Archive | April 13, 2013

Sống và Chết

Đối với chúng ta, chết là hết, là bạn hoàn toàn chấm dứt với những ràng buộc, chấm dứt với tất cả moi thứ mà bạn đã gom góp trong cuộc đời. Bạn không thể đem chúng đi theo với bạn. Có thể là bạn muốn giữ chúng cho đến tận giây phút cuối cùng của cuộc đời, nhưng bạn không thể đem chúng đi theo với bạn.

Chúng ta đã chia cuộc đời ra thành hai mảng: sự sống và cái chết. Sự chia chẻ này đã mang lại cho chúng ta nỗi sợ hãi ghê gớm. Từ sự sợ hãi đó, chúng ta sáng tác ra đủ loại học thuyết, lý luận, để mà tự an ủi. Có thể chúng chỉ là những điều viển vông, hão huyền thôi, nhưng chúng đã làm cho chúng ta được an tâm biết bao! Ảo tưởng có thể đem lại sự thoải mái cho thần kinh. Nhưng mà, liệu có thể nào, đang khi chúng ta sống đây, chúng ta để cho những thứ mà chúng ta bị dính mắc vào chết quách đi không? Nếu tôi gắn bó vào với tiếng tăm, danh vọng của tôi, và sự chết thì luôn luôn đi theo kề ngay bên cạnh, mỗi ngày tôi mỗi già và tôi phát hoảng vì tôi đang sắp sửa mất tất cả. Vậy thì, liệu tôi có thể hoàn toàn giải thoát ra khỏi những ý niệm, danh vọng, mà người đời đã gán cho tôi chăng? Như thế, dù cho sự chết tới, nó cũng vẫn như sự sống đang tiếp diễn. Và vì vậy, sự chia cách giữa sống và chết không còn xa thẳm, chúng nó chỉ là một dòng liên tục, kề cận, nối liền với nhau.

Bạn có nhận thức được cái ý nghĩa về sự tuyệt đẹp của một ngày, hoặc chỉ một giây, nhưng trong đó không có sự gom góp, chất chứa, không có cái tâm lý gom góp, chất chứa không?

Bạn phải gom góp, chất chứa quần áo, tiền bạc, v.v…, đó là chuyện khác. Nhưng trong tâm tưởng, bạn không chất chứa những loại như sự hiểu biết, sự dính mắc, sự ràng buộc, rằng những cái này là “của Tôi”.

Bạn muốn thế không? Bạn có thật sự muốn làm cái việc nó sẽ khiến cho cái mâu thuẫn giữa sống và chết cùng với những nỗi niềm đau khổ, sợ hãi, khắc khoải, tất cả đều được chấm dứt chăng?

Trích: Total Freedom – The Essential Krishnamurti

Tác giả: J. Krishnamurti

Người dịch: Danny Việt

Sống Đơn Giản

Sống đơn giản không có nghĩa là chỉ việc điều chỉnh theo một khuôn mẫu. Phải rất thông minh mới có thể sống đơn giản, chứ không phải chỉ hùa theo một kiểu mẫu đặc biệt, dù nó có cái vẻ bề ngoài giá trị. Bất hạnh thay, phần lớn chúng ta lại chỉ bước vào sự đơn giản bằng cái vỏ ngoài. Thật là dễ dàng để chỉ sở hữu có chút ít đồ vật và thỏa mãn, an lạc với sự sở hữu ít ỏi đó, hơn thế, chia xẻ chút ít đó với người khác.

Nhưng mà, nếu chỉ biểu lộ được sự đơn giản qua những sự vật, những sở hữu bề ngoài thì chắc chắn không bao hàm sự đơn giản từ trong nội tâm. Với cái thế giới ngày nay, càng ngày càng có nhiều sự việc từ phía ngoài đổ lên đầu chúng ta. Đời sống càng lúc càng trở nên phức tạp. Để thoát khỏi tình trạng đó, chúng ta cố gắng từ bỏ hoặc lìa khỏi sự dính mắc bởi vật chất, bởi xe cộ, nhà cửa, hội đoàn, rạp chiếu bóng, lìa khỏi vô số những tình huống từ phía bên ngoài ào ạt phóng vào chúng ta. Chúng ta tưởng rằng chúng ta sẽ sống đơn giản bằng sự rút lui. Đã có biết bao nhiêu bậc thánh, biết bao nhiêu bậc đạo sư đã từ bỏ đời sống thế tục. Theo ý tôi thì dường như những loại từ bỏ như thế đối với chúng ta sẽ chẳng giải quyết được vấn đề.

Sự đơn thuần giản dị là nền tảng, là sự chân thật, chỉ đến từ nội tâm, và từ đó, nó tỏa ra ngoài. Làm sao để sống đơn giản, đó mới là vấn đề, bởi vì sự đơn giản đó sẽ khiến cho chúng ta trở nên càng ngày càng nhạy cảm hơn.

Có một nội tâm tinh tế, một trái tim nhạy cảm, đó là căn bản, bởi vì có như thế chúng ta mới có thể mau lẹ trực nhận, dễ dàng đón nhận mọi sự.

