từ con vật không vì lý do mình muốn ăn mà nó bị giết, không trông thấy nó bị giết và không nghe thấy tiếng nó kêu khi bị giết,…, gọi là Tam Tịnh Nhục.

Như thế, cúng dường có nghĩa là cung dưỡng, là cung cấp và nuôi dưỡng. Nghĩ rằng vì “cúng dường trai tăng” nên phải lạy sống các sư là sai lầm.

Nhà Phật quý trọng Tăng Ni, tôn là Trưởng tử Như Lai, vì quý vị đó có công tiếp nối hạnh Phật mà chỉ đường cho chúng sinh tu tập ra khỏi cơn mê trong vòng luân hồi khổ não, giác ngộ lại bản thể Chân Tâm.

Nhưng kính trọng không có nghĩa là phải lạy sống. Người thời phong kiến làm thế vì họ có hủ tục người dưới lạy người trên, vua chúa ngồi cho triều thần, cung nữ, thái giám lạy. Hủ tục đó thiết tưởng nên dẹp bỏ.

Có người cho rằng lạy như thế để tập đức khiêm cung. Thực tế, nếu muốn lạy để luyện tập đức khiêm cung thì nên lạy những người ngang hàng hoặc địa vị thua kém mình. Còn nếu không lạy tất cả mọi người một cách bình đẳng như Thường Bất Khinh Bồ Tát gặp ai cũng lạy, mà chỉ đặc biệt lạy những người cao cấp hơn mình, về thần quyền hoặc thế quyền, thì chỉ có thể làm tăng trưởng thói bợ đỡ, nịnh trên nạt dưới, không thể do lạy mà tập được đức khiêm cung.

Thưa quý thính giả,

Để quý vị thấu triệt vấn đề cúng dường Tam Bảo, chúng tôi xin kính gửi một bài pháp do hòa thượng Thích Thanh Từ giảng về đề tài Cúng Dường Tam Bảo, trích trong cuốn Bước Đầu Học Phật.

Thày dạy như sau:

…”… Cúng dường là nuôi dưỡng khiến Tam Bảo hằng còn ở đời. Tất cả những sự bảo bọc giúp đỡ gìn giữ để Tam Bảo thường còn, đều gọi là cúng dường.

Tam Bảo là Phật, Pháp và Tăng:

 Phật đã quá khứ, chỉ còn lại hình tượng.
Pháp bắt nguồn từ chữ Phạn đến chữ Hán còn nằm sẵn trong kho tàng nhà chùa.
Tăng là những tu sĩ tu theo Phật học chánh pháp. Chính những vị này có bổn phận gìn giữ hình tượng Phật còn, phiên dịch giảng giải chánh pháp.

Tam Bảo đều quí kính, song hệ trọng nhất là Tăng. Nếu không có Tăng thì ai gìn giữ chùa chiền, ai giảng dạy chánh pháp? Thế nên, cúng dường Tam Bảo là nói chung, mà hệ trọng là Tăng. Tăng chúng còn là Tam Bảo còn, Tăng chúng mất thì Tam Bảo cũng vắng bóng. Vì thế mọi sự cúng dường đều đặt nặng vào Tăng, với mục đích Tam Bảo tồn tại ở nhân gian.

Thế mà có những người cúng dường một cách lệch lạc mất hết ý nghĩa cúng dường. Như có một Phật tử đi chùa đến thầy Trụ trì xin cúng năm đồng, liền đó được nghe hỏi “cầu cái gì”, Phật tử ngơ ngác. Thầy Trụ trì hỏi thêm “cầu an hay cầu siêu”, Phật tử bóp đầu suy nghĩ đáp “cầu siêu”, rồi biên một dọc tên vào sổ cầu siêu. Phật tử này như thế, Phật tử khác cũng thế. Ðã thành thông lệ, cúng chùa là phải cầu siêu hay cầu an.

Cầu an cầu siêu cho bản thân mình, cho gia đình mình, cho thân thuộc mình, sự cúng ấy quả là vì mình. Vì mình mà đi chùa, vì mình mà cúng chùa, đích thực là tham lam ích kỷ.

Nếu mang một tâm niệm tham lam ích kỷ đến với đạo thì chưa xứng đáng một Phật tử. Cái hư dở này tại ai? Chính tại người hướng dẫn đã chỉ lối sai lạc.

Ðến phần ông thầy, do Phật tử cầu siêu cầu an nên có tiền. Ðồng tiền này sau một thời kinh cầu nguyện xong, ông tự coi như trọn quyền sử dụng không có tánh cách e dè sợ sệt gì cả. Nếu một buổi lễ cầu nguyện được Phật tử cúng nhiều tiền, thế là ông mặc tình phung phí, vì tự cho do công tụng cúng của mình mà được. Thế thì đời tu hành cốt vì giác ngộ giải thoát, vô tình trở thành người tụng kinh mướn. Người tu cốt xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo, biến thành kẻ thụ hưởng. Trái với mục đích xuất gia, trở thành kẻ hư hèn, chính vì nhận đồng tiền phi pháp.

Cầu nguyện là một điều phụ thuộc nhỏ nhít trong Phật pháp, vì nó không phải là chân lý. Thế mà, người ta thổi phồng nó lên, để rồi cả đời người tu gần như hết tám chục phần trăm Phật sự đều nằm trong những lễ cầu nguyện. Truyền bá một điều không phải chân lý, ắt hẳn chánh pháp phải chịu suy đồi. Người có trách nhiệm hướng dẫn Phật tử mà một bề cổ xúy cho sự cầu cúng, là đưa họ vào rừng sâu mê tín, gây thêm lòng tham lam ích kỷ cho họ. Quả là kẻ tạo thêm tội lỗi, chớ không phải người tu hành.

Người Phật tử chân chánh khi phát tâm cúng dường Tam Bảo, chỉ vì mong cho Tam Bảo thường còn ở thế gian để đưa chúng sanh ra khỏi đau khổ mê lầm. Nếu đến chùa, Phật tử cúng năm mười đồng, Tăng, Ni có hỏi cầu điều gì, Phật tử nên thưa: “Chúng tôi chỉ cầu mong chư Tăng, chư Ni nhận món tịnh tài này để có phương tiện an ổn tu hành, hầu truyền bá chánh pháp lợi ích chúng sanh.”

Chỉ vì Tam Bảo, vì chúng sanh mà cúng dường, đây là tâm hồn cao thượng quảng đại vị tha. Làm việc bố thí cúng dường cao đẹp như vậy công đức làm sao giới hạn đuợc. Vì Tam Bảo thường còn ở thế gian để làm lợi ích cho chúng sanh, trong chúng sanh đã có bản thân mình và thân quyến mình rồi. Quên mình chỉ nghĩ đến toàn thể chúng sanh, không phải lòng lợi tha vô bờ bến là gì? Với một lòng vị tha rộng lớn như vậy, dù một số tiền nhỏ, một vật dụng mọn đem cúng dường cũng là phước đức vô biên.

Tăng, Ni nhận sự cúng dường chân chánh của Phật tử, tự nhiên thấy mình có một trọng trách lớn lao vô cùng. Làm sao tu hành tinh tiến? Làm sao truyền bá chánh pháp lợi ích chúng sanh? Ðể xứng đáng thọ nhận những thứ cúng dường của Phật tử, chỉ cần nỗ lực tu hành, cố gắng học tập để hiện tại và vị lai làm lợi ích chúng sanh. Nếu hiện đời, Tăng, Ni, không làm tròn hai việc này, có thể mai kia phải mang lông đội sừng để trả nợ tín thí. Biết như thế, hiểu như thế, Tăng, Ni làm sao dám lơi lỏng trong việc tu hành học tập. Thế là, nhờ sự cúng dường chân chánh của Phật tử thúc đẩy Tăng, Ni đã cố gắng càng cố gắng hơn trong nhiệm vụ thiêng liêng cao cả của chính mình. Thấy mình thiếu nợ, mới cố gắng lo đền trả bằng cách nỗ lực tu hành và độ sanh, đây là mục tiêu đức Phật bắt Tăng, Ni thọ nhận đồ cúng dường của Phật tử. Tăng, Ni là người có bổn phận hướng dẫn tín đồ cúng dường chân chánh đúng pháp thì cả thầy trò đều cao thượng và lợi ích lớn.

Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa chúng ta hoàn toàn phủ nhận sự cầu nguyện. Chúng ta thấy rõ cầu nguyện chỉ là trợ duyên nhỏ xíu, kẻ đối tượng cầu nguyện chỉ được lợi ích một hai phần mười, như trong kinh nói. Chúng ta đã thừa nhận “nhân quả nghiệp báo” là chân lý thì sự cầu nguyện là ngoại lệ, có kết quả cũng tí xíu thôi. Cổ vũ cho điều phi chân lý, để cho người xao lãng chân lý, là việc làm trái với chánh pháp. Vì lòng hiếu thảo của Phật tử, buộc lòng chúng ta phải cầu nguyện, khi cầu nguyện chúng ta phải cảnh cáo rằng: “Việc làm này là phụ thuộc không đáng kể, kết quả ít lắm.” Có thế mới khỏi lệch lạc trên con đường hoằng hóa lợi ích chúng sanh. Ðã thấy cầu nguyện là việc phụ, chúng ta đừng vì nó làm mất thì giờ tu học của Tăng, Ni, làm mất thì giờ truyền bá chánh pháp.

Chúng ta tu theo đạo Phật là đi trên con đường sáng, ánh sáng giác ngộ đến đâu thì bóng đêm mê lầm tan đến đấy. Mê tín là bóng đêm, giác ngộ là ngọn đèn sáng. Bóng đêm và ánh sáng hai cái không thể có đồng thời. Nếu sáng thì không tối, hoặc tối thì không sáng. Có giác ngộ là không có mê tín, có mê tín thì không có giác ngộ. Nếu chứa chấp mê tín là chúng ta đã phản bội với đạo giác ngộ. Trong đạo giác ngộ quả thật không có mê tín. Học đạo và truyền đạo giác ngộ, chúng ta cương quyết dẹp hết bóng đêm mê tín. Có được như vậy mới gọi là người trung thực với chánh pháp. Bằng ấp ủ nuôi dưỡng chứa chấp mê tín, dù kẻ ấy mỗi ngày cúng Phật trăm lần vẫn là kẻ phá hoại chánh pháp. Thà là chúng ta cam chịu chết đói, quyết không vì lợi dưỡng mà làm những điều mê tín, dẫn dắt người đi trên đường mê tín. Ðã thừa nhận mình là Phật tử, quyết định không vì lòng tham để bị một số người lợi dụng dẫn đi con đường mê tín…”…

Thưa quý thính giả,

Trên đây là lời dạy của hòa thượng Thích Thanh Từ, một bậc cao tăng thời hiện đại.

Tiếp theo, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một câu chuyện thiền về sức mạnh của tâm an định, trích dịch từ loạt bài mang tên là “Zen Stories To Tell Your Neighbors”, do soạn giả John Suler gửi lên Internet, như sau:

….” Chuyện rằng, ngày xưa tại làng kia, có một đại võ sư già. Dù đã rất già, ông vẫn còn hạ gục bất cứ người nào muốn tỉ thí với ông. Danh tiếng ông vang lừng khắp miền, lan ra tới tận cả những vùng xa xôi, hẻo lánh, khiến cho võ sinh khắp nơi kéo nhau nườm nượp tới xin làm đệ tử.

Ngày kia, có một võ sĩ trẻ, nổi tiếng đánh bằng đòn tàn bạo, tới làng thách thức vị võ sư già, đòi giao đấu. Hắn quả quyết rằng sẽ là người đầu tiên hạ gục vị đại võ sư. Cùng với sức mạnh của tuổi trẻ, hắn còn có khả năng phi thường là có thể thấu suốt bất cứ nhược điểm nào của đối phương. Cho nên khi ra trận, hắn chờ cho đối phương đánh trước. Ngay khi đối thủ ra đòn, hắn đã phát hiện được nhược điểm, để rồi, với toàn bộ sức mạnh vũ bão, tiến thoái mau lẹ như chớp, hắn hạ gục đối thủ không thương xót. Chưa một ai có thể chịu đựng nổi hắn, chỉ một đòn đầu tiên là hắn đã hạ gục đối phương.

Mặc cho các môn sinh lo lắng can gián, vị võ sư già vui vẻ nhận lời giao đấu với chàng võ sĩ trẻ.

Hai người vừa mới giáp trận, là chàng võ sĩ trẻ bắt đầu moi móc những lời lẽ thô tục ra để lăng mạ vị võ sư già. Hắn văng tục và nhổ nước miếng vào mặt ông già. Suốt một thời gian dài, hắn tận dụng tất cả những từ ngữ thô bỉ mà hạng vô liêm sỉ nhất của loài người có thể nói, để quát vào mặt ông già. Nhưng vị võ sư già chỉ lẳng lặng đứng, không nhúc nhích, không có bất cứ một phản ứng nào.

Cuối cùng, tên võ sĩ trẻ thấm mệt. Biết rằng đã bị ông già hạ gục, hắn cảm thấy xấu hổ mà rút lui.

Đám môn sinh của vị võ sư rất bực bội trước thái độ của thày, là đã không cho thằng nhãi hỗn láo một bài học, mà cứ đứng yên nghe nó chửi tục như thế. Họ đứng quây chung quanh vị võ sư già mà chất vấn:

– Sao thày có thể đứng đó mà chịu trận trước sự sỉ nhục kéo dài như thế? Sao thày không tống cổ nó đi?

