Archive | January 2013

Hương Thu – Đỗ Phương Khanh


VÂN tỉnh dậy lúc trời xẩm tối. Mưa rả rích. Cuối giường, thằng Tùng nằm ngủ li bì. Chân nó vẫn còn mang giầy. Tay nắm hờ con búp bê nhỏ xíu. Một cơn gió lành lạnh lùa vào phòng. Mấy sợi tóc tơ của Tùng bay phơ phất. Hai riềm mi đen dài cong vút. Thỉnh thoảng nó nhếch miệng cười vu vơ trong giấc mộng.

Hồi chiều hai mẹ con đi mua đồ chơi Trung thu cho Tùng. La cà khắp các phố, Vân mới mua cho con được một chú búp bê nhỏ. Nàng còn định dẫn nó đi mua đèn. Xong sẽ lên hàng Buồm mua thêm hộp kẹo. Để tối cho nó bầy cỗ. Và mua cho mình một cân bánh dẻo. Nàng dự định sẽ kê bộ sa lon mây ra cạnh bể non bộ. Chỗ ấy được trông thấy trăng trước nhất. Đúng lúc trăng bắt trầu mọc, Vân và chồng sẽ ra mở hộp bánh, pha trà thưởng trăng. Nàng sẽ kê cho Tùng bộ bàn ghế nhỏ xíu của nó ra giữa sân và hộp kẹo là của riêng nó. Vân sẽ cho nó mượn cái khay để nó bầy cỗ. Có lẽ phải mua cho nó bộ ấm chén bằng nhựa nữa. Ngoài ra, Vân sẽ cho nó mượn cái hộp bích qui đựng đồ khâu của nàng để nó làm bàn thờ. Còn cái đèn mà nàng sắp mua đây thì sẽ treo trên cành ngâu. Thằng Tùng quay mặt về phía ấy. Chắc nó thích đèn hơn trăng. Mà vợ chồng nàng thì thích trăng hơn đèn. Đêm nay, Vân sẽ rủ chồng thức thật khuya để xem trăng có bị gấu ăn không.

Vân dẫn con đi khắp các hiệu đèn Trung thu. Nào là đèn kéo quân to, có tua chung quanh với đoàn quân bên trong cứ chạy xuôi rồi chạy ngược. Nào là đèn lồng cổ Trung Hoa có treo trên cửa hiệu khách lớn. Rồi đèn con bướm, đèn tầu bay, đèn xếp… Thằng bé cứ ngây người nhìn. Nhiều lúc Vân phải lôi nó đi. Chung quanh nó là một rừng đèn đủ mầu sắc. Nó bước theo mẹ mà mắt đã bị đám đèn thu hút.

Vân muốn chọn cho con một cái đèn ông sao thật to. Vì to, nó sẽ không vác đi chơi được, không sợ bị cháy, rách. Nàng sẽ treo lên cây ngâu từ chiều. Thằng bé chắc chỉ quanh quẩn bên cái đèn, khỏi chạy ra ngõ nhập bọn với lũ bạn nó, lũ bạn có những thằng trông hung hăng và lớn hơn nó nhiều. Vân tránh không muốn vì bênh con mà mất lòng hàng xóm thành ra rất ngại có chuyện xích mích giữa lũ trẻ, nên nàng muốn thằng bé chỉ chơi ở trong nhà. Với cái đèn to, chắc nó cũng thích lắm.

Rồi ngày mai, hết Trung thu, Vân sẽ đem cái đèn đó vào phòng khách treo lên tường để che khuất chỗ vữa bị lở bằng bàn tay, Vân đã định đến cuối năm nhân dịp quét vôi mới sửa luôn thể.

Vân bảo con :

– Tùng ơi, mẹ mua cho con cái đèn này nhé. Đèn to nhé. Con có thích không ?

Nhưng thằng bé không thích. Nó đang mân mê cái đầu sư tử có bờm trắng như bông. Cái mồm rộng mở ra ngậm lại. Nó đã trông thấy thằng Lộc bạn láng giềng của nó đội cái đầu sư tử giống cái này. Thằng Lộc vừa chạy, vừa nhẩy, đầu lắc lư, mồm hét :

– Lùng tùng xoè… lùng tùng xoè.

Tùng háo hức :

– Mẹ ơi ! Mua cho Tùng cái đầu sư tử này đi. Thằng Lộc nó múa. Tùng cũng múa như nó.

Vân dỗ dành :

– Tùng dốt lắm. Đầu sư tử bé, mà múa mỏi chân. Để mẹ mua cho cái đèn ông sao to này.

Nhưng thằng Tùng hăng hái :

– Tùng thích bé, Tùng thích mỏi chân. Mẹ mua cho Tùng đầu sư tử này đi.