Trích: The First & Last Freedom

Tác giả: J. Krishnamurti

Người dịch: Danny Việt

Nguyên Nhân Căn Bản của Sợ Hãi

Để thấu triệt cái vấn đề sợ này, bạn phải tiến vào nơi sâu thẳm nhất của nó, bởi vì sự sợ hãi không phải chỉ là một vấn đề hời hợt ở bề ngoài của suy tư.  Sợ hãi không chỉ có nghĩa là e ngại người láng giềng, hoặc sợ bị mất việc làm; nó thâm sâu hơn rất nhiều và vì thế muốn hiểu thấu cần phải thăm dò tới tận đáy tâm hồn.

Muốn tìm hiểu sâu xa, bạn cần một khối óc bén nhậy; và khối óc ấy không được mài cho bén do tranh cãi hoặc lẩn tránh. Người ta phải tìm hiểu vấn đề từng bước một, và do đó sự thấu hiểu toàn bộ cái quá trình đặt tên này là điều rất quan trọng. Khi bạn đặt cho cả một nhóm người cái tên là Hồi giáo, hoặc là cái gì đó tùy ý bạn, tức là bạn đã loại họ ra, không còn phải coi họ như những cá thể, thành ra cái tên gọi, cái từ ngữ , đã ngăn cản không để cho bạn còn đứng trên cương vị một cá nhân, một con người, trong mối liên hệ với những cá nhân, những con người khác. Cùng một cách đó, khi bạn đặt cho cảm giác một cái tên tức là bạn không còn thẩm thấu vào chính cảm giác, bạn không hội nhập trọn vẹn vào cảm giác.

Có rất nhiều cách để trốn tránh sự sợ hãi; nhưng nếu bạn trốn tránh, bỏ chạy, sự sợ hãi sẽ mãi mãi theo bén gót bạn. Muốn chấm dứt sợ hãi một cách triệt để, bạn phải thấu triệt cái quá trình đặt tên này và nhận ra rằng ngôn từ không bao giờ là sự kiện. Cái tâm phải có khả năng tách rời ngôn từ ra khỏi cảm giác, và không được để cho ngôn từ  làm ngăn trở sự trực tiếp nhận thức cảm giác, vốn là chính sự kiện.

Khi bạn đã đi xa tới mức đó, thẩm thấu sâu tới mức đó, bạn sẽ phát hiện ra rằng chìm trong cõi vô thức, trong cõi u minh thầm kín của tâm hồn, có một cảm giác về nỗi niềm hoàn toàn cô đơn,  hiu quạnh, đó chính là nguyên do căn bản của sự sợ hãi. Lại nữa, nếu bạn lẩn tránh nó, nếu bạn muốn thoát khỏi nó, nói rằng nó đáng sợ quá, nếu bạn không đào sâu vào chính nó đồng thời không đặt một cái tên cho no, thì sẽ không bao giờ bạn vượt qua được nỗi sợ hãi. Cái tâm phải trực diện với nỗi niềm hoàn toàn trống vắng, cô đơn, hiu quạnh trong nội tâm, và không tự cho phép làm gì để trốn tránh sự thực.

Điều đặc biệt được gọi là sự cô độc đó chính là điều rất cốt tủy của bản ngã, cái “tôi”, với tất cả mánh lới, sự xảo trá, sự  đảo điên của nó, mạng lưới của nó, khiến cho tâm trí bị mắc vào bẫy. Chỉ khi nào cái tâm có khả năng vượt qua được sự cô đơn, hiu quạnh tối hậu ấy thì mới có tự do — sự tự do tuyệt đối giải phóng hoàn toàn khỏi nỗi sợ hãi. Và chỉ khi đó bạn mới tự  thấy được thế nào là thực tại, là cái sức sống vô lượng, vô biên, vô thủy, vô chung.

Khi mà tư tưởng còn nẩy sinh ra những sự sợ hãi dưới dạng chuyển biến theo thời gian thì nó không có khả năng hiểu được thế nào là phi thời gian.

J. Krishnamurti — Reflections on the Self

Tác giả: J. Krishnamurti

Người dịch: Danny Việt

Nguyên Nhân của Sự Sợ hãi

Để hiểu sợ hãi, ta phải nói về sự so sánh trước. Tại sao ta so sánh? Về mặt kỹ thuật, so sánh phát hiện sự tiến triển, tương quan với nhau. Năm chục năm trước chưa có bom nguyên tử, chưa có máy bay siêu âm, bây giờ chúng ta co những cái đó, và trong tương lai năm chục năm nữa, chúng ta sẽ có những cái mà hiện nay chúng ta không có. Cái đó được gọi là sự tiến bộ, luôn luôn so sánh, tương quan, và tâm trí chúng ta bị vướng mắc vào cái lối suy nghĩ kiểu đó. Không phải chỉ từ ngoại cảnh, mà ngay từ trong nội tâm, trong cái cấu trúc về tâm lý của chúng ta, chúng ta suy nghĩ theo kiểu so sánh. Chúng ta nói :” Tôi thế này, trước kia tôi thế này, và tôi sẽ khá hơn trong tương lai”. Cái lối suy nghĩ kiểu so sánh như vậy, chúng ta gọi là sự tiến bộ, sự phát triển, và cuộc đời chúng ta, từ phẩm hạnh, đạo đức, tôn giáo cho dến làm ăn buôn bán, giao dịch trong xã hội, chúng ta đều dựa trên nền tảng đó. Chúng ta quan sát bản thân chúng ta một cách so sánh với cái xã hội vốn dĩ cũng thoát thai từ một sự phấn đấu trong so sánh như chính chúng ta.