Vị võ sư già thủng thỉnh trả lời:

– Nếu có ai đem món quà đến tặng các con, mà các con không nhận, thì món quà đó thuộc về ai?

Thưa quý thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới. Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 15 – Công Án trong nhà Thiền là gì ?

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Kỳ này chúng tôi dành riêng để trả lời một số câu hỏi của quý vị gửi về. Các câu hỏi này đều đi vào chi tiết của công cuộc chuyên tu, cho nên chúng tôi xin quý thính giả thông cảm về sự đặc biệt của nó và nếu thấy có gì khó hiểu, thì xin gửi email hỏi lại để chúng tôi có thể trình bày thêm cho rõ nghĩa hơn.

Chúng tôi xin lần lượt nêu lên từng câu hỏi rồi trả lời ngay câu đó trước khi nêu câu hỏi sau.

Câu hỏi thứ nhất là:

— Đọc sách Thiền, tôi thường thấy những câu chuyện người này hoặc người kia, sau khi nghe một câu nói, một tiếng hét, một cái tát, hoặc nhìn thấy một sư kiện gì đó, thí dụ sao Mai mọc, hoa đào nở, cánh cửa xập, bèn Ngộ, có vẻ như chuyện Ngộ đạo quá dễ dàng, phải không ạ?

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi thiết nghĩ rằng những câu chuyện trong các sách Thiền đã bị hiểu lầm rất nhiều.

Tại sao vậy?

Tại vì ở đó chúng ta chỉ được thấy phần kết quả của cả một quá trình tu hành tự thanh lọc tâm của người hành giả, tạm dùng thí dụ như chúng ta tham dự lễ ra trường của ông Tiến Sĩ, chỉ nghe có tiếng gọi tên là ông Tiến Sĩ lên lãnh bằng cấp, áo mũ, mà không hề nhìn thấy những năm dài đằng đẵng giùi mài kinh sử của người học trò, để có thể đạt được kết quả trên.

Có lẽ quý thính giả khi đọc các sách Thiền cũng nhận thấy một điều là các nhân vật trong đó khi ra mắt thiền sư đều khai danh tính và xuất thân từ chùa này hoặc tu viện nọ. Điều đó nói lên rằng hầu hết họ đều đã có một quá trình tu học, trước khi đi hành cước tìm thày.

Có câu “thiền môn nghiêm tịnh”, chùa chiền và tăng ni ngày xưa giữ gìn giới luật rất tinh nghiêm, chặt chẽ. Như thế có nghĩa là những hành giả đi tìm thày như vậy là đã trải qua giai đoạn tự thanh tịnh hóa tâm, xả bỏ tham sân si được một chừng mực nào đó, nay bước vào giai đoạn chót của cuộc đời chuyên tu, mục đích là Kiến Tánh để ra khỏi sinh tử.

Thiền sư Hám Sơn, một người đã Kiến Tánh, nhục thân còn lưu tại chùa Nam Hoa tỉnh Quảng Đông, đã dạy rằng:

…”…Nếu luận về đại sự nhân duyên này thì Phật Tánh ai ai cũng sẵn có đầy đủ, tơ hào chẳng thiếu .

Song le, do từ kiếp vô thủy đến nay, gốc rễ ái dục, vọng tưởng, tình lự, thói quen ô nhiễm sâu dầy, nên ánh sáng diệu kỳ của Tự Tánh hoàn toàn bị che khuất đi .

Rồi vì chẳng được thọ dụng chân thật, nên cứ khư khư bám víu nơi thân tâm, thế giới, bóng dáng, vọng tưởng, kết cuộc là trôi lăn phiêu dạt biển sinh tử.

Phật và chư Tổ ra đời, với trăm ngàn lời lẽ, đủ thứ phương tiện, nói Thiền, giảng Giáo, không ngoài tùy thuận căn cơ, dựng lập, phá chấp, nguyên lai nào có “pháp thật” nào để dậy người đâu!

Tu tức là tùy thuận Tự Tâm, tịnh trừ vọng tưởng, tập khí, rác rưởi . Cứ theo đây mà ra sức thì gọi là Tu . Khi một niệm vọng tưởng chợt ngưng, liền thấu suốt Tự Tâm xưa nay viên mãn quang minh chói lọi, thật là thanh tịnh bổn nhiên, chẳng dính vật gì, thì khi đó gọi là Ngộ. Nào phải lìa khỏi tâm này, mình mới tu, mới ngộ…”…

Kính thưa quý thính giả,

Xin quý vị lưu ý câu: “Khi một niệm vọng tưởng chợt ngưng, liền thấu suốt Tự Tâm xưa nay viên mãn quang minh chói lọi, thật là thanh tịnh bổn nhiên, chẳng dính vật gì, thì khi đó gọi là Ngộ…”…

Như thế, người Ngộ Đạo không phải là Ngộ câu nói hay hành động gì đó xảy ra lúc đó, mà là do sự kiện xảy ra lúc đó tác dụng vào tâm người hành giả vốn đã chín mùi, khiến cho chuỗi tư tưởng triền miên bỗng nhiên ngưng đọng lại, trong một thoáng dòng thường lưu suy tư ngưng bặt, Thực Tại hiển lộ.

Thực Tại đây chính là Phật Tánh, Giác Tánh, Buddha Nature, Buddha Mind, Tri Kiến Phật, vân vân …

Và sự Ngộ Đạo là kết quả của quá trình tự thanh lọc, khiến cho tâm đã thành khối, cũng giống như trái cây đã chín mùi, nên câu nói của bậc thày lúc đó chỉ tương đương với việc rung cây cho trái rụng mà thôi.

Điều quan trọng là bậc thày phải là người đã thấu suốt, biết được trò kẹt ở đâu, để chỉ nói một câu, làm một hành động nào đó là trò bừng tỉnh. Vì thế, hành động của bậc thày trong hoàn cảnh này còn được gọi là tháo đinh nhổ chốt.

Câu hỏi thứ hai:

— Xin giải thích giúp tôi thế nào là công án trong sự tu Thiền.

Thưa quý thính giả,

Công án trong nhà Thiền là thuật ngữ đặc biệt, để chỉ một phương cách hành trì khiến cho người tu Tổ Sư Thiền có thể Kiến Tánh, cũng tức là Ngộ Đạo.

Trong phần trả lời câu hỏi trước, chúng tôi đã trích dẫn lời dạy của thiền sư Hám Sơn, có câu:

– “Khi một niệm vọng tưởng chợt ngưng, liền thấu suốt Tự Tâm xưa nay viên mãn quang minh chói lọi, thật là thanh tịnh bổn nhiên, chẳng dính vật gì, thì khi đó gọi là Ngộ…”…

Ngộ tức là Kiến Tánh, là mục tiêu cốt tủy của Tổ Sư Thiền.

Nhà Phật cho rằng vì một niệm vô minh bất giác khiến cho trùng trùng duyên khởi, “Tự Tâm trở lại buộc Tự Tâm, không phải Huyễn mà thành pháp Huyễn”, tự Tâm cũng nghĩa là Bản Tâm, bỗng bị cuốn vào cơn xoáy của vọng tâm sinh diệt liên tục gọi là dòng thường lưu suy tư luân chuyển không lúc nào ngưng.

Nay muốn Ngộ lại Bản Tâm, còn gọi là Kiến Tánh, thì dòng thường lưu tư tưởng phải chợt ngưng bặt, dù chỉ trong một khoảnh khắc, đó là lúc Bản Thể Chân Tâm tự hiển lộ, điều mà tu viện Thiền Tào Động trên núi Shasta gọi là manifest itself.

Vào thời gian đầu của Tổ Sư Thiền, người tu chưa cần tới công án. Các bậc thày chỉ nói lên một câu nào đó rất là khó hiểu, khiến cho người đệ tử cứ thắc mắc hoài, đi đứng nằm ngồi không buông ra được, thí dụ một nhà sư hỏi Triệu Châu:

– ” Muôn pháp về một, một về chỗ nào?”.

Triệu Châu trả lời:

– ” Khi ở Thanh Châu, tôi có may được cái áo nặng 7 cân”.

Câu trả lời không ăn nhập gì với câu hỏi, rất bất ngờ này, là cơ xảo của bậc thày, hoàn toàn ra ngoài dự đoán của người nghe. Nó có thể gây nên sự sửng sốt khiến cho vọng tâm sinh diệt của đương cơ đang miên man trôi chảy bỗng khựng lại, hoặc nếu tâm hành giả chưa chín mùi thì câu trả lời vô nghĩa cũng gây nên một khối nghi, hành giả ôm khối nghi đó cho đến khi ngưng bặt tâm ý thức, rồi nếu có một đột biến nào xảy ra, thí dụ tiếng sỏi chạm, ly bể, sét đánh, vân vân, hành giả sẽ bỗng nhiên bừng tỉnh.

Sau này, dường như các cơ xảo không còn khiến cho người nghe cảm thấy ngạc nhiên, ngơ ngác nữa, cho nên chư Tổ Sư mới phải chế ra những câu hỏi vô nghĩa, không thể dùng tâm ý thức mà trả lời được, thí dụ:

– “Con trâu chui qua cửa, đầu và thân đều lọt, tại sao cái đuôi không lọt?”.

Câu hỏi vô lý như thế nhưng do một bậc thày đáng kính hỏi, người đệ tử không thể coi là trò đùa, và cứ thế mà nghiền ngẫm. Trong khi nghiền ngẫm như vậy thì tâm ý thức giảm hoạt động dần, cho đến khi thành khối, gọi là nghi đoàn, rồi khi tình cờ gặp một đột biến nào đó, khối nghi tan rã, hành giả bừng tỉnh, tức là Kiến Tánh, là Ngộ.

Để quý thính giả có thêm tài liệu về công án trong sự tu Tổ Sư Thiền, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một đoạn trích trong cuốn Thiền Luận bộ Trung, nguyên tác Essays in Zen Buddism, do tiến sĩ Daisetz Teitaro Suzuki biên soạn và thượng tọa Thích Tuệ Sỹ dịch ra Việt ngữ.

…”… Đại Huệ là một đại luận sư về công án của thế kỷ XII. Một trong những công án lừng danh của sư là VÔ của Triệu Châu, nhưng sư cũng có một công án riêng của mình. Sư thường mang cây gậy trúc ngắn đưa ra trước chúng tăng và bảo:

– “Nếu các ngươi gọi đây là cây gậy, hãy nói là phải. Nếu các ngươi không gọi nó là cây gậy, hãy nói là không phải. Ngoài cái phải và không phải, các ngươi sẽ gọi nó là gì?”.

Trong trích dẫn sau đây rút ra từ các bài pháp của ngài nhan đề Đại Huệ Phổ Thuyết, ngài còn nêu lên một công án khác cho vị tăng thị giả của mình là Tịnh Quang.

– “Pháp không do kiến văn giác tri mà thấu triệt. Nếu pháp do kiến văn giác tri mà thấu triệt, thì đấy chỉ là kiến văn giác tri mà thôi, hoàn toàn không phải là cầu pháp. Bởi vì pháp không ở nơi những cái mà người ta nghe từ kẻ khác hay học tập bằng thế trí.

Bây giờ, ngươi hãy bỏ đi những gì thấy, nghe và suy nghĩ, mà thấy những gì trong chính ngươi. Chỉ có chân không, vô vật, không thể bắt nắm được, không thể nghĩ tưởng đến được. Tại sao? Bởi vì đó là nơi siêu việt giác quan. Nếu giác quan mà với tới nơi này được, thì đó là cái có thể nghĩ tưởng có thể bám víu, và như vậy, nó nằm trong vòng sống chết.

Điều cốt yếu là khép chặt các giác quan, và biến tâm thức thành như một khúc cây. Khi khúc cây này đột nhiên trỗi dậy và khua vang, ấy là ngươi như sư tử cất tiếng rống tự do, tự tại không ai quấy phá, hay như một con voi vượt qua sông, chẳng e dè dòng nước chảy xiết. Đấy là lúc không còn dao động, không còn tạo tác, không có gì hết. Trưởng lão P’ing T’ien nói :

Trời trong không mây mù

Đạo thường tồn miên viễn

Ai bước vào cửa này

Không học, không luận biện

Nhà ngươi phải biết rằng do kiến văn giác tri mà bước vào đạo và cũng do kiến văn giác tri mà không bước vào được. Nếu ngươi muốn mình là một vị thầy tự tại của chính mình, hãy dứt bỏ kiến văn giác tri, hãy kềm lại cái tâm leo trèo như vượn, đừng để làm bậy, hãy bắt nó đứng yên, hãy kiên quyết chú tâm vào bất cứ những gì ngươi đang làm – đi đứng hay nằm ngồi, im lặng hay nói năng; hãy giữ tâm ngươi như một sợi dây căng thẳng; đừng để nó vuột khỏi tay mình. Ngay khi nó vuột khỏi vòng câu thúc, ngươi sẽ thấy nó lao đầu vào nơi kiến văn tri giác.

Học Thiền phải đi đến chung cùng là Chứng Ngộ. Các bậc tôn túc của Thiền cũng  vậy; bởi vì chúng ta chỉ biết rõ sự thành đạt đích thực của Thiền khi nào chúng ta Chứng Ngộ. Hãy nghĩ nhớ công án dù đang làm bất cứ việc gì, dù là ngày hay đêm.

