Archive | July 10, 2013

Bài 10 – Tu viện Shasta và Ni Sư Jiyu-Kennett

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                           Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý khán, thính giả,

Trong một kỳ trước, chúng tôi đã trình quý vị câu hỏi của vị thính, hỏi rằng:

— Vậy thì, làm thế nào để có  thể  “tự thanh tịnh tâm ý?

Hôm nay, chúng tôi xin giới thiệu với quý vị một bậc nữ lưu, người đã tận tụy một đời tu và học ở đất nước xa xôi, để có đủ khả năng truyền dạy lại cho người đời phương pháp “tự thanh tịnh tâm ý”, đồng thời tạo dựng những cơ sở vật chất để mọi người có phương tiện tới tu học. Đó là ni sư Jiyu-Kennett, nữ thiền sư môn phái Tào Động Nhật Bản, đồng thời là người sáng lập The Order of Buddhist Contemplatives, mà hai nơi tu tập chính là tu viện Shasta tại Hoa Kỳ và tu viện Throssel Hole tại Anh Quốc.

Ni sư ra đời tại Anh Quốc vào ngày Tết dương lịch năm 1924, con út và là con gái độc nhất của một cuộc hôn nhân không hạnh phúc, gia đình theo Anh Giáo, tên thánh là Peggy Teresa Nancy. Thiếu thời, cô Peggy được học bổng để học âm nhạc, đậu bằng cử nhân tại University of Durham về đàn organ và hòa âm.

Tiếp cận đầu tiên của Peggy với đạo Phật là cuốn The Light of Asia trong tủ sách của thân phụ và một pho tượng Phật, chẳng biết vì lý do gì được đặt gọn gàng trên bệ lò sưởi tại phòng họp của ngôi trường đầu tiên mà cô bé tới học. Pho tượng này đã đem lại niềm an ủi cho Peggy về những nỗi buồn bã cô đơn tại gia đình và trường học. Dù mới chỉ là một em bé gái nhỏ, mỗi khi nhìn thấy vị sư trong tấm y tu hành thong thả bước trên đường phố, là cô bé lại nói với mẹ rằng cô muốn khi lớn lên sẽ thành một nhà sư như thế.

Vào năm 1939, thế chiến thứ 2 bùng nổ, bom đạn, chết chóc và những nỗi kinh hoàng mà cô chứng kiến bám theo cô suốt cả cuộc đời. Luôn luôn, cô tự hỏi “Tại sao người ta lại gây ra những chuyện tàn nhẫn như thế với nhau?”.

Thời gian này là buổi đầu cô giao tiếp với nhạc thánh ca nhà thờ, đồng thời cũng báo hiệu rằng âm nhạc là niềm vui tinh thần đi theo suốt cuộc đời ni sư Jiyu Kennett sau này và được ni sư ứng dụng tuyệt vời vào nhạc lễ tại các thiền viện trong hệ thống Order of Buddhist Contemplatives mà ni sư thiết lập.

Lúc này cũng là thời gian Peggy tích cực tìm hiểu  đạo Phật và được dạy rất chu đáo về căn bản Phật pháp theo truyền thống Nguyên Thủy, quy y và thọ giới cư sĩ với thiền sư Saddhatissa, tiến sĩ Phật học Tích Lan, một bậc danh tăng và là sư trưởng tại London. Cũng tại London, Peggy được gặp gỡ và tham học với rất nhiều giáo sư, trong số đó có tiến sĩ Daisetz Teitaro Suzuki, người đã giới thiệu thiền Lâm Tế với cô.

Năm 1960, đại sư Keido Chisan Koho, tu viện trưởng chùa Soji bên Nhật qua London, trong chương trình hoằng truyền Phật pháp tại Hoa Kỳ và Anh quốc, gặp cô Peggy Kennett, người tổ chức cuộc đón tiếp, bèn hỏi ý nếu cô muốn trở thành đệ tử của ngài và qua Nhật tu học tại chùa Soji, một trong hai thiền viện chính của tông Tào Động, nơi vốn xưa nay chỉ có nam tu sĩ, thì ngài sẽ chấp nhận.

Trên đường qua Nhật vào năm 1962, tới Malaysia, cô thọ ni giới theo truyền thống Trung Hoa với đại sư Seck Kim Seng, được đặt pháp danh là Chân Hữu. Tới Nhật,  ni cô Chân Hữu tu học với đại sư Koho tại chùa Soji. Sau này ni cô  Jiyu được đại sư Koho xác nhận khả năng giảng dạy Phật pháp và cuối cùng, ni sư được ấn chứng là Đạo Sư.

Trong thời gian lưu ngụ tại Nhật, một quốc gia vốn có truyền thống trọng nam khinh nữ, lại kỳ thị người ngoại quốc, nhất là đàn bà ngoại quốc mà lại muốn trở thành tu sĩ là việc vốn của nam giới, ni cô Jiyu phải chịu trăm ngàn cay đắng để nỗ lực hành trì thiền quán, mục tiêu là giải thoát, theo gương đức Phật, không ngại gian nan cực khổ, làm nhiều việc, giữ nhiều nhiệm vụ, kể cả Tri Khách bộ môn người nước ngoài. Cuối cùng ni sư được được bổ nhiệm là tu viện trưởng chùa Umpukuji.

Sau khi đại sư Chisan Koho qua đời, ni sư rời nước Nhật định trở lại London. Trong khi dừng chân tại San Francisco, năm 1969, ni sư quyết định lưu lại Hoa Kỳ, thiết lập Zen Mission Society năm 1970. Tám năm sau, hội này tái tổ chức và đổi tên là Order of Buddhist Contemplatives cho tới nay. Tháng 11 năm 1970, ni sư thành lập tu viện Shasta tại tỉnh  Mount Shasta, California, nơi ni sư trụ trì và là tu viện trưởng đầu tiên suốt 26 năm. Ni sư thành lập tu viện Throssel Hole tại  Northumberland, Anh quốc năm 1972, đồng thời trong suốt cuộc đời, ni sư cũng thành lập nhiều tu viện tại Bắc Mỹ cũng như tại Âu Châu.

Ni sư Jiyu- Kennett qua đời tại tu viện Shasta vào ngày 6 tháng 11 năm 1996, để lại khoảng trên 1,000 bài thuyết giảng và một số sách viết về đạo Phật và phương pháp hành trì để giác ngộ.

Thưa quý khán thính giả,

Sau đây, chúng tôi xin gửi đến quý thính giả một đoạn trích dịch từ cuốn Roar of the Tigress, gồm những bài thuyết giảng của ni sư Jiyu Kennet, nói với những người mới bước vào rừng thiền:

…”… Trước khi nói về cách thực hành Thiền, tôi muốn hãy nói về lý do mà người ta tìm tới con đường Thiền tập đã.

Bạn phải bắt đầu từ chính bản thân, từ sự ham muốn của bản thân. Bạn cũng thấy đó, có những người đến với tôn giáo không phải vì họ thực sự hâm mộ tôn giáo, nhưng vì họ chẳng có nơi nào khác để hướng tới. Bạn đến với tôn giáo khi tâm lý hoặc tinh thần suy sụp, hoặc thất bại về chuyện gì đó, tâm bạn hoang mang tự hỏi: “Ôi, bây giờ mình biết làm gì, đi đâu ?” Hỏi rồi bạn tự trả lời: “Ờ, biết đâu chẳng có cái gì đó mà mình chưa biết rõ, hay là tìm hiểu thử coi”.

Thế là bạn bắt đầu mầy mò đi tìm ông tu sĩ hoặc ông đạo sư. Nếu may mắn, bạn sẽ gặp được một người có khả năng chỉ đường cho bạn.

Vậy thì, lý do tiên quyết nào khiến cho người ta đi tầm đạo?

Nhiều người nói rằng vì họ sợ chết, nhưng không phải vậy, mà là họ sợ đời sống. Rất nhiều người sợ những hệ lụy trong đời sống hơn là sợ chết, họ khiếp hãi trước những bất trắc của cuộc đời. Họ có thể chấp nhận cái chết, họ biết đó là chuyện chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai, vả lại, đã luôn luôn có bác sĩ chống chọi để kéo dài mạng sống của họ. Chưa hết, may ra lại có những loại thuốc thần làm cho chuyện chết trở thành dễ có thể chịu đựng được.

Nhưng chuyện sống thì khác. Ngày mai, bạn sẽ phải chạm mặt ông xếp trong sở làm, bạn phải đi làm, bạn phải lái xe trên xa lộ và biết đâu chừng lại có một tên điên khùng đang lái xe ngay cạnh xe bạn, vậy bạn phải làm thế nào?

Sự sợ hãi trong đời sống đã đưa người ta tìm về tôn giáo, tìm tới những nhà tâm lý trị liệu, những nhà tâm thần học để hỏi những câu như :” Bây giờ tôi phải làm gì?”, hoặc:” Tôi phải phản ứng như thế nào ?”

Khi mà những câu hỏi đơn giản đó không đủ để trả lời cho những băn khoăn thao thức trong lòng, bạn quay vào nội tâm để trầm tư. Và khi mà bạn nói: ”Thế này chưa đủ, tôi muốn đi xa hơn nữa”, thì đó là lúc bạn muốn đến với tôn giáo. Và khi bạn nói: “Tôi chưa thỏa mãn, chắc là còn có cái gì khác hơn nữa”, và bạn bế tắc tại chính điểm này, không còn đường đi tới, thì bạn sẽ tìm về đâu?

Thưa bạn, khi đó, bạn tìm về nội tâm.

Ngày nay có nhiều người biết rằng tọa thiền là phần quan trọng của Thiền Phật giáo. Họ hỏi: “Tại sao bạn lại tọa thiền?”, hoặc “Tại sao thiền Tào Động lại lặng lẽ ngồi nhìn vào vách tường?”