So sánh sản sinh ra sợ hãi, bạn hãy tự quan sát sẽ thấy. Tôi muốn trở thành nhà văn viết hay hơn, hoặc trở thành người đẹp và thông minh hơn. Tôi muốn có nhiều kiến thức hơn mọi người. Tôi muốn thành công, muốn trở thành nhân vật quan trọng, muốn có danh tiếng trên thế giới. Thành công và danh tiếng là những điều so sánh rất căn bản về mặt tâm lý, mà do đó, chúng ta liên tục sản sinh ra sự lo sợ. Và sự so sánh cũng làm tăng thêm những mâu thuẫn, phấn đấu vốn được coi như những điều quan trọng.

Bạn nói rằng bạn phải cạnh tranh để sinh tồn trong cái thế giới này, do đó bạn so sánh và thi đua trong công việc làm ăn, trong gia đình và cái-gọi-là nội dung có tính cách tôn giáo. Bạn phải vào được thiên đường và ngồi ngay bên cạnh Chúa, hoặc một đấng cứu độ đặc biệt nào đó của bạn. Sự so sánh về tâm linh phản ảnh trong sự vị linh mục muốn trở thành giám mục, hoặc hồng y, hay cuối cùng tiến lên tới giáo hoàng. Suốt đời, chúng ta mài miệt trau giồi cái loại tâm linh đó một cách siêng năng, cần mẫn, phấn đấu để khá hơn, hoặc đạt được vị trí cao hơn người khác. Cấu trúc của đời sống xã hội và đạo đức của chúng ta đặt nền tảng trên những cái đó.

Cho nên trong cuộc đời chúng ta, cái tình trạng so sánh, cạnh tranh và sự phấn đấu không ngừng nghỉ để trở thành một nhân vật hay trở thành người vô danh, thì cũng vậy. Tôi cảm thấy rằng chính cái đó là cội rễ của toàn bộ sự sợ hãi, bởi vì chính nó đã sản sinh ra lòng thèm muốn, tật đố kị, thói ghen tị, căm thù.

Ở đâu có sự căm thù thì ở đó chắc chắn là không có tình thương yêu và sẽ càng ngày càng tăng thêm sự sợ hãi.

Trích: On Fear

Tác giả: J. Krishnamurti

Người dịch: Danny Việt

Không Thành Kiến

Hỏi:

Chúng ta có nên hình thành cái khái niệm về người nào đó hay chăng?

J. Krishnamurti đáp:

Bộ chúng ta nên có khái niệm về người khác chăng? Bộ chúng ta nên hình thành một quan điểm, đánh giá, xét nét về người khác chăng? Khi bạn có khái niệm về thầy của bạn, thì có cái gì là quan trọng đối với bạn? Tôi không nói về bản thân vị thầy, nhưng nói về cái khái niệm của bạn về vị thầy. Và đó là chuyện xẩy ra trong cuộc đời, đúng không? Chúng ta đều có ý kiến về người này, người khác, đúng không? Chúng ta nói: ” Hắn thì tốt”, “Hắn thì phù phiếm”, Hắn thì mê tín”, “Hắn làm cái này, cái kia”… Chúng ta thiết lập một bức màn ngăn cách chúng ta với người khác, cho nên chúng ta không bao giờ có thể thật sự tiếp xúc được với người đó. Nhìn thấy ai làm việc gì, chúng ta nói: ” Ông ta đã làm việc đó”, như vậy, nó chỉ quan trọng ở cái thời gian chuyện đó xẩy ra. Bạn hiểu chăng? Nếu bạn thấy ai đó làm việc gì mà bạn có ý kiến như là người đó làm việc tốt, hoặc xấu, thế là bạn bèn có ý kiến cố định về người đó, để rồi mươi ngày hay cả năm sau, khi bạn gặp lại họ, bạn vẫn còn giữ cái ý kiến của bạn về họ. Nhưng mà trong khoảng thời gian đó, có thể là họ đã thay đổi rồi. Cho nên điều rất quan trọng là đừng bao giờ nói: “Hắn là thế đó”, mà nói: “Hắn đã như thế vào tháng Hai”, bởi vì tới cuối năm thì hắn đã đổi khác hoàn toàn mất rồi.

Nếu bạn nói về ai đó: “Tôi biết người này”, có thể là bạn sẽ sai hoàn toàn, bởi vì bạn chỉ biết về hắn vào khoảng thời gian nào đó, hoặc bởi một sự kiện xẩy ra vào một thời điểm nào đó, ngoài ra, bạn chẳng biết gì về hắn cả.