Một thầy tăng hỏi Triệu Châu “Con chó có Phật tính không”. Triệu Châu nói Vô. Hãy chú tâm vào chữ Vô này và hãy nhìn xem cái gì nằm trong đó.

Đến lúc tâm đã định, ngươi sẽ thấy công án chẳng có mùi vị gì hết, nghĩa là chẳng có đường lối phân biệt nào để dò vào trong lòng của nó.”

Nơi khác, Đại Huệ nói: “Hãy kiên trì công án trong suốt cả bình sinh. Nếu một niệm khởi lên, đừng cố ý dẹp xuống, mà cứ cố giữ công án hiện tiền với tâm. Dù khi đi khi đứng hay nằm ngồi, chú tâm không gián đoạn. Đến khi bắt đầu thấy nó không còn hương vị gì hết, ấy là lúc thời cơ quyết định đang đến, đừng để nó vuột mất. Đến khi một vật đột nhiên chớp lên trong tâm ngươi, ánh sáng của nó sẽ sáng rực cả vũ trụ…”…

Thưa quý thính giả,

Trên đây là lời dạy của thiền sư Đại Huệ. Chúng tôi cũng xin trình với quý vị lời dạy của thiền sư Thích Duy Lực, như sau:

… “…Công án là một chuyện tích chẳng thể dùng bộ óc để lý giải, làm cho thiền giả cảm thấy thắc mắc mà phát khởi nghi tình, gọi là công án.

Mục đích của Phật và chư Tổ khi sử dụng công án là cốt để đương cơ ngay đó hoát nhiên trực ngộ. Nếu ngay đó chưa ngộ được, thì tất nhiên phát ra nghi tình, rồi do nghi tình đó, sau này sẽ được ngộ. Chứ không phải muốn người nghe hiểu theo lời nói văn tự. Nếu hiểu theo lời nói văn tự là trái ngược với ý chỉ của Thiền tông, lại đóng bít cửa ngộ của người hành giả, vĩnh viễn không thể chứng ngộ.

Nay xin hành giả tham thiền khi đọc đến chỗ không hiểu chớ nên dùng ý thức để nghiên cứu tìm hiểu. Cần phải ngay chỗ không hiểu phát khởi nghi tình, và luôn luôn giữ mãi cái nghi tình đó thì sẽ được “từ Nghi đến Ngộ”, đúng như lời Phật dạy vậy….”…

Thiền sư Thích Duy Lực là một trong số các bậc tôn túc hoằng truyền Thiền Đốn Ngộ. Thày dạy về tham công án và thoại đầu. Thày dạy rằng mặc dầu có tới 1700 công án, nhưng không phải giải được nhiều công án là sẽ giác ngộ. Trái lại, chỉ càng làm cho tâm ý thức hoạt động thêm, càng xa đạo mà thôi.

Thày dạy rằng nếu tham một công án hoặc thoại đầu mà tâm thành khối, rồi do một cơ duyên nào đó mà chợt bừng tỉnh, Kiến Tánh, thì sẽ thấy rằng mục tiêu của tất cả các công án cũng đều giống nhau, cũng để chặn đường đi của ý thức, tâm viên ý mã mà thôi.

Thưa quý thính giả,

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 14 – Cúng dường Trai Tăng – Vấn đề người lạy người

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Hằng năm, trong khoảng từ ngày Phật Đản cho tới lễ Vu Lan, là thời gian chư Tăng Ni nhập Hạ, nghĩa là vào mùa Hạ, chư vị tu sĩ ở rải rác tại nhiều địa điểm cùng vân tập về một nơi, thường là một ngôi chùa lớn, để tích cực tu học, không bước chân ra khỏi khuôn viên nhà chùa.

Khởi đầu mỗi khóa Hạ là ngày Phật Đản, nhằm ngày Rằm tháng Tư Âm Lịch và kết thúc vào ngày lễ Vu Lan, nhằm ngày Rằm tháng Bảy Âm Lịch. Thời gian này còn gọi là mùa An Cư kiết Hạ. Tuy chỉ có ba tháng, nhưng là ba tháng tích cực tu học, cho nên nhà Phật tính ba tháng này là một tuổi Hạ.

Để rõ nghĩa vấn đề “tuổi Hạ” này, chúng tôi xin trích dẫn lời dạy của hòa thượng Thích Thiện Siêu như sau:

…”… Ngày Rằm tháng Bảy còn được gọi là ngày Tăng Thọ tuế. Thọ tuế là nhận tuổi. Theo thế gian, nếu cha mẹ sinh ra đủ năm 12 tháng thì mới gọi là tròn một tuổi. Nhưng trong luật Phật chế, hàng xuất gia thọ giới của đức Phật không tính tuổi theo năm tháng kiểu thế gian trên — mà tính tuổi theo hạ lạp. Nghĩa là năm nào có an cư kiết hạ được trọn vẹn thì được tính một tuổi. Thí dụ: Vị nào an cư kiết hạ từ 15 tháng Tư đến 15 tháng Bảy âm lịch là mãn hạ, như vậy được tính một năm hạ, tức một tuổi hạ. Ai đã thọ Cụ túc giới nhưng không an cư thì không tính tuổi hạ, còn ai kiết hạ an cư liên tục thì được tính nhiều tuổi hạ.

Cho nên chúng ta thường nghe ở các chùa khi đọc tiểu sử của một vị Tăng nào viên tịch, thường nhắc đến tuổi đời và hạ lạp. Thí dụ vị đó 80 tuổi đời và 60 hạ lạp, nghĩa là vị đó có tuổi cha mẹ sinh là 80 năm, còn tuổi hạ là 60 hạ lạp. Hạ lạp được tính vào ngày rằm Tự tứ, tức là rằm tháng 7, sau khi đã tu hành tròn ba tháng hạ.

Tuy nhiên, cũng có trường hợp, đúng theo Luật Phật chế, 20 tuổi thì được thọ giới Tỷ-kheo, nhưng vì thiếu duyên, có vị 25 tuổi mới thọ giới Tỷ-kheo và sau khi thọ giới mỗi năm đều có kiết hạ. Nếu vị ấy viên tịch vào tuổi 70, thì vị ấy được 45 tuổi hạ và 70 tuổi đời. Nếu một vị Tỷ-kheo thọ giới rồi mà không an cư lần nào cả thì coi như vị ấy hoàn toàn không có tuổi hạ, khác với cha mẹ sinh ta ra, dù ta có làm hay không làm gì đi nữa, hoặc giả có ngủ cả năm đi nữa thì tròn một năm cũng vẫn được tính tuổi từng năm một.

Trái lại, vị Tỷ-kheo thì phải có kiết giới an cư thì mới nhận tuổi, còn không an cư, thì không tính hạ lạp, cũng gọi là giới lạp, pháp lạp…”…

Thưa quý thính giả,

Truyền thống an cư kiết hạ này bắt nguồn từ thời đức Phật tại thế. Vào thời đó, chư tăng Ni không nấu ăn, mà mỗi buổi sáng, chư vị cùng nhau ôm bình bát đi khất thực đủ cho bữa trưa, gọi là Ngọ Trai. Ngoài việc đó, tất cả thời giờ đều tận dụng vào việc hành Thiền, thanh lọc thân tâm với mục tiêu giải thoát.

Nhà Phật coi sự khất thực như thế là việc tốt cho cả giới tu sĩ và dân chúng. Đối với tu sĩ thì việc khất thực chỉ đủ ăn từng ngày sẽ khiến cho quý vị ấy xả bỏ thói quen tích lũy, nguồn gốc của tâm Tham, lại dùng được tất cả thời gian trong cuộc đời để miệt mài tu tập, không bị chia trí.

Đối với dân chúng thì sự kiện cúng dường chư Tăng Ni sẽ tạo thói quen tốt cho hạnh tu bố thí, xả bỏ.

Thế nhưng tại Ấn Độ vào mùa Hạ thì lại mưa nhiều, nên khí hậu và đất đai rất ấm thấp. Do đó, côn trùng sinh trưởng khắp mặt đất. Vì lòng từ bi tỏa rộng tới cả muôn loài chúng sinh, đức Phật muốn tránh mọi sự đau đớn, nên Ngài chế ra khoảng thời gian chuyên tâm tu học trong một địa điểm, gọi là an cư kiết Hạ,để tu sĩ không đi ra ngoài, không giẫm đạp lên các sinh vật nhỏ bé bò lê la dưới đất.

Vào thời đó, thực phẩm của chư Tăng Ni hoàn toàn trông vào sự khất thực hằng ngày. Nay vì phải ở lại trong chùa, không thể đi ra ngoài khất thực, nên dân chúng thân hành mang phẩm vật lên chùa để cúng dường chư vị Tăng Ni, trong tinh thần tứ chúng đệ tử Phật hỗ trợ lẫn nhau, chư Tăng Ni bố thí các lời dạy gọi là Pháp thí và dân chúng bố thí phẩm vật để chư vị thọ dụng gọi là Tài thí. Sự bố thí này được dùng bằng từ ngữ cung kính gọi là cúng dường.

Truyền thống đó vẫn được tứ chúng Phật tử gìn giữ và thực hành suốt chiều dài của lịch sử Phật giáo từ trên hai ngàn rưởi năm nay.

Để quý thính giả có thêm tài liệu về tinh thần liên đới trách nhiệm giữa tứ chúng đệ tử của đức Phật, là chư Tăng, chư Ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một bài phân tích rất minh bạch của Ni Sư Thubten Chodron, trích từ cuốn Buddhism for Beginners.

Ni sư là người Hoa Kỳ, đã viết nhiều sách giảng dạy Phật pháp như Open Heart & Clear Mind, How to Free Your Mind, Taming the Monkey Mind, Cultivating a Compassionate Heart, Blossoms of the Dharma, vân vân….

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói về cuốn sách này như sau:

“Cuốn Buddhism for Beginners được viết cho người muốn tìm hiểu những điều căn bản nhất của đạo Phật, và cách ứng dụng những điều căn bản đó vào đời sống hằng ngày. Nó sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho độc giả”.

Câu hỏi trong cuốn sách là:

– Xin cho biết về sự liên hệ giữa chư Tăng Ni và các cư sĩ Phật giáo?

Ni Sư Thubten Chodron đáp:

– Như đức Phật đã quy định, bổn phận của chư Tăng, Ni, là giữ gìn trọn vẹn giới luật đã nguyện hứa, đồng thời học và thực hành Phật pháp, rồi đem sự hiểu biết đó hướng dẫn lại cho Phật tử tu hành.

Về phần giới cư sĩ Phật tử thì cung cấp những sự cần thiết cho đời sống của người tu sĩ, như nơi cư trú, y phục, thực phẩm và thuốc men. Sự phân nhiệm này có mục đích dành cho giới tu sĩ có nhiều thì giờ để chuyên tâm học hỏi và hành thiền, để họ mau tiến bộ trên đường tu tập, để rồi qua sự tiến bộ của họ, sự truyền dạy giáo pháp lại cho giới cư sĩ cũng đạt được nhiều hiệu quả.

Mối quan hệ này đã lưu truyền trong khắp các truyền thống Phật giáo, dù khác hình thức.

Tại các tu viện Thiền Tông ở Trung Hoa, làm lụng ngoài đồng được coi là một phần của việc tu hành, chư Tăng, Ni phải làm ruộng, học giáo lý và tu tập thiền.

Tại Thái Lan thì lại khác, vì lời hứa khi thọ giới là không cất giữ tiền bạc được thi hành triệt để, nên cư sĩ Phật tử không những chỉ cung cấp tứ sự cúng dường gồm nơi ở, y phục, thực phẩm và thuốc men, mà còn nhận lãnh luôn cả những việc lao động khác trong tu viện, để giúp chư tăng ni chuyên tâm tu hành.

Tại Châu Á, chư Tăng, Ni thường được giới cư sĩ Phật tử kính trọng và săn sóc chu đáo, vì Phật tử tại những nơi đó vốn có truyền thống tôn quý Phật pháp. Dù là vậy, tu sĩ nên tự coi mình như những người phục vụ, để không trở thành kiêu ngạo khi được Phật tử cung kính cúng dường. Nếu tu sĩ lại nổi lên tâm kiêu ngạo khi hưởng sự cung kính, thì đường tu của chính họ lại bị thoái hóa.

Tại phương Tây thì mối quan hệ giữa giới tu hành và giới cư sĩ vẫn còn chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng dân chủ, và ít phân chia giai cấp, vốn sẵn có trong bản chất của các xã hội Tây Phương. Như thế cũng có điều lợi, mà cũng có điều bất lợi. Thí dụ, người tu sĩ Tây Phương không luôn luôn được tu viện, hoặc nơi họ cư ngụ, cung cấp đầy đủ về mặt tài chính, cho các chi phí trong đời sống. Kết quả là có những Tăng Ni phải kiếm thêm việc làm bên ngoài, để có đủ tiền chi tiêu cho những nhu cầu cần thiết của bản thân. Có người kiếm đủ sống qua ngày, nhưng khi ốm đau, hoặc muốn đi tầm sư học đạo, hoặc tham dự những khóa thiền thất, thì họ sẽ gặp khó khăn về chuyện tiền bạc….”…

Thưa quý thính giả,

Như thế, truyền thống cúng dường vốn là một tập tục rất quan trọng và tốt đẹp của nhà Phật. Cúng dường cũng chính là bố thí, chỉ khác nhau ở danh xưng. Về sự khác trong danh xưng và ý nghĩa sâu xa của bố thí, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một bài pháp của thượng tọa Thích Nhất Chân, phân tích rõ ràng như sau:

… »… Cúng dường và bố thí vốn cùng một nghĩa “cho“. Cái gì của mình mà có thể đem ra “cho” người khác, thì gọi là “cho“.