Vân cáu :

– Thôi, không mua đèn ông sao thì thôi. Mẹ ghét sư tử.

Thằng bé túm lấy áo mẹ phụng phịu. Bà chủ hàng muốn bán được cái đầu sư tử nhiều tiền hơn, bàn góp:

– Thôi ! Bà chiều cậu ấy mà. Chỉ đắt hơn một tí có là bao.

Vân thấy tưng tức ở cổ. Trong một giây nàng thoáng nghĩ đến bộ quần áo tầm thường nàng mặc, có lẽ bà ta đã nghĩ rằng vì tiền mà nàng kỳ kèo với con như vậy. Vân muốn tỏ cho bà ta biết nàng không mua đầu sư tử cho con nàng vì nàng sợ nó la cà khắp xóm chứ không phải vì tiếc tiền.

Nàng nhìn thẳng vào bà ta, trên mặt bà có một nét cười đầy vẻ ngạo mạn. Vân càng bực mình hất hàm:

– Bao nhiêu cái đầu sư tử ?

Bà chủ vẫn cười:

– Thưa bà tám chục.

Vân mở ví lấy tiền mua liền. Rồi vừa dắt con trở ra, nàng vừa dằn giọng bảo con nhưng cốt ý để cho người đàn bà nghe:

– Mua rồi thì cấm chạy ra đường đấy nhé!

Ra đến ngoài Vân lại thấy bực mình thêm. Thực ra cái đầu sư tử chỉ đáng giá năm chục là cùng, vậy mà nàng đã chịu mua đắt quá. Lúc tức lên, Vân chỉ muốn tỏ cho bà chủ hàng biết là nàng có nhiều tiền. Nhưng bây giờ nàng thấy mình thật vô lý. Tự nhiên mất không mấy chục. Mà có lẽ mụ chủ hàng còn cười cho mình là trẻ con, đã bị họ nói khích.

Nhìn cái đầu sư tử trong tay con, Vân thấy dự tính của mình trong buổi đi sắm đồ chơi cho con đã mất cả ý nghĩa. Chỉ tại thằng Tùng rắc rối. Nếu biết thế nàng đã chọn đầu sư tử cho nó trước, để nó đòi mới được thì sau nó sẽ đòi mãi. Vân ghét tính đòi hỏi của trẻ con. Nàng không muốn mình thua con trong bất kỳ trường hợp nào. Nhiều lần sắp đi chơi, nàng đã định bụng sẽ cho nó cùng đi. Nhưng nó lại đòi đi. Thế là nàng nhất định bắt nó ở nhà. Vân không muốn bị ai sai khiến.

Sự bực bội cứ tăng dần khiến Vân không còn thấy hứng thú dẫn con đi sắm tết nữa. Vân gọi xe trở về. Đến nhà, nàng vào thẳng giường. Con bé người ở, quần áo chỉnh tề chờ sẵn:

– Thưa mợ, xin phép mợ cho con về thăm em con một lúc.

Vân quát :

– Về ! Người ta bận mà về gì ? Đừng có rắc rối !

Con bé sợ sệt lủi xuống nhà.

Thật ra, chiều nay nàng không bận gì cả. Hai vợ chồng đã bảo nhau cúng buổi sáng để chiều đi chơi. Tùng thấy mẹ giận len lén đến chân mẹ đứng im thin thít. Nó muốn chụp cái đầu sư tử lên đầu, soi vào trong gương kia lắm. Nhưng nó thấy sợ sợ thế nào ấy. Nó không hiểu tại sao mẹ nó lại giận đến như thế. Nhưng mang máng, nó nghĩ rằng có lẽ vì nó.

Gắt xong, Vân đã thấy lòng diu dịu, nàng hé mắt nhìn thấy con cứ soi vào gương rồi lại nhìn mình thì cũng thương hại. Thằng bé chả có đồ chơi gì. Hôm nay nhân vay được lương sớm, hai vợ chồng đã dành riêng ra một món để mua đồ chơi cho con. Nàng đã định sẽ hết sức chiều con cho ngày vui của nó được hoàn toàn. Thế mà lại giận nó. Nàng ân hận về tính nóng nẩy của mình. Nhưng chả lẽ lại làm lành. Như thế lần sau nó không sợ nữa. Vân nằm quay vào trong rồi ngủ quên mất.

Bây giờ nhớ lại, Vân nao nao thương con. Nàng se sẽ nâng đầu nó lên kê gối vào cho nó, rồi Vân bước xuống đất. Cái đầu sư tử lăn lóc bên cạnh đôi guốc của nàng. Vân cúi nhặt lên đặt vào cạnh con.