Cho nên điều quan trọng là mỗi khi gặp người nào, bạn hãy tiếp xúc với họ bằng một tâm hồn hoàn toàn trong sáng, không với những thành kiến, không với những định kiến và không với những quan điểm của riêng mình.

Trích Think On These Things

Tác giả: J. Krishnamurti

Người dịch: Danny Việt

Bài 1 – Tại sao đạo Phật xuất hiện ?

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng, phát thanh mỗi tuần một lần, với mục tiêu quảng bá những lời dạy cốt tủy của đức Phật, xin trân trọng kính chào toàn thể quý khán thính giả.

Thưa quý khán thính giả,

Có câu hỏi :

– Tại sao đạo Phật xuất hiện?

–  Đạo Phật xuất hiện vì mục đích gì? 

Do thắc mắc rằng nếu chỉ dạy “làm lành, lánh dữ” thì các tôn giáo khác, ngay trong thời thái tử Tất Đạt Đa chưa ra đời, họ cũng đã dạy, đức Phật thiết lập thêm một tôn giáo nữa làm chi, chẳng lẽ để cạnh tranh với các tôn giáo đương thời?

Còn như nếu chỉ dạy sống vui, sống khỏe, thì những thầy giáo làng ở chốn quê mùa hẻo lánh cũng đã dạy hàng ngàn năm trước rồi. Cao hơn nữa thì có những môn triết học, tâm lý, không cần phải chờ tới khi có một bậc Đại Giác ra đời, thiết lập hẳn một tôn giáo để dạy.

Trả lời những câu hỏi này, chúng tôi xin thưa rằng:

– Duyên khởi sự xuất hiện của đạo Phật bắt nguồn từ sự bừng tỉnh, Chứng Ngộ Thực Tại của đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Vài trong số những Phật ngôn đầu tiên sau khi Ngài vừa mới bừng tỉnh là:

“Xuyên qua nhiều kiếp sống trong vòng luân hồi, Như Lai thênh thang đi, đi mãi.
Như Lai mãi đi tìm mà không gặp, Như Lai đi tìm người thợ cất cái nhà này.
Lặp đi lặp lại đời sống quả thật là phiền muộn.
Này hỡi người thợ làm nhà,
Như Lai đã tìm được ngươi.
Từ đây ngươi không còn cất nhà cho Như Lai nữa.
Tất cả sườn nhà đều gãy,
Cây đòn dong của ngươi dựng lên cũng bị phá tan.
Như Lai đã chứng nghiệm Quả Vô Sanh Bất Diệt và Như Lai đã tận diệt mọi Ái Dục”.

và:

“… Tri kiến và nhãn quan đã phát sanh đến ta. Tâm siêu thoát của ta không thể lay chuyển. Ðây là kiếp sống cuối cùng của ta. Từ đây ta sẽ không còn trở thành, không còn tái sanh.” — (kinh Trung A-Hàm).

Từ sự Chứng Ngộ, đức Phật phát hiện được một thực tế là  “Tất cả chúng sinh đều có Giác Tánh như Ngài, và có thể thanh lọc ô nhiễm để chuyển hóa thành Phật như Ngài”.

Do phát hiện đó, khởi tâm Đại Bi, Ngài dùng suốt quãng thời gian còn lại của đời sống trên thế gian trên bốn chục năm, tận tụy đi rao giảng những kinh nghiệm hành trì và tu chứng của Ngài để mọi chúng sinh đều có thể Giác Ngộ Giải Thoát như Ngài. Những lời dạy đó tích lũy thành tạng Kinh, là phần Giáo Pháp. Và như thế , đạo Phật xuất hiện trên đời.

Tuy nhiên, đức Phật đã dạy trong kinh Trung A Hàm::

“Giáo Pháp mà Như Lai đã chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm vi luận lý, tế nhị, chỉ có bậc thiện trí mới thấu hiểu.”

Thật vậy, Giáo Pháp của Ngài quả là sâu sắc, uyên áo, khó hiểu, khiến cho các vị Luận Sư phải dùng tới hàng nhiều ngàn trang giấy để viết lên những bộ Luận Giải, mong giúp người đọc dễ nhập môn. Vì thế, có người tưởng đạo Phật là một mớ triết lý, cứ việc đem ra cùng nhau bàn thảo, giống như những vấn đề triết học, vốn không đòi hỏi sự tu hành, là đã uống xong ly nước Cam Lồ của đạo Phật.

Hiểu như thế là sai lầm, là làm phí uổng bản hoài của đức Phật mong cứu chúng sinh, trôi qua mất một kiếp ở trong nhà Phật.

Giáo lý nhà  Phật không phải là một mớ lý thuyết suông, mà là tổng kết quá trình hành trì dẫn tới Chứng Ngộ của đức Phật. Từ kinh nghiệm Chứng Ngộ này, đức Phật dạy lại cho chúng sinh, để tất cả đều có cơ hội Chứng Ngộ như Ngài.