Cũng cùng một nghĩa, song tùy theo trường hợp hay hoàn cảnh mà nghĩa “cho” này có những tên gọi khác nhau. Thông thường thì chỉ gọi là “cho“, trường hợp khác thì gọi là “tặng“, đôi khi gọi là “biếu“. Riêng danh từ “bố thí” được dùng để chỉ trường hợp “cho” những người bần cùng nghèo khổ. Và trường hợp khi một người Phật tử đem những gì của mình ra “cho” Tam Bảo, vốn là nơi nương tựa của mình, thì gọi là “cúng dường“.

Còn nghĩa “tặng” là “cho”  giữa những người ngang hàng với nhau, “cho” để kết tình thân hay cốt để gây một ấn tượng tình cảm tốt đẹp mà thôi, thì gọi là “tặng“.

Trong thế gian không có nghĩa “cúng dường“, song có nghĩa “bố thí“. Tuy nhiên nghĩa “bố thí” trong Ðạo không giống với nghĩa “bố thí” của thế gian.

Ðạo pháp không nhìn “bố thí” theo chiều hướng “kẻ cả” hay “ra ân” mà theo một chiều hướng tâm linh rất thâm sâu, bao gồm nhiều ý nghĩa của Ðạo. Chúng ta hãy khảo sát một cách tổng quát về nghĩa Ðạo của bố thí như sau :

Bố thí gồm có ba thành phần chính : một là người cho, hai là vật để cho và ba là người nhận. Thiếu một trong ba thành phần này thì pháp bố thí sẽ không thành lập được. Trong ấy, vật để cho là mối liên kết giữa người cho và kẻ nhận. Vật này trước hết phải thuộc quyền sở hữu của người cho. Đem cho một vật không phải của mình, thì không thành nghĩa bố thí được. Sau khi cho, vật ấy thuộc về người nhận, và người cho không còn quyền hạn gì đối với vật ấy nữa.

Cho như thế có nghĩa là “xả bỏ” các sở hữu của mình, xả bỏ những gì mà mình có.

Tại sao lại phải xả bỏ các sở hữu của mình ?

Con đường giải thoát trong Ðạo Phật cho thấy rằng sự hiện hữu của mỗi hữu tình chúng ta là một sự ràng buộc trói chặt chằng chịt vào nhau.

Cái tâm thức mà là chúng ta một khi đã trói dính vào thân này, thời phải trói dính vào quần áo, nhà cửa, đồ ăn thức uống v.v… để nuôi dưỡng và duy trì thân này.

Một khi tâm thức ấy đã trói chặt vào thân ấy và cho đó là Tôi, thì nó sẽ trói chặt luôn vào vợ tôi, con tôi, nhà cửa gia sản của tôi, bạn bè thân quyến của tôi…

Khi Ðạo pháp nói rằng chúng ta bị trói dính vào luân hồi biến chuyển đau khổ, chúng ta không được giải thoát, tức có nghĩa là chúng ta, hay đúng hơn cái tâm thức mà là chúng ta, bị trói chặt vào thân này và các sở hữu khác của nó.

Thế nên giải thoát có nghĩa là cởi tâm thức ra khỏi các trói chặt của thân và các sở hữu. Tâm thức tự trói mình vào các thứ ấy bằng tâm ái luyến, nên chính tâm thức cũng phải tự cởi mình ra bằng tâm thoát ly hay tâm xả bỏ các pháp sở hữu ấy….. »…

Thưa quý thính giả,

Trong một bài trước, chúng tôi đã trình với quý vị rằng “… các vị Sư trong nhà Phật được tôn là Trưởng Tử Như Lai, là con lớn của đức Phật — với ý nghĩa về mặt tinh thần – có nhiệm vụ dìu dắt các em ra khỏi bến mê.

Trưởng Tử Như Lai là người noi theo gương giáo hóa chúng sinh của đức Phật, làm công việc đức Phật ủy thác, là Đạo Sư. Cho nên chúng tôi đã thưa rằng từ ngữ Sư trong nhà Phật rất cao quý. Sư là Thày dạy đạo, đưa chúng sinh ra khỏi biển khổ sinh tử, chấm dứt trôi nổi trong vòng luân hồi. Vì sứ mạng cao quý như thế cho nên trong đạo Phật, địa vị của Tăng Ni được coi rất trọng. Nhiệm vụ của Phật tử, gọi là cận sự, tức cư sĩ, là phải cung kính cúng dường chư Tăng Ni  4 món cần thiết trong đời sống, gọi là “Tứ sự cúng dường” gồm y phục, thực phẩm, nơi ở và thuốc men.

Tại sao lại phải đặc biệt cung kính khi cúng dường?

Đó là để tỏ rõ lòng tôn kính vị Sư, bậc Thày dẫn dắt ra khỏi bến mê, bước lên bờ giác, chấm dứt mọi nỗi đau khổ. Cho nên đôi khi chúng ta trông thấy trong những buổi lễ dâng y, hoặc trai tăng, thí chủ dâng lễ vật đồng thời còn xụp lạy những Tăng Ni thọ nhận, cũng là vì theo truyền thống cung kính cúng dường.

Chung quanh vấn đề “xụp lạy giữa người và người” này, đã nảy sinh ra một số suy nghĩ lấn cấn, có lẽ chúng ta cũng nên biết tới.

Giới chủ trương duy trì sự “người lạy người” thì cho là lạy như thế để mài tâm, xả bỏ sự kiêu ngạo, rèn luyện đức khiêm cung.

Giới không đồng ý thì cho rằng lạy trong trường hợp này là Phật tử lạy các vị Sư, cho là lạy sẽ được phước. Như thế thì không có sự “mài tâm” trong đây, mà là một dấu hiệu của tâm Tham tiềm ẩn. Sự kiện lạy một vị trung gian tâm linh, vốn là biểu tượng của thế giới huyền bí, ở một vị trí có thể ban phúc giáng họa, thì không thể làm cho người lạy trở thành khiêm cung, mà có lẽ chỉ tăng trưởng nỗi sợ sệt, hoặc lòng ham muốn được phước mà thôi.

Nhìn những cụ già mái tóc bạc phơ, quỳ ngoài sân xì xụp lạy để tác bạch lên chư Tăng Ni ngồi bên dẫy bàn ăn trong buổi lễ cúng dường Trai Tăng, người ngoài cuộc cảm thấy trong lòng sao mà bất nhẫn quá.

http://www.youtube.com/watch?v=zhSfFp4XemM

Những quang cảnh giống như đang sống trở lại thời phong kiến ấy liệu sẽ có ảnh hưởng vào tâm trí giới trẻ, khiến cho họ cảm thấy xa lạ với sinh hoạt của nhà chùa chăng?

 Nhân đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một câu chuyện thiền nói về thái độ của kẻ cho và người nhận, trích dịch từ cuốnCollection of Stone and Sand”, do thiền sư Muju viết bằng Nhật ngữ, Paul Reps dịch sang Anh Ngữ, câu chuyện như sau:

“Vào thời đại Kiếm Thương, trong thời gian làm trụ trì tại thiền viện Engaku thuộc tỉnh Kamakura, (một trong số những thiền viện quan trọng nhất thuộc hệ thống thiền viện của Nhật Bản, nơi có quả đại hồng chung Ôgune danh tiếng cao 2 mét rưỡi), thiền sư Seisetsu yêu cầu được cung cấp một khu vực lớn hơn, vì nơi ông đang giảng dạy có quá đông người theo học nên rất chật chội.

Một thương gia ở Edo tên là Umezu Seibei quyết định cúng dường 500 đồng tiền vàng ryo để xây trường học mới rộng rãi và tiện nghi hơn. Ông ta đem số tiền vàng tới đưa cho thiền sư Seisetsu. Thiền sư thản nhiên nói gọn lỏn:

– Được rồi, tôi sẽ nhận.

Thương gia Umezu đưa ra túi tiền vàng mà trong lòng rất lấy làm bất mãn trước thái độ của thiền sư. Ông ta nghĩ thầm: ”Chỉ với 3 đồng tiền vàng này, một người có thể sống trọn một năm, thế mà một lúc đưa ra tặng tới 500 đồng mà không nhận được một lời cảm ơn”. Bực mình, ông ta lên tiếng nhắc:

– Trong cái túi có 500 đồng tiền vàng ryo đấy.

Thiền sư trả lời:

– Ông đã nói điều đó với tôi rồi mà.

Umezu nói:

– Dù tôi là một thương gia giầu có, nhưng 500 đồng ryo là một số tiền lớn.

Thiền sư Seisetsu hỏi:

– Thế ông muốn tôi cảm ơn ông hả?

Umezu trả lời:

– Đó là việc ông nên làm.

Thiền sư hỏi lại:

– Ủa, sao lại là tôi? Người đem cho phải cảm ơn chứ? “

Thưa quý thính giả,

Có câu: “Kẻ  “cho” “được hưởng ” nhiều hơn người nhận”. Đúng là như vậy. Người nhận chỉ được chút vật chất. Người cho được toàn bộ niềm vui về tinh thần, được hưởng dư âm của niềm an lạc về hành động cao quý của mình.

Thế nên, như vị thiền sư đã nói, “người đem cho” phải cảm ơn “người nhận”. Đúng vậy, vì “người nhận” đã trải phước điền, là ruộng phước, để “người đem cho” trồng cây phước.

Nhưng một sự cung kính cúi đầu, một lời cảm ơn nhau cũng tạm coi như là đủ, chúng ta thử xét lại xem có cần thiết phải xì xụp lạy như đám vua quan lễ lạy nhau trong thời buổi phong kiến lạc hậu khi xưa chăng?

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Tuệ Đăng (ĐPK)

Bài 13 – Tâm được tịnh rồi, tội liền tiêu

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Như chúng tôi đã trình bày trong các kỳ phát thanh trước, cốt tủy tất cả những lời dạy trong quá trình giáo hóa chúng sinh được đức Phật tóm tắt bằng tuyên ngôn:

– “Này chư Tỳ kheo, bây giờ cũng như trước đây, Như Lai chỉ dạy về “Khổ” và về “Con Đường Diệt Khổ”.

Để có thêm tài liệu về “Khổ” và “Con Đường Diệt Khổ”, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một bài pháp của hòa thượng K. Dhammananda trích từ cuốn Gems of Buddhist Wisdom, do thượng tọa Thích Tâm Quang dịch.

Hòa Thượng K. Dhammananda, sanh năm 1919 tại một làng quê thuộc tỉnh Matara phía nam Sri Lanka. Ngay khi còn nhỏ, ngài đã hâm mộ Phật giáo. Nhờ có người cậu trụ trì tại ngôi chùa địa phương nên ngài được thọ giới Sa Di vào năm 12 tuổi, với pháp danh là “Dhammananda” có nghĩa là Pháp Hỷ.

Ngài là người siêng năng học tập, tốt nghiệp Ngôn Ngữ Học, Triết Lý, và Quy Tắc Pali Viện Đại Học Vidyalankara Pirivena, Sri Lanka, năm 26 tuổi và năm 30 tuổi, tốt nghiệp Cao Học Triết Lý Ấn Độ tại Viện Đại Học Beneres, Ấn Độ. Ba năm sau, ngài được cử đi hoằng pháp tại Mã Lai.

Vào các thập niên 50 và 60, Phật Giáo bị giới trí thức Trung Hoa tại Mã Lai rất coi thường vì họ nghĩ rằng Đạo Phật chỉ gồm những trò mê tín dị đoan. Qua Hội Truyền Bá Giáo Lý Phật Đà, ngài đã phát hành các tài liệu, các loại sách về mọi phương diện của Phật Giáo và kết quả là một số đông đã nhận thức được giáo lý chân chính của Đức Phật.

Ngài trước tác khoảng gần 50 cuốn sách luận giải kinh điển và về các vấn đề giáo dục theo quan điểm của nhà Phật, vốn rất thâm áo, khó hiểu, trở thành đơn giản, khiến cho không những chỉ có các bậc học thức uyên bác mà cả đến giới bình dân cũng nhờ ngài mà cũng có thể hiểu được ý kinh.

Những sách của ngài đã chuyển hóa tư tưởng của các giới thanh niên và trí thức. Qua những bài giảng và nhất là những cuốn sách ngài viết bằng Anh ngữ mà nhiều độc giả Tây Phương cũng có dịp thâm nhập được vào tinh hoa của đạo Phật.