Thưa rằng, đó là một trong những phương pháp chính để nhìn vào nội tâm, để trực diện với chuyện sinh và tử….”… Đã bao giờ bạn nhìn thẳng vào tâm bạn chưa? Khi tọa thiền, bạn ngồi đối diện và nhìn vào bức tường thực, nhưng chỉ một lúc sau là bạn sẽ nhận ra ngay rằng bạn đang nhìn vào đó để lấp bít các cảnh tượng, đang đóng cửa các giác quan, để nhìn vào nội tâm của bạn…”…

Thưa quý khán thính giả,

Trên đây là bài pháp trích dịch từ cuốn Roar of the Tigress. Để quý vị có thêm khái niệm về hành thiền Phật giáo, chúng tôi xin kính gửi những lời tâm tình của đạo hữu Danny Việt, người cư sĩ đã từng lưu ngụ tại tu viện Shasta, nơi ni sư Jiyu Kennett đã dày công xây dựng, như sau:

… “… Tu viện tọa lạc trên một khoảng đất rộng 20 mẫu rừng thông, nơi sườn núi Shasta, cực bắc tiểu bang California, giáp ranh Origon, trên độ cao 4000 feet, gồm khu nhà tăng ni và khu cư sĩ riêng biệt. Khu tăng ni thì tôi không được vào coi, theo như hình ảnh cho thấy thì đời sống tu hành của họ đạm bạc, gọn gàng, cũng như những thiền viện cổ xưa bên Nhật, hoặc bên Tầu, với cái giường dài thoòng, chia ra cho mỗi người một khúc, chạy theo giường là cái tủ dài, cũng chia ra theo với cái giường, coi như đầu giường, để đựng quần áo cá nhân, mà thôi.

Khu cư sĩ là một căn nhà dài, chia ra làm hai khu Nam và Nữ, giữa là phòng uống trà. Mỗi bên chạy dài hai dẫy phòng cho cư sĩ ở, có người thường trú quanh năm, có người chỉ lưu lại trong khoảng thời gian mỗi khóa retreat, thường là một hoặc hai tuần. Ngoài ra, ai muốn ở lâu mau, tùy ý, chỉ cần liên lạc với tu viện để sắp xếp.

Trong hai lần lưu ngụ trên đó, tôi đều thấy các sư thường trú gồm khoảng gần 30 vị, và cư sĩ thường trú chừng 20 vị, có một lần gặp kỳ retreat, tôi thấy cư sĩ từ các nơi xa đến, đông cỡ gần một trăm vị

Tu viện đặt sự hành trì lên rất cao. Phần lớn thời gian dành cho tọa thiền, thiền hành, và working meditation, cũng chỉ là làm những việc thường ngày trong tu viện, mục tiêu để luôn luôn giữ được sự tỉnh giác, sống ngay trong hiện tại, không để tâm lang thang về quá khứ hoặc tương lai. Mọi người đều rất tôn trọng sự tu hành của người khác, và giúp đỡ nhau tối đa. Trong một lần tôi ở trên đó, một hôm tôi bị xoắn bắp thịt lưng, đau quá, vậy mà thấy tôi không đi được, suốt mấy ngày trời, mọi người dìu tôi lên thiền đường, xa cỡ 100 mét, để tôi không bị gián đoạn tọa thiền. Mà nào đã xong, tôi đau quá, không ngồi được, các sư và bạn đạo lại sắp xếp, dìu tôi nằm xuống để tâm tọa. Sau khi sống với các vị tu sĩ trên đó mấy tháng trời, tôi cảm động xác nhận rằng họ là những người tràn ngập lòng từ bi, mọi người cư xử với nhau rất bình đẳng.

Mỗi ngày mọi người dùng bữa ba lần, ăn trong hoàn toàn yên lặng, có cử hành tam đề, ngũ quán. Tuy ăn chay lacto ovo, tức là có trứng và sữa (vì hầu hết cư sĩ đều là người Mỹ, mới tập ăn chay theo đạo Phật), nhưng các sư nấu thêm đồ ăn không có trứng và sữa cho người kiêng kỹ.

Các sư săn sóc người già, bệnh, không phân biệt giầu nghèo, và tiền mọi góp để đến ở là tùy hỉ, tự động bỏ vào cái hộp đề là Begging Bowl, không cần phải đưa cho tu viện, tránh người nghèo tủi thân. Nếu cư sĩ đã thường trú hai năm, muốn xuất gia, sẽ được tiếp đón nồng nhiệt vào tăng đoàn.

Trong hai lần ở trên tu viện Shasta, dù tôi là người VN độc nhất, xa lạ, nhưng tôi cảm nhận cách tu viện đối xử với tôi hoàn toàn bình đẳng.

Tu viện có một nghĩa địa chôn chó mèo v.v…, khắp khu chung quanh đem chôn xác pet của họ, rồi họ tới thăm mộ, nghe các sư giảng về lòng từ bi, bình đẳng của đạo Phật đối với toàn thể chúng sinh, có một số chuyển qua đạo Phật luôn.

Về phương pháp hành trì, tu viện Shasta theo truyền thống từ Tổ Tào Động của Nhật Bản, đại sư Đạo Nguyên, viết trong cuốn Shobogenzo (Chánh Pháp Nhãn Tạng), là Phật tánh (trên đó gọi là Buddha Nature, Buddha Mind, True Mind) vốn sẵn sàng, khắp nơi, thường hằng. Chỉ vì ta đã để cho mọi hoạt động trong đời sống hằng ngày liên tiếp lôi kéo, khiến cho tam độc tham, sân, si chi phối, tạo nghiệp liên tục, như con tầm dệt cái kén để tự nhốt mình vào trong, thấy thế giới chỉ còn là phạm vi cái kén, chúng ta thì tạo nghiệp, trả quả báo, nên sống hết kiếp này tới kiếp khác trong mê. Tọa thiền là trở lại sự bình thường, vĩnh hằng, phi không gian thời gian, của TÂM. Mà vì TÂM ở mọi nơi, mọi lúc, nên có thể tự hiển lộ (họ dùng chữ “manifest itself”). Chính vì không đuổi theo cái sanh diệt liên tục, nên có từ ngữ tạm dùng gọi là quán chiếu tâm, rồi lại có người cho là hành giả Tào Động Nhật Bản nhìn vào tâm tưởng như là mặt trăng, im lặng nhìn cái mặt trăng đó, nên gọi là mặc chiếu. Theo quan niệm thực tế của tôi trong vài tháng ở trên đó, tôi chưa hề nghe sư nào dậy ngồi “quán chiếu” như vậy, mà chỉ dậy rằng vì tâm vốn sẵn, đầy đủ quanh ta, nên nó sẽ “manifest itself”, khi có cơ duyên.

Tọa thiền theo tu viện Shasta (zazen) là ngồi lặng lẽ, lưng thẳng, mắt mở hé cho khỏi ngủ, ngó mông (nghĩa là nhìn bâng quơ) cách khoảng 1 mét, tất cả mọi sự việc của thế gian trôi qua cứ để tự nhiên, theo thí dụ như một người ngồi dưới chân cầu, bao nhiêu xe cộ chạy qua, dù tai có nghe, nhưng không phải chuyện mình quan tâm, nên cứ để kệ, thế thôi, đối với họ, như thế là mình trở về nguồn tâm.

Đây là tôi tóm tắt, nhưng cách ngồi cũng có qui tắc để không bị phát những bệnh như đau lưng, tức ngực v.v…, do ngồi nghiêng vẹo v.v…

Một đặc điểm của tu viện Shasta là có rất nhiều tượng Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, bầy ở khắp nơi, (các tượng chư Phật, chư Bồ Tát khác cũng có, nhưng ít thôi). Tôi có hỏi lý do thì các sư trả lời là :” Tượng Ngài khắp nơi để nhắc chúng ta là tất cả chúng ta đều có thể hiển lộ tâm từ bi bất cứ lúc nào, và vì chúng ta sống trong thế giới cùng với những sinh vật khác, nên chúng ta luôn luôn có cơ hội để thể hiện tâm đó, chúng ta thì hay quên, nên tượng để nhắc nhở”.

Không những từ bi với sinh vật, ngay đối với đồ vật, mọi hành động thí dụ đặt món đồ xuống, đóng cánh cửa, v.v…, đều được yêu cầu làm thật nhẹ nhàng.

Đời sống trong tu viện rất êm ả, gặp nhau là chắp tay xá, không có đảnh lễ, cư sĩ xá sư thì sư xá lại. Ít khi có tiếng nói lớn, thường chỉ vừa đủ nghe tuy rằng thiền viện rộng lớn.

Thời khóa biểu của tu sĩ thì tôi không được biết, nhưng chỉ biết họ thức dậy lúc 3:30 AM

Thời khóa biểu của cư sĩ trong thời gian tôi ở đó thì sáng dậy từ 6 giờ, tối đi ngủ lúc 10 giờ, được chia ra để làm các việc như tọa thiền tại thiền đường, khóa lễ buổi sáng, dọn dẹp trong ngoài chùa, dùng bữa sáng, đọc sách, thiền trong lúc làm việc, thiền tập tại khu cư sĩ, bữa trưa, nghỉ trưa,thiền làm việc, khóa lễ chiều, bữa chiều, nghỉ ngơi, tọa thiền và khóa lễ ngắn, trà đàm, có sư tới nhà khách để giải đáp thắc mắc, tắt đèn lúc 10 giờ. Những giờ như “nghỉ”, “đọc sách”, ai thích thay thế bằng tọa thiền thì đã có thiền phòng trong dẫy nhà cư sĩ.

Trong tuần lễ retreat mà tôi có tham dự, thời khóa biểu được tăng thêm thời gian tọa thiền, và hằng ngày có “độc tham”, (tức là gặp riêng vị sư có trách nhiệm, để được giải đáp về những kinh nghiệm tâm linh, nếu có).

Cuối kỳ retreat, tất cả mọi người đều được mời gặp riêng vị sư đó. Tôi trông thấy một bà cụ đi từ phòng độc tham ra, vừa đi vừa khóc. Bà cụ sau này hẹn sẽ gặp tôi trong kỳ retreat tới, với nét mặt tưng bừng, rạng rỡ. Có lẽ bà cụ đã tìm thấy một niềm tin sâu sắc về mặt tâm linh, hoặc là vị sư đã giải tỏa nỗi ẩn ức, niềm thống khổ nào đó của bà cụ.