Hòa thượng Narada Maha Thera đã viết về công phu hành trì và tu chứng của đức Phật trong cuốn “The Buddha and His Teachings”, cư sĩ Phạm Kim Khánh dịch ra tiếng Việt như sau:

“Sau cuộc chiến đấu kỳ diệu phi thường kéo dài sáu năm đằng đẵng, không có sự hỗ trợ từ bên ngoài và không được sự hướng dẫn của một năng lực siêu phàm nào, đơn độc một mình và chỉ nương nhờ nơi nỗ lực của chính mình, đạo sĩ Gotama, lúc ấy ba mươi lăm tuổi, tận diệt mọi ô nhiễm, chấm dứt mọi tiến trình tham ái và Chứng Ngộ Thực Tướng của vạn pháp, đã trở thành một vị Phật (Buddha), Đấng Chánh Biến Tri, bậc Toàn Giác.

Không phải khi sanh ra Ngài đã là Phật, mà Ngài trở thành Phật do sự nỗ lực của mình. Phạn ngữ Buddha xuất nguyên từ căn “Budh”, là Hiểu Biết hay Thức Tỉnh. Gọi là Buddha  vì Ngài hiểu biết đầy đủ Bốn Chân Lý Thâm Diệu Cao Quý (là Tứ Diệu Đế), và từ giấc mơ vô minh Ngài đã thức tỉnh.

Đức Phật cũng không bao giờ tự nhận là có quyền năng cứu vớt kẻ khác bằng  sự cứu rỗi của mình. Ngài thiết tha kêu gọi những ai hoan hỷ bước theo dấu chân Ngài không nên ỷ lại nơi người khác mà phải tự mình giải thoát lấy mình, bởi vì cả hai, trong sạch và bợn nhơ, cũng đều tùy thuộc nơi chính mình. Ta không thể trực tiếp làm cho ai trong sạch hay ô nhiễm.

Để minh định rõ ràng mối tương quan của Ngài đối với hàng môn đệ và để nhấn mạnh tầm quan trọng của sự kiện tự mình nhận lãnh trọn vẹn trách nhiệm và tự mình nỗ lực kiên trì, Đức Phật minh bạch dạy rằng:

– “Các con phải tự mình nỗ lực. Các đấng Như Lai chỉ là đạo sư.” 

Đức Phật chỉ vạch cho ta con đường và phương pháp mà ta có thể nương theo đó để tự giải thoát ra khỏi mọi khổ đau của vòng sanh tử và thành tựu mục tiêu cứu cánh. Đi trên con đường và theo đúng phương pháp hay không, là phần của người đệ tử chân thành muốn thoát khỏi những bất hạnh của đời sống.

– “Ỷ lại nơi kẻ khác để giải thoát cho mình là tiêu cực. Nhưng đảm đang lãnh lấy trách nhiệm, chỉ tùy thuộc nơi mình để tự giải thoát, quả thật là tích cực.”

Tùy thuộc nơi người khác là đem tất cả cố gắng của chúng ta ra quy hàng.

– “Hãy tự xem con là hải đảo của con. Hãy tự xem con là nương tựa của con. Không nên tìm nương tựa nơi ai khác!”

Phật giáo không đòi hỏi nơi tín đồ một đức tin mù quáng. Do đó một niềm tin tưởng suông không thể có chỗ đứng. Thay vào đó là lòng tín nhiệm căn cứ trên sự hiểu biết.

Niềm tin mà người Phật tử đặt nơi Đức Phật cũng giống như niềm tin mà bệnh nhân đặt nơi một lương y trứ danh hay của trò đặt nơi thầy. Mặc dầu tìm nương tựa nơi Đức Phật và tôn trọng Ngài là vị hướng đạo vô thượng, là thầy dắt dẫn trên Con Đường Trong Sạch, người Phật Tử không quy phục mù quáng như kẻ nô lệ, không tin rằng chỉ quy y Tam Bảo hay chỉ có đức tin suông nơi Tam Bảo mà mình có thể trở nên trong sạch.

Không ai, dầu là Đức Phật đi nữa, có đủ quyền lực để gội rửa bợn nhơ của người khác. Nói một cách chính xác, không ai có thể rửa sạch, cũng không ai có thể làm hoen ố người khác.

Đức Phật là vị Tôn Sư có thể giúp đỡ bằng cách vạch ra con đường, nhưng chính ta phải lãnh lấy nhiệm vụ gội rửa thân tâm của chúng ta.

Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:

– “Chỉ có ta làm điều tội lỗi, chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm.
Chỉ có ta tránh điều tội lỗi, chỉ có ta gội rửa cho ta.
Trong sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta.
Không ai có thể làm cho người khác trở nên trong sạch”. (Câu 145)

Người Phật tử không làm nô lệ cho một quyển sách hay một cá nhân, cũng không hy sinh tự do tư tưởng của mình khi bước theo dấu chân của Đức Phật. Người Phật tử hoàn toàn tự do thực hiện ý chí, mở mang kiến thức và phát triển trí tuệ cho đến ngày chính mình đắc Quả vị Phật, bởi vì khả năng trở thành Phật nằm bên trong tất cả mọi chúng sanh.