Hòa thượng Dhammananda viên tịch tháng Tám năm 2006, hưởng thọ 87 tuổi, trong số đó có 75 năm sống cuộc đời thanh tu, tận tụy hoằng truyền chánh pháp, được suy tôn là một Trưởng Tử Như Lai gương mẫu.
Sau đây là bài pháp trích trong cuốn Gems of Buddhist Wisdom, do thượng tọa Thích Tâm Quang dịch ra Việt ngữ:

…”… Nếu chúng ta suy ngẫm sâu xa, chúng ta phải đồng ý với khái niệm đời là khổ đau. Chúng ta đau khổ cả thể chất lẫn tinh thần ở bất cứ lúc nào. Ta có thể tìm được người nào trên thế giới này thoát khỏi được cái đau đớn thể chất và tinh thần không? Quả là khó khăn. Cả đến những người đạt tới bậc thánh cũng không thoát khỏi cái đau đớn thể xác chừng nào mà họ còn mang xác thân vật chất.

Nếu có ai hỏi:

– “Ðiều gì bất trắc nhất trên thế giới này?”

Câu trả lời đúng phải là:

-“Ðời sống là điều bất trắc nhất”.

Tất cả mọi thứ ta làm trên cõi đời này đều là để thoát khỏi khổ đau và cái chết. Nếu chúng ta buông lung chỉ một giây, cũng thừa đủ để chúng ta mất nó. Hầu hết tất cả những thói quen hằng ngày như làm việc, ăn, uống, dùng thuốc men, ngủ và đi lại, đều là những phương cách và phương tiện chúng ta áp dụng để tránh khổ đau và cái chết. Mặc dù thỉnh thoảng chúng ta kinh qua một vài lạc thú trần tục thỏa mãn ham thích của mình nhưng ngay sau đó chính lạc thú ấy có thể biến thành khổ đau

Tất cả mọi thứ trong đời sống của chúng ta đều luôn luôn thay đổi và bất như ý. Do đó Ðức Phật đã giải thích chừng nào mà ta còn tham muốn dục lạc trần thế thì chúng ta không thể tránh khỏi khổ đau thể chất và tinh thần..

Nhiều người tìm kiếm một đời sống bất diệt, nhưng trớ trêu thay những người đi tìm cái bất tử này lại thấy rằng đời đáng chán đến nỗi họ không biết làm gì để qua ngày!

Theo Ðức Phật, cái tham về bất tử này là một trong những nguyên nhân của tư tưởng ích kỷ và sợ chết.
Lão Tử, một đạo sư nổi tiếng Trung Hoa nói:

“Ta đau khổ vì ta có thân xác. Nếu ta không có thân thể chất này, làm sao ta có thể đau khổ được?”

Khi bạn nhìn thấy con người đau khổ đến mức nào trên thế giới này, bạn có thể nhìn thấy tình trạng thực sự của đời sống trần thế. Tại sao ta phải chịu đau khổ như vậy? Ai là người chịu trách nhiệm về những đau khổ ấy?

Theo Ðức Phật, mỗi người chúng ta chịu trách nhiệm về khổ đau của chính mình. Một thi nhân nói:

“Con thiêu thân bay vào lửa,
không biết mình sẽ chết.
Con cá nhỏ cắn lưỡi câu,
không biết mình bị nguy hiểm.
Nhưng dù biết rõ hiểm nguy
của những lạc thú tội lỗi trần tục,
ta vẫn bám chặt vào chúng,
Quả thật ta khờ dại đến chừng nào!”

Phật Giáo nhấn mạnh đời người rất ngắn ngủi và ta nên lưu tâm, tích cực hoạt động và lưu ý để được giải thoát.

Trong thi phẩm The Light of Asia, Sir Edwin Arnold đã viết:

“Nếu ai dạy:

– Niết Bàn là sẽ phải ngưng

Hãy nói với họ:

– Nói dối

Nếu ai dạy:

– Niết Bàn là sẽ phải sống

Hãy nói với họ:

– Sai lầm”

Ðịnh nghĩa trên đây đủ cho mọi người hiểu quan niệm đạt Niết Bàn, nơi đau đớn về thể chất và tinh thần không còn nữa, vì Niết Bàn nói lên sự chấm dứt khổ đau. Mục đích của toàn bộ cuộc đời là ngăn chặn, giảm bớt khổ đau và tìm hạnh phúc.

Phải nhớ rằng không ai bắt chúng ta phải làm một hành động đặc biệt nào đó. Không ai phạt hay thưởng chúng ta. Chúng ta có hoàn toàn tự do ý chí và chọn lựa…”…

Trên đây là bài pháp của hòa thượng Dhammananda trích trong cuốn Gems of Buddhist Wisdom, do thượng tọa Thích Tâm Quang dịch ra Việt ngữ.

Thưa quý thính giả,

Chúng tôi nhận được thư nêu thắc mắc về nội dung câu chuyện Thiền trong một kỳ phát thanh trước rằng “Tại sao người con nạn nhân lại có thể tôn kẻ đã giết cha mình lên làm thày”.

Do thắc mắc này, thiết nghĩ, đây cũng là một cơ duyên để chúng ta cùng nhau thảo luận về vấn đề tội lỗi và hình phạt, về nhân quả, báo ứng, về Sám Hối theo quan điểm của nhà Phật.

Để quý thính giả thấu triệt, chúng tôi xin nhắc lại câu chuyện Thiền đã là lý do cho đề tài tìm hiểu Phật pháp kể trên. Câu chuyện Thiền này Vy Khanh trích dịch từ cuốn Collection of Stone and Sand”, xuất hiện vào thế kỷ 13, do thiền sư Muju theo truyền thống Bắc Tông, viết bằng Nhật ngữ, tên là Shasekishu, dịch giả Paul Reps dịch sang Anh Ngữ, nội dung như sau:

“Trong cuộc hành trình tới tỉnh Edo, Zenkai, con trai của một hiệp sĩ Nhật, trở thành người hầu cận của một quan chức cao cấp tại đó. Zenkai ngoại tình với vợ của quan chức này và bị phát hiện. Để tự vệ, hắn ta giết vị quan rồi chạy trốn cùng với người vợ.

Sau này hai người trở thành những tên ăn trộm. Nhưng người đàn bà quá tham lam khiến cho Zenkai càng ngày càng khinh ghét đến phát ghê tởm. Cuối cùng không còn chịu nổi, Zenkai bỏ người đàn bà lại mà đi tới nơi xa, tận tỉnh Buzen, trở thành một người hành khất lang thang.

Để chuộc lại lỗi lầm trong quá khứ, Zenkai quyết tâm hoàn thành một vài việc thiện trong cuộc đời. Biết rằng có một con đường nguy hiểm cheo leo trên vách đá từng là nguyên nhân gây ra tai nạn chết và bị thương cho nhiều người, Zenkai quyết tâm mở một con đường hầm xuyên qua núi tại nơi đó.Ban ngày thì đi xin thực phẩm, ban đêm Zenkai mài miệt đào con đường hầm. Trải qua ba chục năm, con đường hầm dài được 2.280 feet, cao 20 feet và rộng 30 feet.

Hai năm trước khi hoàn tất công trình, người con trai của viên quan mà Zenkai giết khi xưa, nay đã trở thành một kiếm sĩ lão luyện, tìm ra được Zenkai và tới để trả thù nhà. Biết mục đích của khách lạ, Zenkai nói:

– Tôi sẽ sẵn sàng trao mạng sống của tôi cho anh. Chỉ xin hãy để cho tôi làm xong công việc này. Ngay hôm con đường hoàn thành, anh có thể giết tôi.

Người con trai đồng ý đợi tới ngày đó. Nhiều tháng trôi qua, Zenkai cứ miệt mài làm việc. Người con trai càng ngày càng thêm chán nản vì cái cảnh ăn không ngồi rồi, nên bắt đầu phụ giúp công việc đào hầm. Sau khi đã giúp Zenkai trên một năm, anh ta cảm thấy ngưỡng mộ ý chí mãnh liệt và nghị lực của Zenkai.

Cuối cùng thì con đường hầm cũng đào xong và mọi người có thể sử dụng nó để đi lại an toàn. Bây giờ Zenkai mới nói:

– Công việc của tôi đã hoàn tất. Hãy chặt đầu tôi đi.

Với đôi mắt đẫm lệ, người đàn ông trẻ nghẹn ngào:

– Làm sao con có thể cắt đầu vị thầy của chính con được?”

Thưa quý thính giả,

Chủ đề chính của câu chuyên Thiền này là vấn đề tội lỗi, hình phạt và sám hối.

Nhà Phật không quan niệm rằng có quỷ thần hai vai hay một dạng thức thần thánh nào đó từ bên ngoài ghi nhận các việc thiện ác của mỗi người ngõ hầu sau khi chết đương sự sẽ phải tới đâu đó để được phán xét coi sẽ phải chịu hình phạt đầy đọa tại một nơi ghê rợn nào đó, hoặc được hưởng gì theo lệnh ban xuống từ các đấng, các bậc gì đó chăng.

Nhà Phật cho rằng mỗi hành vi tạo tác trong cuộc đời con người ta đều để lại dấu ấn nơi kho chứa của chính mình, đó là Tàng Thức, là một trong tám Thức, theo tâm lý học của đạo Phật. Những dấu ấn đó sẽ trở thành chủng tử, tức là hạt giống, nảy nở thành thiện quả hoặc ác báo trong đời sống tương lai, có thể là tương lai ngay trong cuộc đời này, hoặc trong những kiếp sau, chi phối bởi luật nhân quả.

Như thế đối với nhà Phật, mỗi cá nhân sẽ nhận sự báo ứng tùy theo hành vi thiện ác của mình trong cuộc đời, nếu gây tội ác thì sẽ nhận lãnh quả báo tương xứng với tội ác mình đã gây ra trong quá khứ, nhưng không do một thế lực nào bên ngoài giáng xuống mà do chính sức bật của quy luật nhân quả mà thôi.

Đến đây, chúng tôi xin nhắc quý vị một điều đặc biệt tối quan trọng, đó là vấn đề Tâm của nhà Phật.

Đức Phật là bậc Giác Ngộ. Ngài giác ngộ cái gì? Xin thưa rằng Ngài giác ngộ lại được chính Bản Tâm, điều mà chư Tổ Thiền Tông gọi là Kiến Tánh.

Từ sự giác ngộ, Ngài trực nhận rằng chúng ta trôi lăn vào màng lưới sinh tử này là do một niệm mê từ biển Tâm dấy lên, gọi là khởi niệm huyễn vọng, rồi từ đó tạo Nghiệp, nhận quả báo, dòng đời trôi lăn miên viễn.

Nhưng Chân Tâm vốn là viên mãn, cũng như hoa sen dù mọc trong bùn mà không bị nhuốm mùi bùn. Một niệm Giác Ngộ thì mê vọng tan rã, cũng như người ngủ mê chợt tỉnh, như căn nhà tối hàng ngàn năm, thắp lên ngọn đèn là bóng tối tan biến.

Về điều này, đức Phật đã dạy rõ nơi kinh Viên Giác, hòa thượng Thích Duy Lực dịch như sau:

Huyễn từ bản giác sanh,
Huyễ­n diệt, giác viên mãn.
Bản giác vốn chẳng động,
Như tất cả Bồ Tát,
Và mạt pháp chúng sanh.
Thường nên xa lìa huyễn,
Các huyễn thảy đều lìa,
Như dùi cây lấy lửa,
Cây hết, lửa cũng diệt.

Thưa quý thính giả,

“Cây hết lửa cũng diệt” chính là ý của câu đức Phật nói khi ngài chứng ngộ, được ghi lại trong kinh Trung A Hàm là:

“… Tâm siêu thoát của ta không thể lay chuyển. Ðây là kiếp sống cuối cùng của ta. Từ đây ta sẽ không còn trở thành, không còn tái sanh…”

Trong các cuộc đàm luận Phật pháp, có một câu thường hay được nhắc đến, coi như danh ngôn, đó là “Kẻ cướp buông dao thành Phật”. Vì câu nói quá ngắn gọn, khiến cho một số người hiểu lầm. “Buông dao” trong câu này có hàm ý là buông cái tâm sát nhân, tâm bất thiện, chứ không phải chỉ buông con dao bằng vật chất trong khi tâm còn giữ nguyên những ý niệm xấu ác. Nếu chỉ buông con dao mà tâm ác vẫn còn thì lại có thể cầm kiếm, cầm súng vậy.

Tại các thời kinh của nhà Phật, đều có tụng lên bài kệ:

Tội từ tâm khởi, đem tâm Sám
Tâm được tịnh rồi, tội liền tiêu
Tội tiêu tâm tịnh, thảy đều Không
Ấy mới thật là Chân Sám Hối.

Tội nói ở đây tức là nghiệp báo.

Như bài kinh Viên Giác trên, chúng ta thấy tất cả pháp giới, tội phước, nghiệp báo, đều chỉ là huyễn, đều “Huyễn từ bản giác sanh”, vốn chỉ do nhân duyên giả hợp mà huyễn hiện thành ra như là có. Nghiệp sẽ là nhân chi phối dòng đời, lặn hụp trong biển sinh tử, nghiệp thiện thì hưởng quả thiện, nghiệp ác thì lãnh quả báo ác, như bóng đi theo hình, không thoát được cái vòng lẩn quẩn.

Nếu biết tỉnh ngộ mà theo các đường lối tu hành để chuyển nghiệp, từ xấu chuyển qua tốt, rồi từ tốt chuyển qua thanh tịnh, thì sẽ tiêu dung được nghiệp, ra khỏi dòng sinh tử triền miên.