Có thể vì thói quen của người Mỹ là tôn trong sự riêng tư (privacy), nên tuy trong bản qui chế chỉ dặn sơ qua, mà suốt thời gian tôi ở trên đó không ai hỏi gia cảnh, nghề nghiệp vân vân, của tôi. Mà tôi cũng rất hiếm thấy cảnh vài người rù rì tâm tình, tuy là phong cảnh thiên nhiên đẹp vô cùng với những dẫy núi mây giăng, sương tỏa, cảnh mặt trời chiếu trên đỉnh núi tuyết trắng xóa, rực rỡ như khối kim cương khổng lồ óng ánh …………

Kính thưa quý vị,

Câu chuyện tâm tình của đạo hữu Danny Việt đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý khán thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 9 – Tự thanh tịnh Tâm Ý

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý thính giả,

Trong những kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình bày với quý vị bài kệ tóm tắt con đường tu hành của người Phật tử, như sau:

“Không làm những điều ác

Siêng làm những việc lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Lời chư Phật dạy rành”

“Không làm những điều ác” và “Siêng làm những việc lành” là phần đạo đức thế gian, không riêng đạo Phật, mà hầu hết các tôn giáo và các nền giáo dục trên khắp thế giới đều dạy. Duy câu “Tự thanh tịnh tâm ý” thì mới chính là đặc điểm riêng biệt của đạo Phật. Bởi vì, nội dung của “tự thanh tịnh tâm ý” có nghĩa là chấm dứt tất cả những lôi cuốn của Tham, Sân và Si, vốn là nguyên nhân của tất cả mọi nỗi thống khổ trên đời.

Kinh Phật nói: “Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu”, câu đó có nghĩa là khi tâm đã tịnh là đã bạch hóa được nghiệp chướng tích lũy từ vô lượng kiếp. Tội là những nghiệp ác. Tâm đã tịnh rồi thì cũng có nghĩa là tất cả nghiệp thiện và ác đều đã tiêu dung, không còn nghiệp nhân để tái sinh, là chấm dứt được dòng sinh tử, ra khỏi vòng luân hồi. Tóm lại, là hoàn tất được bước thứ tư trong bốn Chân Lý Thâm Diệu, là Diệt Khổ.

— Vậy thì, làm thế nào để có  thể  “tự thanh tịnh tâm ý?

Đây là một câu hỏi rất hay mà một vị thính giả đã gửi về cho chúng tôi. Bức thư có đoạn như sau:

– “Tôi thường nghe nói rằng đạo nào cũng như nhau, cũng dạy ăn hiền ở lành. Nay nghe quý vị phân tích rõ ràng chỗ đặc biệt quan trọng của đạo Phật là “tự thanh tịnh tâm ý”. Vậy chúng tôi muốn quý vị chỉ cho chúng tôi cách làm thế nào để có thể tham dự vào phần “tự thanh tịnh tâm ý” của nhà Phật. Hiện nay chúng tôi còn gia đình đùm đề, công việc ngập đầu, vậy có cách nào để tu từ từ, chứ chẳng lẽ bỏ hết tất cả để lên núi tu luôn được sao?”

Trước hết, chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng chúng tôi xin cảm tạ vị thính giả đã gửi về câu hỏi rất thiết thực này. Điều đó chứng tỏ là quý vị quan tâm tới nội dung những lời Phật dạy và bản thân quý vị cũng thiết tha muốn thực tập theo những lời dạy đó.

Kính thưa quý vị,

Nội dung câu “Tự thanh tịnh tâm ý” đã nói lên rất rõ là muốn tiến bước trên con đường giác ngộ của nhà Phật thì phải “tự mình thanh lọc tâm mình”. Tâm ý thì luôn luôn trôi chảy, nhảy nhót, cho nên nhà Phật mới gọí tâm chúng sinh là “tâm viên ý mã”, nghĩa là “tâm như vượn, ý như ngựa”, ngày đêm bị vướng mắc với đủ mọi loại chuyện vui buồn, không hề có lúc nào ngưng, không có một phút giải thoát.

Vì thế, đức Phật và chư Tổ mới nghĩ ra những pháp môn phương tiện để chúng sinh có thể thực tập từ từ  ngay tại nhà, ngay trong đời sống bận rộn, thí dụ pháp môn mỗi tháng tu một ngày gieo duyên như Thọ Bát Quan Trai Giới. Giới tử sống một ngày trong chùa, giữ giới thanh tịnh y như các vị tăng ni. Do tin sâu nhân quả, Phật tử tin rằng có nhân tu hành một ngày thì trong tương lai, nhân đó sẽ trổ ra thiện quả có thể tu tới giác ngộ, giải thoát.

Ngoài ra, tại các chùa, thiền viện, tự viện, tịnh thất, quý vị tu sĩ Phật giáo thường tổ chức các khóa thiền, các khóa niệm Phật gọi là thiền thất, Phật thất vào dịp cuối tuần, hoặc mùa hè, hoặc ngày nghỉ lễ. Mục đích là để có những khoảng thời gian cho tâm được giảm bớt căng thẳng và tạo thói quen thiền tập, tịnh tâm, xả bỏ những tạp niệm. Cũng như cơ thể cần tắm rửa hằng ngày, tâm cũng cần những giây phút trống vắng để thanh tịnh hóa.

Sau một thời gian tham dự những khóa thiền thất, niệm Phật thất, hành giả đã quen với những giây phút quán chiếu nội tâm, thường có khuynh hướng muốn thiết lập một góc để tọa thiền tại nhà, mỗi ngày tới ngồi chừng 10 phút, dần dần tăng lên nửa giờ, hoặc hơn nữa. Thời gian ngồi là hai phần ba, sau đó đứng lên đi thiền hành. Như thế, thân và tâm đã có thể hòa nhập trong bầu không khí an lạc, giải thoát khỏi những suy tư trói buộc, ít nhất là một khoảng thời gian ngắn mỗi ngày, là những bước đầu.

Để có thể tịnh tâm bất cứ lúc nào, tại bất cứ đâu, thì có pháp môn Niệm Phật, thường gọi là pháp môn Tịnh Độ. Pháp môn này có nhiều cách tu, một trong những cách đó là dùng câu Phật hiệu để hóa giải tạp niệm. Nhà Phật gọi là “Niệm Phật thì không niệm chúng sinh”. Niệm chúng sinh là những suy nghĩ miên man trói buộc tâm tư vào dòng đời. Dù trong chốn ồn ào náo nhiệt, hành giả có câu Phật hiệu để âm thầm niệm lên trong tâm, là được giải thoát ngay ra khỏi những ưu phiền của thế gian.

Nhà Phật có rất nhiều pháp môn phương tiện phù hợp với căn cơ của chúng sinh. Điều chúng ta cần phải làm là tìm coi pháp môn  nào phù hợp với bản thân để có thể thực tập được, có thể thanh tịnh hóa tâm ngay bây giờ, thì bắt đầu ngay, dù mỗi ngày chỉ mới tập được một thời gian ngắn. Mọi việc dù lớn lao tới đâu cũng đều có những bước khởi đầu nho nhỏ, rồi dần dà mới phát triển, miễn là mỗi ngày đểu có tiến thêm.

Đạo Phật là phương pháp luyện tâm để chấm dứt khổ, là pháp thực hành. Nếu chỉ dùng sự hiểu biết đạo Phật để nói lý thuyết suông thì hoàn toàn vô ích, đã không được hưởng phần tinh túy từ những lời dạy của đức Phật, còn tăng trưởng lòng kiêu ngạo về sự hiểu biết vô dụng của mình.

Thưa quý thính giả,

Để có thêm khái niệm về “thanh tịnh hóa tâm”, chúng tôi xin giới thiệu với quý vị thiền sư Satya Narayan Goenka, một người đã tận tụy gần suốt cuộc đời vì công cuộc thanh tịnh hóa tâm chúng sinh, bằng cách phổ biến và giảng dạy pháp môn thiền Vipassana, tức là Minh Sát, một pháp thiền Nguyên Thủy rất phổ biến tại các quốc gia theo truyền thống Phật giáo Nam Tông.

Thiền sư Goenka sinh trưởng tại Miến Điện, song thân là người Ấn Độ. Gia đình ông theo Ấn Độ giáo. Ông là một kỹ nghệ gia, hội trưởng hội thân hữu Miến Ấn.

Do bị bệnh nhức đầu kinh niên, dù đã chạy chữa nhiều nơi mà bệnh không giảm, ông tham dự khóa thiền Vipassana do thiền sư U Ba Khin, một vị thiền sư cư sĩ danh tiếng tại Miến Điện hướng dẫn, hy vọng chữa trị được căn bệnh. Chính nhờ sự chỉ dẫn tận tâm của thày và tinh thần tích cực trong hành thiền mà bệnh ông giảm dần rồi tan biến luôn.

Sau 14 năm thiền tập với thiền sư U Ba Khin, vào năm 1969 vâng lời thày, ông trở về Ấn Độ, nơi quê hương của đức Phật, để mở trường dạy lại cho những người dân Ấn Độ đã lạc đường tu, không còn biết đến giáo pháp mà khi xưa đức Phật đã hành trì để đạt giác ngộ. Ông muốn báo đáp ơn đức Thế Tôn bằng cách truyền bá lại phương pháp tu tập để Diệt Khổ.

Dù trên mảnh đất quê hương vẫn còn nạn chia rẽ gay gắt, những khóa thiền Vipassana do ông hướng dẫn vẫn lôi cuốn được nhiều ngàn hành giả từ khắp các miền đất nước về tham dự. Ngoài ra, còn có rất nhiều người hâm mộ đến từ nhiều nước trên thế giới để thực tập.