Đức Phật dạy:

– “Người nào thấy Giáo Pháp (Dhamma) là thấy Như Lai”.

Một đặc điểm khác nên được ghi nhận trong nghi lễ tụng niệm Phật Giáo, đó là, câu kinh không phải là lời thỉnh nguyện, cũng không phải là lời cầu xin chuyển đạt một nguyện vọng. Dầu ta có bỏ hết thì giờ để cầu xin cũng không được gì.

Đức Phật không khi nào và không thể nào ban bố những ân huệ cho người cầu nguyện. Để được cứu rỗi, người Phật tử không nên cầu nguyện mà phải nhận lãnh trách nhiệm, cố gắng trau giồi đức hạnh, kiên trì tu tập để tự thanh lọc và thành tựu giải thoát. Không nên lệ thuộc người khác mà phải nương nhờ nơi mình, tự mình cố gắng.

Đức Phật dạy:

– “Các con phải cố gắng, các đấng Như Lai chỉ là những vị thầy” 

Chẳng những cầu nguyện, van xin, là vô ích mà đó còn là thái độ nô lệ tinh thần. Thay vì đọc kinh cầu nguyện, Đức Phật khuyên nên cố gắng hành thiền để ghép mình vào kỷ luật, tự kiểm soát, tự thanh lọc tâm, và giác ngộ. Thiền tập là liều thuốc bổ cho cả tâm lẫn trí.

Trong Phật Giáo không có Thần Linh vạn năng, bắt buộc tín đồ phải sợ hãi cúi đầu vâng lệnh. Phật Giáo phủ nhận sự hiện hữu của một oai lực siêu thế, quan niệm như một thực thể toàn năng, hay có năng lực vô cùng tận. Không có tánh cách thần khải, không có người truyền đạt tin tức và những lời sấm của một Thần Linh từ đâu trên cao ban xuống đến cho con người. Do đó người Phật tử không quỵ lụy phục tùng một oai lực siêu nhiên cầm quyền thưởng phạt và kiểm soát định mạng.

Bởi vì không tin nơi thiên khải Thần Linh, Phật giáo không đòi hỏi độc quyền nắm chân lý và không bài xích bất cứ tôn giáo nào khác. “Tánh thiên chấp là kẻ thù tệ hại nhất của tôn giáo”.

Với đức tánh rộng lượng khoan dung của Ngài, Đức Phật hằng khuyên hàng môn đệ không nên giận dữ, bất mãn, hay không vui lòng, nếu có ai nói xấu Ngài, Giáo Pháp của Ngài, hay Giáo Hội mà Ngài sáng lập. Đức Phật dạy:

– “Nếu các con giận dữ, bất mãn, hay không vui lòng, chẳng những các con tự đặt mình vào chỗ hiểm nguy có thể mất cả nền tảng đạo đức tinh thần, mà các con còn không thể xét đoán đúng mức lời chỉ trích có giá trị hay không”.

Các lời lẽ có rất nhiều ý nghĩa kia mà Đức Phật đã dạy trong những ngày sau cùng của Ngài quả thật mạnh mẽ, nổi bật và cảm kích. Điều này chứng tỏ rằng cố gắng cá nhân là yếu tố tối cần để thành tựu mục tiêu. Tìm sự cứu rỗi nơi những nhân vật hảo tâm có quyền năng cứu thế và khát khao ham muốn hạnh phúc ảo huyền xuyên qua những lời van vái nguyện cầu vô hiệu quả và nghi thức cúng tế vô nghĩa lý, quả thật là vô ích.

Đức Phật là một người như chúng ta. Ngài sanh ra là một người, sống như một người, và từ giã cõi đời như một người. Mặc dầu là người, Ngài trở thành một người phi thường, một bậc siêu nhân, do những cá tính đặc biệt duy nhất của Ngài. Đức Phật đã ân cần nhắc nhở nhiều lần như vậy và không có điểm nào trong đời sống hoặc trong lời dạy của Ngài để chúng ta lầm hiểu rằng Ngài là một nhân vật vô sanh bất diệt.

Có lời phê bình rằng trong lịch sử nhân loại, “không hề có vị giáo chủ nào phi thần linh hơn Đức Phật, tuy nhiên, cũng không có vị nào có đặc tánh thần linh hơn Đức Phật”

Trong thời Ngài còn tại thế, Đức Phật chắc chắn được hàng tín đồ hết lòng tôn kính, nhưng không bao giờ Ngài tự xưng là Thần Linh.”