Sám Hối là một trong những phương pháp tu để chuyển nghiệp. Sám Hối ở đây là “Tâm Sám”, tức là chuyển Ý nghiệp từ những tư tưởng xấu ác thành những tư tưởng lành thiện, rồi tới Thân nghiệp là thực hiện những việc lành thiện đó.

Kẻ sát nhân trong câu chuyện Thiền trên đã thực hiện trọn vẹn chu kỳ chuyển nghiệp. Trước hết là trong thâm tâm, ông ta Sám Hối chuyện ác đã gây ra trong quá khứ, và muốn chuộc tội bằng cách làm việc thiện.
Suốt ba chục năm trường, ông ta cần cù chỉ làm một việc là đào con đường hầm để giúp mọi người thoát tai nạn, cho đến khi con của nạn nhân tới trả thù, đòi chém đầu, ông ta cũng sẵn sàng chết cho anh này tròn bổn phận làm con, muốn báo thù cha, chỉ xin lưu mạng sống một gian ngắn đủ để hoàn tất con đường. Khi con đường đã xong, ông ta bèn nộp mạng. Như vậy, kẻ sát nhân đã buông dao, đồng thời buông luôn tâm ác, đó là trường hợp “Buông dao đồ tể thành Phật”.

Sau một thời gian chứng kiến hành trình chuyển hoá của kẻ sát nhân, trước mắt người con, hình bóng kẻ thù tàn ác đã biến mất, mà chỉ còn lại tấm gương sáng của một bậc thày miệt mài trên con đường bồ tát hạnh, quên mình, hy sinh bản thân vì lợi ích của chúng sinh, cứu chúng sinh khỏi bị tai nạn hiểm nguy trên con đường núi hiểm trở, mà thôi.

Nơi phẩm Bát Nhã, kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng đã dạy:

…”… Thiện tri thức, khi chưa ngộ thì Phật tức chúng sanh, lúc một niệm khai ngộ, chúng sanh tức Phật.”

Tâm chúng sinh thì vô thường, không cố định. Con đường giải thoát của nhà Phật rộng mở thênh thang, bất cứ ai phạm tội mà biết hối cải, chuyển hóa Tâm ác trở thành lành thiện, thì nghiệp dữ cũng theo đó mà hoán chuyển, khi “tâm được tịnh rồi tội liền tiêu.

Bản hoài của đức Đại Giác Bổn Sư Thế Tôn là dạy chúng sinh các pháp môn tu để tới được đích cuối cùng là “Tội tiêu Tâm tịnh thảy đều Không”. Không ở đây là Tánh Không, là Bản Thể Chân Tâm Giác Tánh, là Niết Bàn, là vĩnh viễn giải thoát, là Tận Diệt tất cả Khổ vậy.

Thưa quý thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới. Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 12 – Về ngày Đản Sinh Đức Phật

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý khán thính giả.

Thưa quý khán thính giả,

Chúng tôi nhận được thư của ông Phạm Văn Lâm ở tỉnh Orange gửi về, có kèm theo mấy câu hỏi như sau:

…”… Mỗi mùa Phật Đản hằng năm, tôi đều được nghe giảng tại chùa hoặc đọc trong báo chí về lịch sử chào đời của đức Phật. Có mấy sự kiện rất khó hiểu, nhờ quý vị giải thích giùm:

1 — Sự kiện thái tử Tất Đạt Đa được mẹ sanh ra qua ngả nách.

2 — Mới ra đời, thái tử đã bước bảy bước, có bảy bông sen đỡ dưới chân.

3 —  Sau đó, thái tử đứng lại, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, tuyên bố : ” Thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn”, rồi thái tử nằm xuống, trở về trạng thái đứa trẻ sơ sinh.

Tôi thấy chuyện sinh ra bằng nách rất không hợp lý, không phù hợp với cơ thể học. Mới ra đời đã biết đi, biết nói, chuyện này có vẻ huyền bí quá. Còn câu “duy ngã độc tôn” là để chỉ Chân Ngã phải không ạ ?

Thưa quý thính giả và ông Lâm,

Trước nhất, chúng tôi xin cảm ơn ông Lâm, đã gửi về mấy câu hỏi rất đặc biệt để chúng ta cùng nhau tìm hiểu.

Trong một bài trước, chúng tôi đã trích dẫn lời dạy của thiền sư Soyen Shaku như sau:

…”…đức Phật đã khẳng định rằng những điều Ngài dạy đều không có gì khác thường, chỉ đơn giản là những sự kiện rõ ràng mà ai cũng có thể kiểm chứng. Ngài dạy rằng không phải chân lý được mở ra cho chúng ta từ những nguồn xa lạ, bí hiểm, mà do chính chúng ta tự khám phá qua công năng hành trì thiền quán, thanh tịnh hóa tâm, điều mà bất cứ ai cũng có thể thực hiện được.

Ngài cũng nhắc chúng ta rằng niềm tin đạo Phật không phải là mê tín mà là nhận định sáng suốt, niềm tin đó là chân lý đã được thực nghiệm, kiểm chứng, chứ không phải là niềm tin từ một nguồn giả tưởng nào đó do được mặc khải.

Phải chăng đó chính là nguyên nhân đã kết thành hoa trái là lòng khoan dung, từ bi, bất bạo động của nhà Phật….”…

Trên đây là ý kiến của thiền sư Soyen Shaku.

Đức Phật cũng dạy chúng ta trong bài kinh Kamala đại ý rằng:

“- Đừng vội tin vào bất cứ điều gì chỉ vì đã nghe thấy.

– Đừng vội tin vào các truyền thống chỉ vì chúng đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

– Đừng vội tin vào bất cứ điều gì chỉ vì nó được nhiều người nói tới hoặc đồn đại.

– Đừng vội tin vào bất cứ điều gì chỉ vì nó được tìm thấy trong các sách vở.

– Đừng vội tin vào bất cứ điều gì chỉ vì nó được các bậc đạo sư hay các vị trưởng lão dạy bảo.”

– Nhưng sau khi quán sát và phân tích, khi đã thấy mọi thứ hợp với lẽ phải và đem lại lợi ích cho mọi người, thì hãy chấp nhận nó và sống phù hợp theo nó.”

Trong tinh thần đó, chúng ta tìm lời giải đáp cho ba câu hỏi trên của ông Lâm. Trước nhất, chúng ta mang câu chuyện trở về thời điểm được cho là nó đã xảy ra, là ngày chào đời của thái tử Tất Đạt Đa.

Nhưng thái tử chào đời ngày nào?

Đó là một câu hỏi mà cho tới nay vẫn chưa có câu trả lời chính xác.

Có sử liệu viết rằng:

….”…. Không có tài liệu chính xác về ngày sinh của thái tử Tất Đạt Đa và ngày nhập niết bàn của đức Phật. Phần đông sử gia thuộc cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 thì cho rằng thái tử chào đời vào khoảng năm 563 trước tây lịch và đức Phật nhập niết bàn vào khoảng năm 483 trước tây lịch. Nhưng gần đây, nhiều nhà sử học cho rằng ngài nhập niết bàn vào khoảng năm 410 hoặc 400 trước tây lịch, mặc dầu vẫn còn có những người giữ lập trường về ngày nhập niết bàn sớm trong khi những người khác thì cho là ngày trễ mới đúng. . 

Và có tài liệu viết rằng:

…”… Vào ngày trăng tròn tháng Tư năm 625 trước tây lịch, thái tử Tất Đạt Đa ra đời tại vườn Lâm Tì Ni. Ngay sau khi ra khỏi lòng mẹ, thái tử  bước 7 bước, mỗi bước có một bông sen đỡ lấy bàn chân …”…

Trong bài “Tìm hiểu ngày sanh của Đức Phật Thích Ca”, tác giả Nguyễn Phúc Bửu Tập đã viết:

… “ …truy tầm năm sanh của đức Phật rất khó, chưa ai tìm ra được dữ kiện chính xác, khó chối cãi, về năm sanh của đức Thích Ca. Về ngày sanh của đức Phật cũng vậy, chỉ dựa trên truyền thống…”….

Thưa quý thính giả,

Như thế, ngày hoặc năm sanh của đức Phật mà cũng không còn tìm ra được tài liệu chính xác, vậy thì những chuyện như “ra đời từ nách mẹ”, hoặc “mới sanh đã đi 7 bước”, hoặc ”mới sanh đã nói”, vân vân, chưa chắc gì trong thực tế đã từng xảy ra.

Nhà Phật có câu rằng:

“Kinh sách như ngón tay chỉ trăng, thấy trăng rồi thì quên ngón tay đi. Nếu coi ngón tay là mặt trăng là nhận lầm cả ngón tay và mặt trăng, không còn thấy được Chân Lý.

Trong cuốn Hé Mở Cửa Giải Thoát, hòa thượng Thích Thanh Từ dạy:

…“…Có một Phật tử hỏi chúng tôi rằng người xưa nói: “Y kinh giải nghĩa tam thế Phật oan, ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết”. Tại sao y kinh giải nghĩa mà oan ba đời chư Phật? Tại sao lìa kinh một chữ tức đồng ma nói? Ðây chúng tôi sẽ giải thích cho quý vị thấy rõ ý nghĩa của kinh điển đại thừa.

Kinh là lời của Phật, trong lời của Phật có khi Ngài nói trắng ra, có khi Ngài nói ẩn dụ, như vậy những chỗ Phật dạy ở trong ẩn dụ, nếu chúng ta giải trắng như những lời thường, đó là y kinh giải nghĩa, tam thế Phật oan.

Thí dụ như trong kinh Pháp Hoa, Phẩm Phổ Môn, là phẩm quý vị thường tụng nhất. Trong phẩm Phổ Môn có đoạn sau đây nói rằng: “Nếu có người cầu con trai, niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, sanh được con trai. Người muốn cầu sinh con gái, niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát sinh được con gái. Cho đến người niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát thì vào lửa không bị cháy, xuống nước không bị chìm”.

Như quý vị tu hành dạy các Phật tử cũng dạy như vậy, có phải không? thấy kinh Phật nói chúng ta cũng theo như vậy. Giả sử có người hỏi: Thưa quý cô tụng kinh như vậy mà cô tin kinh hay không? quý cô sẽ trả lời ra sao? Nếu tụng kinh không tin thì tụng kinh làm chi? Nếu bảo rằng: Tin, thì xin quý cô niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát cho chí thành mà vào lửa bị cháy, xuống nước bị chìm, chẳng lẽ lời Phật không phải là lời vàng ngọc, không phải là chơn lý hay sao? Rồi chúng ta trả lời ra làm sao?

Có cô Phật tử đến hỏi chúng tôi: Cô được một người bạn khuyên tụng kinh Phổ Môn niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát để cầu con trai, cô làm theo lời bạn, nhưng đến lúc sanh ra lại là con gái. Cô mới hỏi bạn: “Vậy kinh có linh không?” cô bạn không có lời để đáp lại. Tin và hiểu kinh Phổ Môn như vậy là thiếu thực tế.

Thường trong kinh điển đại thừa, khi nói đến các vị Bồ Tát là nói đến đặc tính tượng trưng của các vị: Như nói đến Ðức Quán Thế Âm  là nói đến nhĩ căn là tai, nói đến Ngài Văn Thù Bồ Tát là nói đến nhãn căn là mắt, …vân vân …

Chúng ta phải hiểu rõ tinh thần tượng trưng nầy. Cho nên niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát tức là nhìn lại Tánh Nghe của mình, chớ không chạy ra bên ngoài. Khi nhìn lại Tánh Nghe của mình, thấy nó không tướng mạo thì làm sao lửa đốt cháy được, làm sao nước đắm chìm được?

Và khi mình sống được với Tánh Nghe thì mọi việc sẽ được như ý. Nên nói rằng cầu con trai được con trai, cầu con gái được con gái, đó là tượng trưng cho mọi việc như ý. Nhìn lại Tánh Nghe của mình ví như mình được hòn ngọc Ma Ni bảo châu tức là hòn ngọc như ý. Nghĩa là được toại nguyện, được như ý và được diễn tả bằng: “Cầu cái gì được cái nấy”. Hiểu kinh như vậy, chúng ta mới thấy lời Phật là đúng, là chơn thật..

Kế đây, tôi xin nói đến câu “Ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết”. Giả sử có người nói với quý vị: Người nào trì kinh Pháp Hoa thì cỏ cây tươi tốt, người nào trì kinh Kim Cang thì cỏ cây héo sào, người nói như vậy quý vị có tin chăng? Quý vị thấy rõ ràng những chỗ nói mà không căn cứ vào kinh, mà chúng ta lại tin, đó là đồng ma thuyết…”….

Không riêng hòa thượng Thanh Từ, hòa thượng Tịnh Không, một bậc cao tăng Trung quốc thời hiện đại, chuyên hoằng pháp môn Tịnh Độ, cũng dạy rằng:

…”… Chúng ta thường nghe câu nói sau đây: Nhà Phật thường nói “y văn giải tự, tam thế Phật oan” nghĩa là y theo câu văn hiểu nghĩa theo mặt chữ, thì ba đời Phật bị oan. Cứ chiếu theo văn tự để nghiên cứu, giải thích thì tam thế chư Phật là quá khứ Phật, hiện tại Phật, vị lai Phật đều kêu oan uổng, quý vị hiểu lầm ý Phật mất rồi!