Với trên 300 khóa tu tập tại Ấn Độ và tại nhiều nước khác từ Đông sang Tây phương, thiền sư Goenka đã dẫn dắt hàng nhiều chục ngàn hành giả trên con đường luyện tâm.

Vì số thiền sinh ngày càng đông, ông phải kiếm thêm nhiều phụ tá để giúp đỡ trong việc phát triển. Dưới sự hướng dẫn của ông, các Trung Tâm tu thiền được mở ra tại Ấn Độ, Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Pháp quốc, Anh quốc, Nhật Bản, Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Nepal, và nhiều nước khác nữa.

Thiền sư Goenka dạy thiền theo phương pháp truyền thống mà khi xưa đức Phật đã dạy. Ông nói rằng đức Phật khi xưa không hề dạy môn phái tôn giáo, mà Ngài dạy Phật pháp — là con đường giải thoát — vốn không có biên giới. Theo tôn chỉ đó, thiền sư Goenka cũng duy trì đường lối phi môn phái. Đó là lý do ông đã thu hút được rất nhiều người xuất thân từ đủ mọi thành phần xã hội, tôn giáo hoặc không tôn giáo và đến từ nhiều địa phương trên thế giới.

Với con số hành giả thực tập Vipassana tại các trung tâm thiền dưới sự điều khiển của ông ngày càng đông đảo, thiền sư vẫn  cố gắng giữ cho toàn bộ hệ thống không trở thành một môn phái tôn giáo. Ông nhấn mạnh là sự phát triển lớn mạnh phải mang lại lợi ích cho mọi người, không phải lớn mạnh chỉ để mà lớn mạnh, để phục vụ cho một niềm tin mù quáng. Mục tiêu của ông là phổ biến phương pháp tu hành của đức Phật ngõ hầu đem lại lợi ích cho càng nhiều người càng tốt. Ông tin rằng đó mới chính là bản hoài của đức Thế Tôn, chứ không phải chỉ để cho giáo phái hoặc hệ thống của mình lớn mạnh.

Ngoài sự tận tụy hướng dẫn hành thiền, ông còn viết trên mười cuốn sách về phương pháp thanh tịnh hóa tâm, dựa theo ý trong kinh Phật.

Sau đây, chúng tôi xin trích dịch bài nói chuyện của thiền sư Satya Narayan Goenka với chư Tăng Ni tại Dharma Drum Monastery, Đài Loan, năm 1998, đề tài là “Cách tỏ lòng tôn kính hợp giáo pháp”.

Thiền sư Goenka nói:

…”… Thật là vạn hạnh cho tôi, một lần nữa được gặp lại đại sư thánh thiện và chư vị ưa chộng pháp hành thiền. Nhìn thấy quý vị ngồi trong tư thế hoa sen, tôi nhớ tới chuyện một lần có người hỏi đức Phật rằng

— “Làm thế nào chúng tôi có thể tỏ lòng tôn kính đối với đấng Giác Ngộ “?

Trỏ ngón tay về phía chư Tăng Ni đang tọa thiền, Ngài nói:

— Đây là cách tỏ lòng tôn kính với bậc Giác Ngộ.

Cách tỏ lòng tôn kính thích hợp nhất đối với bậc Giác Ngộ là tích cực thực thi lời Ngài dạy. Lời Ngài dạy là tọa thiền và tỉnh giác trước các hiện tượng xảy ra trong tâm, để kinh nghiệm những ô nhiễm gợn lên, phát triển, chi phối tâm chúng ta và làm thế nào để chế ngự và chuyển hóa thói quen của tâm. Quá trình này đức Phật gọi là Thiền Minh Sát, hoặc là Thiền Quán, nghĩa là quán sát thực tế xảy ra đúng như nó đang như thế, trong trạng thái đích thực của nó, — chứ không phải “tưởng rằng nó là như thế”, — quán sát bên trong thân mình và sự tương quan giao động giữa thân và tâm trong từng khoảng thời gian ngắn ngủi.

Vào thời Phật còn tại thế, có rất nhiều pháp tu thiền định trên giải đất Ấn Độ. Có pháp môn đưa hành giả vào các trạng thái Định sâu thẳm, những tầng Định thứ bảy, thứ tám, là những cảnh giới mà Ngài đã học được từ các bậc thày đương thời. Nhưng Ngài đã nhận ra được rằng nếu chỉ đạt được các tầng Định thì không thể đưa Ngài tới mục tiêu hoàn toàn giác ngộ, giải thoát. Cho nên trong thời gian ngồi dưới gốc cây Bồ Đề, Ngài bắt đầu quán sát sự diễn biến ngay trong thân, tâm và triệt ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Công việc đầu tiên hành giả phải làm là quán sát hơi thở tự nhiên. Đó là thiền tỉnh giác về hơi thở. Quán sát hơi thở ra vô tự nhiên trên một điểm nhỏ ngay nơi cửa lỗ mũi, tâm hành giả sẽ càng ngày càng nhậy bén, nhỏ nhiệm và vi tế. Với cái tâm nhậy bén và vi tế, hành giả sẽ kinh nghiệm được những cảm giác khác nhau dù rất nhỏ ngay nơi nhân trung.

Rồi từ trụ điểm nhỏ xíu đó, hành giả bắt đầu quán sát khắp cả cơ thể, từ đỉnh đầu cho tới ngón chân rồi lại từ ngón chân chuyển sự quán sát trở ngược lên đỉnh đầu, để nhận rõ những cảm giác khác nhau trong cơ thể.

Có nhiều cảm giác khác nhau, khi thì rất thô, khó chịu và căng thẳng, khi thì rất nhỏ nhiệm, thoải mái, dễ chịu, lúc thì êm đềm trung bình, không gây ra cảm giác gì. Hành giả chỉ thuần túy quán sát mà không hòa nhập hay phản ứng, chỉ khách quan mà thấy.

Dần dà, hành giả sẽ nhận ra được thói quen phản ứng của mình, đối với cảm giác vui sướng thì thèm muốn, tham đắm hoặc đối với điều khó chịu thì chống đối, ghét bỏ.

Hành giả nhận chân được thực tế này, thấu suốt đặc tính của từng cảm giác vui hoặc khó chịu, thô thiển hay là vi tế hiện ra rồi biến mất, sinh diệt liên tục. Ôi ! Thật là vô thường! Hành giả bỗng trực nhận ra được tính cách vô thường, sinh diệt liên tục của tâm và vật. Lý vô thường xuất hiện càng lúc càng sáng rỡ, rõ ràng, bằng thực chứng của chính hành giả….”…

Thưa quý thính giả,

Trên đây là một phần bài nói chuyện của thiền sư Satya Narayan Goenka, người đang tận tụy phổ biến phương pháp tu hành để Diệt Khổ, hoàn tất Chân Lý Thâm Diệu Thứ Tư trong Tứ Diệu Đế của nhà Phật. Điều đáng thán phục nơi ông là tuy từ tôn giáo khác bước vào nhà Phật, mà ông đã nắm vững được lời dạy cốt tủy của đức Phật, là dạy con người cách tu hành để Diệt Khổ, càng nhiều người hết khổ càng tốt, chứ không đề cao phần hình thức suông. Ông chỉ chú trọng vào việc dạy phương pháp thực tập

Để kết thúc buổi phát thanh hôm nay, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả một giai thoại về niệm Phật, trích trong bộ Thiền Luận, tác giả là thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki, dịch giả là thượng tọa Thích Tuệ Sỹ. Câu chuyện như sau:

..”…  Một trong vô số tục gia đệ tử của Bạch Ẩn rất phiền muộn về cha già keo lận của mình, tâm ông chỉ theo việc làm tiền, chẳng chút bận tới đạo Phật. Y muốn Bạch Ẩn gợi cho một phương pháp nào để chuyển tư tưởng của cha y ra khỏi sự keo lận. Bạch Ẩn gợi lên đề nghị này : “Bảo lão già keo lận cứ niệm Phật mỗi khi ông nhớ đến, và sẽ trả cho ông mỗi lần tụng niệm là một tiền. Nếu trong một ngày ông niệm Phật được một trăm lần, ông sẽ có được một trăm tiền”.

Lão già nghĩ rằng đây là một cách bỏ tiền vào túi dễ nhất trong thế gian. Mỗi ngày ông đến Bạch Ẩn để được trả tiền do sự niệm Phật của mình, vì ông rất siêng năng trong vụ này, và cứ tái diễn như vậy rất nhiều lần. Ông bị mê hoặc với những thủ đắc của mình.

Nhưng chẳng bao lâu ông thôi không đến Bạch Ẩn để được trả tiền hằng ngày nữa. Bạch Ẩn sai người đi tìm hiểu xem người cha mắc chuyện gì. Thì ra bây giờ ông bị sự Niệm Phật lung lạc đến độ quên cả ghi nhớ. Ðấy là điều mà Bạch Ẩn lúc nào cũng chờ đợi nơi ông. Ngài dạy người con cứ để cho cha y ở một mình trong một thời gian, thử xem chuyện gì sẽ đến với ông nữa. Lời khuyên này được tuân hành, và trong vòng một tuần lễ, người cha thân hành đến kiếm Bạch Ẩn với cặp mắt ngời sáng, bộc lộ một kinh nghiệm tâm linh cực lạc mà ông đã trải qua …”…

Thưa quý thính giả,

Thiền sư Bạch Ẩn đã ứng dụng phương pháp giáo hóa của nhà Phật là “tùy duyên phương tiện hóa độ chúng sinh”. Câu đó có nghĩa là sự giáo hóa cần uyển chuyển, phù hợp với tình trạng thực tế. Tuy nhiên, “tùy duyên nhưng bất biến”, có nghĩa là về mặt hình thức thì uyển chuyển tùy theo với thực tế để giáo hóa nhưng mục tiêu cốt tủy của đạo Phật là giác ngộ giải thoát thì không thay đổi.

Pháp giáo hóa tùy duyên phương tiện này đã được giới thiệu nơi kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm Thí Dụ.