Hòa thượng W. Rahula cũng viết trong cuốn “What the Buddha Taught”, ni sư Trí Hải dịch như sau:

…“… Theo giáo lý của đức Phật, quan niệm bản ngã là một tín ngưỡng ảo tưởng sai lầm không đi đôi với thực tế và tạo ra tư tưởng có hại, cho là “ta” hay “của ta” như tham đắm, ích kỷ, dục vọng, luyến ái, thù hận, ác ý, tự kiêu, ngạo mạn, vị kỷ và các tật đố hoen ố khác, nhơ bẩn và rắc rối. Ðó là nguồn gốc của các phiền não trên thế giới từ những mâu thuẫn cá nhân đến chiến tranh giữa các nước. Tóm lại, vì quan điểm sai lầm nầy mà tất cả những tội lỗi trên thế giới đã xảy ra. “

Và :

…”…Sự khác biệt của tử và sanh chỉ là giây phút cuối cùng của tư tưởng: lúc tư tưởng cuối cùng của đời sống này tạo thành điều kiện cho tư tưởng đầu tiên trong cái gọi là đời sống kế tiếp, mà nói cho đúng ra, chỉ là sự tiếp nối một loạt như vậy. Trong chính đời sống của nó, cũng vậy, giây phút tối hậu của tư tưởng tạo điều kiện cho tư tưởng kế tiếp. Cho nên từ quan điểm của người Phật tử, câu hỏi về đời sống sau khi chết không phải là một huyền bí to lớn, và người Phật tử không bao giờ lo lắng về vấn đề này”.

 Thưa quý khán thánh giả,

Tóm lại, đạo Phật ra đời là do tâm Đại Bi của đức Phật, người đã bừng tỉnh khỏi cơn mê, đã Chứng Ngộ Thực Tại, đã biết được con đường ra khỏi mê vọng để trở thành bậc Toàn Giác, nên đã giơ cao ngọn đuốc Ánh Đạo Vàng cho chúng sinh noi theo mà cũng ra khỏi được cơn mê từ vô thủy, được giác ngộ giải thoát.

Sự giải thoát này hoàn toàn do sức mình, tự tu tự độ, không hề có sự cầu xin nào trong quan điểm của nhà Phật vào thời đó.

Khoảng năm trăm năm sau khi đức Phật nhập diệt, do một số bất đồng tư tưởng, và do nhu cầu phát triển, bộ phái Đại Thừa xuất hiện. Bộ phái này truyền bá qua các nước Tây Tạng, Trung Hoa, Triều Tiên, Việt Nam, là những dân tộc vốn đã có nền văn hóa thờ rất nhiều thần linh, nào là Sơn thần, Thủy thần, Thổ thần, thần sông Hà Bá, thần cây cổ thụ, thần gốc đa, ông bà Táo Quân, thần rắn, thần ba ba thuồng luồng, thần ông bình vôi, vân vân…

Vì nhà Phật đi tới đâu cũng dùng tinh thần hòa hoãn, uyển chuyển, tùy thuận chúng sinh, nên cũng tạm thời hòa nhập với dân địa phương mà cùng với họ tham dự những lễ lạc mà họ đã có từ lâu đời, rồi theo thời gian sẽ dùng giáo pháp để chuyển hóa họ một cách nhẹ nhàng. Có sinh hoạt chung với người dân địa phương thì các Sư Phật giáo mới có cơ hội soi rọi Ánh Đạo Vàng của nhà Phật cho họ.

Nơi nào mà có các bậc đạo sư chân chính thì càng ngày người dân càng tỉnh ngộ, những chuyện cúng sao giải hạn hoặc mê tín quàng xiên từ từ giảm bớt. Thức tỉnh được dân hay không là tùy theo sự sáng suốt, tinh thần tích cực và đức độ tu hành chân chính của vị Sư Phật giáo trong những ngôi chùa địa phương mà thôi.

Có một vài câu hỏi cũng thường được nêu ra trong những lúc thảo luận về đời sống tu trì của các tu sĩ Phật giáo, rằng:

– Tại sao có Sư ăn chay, có Sư ăn thịt cá?

Xin thưa rằng, vào thời Phật tại thế, tất cả các Sư đều chỉ đi khất thực, (tức là đến từng nhà dân chúng để nhận cơm của thí chủ cúng dường, gọi là trì bình), để ăn một bữa cơm vào lúc giữa trưa, gọi là Ngọ Trai. Thí chủ cúng gì thì các Sư ăn nấy, tuyệt đối không chọn lựa. Trong khi ăn không để tâm chạy theo sự ham thích hay chán ngán, không thưởng thức món ăn ngon hoặc dở, chỉ coi sự ăn uống là để đáp ứng nhu cầu cần thiết vừa đủ của cơ thể, ngõ hầu đủ sống mà tu hành cho tới đạt được quả vị Giác Ngộ. Như thế thực phẩm gồm những món gì, các Sư không quan tâm, trong bát có gì thì ăn nấy, không chọn lựa, và ăn luôn cả thịt cá, nếu trong bát có. Khi ăn giữ tâm tĩnh lặng, không biết tới mùi vị của món ăn là đúng pháp rồi. Nếp sống ấy vẫn còn được các nước tu theo Nam Tông duy trì.

Việt Nam chúng ta gồm có cả các chùa Bắc Tông (tức là Đại Thừa) và Nam Tông. Chùa Đại Thừa có bếp, các Sư đều tự nấu và ăn chay trường.

Trên đây, chúng tôi vừa trình bày sơ qua vài vấn đề căn bản của đạo Phật.