Trong bài kệ Khai Kinh có câu “nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa”, tôi nói con người hiện tại hiểu sai lệch, nên trở thành “khúc giải Như Lai chân thật nghĩa” tức là hiểu cong vạy ý nghĩa chân thật của Như Lai, hoặc “ngộ giải Như Lai chân thật nghĩa” là  hiểu lầm lạc ý nghĩa chân thật của Như Lai.

Quý vị xem: Có phải là Như Lai kêu “oan uổng” hay không?  Học Phật pháp phải quy về tự tánh, điều này khẩn yếu lắm. Nói cách khác, giúp cho chúng ta đạt được tâm thanh tịnh, giúp chúng ta mở mang trí huệ, đấy chính là Phật pháp. ….”…

Thưa quý thính giả,

Như thế, quý vị Đạo Sư đã căn dặn chúng ta phải hiểu rõ nghĩa của lời Phật dạy. Chúng ta cũng cần nhớ rằng Phật nói kinh là để trị bệnh tâm cho chúng sinh, lời trong kinh sách cũng là đức Phật tùy bệnh tâm chúng sinh mà cho thuốc, chúng sinh nhiều tâm bệnh khác nhau thì cần nhiều pháp trị khác nhau, nhiều lời kinh với vô lượng nghĩa khác nhau, chứ không phải chỉ có một loại thuốc mà thôi.

Kinh Phật lại có những câu chuyện huyền ký với ý tứ tiềm ẩn, thí dụ mục đích đức Phật nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa là để khai thị cho chúng sinh ngộ nhập Tri Kiến Phật, nghĩa là dạy cho chúng sinh thấu triệt được rằng mọi người đều có Phật Tánh, bởi vì trước khi Phật nói kinh Pháp Hoa thì mọi người chưa biết đến Tri Kiến Phật, tức là Chân Tâm, Phật Tánh, Giác Tánh.

Vì kinh Pháp Hoa dạy về Phật Tánh, cho nên trong kinh có những câu như « vào nước không chìm », vào lửa không cháy », « đốt thân cháy lâu tới một ngàn hai trăm năm », « đốt cánh tay mãn bảy muôn hai ngàn năm »  vân vân, đều là những ẩn dụ để nói về Chân Tâm bất sanh bất diệt, vào nước không chìm vào lửa không cháy mà thôi. Nếu lại dùng tâm chấp chặt của thế gian mà cho rằng những điều trên đã có xảy ra thật, tin rằng nhảy xuống biển sẽ không chìm, bước vào lửa sẽ không cháy, thì rõ ràng là không thông hiểu quy luật của vật chất, không thể có cái xác nào cháy lâu tới 1,200 năm hoặc cánh tay cháy lâu tới bảy muôn hai ngàn năm.

Trong tinh thần đó, chúng ta thử tìm giải đáp cho  ba câu hỏi kể trên :

Câu hỏi thứ nhất :

— Sự kiện thái tử Tất Đạt Đa được mẹ sanh ra qua ngả nách.

Xin trả lời:

— Có thể coi như do hoàn cảnh tâm lý của dân chúng nước Ấn Độ vào thời đó và do lòng kính trọng đức Phật mà họ thần thánh hóa Ngài, cho là một vị giáo chủ không thể giống người bình thường, phải có những đặc điểm khác lạ, siêu nhân, nên qua truyền khẩu một thời gian dài mà nảy sinh ra những câu chuyện xa thực tế như vậy. Rồi nhiều năm tháng trôi qua, lời đồn đại truyền khẩu ngày càng lan rộng, trở thành giống như là sự thực.

Câu hỏi thứ hai:

— Mới ra đời, thái tử đã bước bảy bước, có bảy bông sen đỡ dưới chân.

Xin trả lời:

— Câu này có thể là một ẩn dụ, dùng sự kiện thái tử mới ra đời để trình bày quá trình hình thành loài người. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đã phân tích cặn kẽ về 7 thành tố tạo nên con người, gọi là 7 Đại gồm:

Một là chất cứng, thuật ngữ nhà Phật gọi là Địa Đại, tạo thành thịt da xương cốt, vân vân..

Hai là chất lỏng, nhà Phật gọi là Thủy Đại, tạo thành máu huyết, nước mắt, nước tiểu, vân vân…

Ba là chất hơi, nhà Phật gọi là Phong Đại, tạo thành hơi thở, vân vân…

Bốn là chất nóng, nhà Phật gọi là Hỏa Đại, tạo thành sự ấm áp của cơ thể, vân vân..

Năm là khoảng trống rỗng, thí dụ những mô xốp, lỗ tai, cuống họng, nhà Phật gọi là Không Đại, tạo thành những khoảng trống để cơ thể hoạt động …

Sáu là sự thấy biết thuần túy, không phân biệt, thấy chỉ là thấy, tùy duyên ứng dụng, thí dụ ở mắt thì nhìn, ở tai thì nghe, nhà Phật gọi là Kiến Đại, cũng gọi là “Tánh Thấy”.

Bảy là sự phân biệt đối tượng, duyên theo các căn mà nhận thức, suy lường hay dở tốt xấu trong đời sống, nhà Phật gọi là Thức Đại.

Như thế, bảy bước chân tượng trưng cho bảy Đại, là căn bản của đời sống con người.

Nói về bông sen đỡ dưới chân, trước hết chúng tôi xin nhắc với quý thính giả rằng nhà Phật dùng hoa sen để tượng trưng cho Chân Tâm, Phật Tánh, với hàm ý hoa sen mọc lên từ bùn nhơ mà vẫn thanh khiết cũng như Phật Tánh vốn ngay tại nơi con người mà không bị ô nhiễm, dù con người mang những niệm xấu ác trong tâm.

Tổng kết lại ý nghĩa 7 bước chân đều có hoa sen hứng là bởi vì hoa sen tượng trưng cho Chân Tâm, mà Chân Tâm vốn khắp không gian và thời gian, nên tất cả các Đại cũng vẫn ở trong Chân Tâm mà thôi.

Câu hỏi thứ ba:

— Sau đó, thái tử đứng lại, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, tuyên bố : ” Thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn”, rồi thái tử nằm xuống, trở về trạng thái đứa trẻ sơ sinh.

Xin trả lời:

— Giáo lý nhà Phật đều nằm trong khuôn khổ của Tam Pháp Ấn, nghĩa là ba dấu ấn của chánh pháp, gồm có Vô Thường, Khổ và Vô Ngã hoặc Chư Hành Vô Thường, Chư Pháp Vô Ngã, Niết Bàn Tịch Tĩnh, câu nào cũng hàm chứa Vô Ngã.

Do đó, nếu cho rằng đức Phật thị hiện qua hình thức thái tử sơ sinh để ra tuyên ngôn báo hiệu sau này tự mình sẽ thành bậc cao quý độc nhất trên đời bằng câu “duy ngã độc tôn” thì mâu thuẫn với giáo lý giải thoát mà đức Phật dạy chúng sinh sau này.

Còn như nếu cho rằng ngã đây là Chân Ngã thì đã không thấu triệt mục đích của đức Phật khi truyền dạy đạo Giải Thoát. Chữ Chân Ngã trong nhà Phật chỉ được tạm dùng để phá chấp không.

Trong bình diện tương đối mà nói rằng có một cái thường hằng là Chân Ngã tức là chấp Có, sẽ lọt vào trường hợp Đại Ngã, Tiểu Ngã của giáo lý Bà La Môn và  Ấn Độ giáo.

Trong cuốn luận Trung Quán, luận sư Long Thọ đã nêu rõ quan điểm của nhà Phật về Chân Lý là “bất dị nhưng cũng bất nhất” (không phải là khác nhưng cũng không phải là một, như tình trạng Tiểu Ngã nhập vào Đại Ngã, nghĩa là không thuộc bình diện tương đối), vượt ra ngoài các phạm trù “Có” hoặc “Không”, tạm gọi là tuyệt đối, không thể gán vào một nghĩa cố định.

Cho nên đức Phật đã nói: “Phàm lời nói đều không có nghĩa thật”.

“Nghĩa thật” tức là nghĩa tuyệt đối. Lời nói là quy ước của thế giới tương đối, không thể nói về Chân Lý Tuyệt Đối, về Chân Tâm, Phật Tánh, Buddha Mind,  True Mind, vân …vân. Muốn tới được cảnh giới này, cảnh giới “ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt”, nghĩa là “đường ngôn ngữ đứt, nơi tâm suy nghĩ ngưng bặt”, thì phải thanh tịnh hoá tâm, phải tu chứng.

Kinh Viên Giác đã nói:

“Nếu đem tâm sinh diệt mà nói về Viên Giác thì Viên Giác cũng thành luân hồi”.

Con đường hành trì giáo pháp mà đức Phật mở ra cho chúng sinh để tiến tới từ bi, bình đẳng, giải thoát, là con đường rực rỡ như ánh sáng từ mặt trời.

Nếu chúng ta tích cực hành trì theo lời Phật dạy, thì tâm chúng ta sẽ chuyển hóa một cách mầu nhiệm, không cần phải có sự hỗ trợ bằng những câu chuyện mơ hồ, huyền bí, tưởng như là đề cao đức Phật, nhưng thực tế là làm giảm bớt mất tinh thần trong sáng cao quý của đạo Phật.

Thưa quý thính giả,

Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 11 – Trưởng tử Như Lai – Đạo Sư

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý khán thính giả,

Sau bài nói về Tu viện Shasta, về Ni Sư Jiyu Kennett và môn phái thiền Tào Động tại Mỹ, chúng tôi nhận được thư quý khán thính giả gửi về hỏi thêm chi tiết về tu viện Shasta để có thể tới tham dự một kỳ tĩnh tâm (retreat). Vì thế, chúng tôi xin trình bày thêm như sau:

Tu viện được thiết lập trên sườn núi Shasta, cực Bắc của tiểu bang California, tại tỉnh Mount Shasta, cách San Jose, California  300 miles và cách Orange County, Califonia 630 miles.

Nếu quý khán thính giả muốn liên lạc với tu viện bằng thư tín, xin theo địa chỉ:

Shasta Abbey
Attn: Guest Master,
3724 Summit Drive,
Mt. Shasta, CA96067

Hoặc bằng điện thoại số : (530) 926-4208;

Fax số  (530) 926-0428.

Địa chỉ  E-mail: shastaabbey@obcon.org

Nếu quý vị sử dụng computer, xin vào webpage:

www.obcon.org

Kính thưa quý vị,

Như chúng tôi đã trình bày với quý vị, rằng suốt thời gian trên bốn chục năm ròng rã thân hành đi khắp gần xa để truyền dạy, những lời vàng ngọc của đức Phật đã được chư đệ tử nhập tâm, các vị này lại truyền xuống cho đệ tử, rồi được tuyên đọc trong các kỳ kết tập kinh điển, tổng hợp thành tạng Kinh, là một trong Tam Tạng, thì nhiều vô số kể. Tuy nhiên, cốt tủy tất cả những lời dạy đó được đức Phật tóm tắt bằng tuyên ngôn:

– “Này chư Tỳ kheo, bây giờ cũng như trước đây, Như Lai chỉ dạy về “Khổ” và về  “Con Đường Diệt Khổ”.

Tuyên ngôn này rút ra từ Bốn Chân Lý Thâm Diệu mà ngài đã Chứng Ngộ, đó là :

– Thứ nhất là Chân Lý về Khổ (Khổ Đế)

– Thứ hai là Chân Lý về nguồn gốc của Khổ (Tập Đế)

– Thứ ba là Chân Lý về sự Diệt Khổ (Diệt Đế)

– Thứ tư là Chân Lý về Con Đường đưa đến sự Tận Diệt Khổ (Đạo Đế)

Bốn Chân Lý này tức là Tứ Diệu Đế  ( Đế nghĩa là Chân Lý).

Có người mới nghe nửa câu nói của đức Phật “chỉ dạy về Khổ” thì cho là quan điểm của nhà Phật về cuộc đời rất bi quan, tiêu cực. Nhưng nếu nghe thêm phần sau Ngài nói “và dạy Con Đường Diệt Khổ”, thì sẽ thấy ngay rằng đức Phật rất tích cực muốn cải thiện đời sống để mọi người được hết khổ.

Hành trang trên “Con Đường Diệt Khổ” có 37 phẩm trợ đạo, là những bài phân tích chi tiết cần thiết để giúp hành giả thực hiện thành công trên con đường giác ngộ. Đại cương, có thể thu gọn trong bài kệ:

“Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành.”

Noi theo gương đức Phật, các vị Sứ Giả Như Lai là chư Tăng Ni dùng đời sống của mình để tu hành tới giác ngộ giải thoát, đồng thời trong khi tu tập, quý vị Tăng Ni cũng dẫn dắt chúng sinh bằng cách giảng giải lại cho Phật tử hiểu thấu đáo những lời đức Phật dạy.

Đến đây, chúng tôi xin được trình bày thêm về ý nghĩa của một vài từ ngữ trong nhà Phật, thí dụ chữ Sư.

Thưa quý khán thính giả,

Thật ra thì chữ Sư vốn rất dễ hiểu, chúng ta thường dùng hằng ngày, ai cũng biết sư tức là thày. Sở dĩ phải trình bày cho rõ vì từ Sư trong nhà Phật đã bị  hiểu lầm.