Trong kinh, đức Phật nói thí dụ ông nhà giầu kia có một đàn con đang chơi trong căn nhà chỉ có một cửa. Bỗng nhà phát hỏa. Ông phải nghĩ cách kêu các con ra gấp kẻo chết cháy. Mà các con lại chưa hề biết đến nguy hiểm của lửa. Cho nên ông phải dụ các con chạy ra bằng cách hứa sẽ cho chúng các thứ đồ chơi như xe dê, xe hươu, xe trâu. Nhờ vậy các con ông thoát được nạn lớn là chết cháy.

Ở đây, thiền sư Bạch Ẩn đã có kinh nghiệm tu chứng, nên ông biết rằng chỉ cần sau một thời gian tịnh tâm bằng cách chuyên chú niệm Phật, ông già kia sẽ kinh nghiệm được trạng thái tâm an lạc, hạnh phúc. Như thế là dùng phương tiện tùy duyên để giáo hóa chúng sinh, nhưng vẫn bất biến là ông già bước được trên con đường thanh tịnh, giải thoát.

Thưa quý thính giả,

Giai thoại niệm Phật đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

Bài 8 – Bản Tâm bất sanh bất diệt

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý khán thính giả,

Trong một kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã trình với quý vị lời khẳng định của đức Phật:

– “Này chư Tỳ kheo, bây giờ cũng như trước đây, Như Lai chỉ dạy về “Khổ” và về  “Con Đường Diệt Khổ”.

Tại sao Ngài có thể khẳng định như vậy?

– Xin thưa rằng vì Ngài đã thực chứng được cảnh giới Niết Bàn, tức là cảnh giới tâm thức bất sanh bất diệt. Từ sự thực chứng, Ngài truyền dạy lại chúng sinh những kinh nghiệm tu trì. Rồi tới chư đệ tử của Ngài, chư Tổ Sư, cũng từ sự thực chứng mà truyền dạy lại những kinh nghiệm, mục đích là để nhắc nhở, thức tỉnh chúng sinh, mong họ theo lời chỉ dạy mà thanh tịnh hóa tâm, để họ ra khỏi cơn mê vọng  Tham Sân Si, tạo nghiệp, trả quả báo, trôi lăn hoài trong vòng sinh tử luân hồi.

Một trong những kinh chuyên chở lời dạy cao quý này của đức Phật là kinh Lăng Nghiêm (The Surangama Sutra). Nơi kinh này, đức Phật dùng những thí dụ cụ thể về Tánh Thấy để giải thích cái bất sanh bất diệt. Tánh Thấy là khía cạnh ứng dụng của Tâm. Chúng tôi xin trích dịch một đoạn trong kinh The Surangama Sutra do Charles Luk dịch từ Hán văn sang Anh ngữ, như sau:

… “ …Khi ấy vua Prasenajit đứng dậy bạch với đức Phật :

— Bạch Thế Tôn, lúc trước chưa thọ giáo với Phật, đệ tử nghe nói rằng “khi thân này chết thì thành hư vô, gọi là Niết Bàn.” Mặc dù hôm nay đệ tử đã được Phật chỉ dạy, nhưng vẫn còn chưa hiểu rõ. Mọi người tại đây cũng đều mong được biết cách làm thế nào để nhận ra được Bản Tâm và chứng minh được rằng Tâm này ở ngoài vòng sanh diệt.

Phật hỏi :
— Đại vương ! Bây giờ tôi hỏi về cái thân máu thịt của ông hiện tại đây, nó bền chắc như kim cương, hay nó đổi thay và hư hoại ?

Vua đáp :
— Bạch Thế Tôn, thân đệ tử sẽ hư hỏng từ từ, cuối cùng sẽ hoại diệt và chết luôn.

Phật hỏi :
— Đại Vương, ông chưa chết, làm sao biết nó sẽ hoại diệt ?

Vua đáp :
— Bạch Thế Tôn, cái thân vô thường của đệ tử luôn luôn thay đổi, hư hoại dần, tuy là chưa chết, nhưng đệ tử vẫn đang nhìn thấy sự thay đổi, hư hoại không lúc nào ngưng, đang tàn tạ như lửa cháy lụi dần cho đến lúc hết củi.

Phật nói :
— Đúng vậy Đại Vương. Bây giờ ông đã già, so với lúc còn là đứa trẻ ông thấy thế nào?

Vua đáp :
— Bạch Thế Tôn, khi đệ tử còn là đứa bé thì da dẻ hồng hào, rồi lúc lớn lên thì khí lực dồi dào, sung mãn. Ngày nay già nua yếu đuối, thân hình gầy gò, trí óc chậm lụt, tóc bạc, mặt nhăn, cho nên đệ tử biết mình chẳng còn sống bao lâu, chẳng thể so sánh ngày nay với những ngày thanh xuân đầy ắp sức sống của đệ tử. Mà sự đổi thay này nó xảy ra một cách âm thầm, khó mà nhận thấy. Nhưng chính vì sự đổi thay liên tục đó, mà thân thể đệ tử trở thành già yếu như bây giờ. Bởi vì khi đệ tử 20 tuổi, tuy là còn trẻ, nhưng trông cũng đã già hơn lúc lên 10, rồi khi 30 lại già hơn 20. Bây giờ đệ tử đã 62, thì lại già yếu hơn lúc năm chục tuổi.

Bạch Thế Tôn, đây là đệ tử nói về sự thay đổi của từng thập niên, nhưng nếu nhìn kỹ hơn thì lại thấy sự thay đổi chẳng những xảy ra từng năm, từng tháng, từng ngày, mà thật ra là từng niệm, từng niệm nó đã dời đổi. Vì thế đệ tử biết thân này đang đi tới đích cuối cùng là hoại diệt.

Phật hỏi :

— Đại Vương, ông quan sát những cái đang thay đổi không ngừng và biết rằng ông sẽ chết. Nhưng ông có quan sát biết được trong thân ông có cái gì không thay đổi rồi chết chăng?

Vua chắp hai tay cung kính thưa :

— Bạch Thế Tôn, đệ tử thật tình không được biết !

Phật dạy:

— Bây giờ tôi chỉ cho ông thấy cái Bản Tâm không hề sinh diệt. Đại Vương, lần đầu tiên nhìn thấy sông Hằng, ông được mấy tuổi ?

Vua đáp :

— Khi lên ba tuổi, đệ tử được mẹ dẫn đi lễ thần Jiva. Lúc đi qua con sông, đệ tử được biết đó là sông Hằng.

Phật hỏi :

— Như ông mới nói, khi 20 tuổi, ông già hơn lúc lên 10, cho đến khi ông 60, ngày, tháng, năm trôi qua, cơ thể ông thay đổi theo từng niệm tưởng. Vậy năm lên 3 tuổi thấy sông Hằng và năm 13 tuổi thấy sông Hằng, hai “cái Thấy” đó có khác nhau không?

Vua thưa :
— Bạch Thế Tôn, cái Thấy thì cũng giống nhau, dù là lúc đệ tử mới lên 3 hay là khi đã 13 tuổi, mà ngay cho đến nay đã 62 tuổi, cái thấy cũng vẫn là thấy, cũng giống nhau thôi.,

Phật dạy :
— Ông thấy tóc ông bạc, mặt ông nhăn, hẳn là ngày nay ông có nhiều nép nhăn trên cơ thể hơn khi ông còn là đứa bé. Vậy hôm nay ông thấy sông Hằng, ông có nhận ra cái thấy của ông có “già” hơn cái thấy khi ông còn trẻ chăng?

Vua thưa :
— Bạch Thế Tôn , cái thấy thì luôn luôn vẫn vậy.

Phật dạy :
— Này đại vương, dù mặt ông già đi, nhưng cái “bản thấy” vẫn không già. Vậy cái nào có nhăn nhúm, có già đi, thì cái ấy bị biến đổi; còn cái nào không già, thì cái đó không biến đổi. Cái có biến đổi thì có hoại diệt, sinh tử. Cái không biến đổi thì bản chất nó không thuộc về quy luật sanh diệt, cho nên nó không bị luật này chi phối, nó không sinh diệt.

Vua Prasenajit cùng đại chúng nghe Phật dạy thì đều hiểu được rằng sau khi chết sẽ không phải là hư vô, hoàn toàn hoại diệt, mà sau khi bỏ xác thân này, tâm sẽ thọ thân khác, sẽ có cuộc đời khác, không phải mất hẳn.

Nhà vua cùng toàn thể đại chúng đều hớn hở vui mừng vì được nghe bài pháp từ trước tới nay chưa từng được nghe…”….

Thưa quý khán thính giả,

Đức Phật giảng bài pháp này để hóa giải sự hiểu lầm rằng con người ta sau khi chết sẽ hoàn toàn hoại diệt, mất tích vào hư vô. Quan niệm như thế là Chấp Đoạn. Ngài muốn giải thích cho tôn giả Ananda biết rằng ngoài cái hoại diệt còn có cái trường tồn. Mà đây lại là vấn đề rất khó giải thích, nên đức Phật đã phải dùng lời thưa hỏi của vua Prasenajit để làm sáng tỏ.

Không những vua Prasenajit không nhận ra được bản chất của sinh tử, mà nhà vua còn nhìn lầm rằng con người sau khi chết sẽ hoại diệt thành hư vô. Nếu nhà vua biết rằng chết chỉ là một ảo giác trong dòng đời, thì nhà vua đã nhận ra được rằng sinh  và tử chỉ là hai giai đoạn của dòng sinh tử triền miên, trong sinh đã có mầm mống của tử và sau tử lại có sinh trở lại, thay đổi trôi lăn hoài trong vòng quay sinh, trụ, dị, diệt, ….rồi lại tới sinh …

Nếu biết được điều này thì nhà vua đã thấu hiểu được cái Chân Thường — là Bản Tâm bất sanh bất diệt, như trong Bát Nhã Tâm Kinh đã nói “bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm…”

Để có thêm tài liệu về Tâm, chúng tôi xin kính gửi đến quý thính giả một bài pháp của thiền sư Soyen Shaku, trích dịch từ cuốn Sermons of a Buddhist Abbot, do học trò của ông là Daisetz Teitaro Suzuki dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Anh.