Nếu quý khán thính giả có điều thắc mắc, xin gửi email về địa chỉ:

phatphaptuedang@yahoo.com 

Thưa quý khán thính giả,

Vì thời giờ phát thanh có hạn, chúng tôi xin phép được ngưng nơi đây và xin hẹn gặp lại quý vị vào kỳ phát thanh tới.

Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng xin trân trọng kính chào và kính chúc quý khán thính giả một tuần lễ thân tâm thường an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Tuệ Đăng

Giáo Dục

Hỏi: 

Nếu chúng ta làm điều sai trái, có người đã chỉ bảo cho chúng ta biết, tại sao chúng ta lại còn tái phạm?

 J. Krishnamurti đáp: 

Bạn nghĩ sao? Lý do nào khiến cho bạn bẻ hoa, nhổ cây, phá hoại đồ đạc, liệng giấy bừa bãi, mặc dầu tôi tin chắc là bạn đã từng nghe lời khuyên không nên làm những việc đó cả chục lần? Hãy nghe cho kỹ rồi bạn sẽ thấy. Khi bạn làm những chuyện đó, óc bạn đang ở trong tình trạng trống vắng, phải vậy không? Bạn không nhận thức được, bạn không suy nghĩ, tâm trí bạn đã ngủ quên, thành ra bạn đã làm những việc rõ ràng là ngớ ngẩn, ngu ngốc. Bao lâu mà bạn sống trong trạng thái không hoàn toàn có ý thức, không hoàn toàn tỉnh giác, thì sự kiện chỉ cứ khuyên bạn không nên làm điều này, điều nọ, sẽ chẳng có kết quả gì. Nhưng nếu nhà giáo dục mà giúp cho bạn trở nên có óc suy nghĩ, quan tâm hơn, trở nên thật là tỉnh thức, quan sát với niềm vui thích từ cây cối, chim chóc, sông ngòi, sự phong phú tuyệt vời của trái đất v.v…, khiến cho tâm hồn bạn trở nên tinh tế, sống động, đối với ngoại cảnh và cả nội tâm của bạn, thì khi đó chỉ một gợi ý nhẹ nhàng đến với bạn đã đủ cho bạn cảm nhận được vấn đề.

Buồn thay, sự nhậy cảm của bạn đã bị tàn phá mất rồi, bởi vì ngay từ lúc bạn mới lọt lòng cho đến ngày vĩnh biệt thế giới này, bạn chưa bao giờ được ngưng cái khổ nạn bị bảo cho biết rằng phải làm cái này, không được làm cái kia v.v…Cha mẹ, bậc thầy, xã hội, tôn giáo, vị linh hướng, và ngay cả cái khát vọng của chính bạn, lòng tham lam, tính ghen tị v.v…, tất cả những cái đó đã bảo cho bạn biết “nên làm cái này” và “không nên làm cái kia”.

Muốn thoát khỏi tất cả những cái “nên” và “không nên” đó, và để bạn có được niềm cảm thông sâu xa, có được tính tốt lành tự nhiên, không làm đau lòng người khác, không xé giấy hoặc ném đá ra đường mà không lượm lên—điều này cần đến một sự suy nghĩ thâm trầm, sâu sắc.

Mục đích của giáo dục chắc chắn không phải là chỉ dậy cho bạn mấy chữ cái đủ để bạn biết viết cái tên của bạn, mà là đánh thức cái tinh thần trầm tư sâu sắc này, khiến cho bạn trở nên tinh tế, tỉnh giác, quan tâm và ân cần đối với cuộc đời.

Trích Think on These Things

Tác giả: J. Krishnamurti

Người dịch: Danny Việt

Chiến Tranh

Hỏi: 

Chúng ta có cách nào để giải quyết những lộn xộn về chính trị và sự khủng hoảng đang xẩy ra trên thế giới chăng? Một cá nhân có thể làm gì để chấm dứt cuộc chiến đang đe dọa không? 

J. Krishnamurti đáp: 

…Những lý do nào đã tạo ra chiến tranh – tôn giáo, chính trị hay kinh tế?

Hiển nhiên nguyên nhân của chiến tranh chính là tín ngưỡng; tín ngưỡng đối với chủ nghĩa ái quốc, hoặc đối với một ý thức hệ, hoặc đối với một giáo điều đặc biệt nào đó.

Nếu chúng ta không có tín ngưỡng mà chỉ có lòng tốt, tình thương yêu và sự quan tâm đến nhau, như thế chiến tranh sẽ không thể xẩy ra.

Nhưng chúng ta đã được nuôi dưỡng bằng đủ loại tín ngưỡng, đủ loại ý thức hệ, đủ loại tín điều, do đó, chúng ta chỉ tạo ra sự bất hòa. Chúng ta chỉ có thể, hoặc là theo đuổi con đường mâu thuẫn, chiến tranh liên tục, mà đó chính là kết quả từ hành động thường nhật của chúng ta, hoặc là nhìn thẳng vào nguyên nhân của chiến tranh rồi quay lưng lại, không tiếp tục tạo ra nguyên nhân nữa….

Trích: The First & Last Freedom

Tác giả: J. Krishnamurti

Người dịch: Danny Việt