Chữ Sư – nghĩa là thày — trong nhà Phật rất cao quý.

Mục tiêu của đạo Phật là giác ngộ giải thoát. Thời Phật còn tại thế, Ngài thân hành dạy chư đệ tử đường lối tu hành để giác ngộ giải thoát ra khỏi vòng sinh tử luân hồi. Nhưng Ngài không thể dạy tất cả thế gian và thông suốt ba thời là quá khư, hiện tại và tương lai, cho nên Ngài đã ủy thác cho chư đệ tử tiếp nối con đường của Ngài để soi sáng cho chúng sinh sau này. Vì thế, các vị Sư trong nhà Phật được tôn là Trưởng Tử Như Lai, là con lớn của đức Phật — với ý nghĩa về mặt tinh thần – có nhiệm vụ dìu dắt các em ra khỏi bến mê.

Trưởng Tử Như Lai là người noi theo gương giáo hóa chúng sinh của đức Phật, làm công việc đức Phật ủy thác, là Đạo Sư. Cho nên chúng tôi đã thưa rằng từ ngữ Sư trong nhà Phật rất cao quý. Sư là Thày dạy đạo, đưa chúng sinh ra khỏi biển khổ sinh tử, chấm dứt trôi nổi trong vòng luân hồi. Vì sứ mạng cao quý như thế cho nên trong đạo Phật, địa vị của Tăng Ni được coi rất trọng. Nhiệm vụ của Phật tử, gọi là cận sự, tức cư sĩ, là phải cung kính cúng dường chư Tăng Ni  4 món cần thiết trong đời sống, gọi là “Tứ sự cúng dường” gồm y phục, thực phẩm, nơi ở và thuốc men.

Tại sao lại phải đặc biệt cung kính khi cúng dường?

Đó là để tỏ rõ lòng tôn kính vị Sư, bậc Thày dẫn dắt ra khỏi bến mê, bước lên bờ giác, chấm dứt mọi nỗi đau khổ. Cho nên đôi khi chúng ta trông thấy trong những buổi lễ dâng y, hoặc trai tăng, thí chủ dâng lễ vật đồng thời còn xụp lạy những Tăng Ni thọ nhận, cũng là vì theo truyền thống cung kính cúng dường.

Nhiệm vụ của Tăng Ni thì cao quý và được Phật tử tôn trọng như thế. Vậy thì, nếu có người tu hành nào đã nhận trọng trách làm Trưởng Tử Như Lai, đã nguyện giữ những giới răn, đã khoác tấm y giải thoát của nhà Phật mà không làm tròn nhiệm vụ Đạo Sư, lợi dụng sự được cung kính tôn trọng để thủ lợi, hoặc không thực hành đúng Chánh Pháp, thì đó là họ đã đi sai đường, mắc vào tội “lạm nhận cung kính” vì bản thân không xứng đáng nhận sự lễ lạy, cung kính, và “hư tiêu tín thí”, vì bản thân không thực hành nhiệm vụ cao quý, nên coi như phí phạm phẩm vật cúng dường của thí chủ.

Chúng ta nên sáng suốt nhận định, chỉ cung kính cúng dường quý vị Tăng Ni giới đức trang nghiêm và thực hiện nhiệm vụ Đạo Sư cao quý mà thôi.

Thưa quý khán thính giả,

Để có thêm tài liệu về “Con Đường Diệt Khổ”, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một bài pháp trích trong cuốn “Mind, Overcoming its Cankers”, tác giả là hòa thượng Acharya Buddharakkhita, tỳ khưu Pháp Thông dịch ra Việt ngữ.

Hòa thượng Acharya Buddarakkhita là một bậc đạo sư danh tiếng trong truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy, chủ tịch sáng lập hội Maha Bodhi Society tại Ấn Độ. Trước khi xuất gia, vào thời gian Thế Chiến Thứ Hai, ngài là một kỹ sư phục vụ tại bộ Quốc Phòng. Do mắt thấy những sự tàn phá, đau đớn, chết chóc kinh hoàng của chiến tranh, tâm tư ngài bị chấn động, cảm thấy muốn tìm về con đường tâm linh. Rời bỏ chức vụ kỹ sư, ngài trở thành nhà sư Phật giáo, tận lực nghiên cứu Phạn ngữ và hành trì thiền tập với thiền sư danh tiếng Mahasi Sayadaw tại Miến Điện. Ngài từng dạy Phật pháp tại trường Phật học Nalanda, viết nhiều sách luận giải và dịch kinh sách từ tạng Pali qua tiếng Anh, được xuất bản tại nhiều quốc gia trên thế giới, trong số đó có những cuốn được nhiều người biết như The Dhammapada – The Buddha’s Path of  Wisdom. Ngoài ra  còn các cuốn quan trọng như  ‘The Living Legacy of the Buddha”, “’Mind, Overcoming its Cankers” và “Karma and Rebirth”.

Ngài là một học giả đồng thời là hành giả, đem tất cả cuộc đời cống hiến cho sự nghiệp giác ngộ giải thoát mình và dìu dắt người khác cùng đi, chỉ đạo cho lớp tu sĩ trẻ bước trên con đường giác ngộ bằng thiền quán cùng lúc với chính bản thân tận lực hành trì.

Sau đây là nội dung bài pháp của hòa thượng Acharya Buddharakkhita:

“Người ta thường cho rằng vấn đề tốt và xấu chỉ là khái niệm phỏng chừng, rằng trong thực tế, cái gọi là tốt hay xấu ấy không hiện hữu. Hay nói cách khác, phải – trái, tốt – xấu, là những khái niệm có giá trị quy ước chứ không có sự đồng ý tuyệt đối.

Không gì có thể vượt ra ngoài sự thực. Vì, nếu không có những thực chất tốt và xấu như vậy trong ý nghĩa tuyệt đối, ắt hẳn sẽ không có những vấn đề như khổ đau và hạnh phúc, nghèo và giàu, đẹp và xấu, bịnh hoạn và khoẻ mạnh trong thế gian này. Những bất bình đẳng mà người ta thấy trong cuộc đời, chỉ nhằm diễn đạt cái sự thực về vấn đề nhân quả được gọi là nghiệp trong đạo Phật mà thôi. Và đạo đức học chính là ngành khoa học nghiên cứu về thiện – ác, tốt – xấu này.

Ðức Phật rất thẳng thắn về điểm này. Ngài loại bỏ tất cả mọi tư tưởng mơ hồ và mâu thuẫn về những vấn đề liên quan đến luân lý, được xem là rất thịnh hành trong thời đại của Ngài. Ngài nhấn mạnh rằng có hai con đường hoàn toàn rõ rệt và đối nghịch lẫn nhau — hắc đạo và bạch đạo.

Ðây không phải là những con đường phỏng chừng, cũng không phải là những khái niệm hay qui ước đơn thuần. Nó là những sự thực, chúng hiện hữu trong thực tại như những thế lực thiện và bất thiện, như những pháp công đức và phi công đức biểu thị ra bằng hạnh phúc và khổ đau, bằng tiến bộ và thoái bộ.

Trong một câu kệ Pháp Cú ý vị, đức Phật với thái độ hết sức rõ ràng đã chỉ ra:

“Bậc trí bỏ pháp đen
Tu tập pháp thuần trắng.”

Khi người ta hiểu một cách chân chánh và đầy đủ rằng luân lý và đạo đức đề cập đến những giá trị và những pháp tuyệt đối, và những vấn đề như phải – trái, thiện – bất thiện, đen – trắng, công đức và phi công đức không phải là những chuyện hư cấu mà là những điều kiện thực tế, chỉ khi ấy họ mới có thể hiểu được tâm và vận hành của nó. Vì những lực đối nghịch này xuất phát từ tâm. Chúng do tâm tạo, như đã được xác định rõ trong hai bài kệ đầu tiên của kinh Pháp Cú :

“Ý  dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ, ý tạo.
Nếu với ý bất tịnh,
Nói lên, hay hành động,
Khổ não liền theo sau,
Như xe, chân vật kéo.”

“Ý dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ, ý tạo.
Nếu với ý thanh tịnh
Nói lên, hay hành động,
An lạc liền theo sau
Như bóng, không rời hình.”

Như vậy, chỉ sau khi khởi lên trong tâm rồi chúng mới kết tinh lại như hai mô thức tác nghiệp rõ rệt mà trong Phật Giáo gọi là thiện nghiệp đạo và bất thiện nghiệp đạo. Chính vì vấn đề này mà tất cả mọi cố gắng trong đời phạm hạnh đều nhắm vào việc thành tựu sự toàn bích, một mặt bắt đầu với việc từ bỏ những pháp đen là bất thiện pháp và mặt khác với sự tu tập các pháp trắng là thiện pháp.

Tại sao? Bởi vì các pháp đen là nơi những điều xấu xa, ô nhiễm, mê lầm trú ngụ, ẩn nấp và che giấu. Và trong pháp trắng hàm chứa các pháp dẫn đến Giác Ngộ. Hắc đạo nuôi dưỡng các pháp ác, trong khi bạch đạo là sự báo hiệu điềm lành. Bất thiện pháp báo trước những bất hạnh và khổ đau, trong khi thiện pháp là chỗ chứa của hạnh phúc. Hắc đạo là nơi lai vãng của những rối loạn và bạch đạo là nơi cư trú của an lạc. Còn rất nhiều hình ảnh khác có thể được thêm vào, nhưng ở đây như vậy đã tương đối đủ để hiểu thế nào là hắc và bạch.

Ngoài việc là hang ổ của các ô nhiễm, mê lầm, hắc pháp còn báo trước những điềm xấu dưới dạng đáng ngại hơn. Vì trong bóng tối luôn luôn mai phục những điều bất tường, đặc biệt đe dọa đến đời phạm hạnh. Những điều bất tường ấy được gọi là những pháp gây nguy hại đến đời phạm hạnh. Về cơ bản, chúng là các điều xấu ác dưới dạng ngủ ngầm, là tai họa tiềm tàng”.

Thưa quý khán thính giả,

Trên đây là bài pháp của hòa thượng Acharya Buddharakkhita, thuộc truyền thống Nguyên Thủy. Ngài dạy rất rõ ràng, phân biệt minh bạch thiện và ác.

Để sự tìm hiểu Phật pháp thêm phần phong phú, chúng tôi xin kính gửi tới quý khán thính giả một câu chuyện Thiền, trích dịch từ cuốn Collection of Stone and Sand”, xuất hiện vào thế kỷ 13, do thiền sư Muju theo truyền thống Bắc Tông, viết bằng Nhật ngữ, tên là Shasekishu, dịch giả Paul Reps dịch sang Anh Ngữ. Câu chuyện như sau:

“Trong cuộc hành trình tới tỉnh Edo, Zenkai, con trai của một hiệp sĩ Nhật, trở thành người hầu cận của một quan chức cao cấp tại đó.  Zenkai ngoại tình với vợ của quan chức này và bị phát hiện. Để tự vệ, hắn ta giết vị quan rồi chạy trốn cùng với  người vợ.

Sau này hai người trở thành những tên ăn trộm. Nhưng người đàn bà quá tham lam khiến cho Zenkai càng ngày càng khinh ghét đến phát ghê tởm. Cuối cùng không còn chịu nổi, Zenkai bỏ người đàn bà lại mà đi tới nơi xa, tận tỉnh Buzen, trở thành một người hành khất lang thang.

Để chuộc lại lỗi lầm trong quá khứ, Zenkai quyết tâm hoàn thành một vài việc thiện trong cuộc đời. Biết rằng có một con đường nguy hiểm cheo leo trên vách đá từng là nguyên nhân gây ra tai nạn chết và bị thương cho nhiều người, Zenkai quyết tâm mở một con đường hầm xuyên qua núi tại nơi đó.

Ban ngày thì đi xin thực phẩm, ban đêm Zenkai mài miệt đào con đường hầm. Trải qua ba chục năm, con đường hầm dài được 2.280 feet, cao 20 feet và rộng 30 feet.

Hai năm trước khi hoàn tất công trình, người con trai của viên quan mà Zenkai giết khi xưa, nay đã trở thành một kiếm sĩ lão luyện, tìm ra được Zenkai và tới để trả thù nhà. Biết được mục đích của khách lạ, Zenkai nói:

– Tôi sẽ sẵn sàng trao mạng sống của tôi cho anh. Chỉ xin hãy để cho tôi làm xong công việc này. Ngay hôm con đường hoàn thành, anh có thể giết tôi.

Người con trai đồng ý đợi tới ngày đó. Nhiều tháng trôi qua, Zenkai cứ miệt mài làm việc. Người con trai càng ngày càng thêm chán nản vì cái cảnh ăn không ngồi rồi, nên bắt đầu phụ giúp công việc đào hầm. Sau khi đã giúp Zenkai trên một năm, anh ta cảm thấy ngưỡng mộ ý chí mãnh liệt và nghị lực của Zenkai.

Cuối cùng thì con đường hầm cũng đào xong và mọi người có thể sử dụng nó để đi lại an toàn. Bây giờ Zenkai mới nói:

– Công việc của tôi đã hoàn tất. Hãy chặt đầu tôi đi.

Với đôi mắt đẫm lệ, người đàn ông trẻ  nghẹn ngào:

– Làm sao con có thể cắt đầu vị thầy của chính con được?”

Thưa quý khán thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý khán thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý vị một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Tuệ Đăng