Thiền sư Soyen Shaku là vị thiền sư Phật giáo đầu tiên giảng dạy về đạo Phật trên đất Hoa kỳ. Ông thuộc dòng thiền Lâm Tế, là viện trưởng hai thiền viện Engaka-Ji  và Kencho-Ji, tỉnh Kamakura, nước Nhật.

Vào cuối thế kỷ thứ 19, năm 1893, thiền sư đã đến nước Mỹ và thuyết trình về Thiền của Phật giáo trong Hội Nghị các Tôn Giáo tại Chicago. Đầu mùa Xuân năm 1905, thiền sư trở lại nước Mỹ và ở lại cho đến tháng Tư năm 1906 mới rời nước Mỹ để qua Âu Châu thuyết giảng.

Trong thời gian trên một năm trời lưu ngụ tại Mỹ, thiền sư Soyen Shaku thể theo lời mời của các bằng hữu, đã giảng rất nhiều thời pháp. Thiền sư nói bằng tiếng Nhật, được thông ngôn qua tiếng Anh, chủ yếu là giới thiệu kinh Tứ Thập Nhị Chương và đại cương về giáo lý nhà Phật, tại nhiều địa danh, thí dụ San Francisco, Los Angeles, Sacramento, Fresno, San Jose, Oakland, Washington, New York, Philadelphia, Boston và nhiều nơi khác nữa trong nước Mỹ.

Kinh Tứ Thập Nhị Chương là kinh căn bản trong kho tàng kinh điển Phật giáo.

Cuối thế kỷ thứ 19 là thời gian các phương tiện truyền thông còn thô sơ, eo hẹp, sự tận tụy đi khắp nơi của ông để hoằng truyền Phật pháp và giải tỏa những sự hiểu lầm đạo Phật của người Tây Phương tại Mỹ Châu và Âu Châu, đã làm thay đổi nhãn quan của nhiều người. Thuyết giảng tại bất cứ nơi nào, ông cũng đều được thính chúng nồng nhiệt tán thưởng.

Những bài giảng của ông được tiến sĩ Daisetz Teitaro Suzuki, người đệ tử cùng một chí hướng như ông, đã tận tụy đem đạo Phật từ Đông Phương trải dài qua Tây Phương, dịch sang tiếng Anh.

Cả hai thày trò đều coi Đông Phương và Tây Phương cùng là nhà của mình.

Thưa quý khán thính giả,

Sau đây là bài pháp được trích dịch từ cuốn Sermons of a Buddhist Abbot của thiền sư Soyen Shaku:

…”… Nhà Phật nhìn thế giới dưới hai khía cạnh, vật chất và tâm linh. Trong thế giới vật chất, sinh và tử là quy luật tự nhiên, chi phối toàn bộ đời sống. Trong thế giới này, không có bất cứ cái gì có thể  tồn tại vĩnh viễn. Tất cả những gì xuất hiện dưới ánh mặt trời đều sẽ biến mất, nó biến hiện  nhanh thoăn thoắt như con chim đại bàng xà xuống quắp mồi. Mặt trời mọc rồi lặn, những dẫy núi cao vút rồi xụp xuống, đại dương dậy sóng rồi khô cạn, và ngay đến bản thân trái đất, cũng rung lên đùng đùng ngay trên nền của chính nó.

Trong thế giới vật chất, cái gì xuất hiện thì sẽ có ngày biến mất, đổi thay liên tục. Tóm lại, thế giới này chẳng có gì hơn là một sự liên tục đổi thay để trở thành cái mới.

Tính cách tạm bợ, không bền vững, là một trong những sự kiện phổ biến nhất trên cuộc đời. Chắc chắn rằng bất cứ ai có tầm nhìn sáng suốt đều phải nhận ra điều đó. Và nếu nhận chân được điều đó thì người ta sẽ không còn quá dính mắc với cái thế giới sinh diệt biến hiện liên tục này. Từ ý nghĩ đó, người ta ước ao một cảnh giới bình an vĩnh cửu.

Nhưng cái thế giới sinh diệt liên tục này có đáp ứng được nhu cầu về niềm mơ ước một cảnh giới vĩnh cửu không?

Phật giáo dạy chúng ta rằng có cảnh giới siêu việt mà nơi đó phần tâm linh được hoàn toàn giải thoát. Phật giáo cũng dạy rằng cảnh giới siêu việt này không bị giới hạn bởi vật chất, vì thế, không bị chi phối bởi quy luật sinh tử. Chỉ có những người đã giải thoát khỏi những tham đắm của thế giới hiện tượng, thì mới nếm được mùi vị của cảnh giới cao thượng. Núi có thể dời, biển có thể cạn, nhưng một nội tâm thanh tịnh thì sẽ vượt lên trên mọi sự thăng trầm, thảnh thơi trong trạng thái vĩnh viễn an lạc.

Vậy thì cái thế giới tâm linh thanh tịnh đó có tách rời khỏi thế giới vật chất này chăng? Nếu nó tách rời thì làm sao mà những con người phàm phu như chúng ta có thể nâng mình lên tới cảnh giới đó?

Chúng ta cần nhớ kỹ một điều là không có vấn đề siêu tự nhiên trong đạo Phật. Người Phật tử chân chính theo sát những sự kiện thực tế minh bạch, hiếm khi để cho mình nhắm mắt tin theo những người tự cho là có thẩm quyền siêu nhiên.

Thành ra đối với một số người, Phật giáo có vẻ như quá đơn sơ, không hấp dẫn, thiếu tính chất phong phú huy hoàng của trí tưởng tượng. Cho nên đôi khi người ta coi đạo Phật như là một ngành văn hóa đạo đức xã hội học, chứ không phải là tôn giáo. Vì người ta cho rằng không tôn giáo nào có thể tồn tại nếu không có niềm tin vào cái gì đó siêu nhiên, phép lạ, hay là những điều gì đó mà người ta không thể thực nghiệm hoặc giải thích một cách hợp lý.

Nhưng đức Phật đã khẳng định là những điều Ngài dạy đều không có gì khác thường, chỉ đơn giản là những sự kiện rõ ràng mà ai cũng có thể kiểm chứng. Ngài dạy rằng không phải chân lý được mở ra cho chúng ta thấy từ những nguồn xa lạ, bí hiểm, mà do chính chúng ta tự khám phá qua công năng hành trì thiền quán, thanh tịnh hóa tâm, điều mà bất cứ ai cũng có thể thực hiện được. Ngài cũng nhắc chúng ta rằng niềm tin đạo Phật không phải là mê tín mà là nhận định sáng suốt, niềm tin đó là chân lý đã được thực nghiệm, kiểm chứng, chứ không phải là niềm tin từ một nguồn giả tưởng nào đó do được mặc khải.

Phải chăng đó chính là nguyên nhân đã kết thành hoa trái là lòng khoan dung, từ bi, bất bạo động của nhà Phật….”…

 Thưa quý khán thính giả,

Trên đây là bài giảng của thiền sư Soyen Shaku. Trước khi ngưng lời, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị câu chuyện Thiền về pháp An Tâm của Sơ Tổ thiền tông Bồ Đề Đạt Ma dạy đệ tử là Nhị Tổ Huệ Khả.

Có lẽ quý vị đã có dịp nghe nói về Sơ Tổ, hoặc trông thấy ngài trong hình ảnh một vị sư Ấn Độ với bộ râu quai nón, đôi mắt xếch nhìn sâu thăm thẳm, vai vác một cây thiền trượng, đầu thiền trượng treo lủng lẳng một chiếc dép.

Hình ảnh ngài đã đi sâu vào tâm khảm dân chúng, nhất là giới văn học Phật giáo, như là một biểu tượng của tự do khai phóng, với câu tuyên ngôn sấm sét khi ngài mới đặt chân lên đất Trung Hoa:

Không lập văn tự
Truyền ngoài giáo lý,
Chỉ thẳng tâm ngưòi
Thấy Tánh thành Phật.

Từ Ấn Độ  vượt sóng tới đất Trung Hoa để truyền bá Ánh Đạo Vàng, người đầu tiên Sơ Tổ gặp là vua Lương Võ Đế. Nhà vua rất am hiểu giáo lý nhà Phật, thường khoác tăng bào ra ngoài ngự bào để giảng pháp cho dân chúng. Buổi sơ kiến, hai người đã không hiểu nhau vì Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma là một thiền sư đắc đạo, ngài dạy cái cốt tủy, thuộc về Phật thừa, Ngài dạy người tu hành để giác ngộ thành Phật. Vua Lương Võ Đế chỉ dạy về lý thuyết suông. Cũng có thể ví như nếu nói rằng “kinh sách như ngón tay để chỉ mặt trăng là giác ngộ Bản Thể” thì nhà vua chỉ nói về ngón tay trong khi Sơ Tổ chỉ thẳng vào mặt trăng, là Tâm.

Vì thế Lương Võ Đế không hiểu được Sơ Tổ. Ngài từ biệt vua băng qua sông Giang Bắc, thẳng đường tới nước Ngụy, lên núi Tung Sơn ngồi quay mặt vào vách đá chùa Thiếu Lâm chín năm, người đương thời gọi ngài là bích quán  Bà La Môn, nghĩa là ông Bà La Môn nhìn vách.

Một hôm, đệ tử của Sơ Tổ là Huệ Khả thưa:

– Bạch thầy, sao tâm con không an. Xin thày dạy con phép an tâm.

Tổ nói:

– Đưa tâm ra đây ta an cho.

Huệ Khả ngẩn người rồi thưa:

– Con tìm tâm mà không thấy.

Tổ dạy:

– Ta đã an tâm cho con rồi.

Ngay lập tức, Huệ Khả nhận ra được lối vào Đạo.

 Câu hỏi của Huệ Khả là nói về tâm sinh diệt suy nghĩ lăng xăng tối ngày. Nó vốn là Vọng. Trong hội giảng kinh Lăng Nghiêm, tôn giả Ajnata-Kaundinya gọi nó là khách trần, tới rồi đi. Vọng tâm này có thể ví như hình ảnh hiện trên máy truyền hình, hình này đi hình khác tới. Nhưng màn hình thì vẫn còn đó. Vọng tâm sinh diệt lăng xăng, tới rồi đi theo với cuộc đời ngắn ngủi phù du, nếu còn nghiệp chướng chiêu cảm tái sinh thì bỏ thân này sẽ qua thân khác, đến khi nào tu hành cho tới tâm được thanh tịnh thì sẽ là Thanh Tịnh Pháp Thân, là Chân Tâm, là trạng thái Niết Bàn.

Thưa quý khán thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc buổi phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.  Nếu quý khán thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý khán thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài 7 – Chân Tâm – Vọng Tâm

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý thính giả.

Thưa quý khán thính giả,

Trong một kỳ phát thanh trước, chúng tôi đã kính gửi tới quý vị đoạn mở đầu của bài Bát Nhã Tâm Kinh, thường gọi tắt là Tâm Kinh, mà có lẽ ít nhất một lần trong đời, quý vị đã từng tụng, hoặc nghe tụng, vì bất cứ một thời kinh nào, dù là ở chùa hay tại tư gia, cũng đều có tụng bài này.

Ngay câu đầu của bài kinh là:

“Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm bát-nhã ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai Không, độ nhất thiết khổ ách …”…

Bát-nhã ba-la-mật-đa là phiên âm của tiếng Phạn prajna paramita, còn được gọi là “trí-tuệ bát-nhã”. Tiếng Phạn prajna có nghĩa là trí tuệ, paramita nghĩa là “rốt ráo”, “qua bờ kia”. Trí-tuệ bát-nhã là một thuật ngữ của nhà Phật có nghĩa là “trí-tuệ rốt ráo”. Trí tuệ này không do học nhiều hiểu rộng chuyện thế gian mà phát triển, nhưng từ công năng thiền quán thâm sâu mà trực ngộ.

Câu kinh trên được giải thích là “Bồ Tát Quán Tự Tại do thực hành thiền quán thâm sâu mà trực ngộ rằng ngũ uẩn (tức là toàn thể thân và tâm) vốn chỉ duyên với nhau mà xuất hiện, bản chất là “Không”, do đó, không còn bám víu, nên giải thoát khỏi tất cả mọi nỗi thống khổ”.

Bài kinh này được coi là quan trọng vì rất cô đọng, chỉ gồm có 260 từ ngữ  thôi, mà giới thiệu được điều cốt tủy của đạo Phật, là Tâm.

Tâm này, theo Luận Đại Thừa Khởi Tín, tác giả là luận sư Mã Minh, thì vốn có hai mặt là Tâm Chơn Như (nói gọn là Chân Tâm) và Tâm Sanh Diệt (nói gọn là Vọng Tâm). Tuy có hai tên gọi, nhưng không phải là 2 tâm, cũng như nước và sóng, tuy gọi bằng 2 tên, có hai dạng khác nhau, nhưng đều là nước, chỉ khác nhau là trong thể tĩnh và động mà thôi. Hai tâm này không rời nhau và bao trùm tất cả mọi sự, mọi vật, trên thế gian, cả những cái có hình tướng và những điều không có hình tướng.

Tâm Chơn Như thì bất sanh bất diệt, nên gọi là Như, là Chân Tâm. Tâm Sanh Diệt thì tùy theo sự suy nghĩ mà khởi, nên gọi là Vọng Tâm. Vọng Tâm tức là tâm ý thức của chúng ta liên miên trôi chảy, suy nghĩ liên tục, như dòng suối không lúc nào ngưng, nên còn gọi là “dòng suối ý thức”.

Thưa quý khán thính giả,

Có người quan niệm rằng “Suy nghĩ là hiện hữu”. Nhà Phật cho rằng “suy nghĩ chỉ là phần Vọng của Tâm, như lớp sóng nhồi trên biển cả. Không suy nghĩ là hội nhập toàn thể biển cả, là Chân Tâm, là Trí Tuệ Bát Nhã”.

Công cụ của Vọng Tâm là Ngũ Uẩn, là “năm món ngăn che” như sau:

Sắc Uẩn, là phần hình hài vật chất, gồm bốn thành tố là:

Chất cứng, thuật ngữ nhà Phật gọi là Địa Đại, tạo thành thịt da xương cốt, vân vân..

Chất lỏng, nhà Phật gọi là Thủy Đại, tạo thành máu huyết, nước mắt, nước tiểu, vân vân…

Chất hơi, nhà Phật gọi là Phong Đại, tạo thành hơi thở, vân vân…

Chất nóng, nhà Phật gọi là Hỏa Đại, tạo thành sự ấm áp của cơ thể, vân vân…

Nói gọn thì phần cơ thể vật chất của con người là do bốn thành tố này họp lại, nên nhà Phật thường nói “cái thân tứ Đại”. Sắc Uẩn gồm tất cả những cơ quan như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể con người, còn gọi là Thân Căn.

Thọ Uẩn, là phần cảm giác, vui buồn khi đối trước cảnh.

Tưởng Uẩn, là phần nhận biết cảm giác, âm thanh, màu sắc, mùi vị, ý niệm, vân vân…

Hành Uẩn là phần tác ý, tạo nghiệp.

Thức Uẩn, là môi trường nhận biết để cho Thân Căn và đối tượng có thể duyên sanh với nhau mà hoạt động, gọi là bộ ba Căn, Trần và Thức.

Thí dụ khi một người nghe thấy tiếng trống, thì tai là Căn, tiếng trống là Trần và  duyên sanh giữa Căn và Trần khiến người đó nghe được, là do sự hiện hữu của Thức.

Căn có Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý Căn, tức là Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân và Ý Căn.

Thức tùy duyên theo Căn nào thì đổi thành Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân và Ý Thức, chứ không phải là một thể cố định. Về điều này, đức Phật đã dạy rõ như sau:

– “ Thức do các duyên với điều kiện mà sinh khởi chứ không cố định. Nếu không có duyên thì không có Thức sinh khởi. Thức được gọi tên tùy thuộc vào điều kiện nó duyên theo, do con mắt và cảnh vật mà Nhãn Thức duyên, do tai nghe và tiếng động mà Nhĩ Thức duyên, vân vân. Thí dụ ngọn lửa được gọi tên theo nguyên liệu, lửa cháy bằng củi gọi là lửa củi, cháy bằng rơm gọi là lửa rơm. Thức cũng thế, tùy theo điều kiện tương ứng mà nó có tên, thí dụ ở mắt là Nhãn Thức, ở tai là Nhĩ Thức, ở mũi là Tỷ Thức, vân vân”.

Hành giả thiền quán thâm sâu, tâm thức trở nên thanh tịnh, bất chợt xảy ra đột biến, trực nhận rằng tất cả những thành tố của năm nhóm tạo thành Ngũ Uẩn vốn chỉ là “Không”, do duyên với nhau mà tạo thành mọi sự, hợp tan không cố định, cho nên không còn bám níu và vì thế mà tự giải thoát khỏi mọi nỗi thống khổ.

Thưa quý khán thính giả,

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là người đầu tiên đã thực hiện thành công quá trình tu chứng đó.  Vốn là một vị hoàng tử Ấn Độ thời phong kiến, được vua cha đặc biệt cưng chiều, thái tử Tất Đạt Đa đã từng sống một cuộc đời cực kỳ xa hoa. Sau khi chứng kiến 4 trường hợp sinh ra, già đi, bệnh tật rồi chết, ngộ được lý vô thường, Ngài khởi tâm đi tìm đường giải thoát cho chúng sinh, thực tập những pháp tu tập cực kỳ gian nan, khổ hạnh, ròng rã 6 năm trời, tới nỗi đã đứng bên ngưỡng cửa của tử thần. Từ kinh nghiệm bản thân, Ngài nhận định rằng cả hai lối sống — xa hoa và cực khổ, hành xác — đều không phải là con đường đúng trong công cuộc luyện tâm để giải thoát, Ngài khởi sự theo đường lối Trung Đạo, ăn uống vừa đủ để nuôi sống thân thể trong khi chú tâm nỗ lực hành thiền.

Sau một thời gian hành trì thiền quán dưới gốc cây Bồ đề, dòng suối ý thức đã lắng đọng, vào buổi sáng ngày thứ 49, khi Sao Mai mọc trên nền trời, Ngài chợt bừng tỉnh, ra khỏi cơn mê vọng của thế giới hiện tượng duyên sinh, trực ngộ cái mà chúng ta tạm dùng danh từ để gọi lên, là Bản Thể, Chân Tâm, Phật Tánh, Giác Tánh, Phật Tâm, Buddha Nature, Buddha Mind, True Mind, True Nature, vân vân….

Từ sự giác ngộ đó, suốt gần 50 năm, cho đến lúc tạ thế, Ngài đã dùng rất nhiều pháp phương tiện để quảng bá đường lối tu tập thành công của Ngài.

Như chúng tôi đã trình bày, Bát Nhã Tâm Kinh là bài kinh tuy là rất ngắn, chỉ 260 chữ thôi, nhưng rất quan trọng, vì đó là bài kinh giới thiệu về Tâm.

Đoạn trích dẫn ở trên là nói về Vọng Tâm, biến hiện là do Ngũ Uẩn duyên nhau mà thành. Hành giả quán chiếu thâm sâu, trực nhận được rằng Ngũ Uẩn — tức là toàn bộ thân và tâm — bản chất là Không, chỉ nhờ biến hiện liên tục, như người cầm cây nhang một đầu cháy đỏ, quay tít thành một vòng tròn, thì đầu cây nhang đỏ xoay tròn làm thành vòng tròn mầu đỏ, tưởng như là có một vòng tròn mầu đỏ, mà thật ra chỉ là đầu cây nhang đang cháy di động, huyễn hiện lên thành hình vòng tròn đỏ mà thôi.

Kinh Hoa Nghiêm có bài kệ:

“Nếu người muốn biết rõ,

Tất cả Phật ba thời,

Phải quán tánh pháp giới,

Tất cả do TÂM tạo”.

Thiền sư Duy Tắc giải thích như sau:

– “Nói đến chữ TÂM cũng như hư không, vốn là thanh tịnh, vốn là thấu triệt, chẳng có hình dáng, chẳng có phương sở, bất diệt, bất sanh, bất động, bất biến. Vậy tại sao lại nói là duy tâm tạo?

Nguyên cái tâm này dù nói bất biến mà cũng là tùy duyên, vì tùy duyên nên năng tạo; nói tùy duyên là vì một niệm thình lình sanh khởi, hoặc tiếp xúc với ngoại cảnh, trong và ngoài cảm ứng với nhau, gọi là nhân duyên, có nhân duyên mới thành pháp giới. Nay dùng thí dụ để tỏ rõ :

Tâm như nước, pháp giới như làn sóng. Bản thể của nước vốn yên tịnh, chẳng phương sở, chẳng lay động, khi gặp gió thổi thì muôn ngàn làn sóng tùy sự tiếp xúc mà nổi lên. Vậy thì nước có thể tạo ra làn sóng, làn sóng do nước mà có; cũng như Tâm có thể tạo ra pháp giới, pháp giới do Tâm mà có vậy”.

Kính thưa quý vị,

Kinh Lăng Nghiêm, đức Phật giảng về Tâm. Nhờ sự giải thích rất chi tiết, kỹ lưỡng, chu đáo của đức Phật mà tôn giả A Nan cùng chúng đệ tử trong hội Lăng Nghiêm hiểu được rằng Tâm vô hình mà chu biến khắp mười phương.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phật khai thị cho chúng sinh ngộ nhập Tri Kiến Phật. Tri Kiến Phật là một cách gọi khác của Chân Tâm.

Kinh Lăng Già giới thiệu Tự Giác Thánh Trí, cũng là một cách gọi khác của Chân Tâm, Trí Tuệ Bát Nhã, Tri Kiến Phật.

Kinh Đại Bát Nhã giới thiệu Trí Tuệ Bát Nhã, cũng là một cách gọi khác của Chân Tâm.

Nỗ lực của đức Phật và chư Tổ là nhắc nhở, thức tỉnh chúng sinh, để họ ra khỏi cơn mê vọng  Tham Sân Si, tạo nghiệp, trả quả báo, trôi lăn hoài trong vòng sinh tử luân hồi.

Đức Phật đã khẳng định:

– “Này chư Tỳ kheo, bây giờ cũng như trước đây, Như Lai chỉ dạy về “Khổ” và về  “Con Đường Diệt Khổ”.

Ngài nói vậy vì Ngài đã có kinh nghiệm thực chứng, đã bừng tỉnh ra khỏi cơn mê, đã “ngộ nhập Tri Kiến Phật”, đã “chứng ngộ Thánh Trí, Trí Tuệ Bát Nhã, Chân Tâm”, đã “độ nhất thiết khổ ách”, đã “đi hết con đường Diệt Khổ” đã “hết khổ” và đang sống trong cảnh giới Hữu Dư Niết Bàn.

Đến đây, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính giả lời giải thích về Niết Bàn, trích trong cuốn “The Mind and the Way – Buddhist Reflections on Life”, tác giả là thiền sư Ajahn Sumedho.

Thiền sư Sumedho thế danh là Robert Jackman sinh năm 1934 tại Seattle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ. Sau khi tốt nghiệp đại học, thày gia nhập binh chủng Hải Quân Mỹ, ngành quân y, phục vụ trong cuộc chiến Triều Tiên. Sau bốn năm quân ngũ, thày trở lại nhà trường và tốt nghiệp 2 bằng M.A. về môn Viễn Đông Học và môn Nam Á Châu Học tại University of California, Berkeley, năm 1963. Sau đó, thày hoạt động trong hội Hồng Thập Tự và Tổ Chức Quốc Tế Phụng Sự Hòa Bình.

Vào năm 1966, do lòng ái mộ Phật Giáo, thày sang thăm Thái Lan và xin thọ giới Sa Di. Một năm sau, 1967, thày thọ giới Tỳ Kheo và từ đó, thày ở lại tu thiền theo hệ phái Nguyên Thủy suốt mười năm, dưới sự hướng dẫn của thiền sư Ajahn Chah, một bậc đạo sư danh tiếng của Thái Lan trong thời hiện đại. (Ajahn có nghĩa là bậc đại đức, là người có đức độ lớn.)

Năm 1977, nhận lời mời của giáo hội Phật giáo Anh Quốc, thiền sư Ajahn Chah đã dẫn theo thày Sumedho qua Anh. Sau đó, thiền sư Ajahn Chah để thày Sumedho ở lại chùa Hampstead tại Luân Ðôn để coi sóc tăng chúng tại đây. Năm 1979 chư tăng tìm thêm được một cơ sở hoằng pháp tại Sussex và thế là tu viện Chithurst ra đời.

Sự phát triển càng tăng mau dưới sự hướng dẫn của thày Sumedho. Năm 1984, Trung Tâm Phật Giáo Amaravati được thành lập ngay tại gần thủ đô Luân Đôn, Anh Quốc, cùng với các cơ sở Phật giáo khác được thành lập tại nhiều nơi thuộc miền Bắc và Tây Nam nước Anh. Đồng thời các chi nhánh thuộc hệ thống Giáo hội Phật giáo Anh Quốc cũng được thành lập tại các nước Thụy Sĩ và Tân Tây Lan, dưới sự chỉ đạo tinh thần của thày Sumedho.

Đề tài thày Sumedho giảng thường là các vấn đề thực tế, xảy ra trong đời sống hằng ngày. Thày giảng về cách hóa giải cơn giận dữ, sống hài hòa với thế giới và luôn luôn nhắc nhở thính chúng phải tỉnh thức trước sự vô thường trong cuộc đời. Thày dạy mọi người bước trên con đường giác ngộ giải thoát bằng thiền định, về sự xả bỏ những vướng mắc do Tham Sân Si gây ra và nuôi dưỡng tâm từ bi, khuyên khích sống cuộc đời thanh đạm, vân vân …

Sau đây là quan điểm của thày Sumedho về Niết bàn.

…“… Theo một số người thì Niết Bàn là từ ngữ để mô tả trạng thái sung sướng, ngây ngất, mê ly, như đang ở trên thiên đàng. Sự thực, Niết Bàn có nghĩa là “không bị những điều kiện tạo thành Sinh và Tử trói buộc”. Có nghĩa là đương sự đã hoàn toàn buông xả, đã giải thoát khỏi những trói buộc của tham lam, sân hận và si mê.

Đức Phật đã nói rõ rằng giáo pháp của Ngài là để dạy con người, những người có tinh thần trách nhiệm về đạo đức, những người thông tuệ. Vậy thì bạn có phải là một trong số người đó không? Nếu không thì, có lẽ tốt hơn, bạn hãy tu tỉnh lại.

Như vậy, Niết Bàn không phải là một trạng thái thần tiên siêu thoát ở trên trời, hoặc lơ lửng giữa không trung, hoặc trong kiếp sắp tới. Đức Phật luôn luôn nhắc nhở chúng ta về sự tỉnh thức, thấy rõ dòng đời đang trôi chảy như chính nó, ngay trong lúc này và tại nơi đây, trong phạm vi khả năng của con người.

Chúng ta cần quán chiếu thực trạng của đời sống, có thế chúng ta mới thực sự bắt đầu nhìn thấy chân lý, hơn là cứ suy đoán, tưởng tượng, tin hoặc không tin. Như thế, bạn sẽ có thể sáng suốt quán chiếu, thẩm thấu, thực nghiệm được trạng thái giải thoát, Niết Bàn, do đã thoát ra khỏi những dính mắc, trói buộc của đời sống….”…

Thưa quý khán thính giả,

Trước khi dứt lời, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị một câu chuyện Thiền, trích dịch từ cuốn Collection of Stone and Sand”, do thiền sư Muju viết bằng Nhật ngữ, dịch giả Paul Reps dịch sang Anh Ngữ. Câu chuyện như sau:

“Ngay trước khi Ninakawa từ trần, thiền sư Ikkyu đến thăm và hỏi ông:

– Để cho tôi độ ông, được không?

Ninakawa trả lời:

– Tôi đến đây một mình và ra đi một mình. Ông có thể giúp gì cho tôi?

Thiền sư Ikkyu trả lời:

– Nếu ông nghĩ rằng ông thật sự có đến có đi, thì đó là ảo tưởng của ông. Để tôi chỉ cho ông con đường mà ở đó không có đến và đi.

Với mấy lời khai thị này, Đạo lộ đã được thiền sư Ikkyu mở ra rõ ràng,  Ninakawa mỉm cười, nhẹ nhàng qua đời.”

Kính thưa quý vị,

Con đường “không có đến và đi” là con đường Niết Bàn. Bát Nhã Tâm Kinh đã nói: “… bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm…”, đó là Như Như, là Chân Tâm, Phật Tánh, Niết Bàn. Vì Bản Tâm, Giác Tánh, Phật Tánh của mỗi chúng sinh vốn cùng khắp không gian và thời gian, bất tăng bất giảm, nên gọi là Như, có nghĩa là không đi, không đến, mà vốn đã sẵn sàng, như kinh Viên Giác nói “trong quặng vàng vốn đã có vàng”.

Chỉ một lời khai thị, thiền sư Ikkyu đã cởi mở được tâm thức chấp chặt của Ninakawa, kéo ông ta ra khỏi cơn mê vọng về sinh tử luân hồi, về đến và đi trong cõi Ta Bà.

Thưa quý khán thính giả,

Câu chuyện Thiền đã kết thúc chương trình phát thanh hôm nay. Vì thời giờ có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.

Nếu quý khán thính giả muốn góp ý kiến, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý khán thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.