Vân lên tiếng gọi bé ở. Không có tiếng đáp. Nàng đi khắp nhà tìm nó. Nhưng không thấy đâu cả. Cuối cùng, Vân leo lên căn gác xép để đồ đạc. Trong bóng tối lờ mờ, con bé nằm co quắp. Má còn ngấn nước mắt. Thỉnh thoảng nó lại nức lên, hai vai gầy rung nhè nhẹ. Tay nó nắm một gói bọc bằng cái khăn mùi soa cũ. Vân sẽ gỡ lấy cái gói mở ra xem. Trong có mấy con giống xanh đỏ bằng bột và một cái đèn xếp nhỏ xíu bằng bàn tay. Bây giờ Vân mới nhớ ra rằng một hôm đã lâu, Vân hứa Trung thu sẽ cho nó về thăm em nó. Có lẽ vì thế mà con bé dành dụm tiền để mua đồ chơi cho em. Bố mẹ nó đã chết cả. Chị em nó ở với bác. Bác nó cho nó đi làm với Vân rồi hàng tháng đến lĩnh lương nói là để nuôi em nó. Nhưng có lẽ em nó không được sung sướng. Vì có một lần đến lĩnh lương bác nó dẫn em nó theo. Thằng bé trông cũng có vẻ thông minh nhưng bẩn thỉu. Nó ngơ ngác nhìn Vân rồi ôm lấy chị nó. Lúc về, thằng bé khóc thút thít. Bác nó lừ mắt, thằng bé vội nín bặt, theo sau bà ta. Cả ngày hôm ấy chị nó ngơ ngẩn. Vì thế, Vân hứa tết Trung thu sẽ cho nó về thăm em.

Thằng bé chiều nay chắc buồn lắm. Ngoài đường, đứa nào cũng có đồ chơi cầm tay. Còn nó, chắc không có. Vân nghĩ đến đôi mắt vời vợi của nó, nàng thoáng nhớ một cái tết Trung thu năm nào của chính mình. Đã xa lắm. Từ năm nàng mới tám tuổi. Dạo ấy vì cha mẹ làm ăn khó khăn nên cô nàng nuôi đỡ cho một cháu giúp anh chị. Hôm tết Trung thu cô chú đem các con đi suốt buổi chiều. Sẩm tối cũng chưa về. Ngoài đường, trẻ con đi lại tấp nập. Có đứa đi một mình tay cầm đèn. Có đứa nũng nịu đánh đu dưới tay mẹ. Một lát, cô chú Vân về, các em nàng chạy ùa xuống xe đứa nào cũng có đồ chơi khoe rối rít. Lúc cô của Vân xuống, bà moi ở giỏ đưa cho Vân mấy cái kẹo:

– Đây, phần mày. Mày thì cho kẹo mà ăn. Đồ chơi rồi lại làm hỏng chứ gì.

Vân lí nhí cảm ơn, cầm mấy cái kẹo rồi ra cổng. Tuy còn nhỏ, Vân đã cảm thấy sự lạc lõng của Vân trong gia đình ấy. Vân gục đầu vào cánh cổng ngó ra đường. Qua cánh cổng bằng nan sắt, xa xa đường xe lửa mờ dần trong sương chiều. Đã có lần mẹ Vân nói với Vân rằng những chuyến xe về nhà Vân cũng chạy trên con đường này. Vân ước ao sẽ có chuyến xe lửa qua đây. Rồi một chiếc xe tay sẽ ngừng lại trước cửa. Mẹ Vân bước xuống với những giỏ, những làn lủng củng. Và ngày mai,Vân sẽ được theo mẹ về chơi với em, cũng trên những chiếc xe lửa vẫn qua lại đây như mọi ngày. Vân lại sẽ ngửi thấy thoang thoảng có mùi bánh mì cặp chả, mùi khói tàu và những mảnh tàn than nhỏ xíu dính đầy quần áo. Sự ao ước kéo dài nhưng vẫn không có cái tàu nào cả. Và rồi Vân buồn ngủ rũ ra, cả trong giấc mơ Vân cũng không gặp mẹ.

Mỗi lần nghĩ lại, Vân còn thấy tủi thân. Thế mà ngày nay, Vân lại nhẫn tâm hơn bà cô nàng xưa kia. Nàng nghĩ đến thằng bé. Chắc nó cũng chờ chị nó. Hoặc nó lủi thủi đi nhặt những cái đèn rách của trẻ con hàng xóm. Hay cũng như chị, nó đang rúc trong một xó ngủ vùi.

Vân lay con bé. Nó hoảng hốt nhỏm dậy nhìn nàng sợ hãi. Nhưng Vân dịu dàng :

– Dậy đi, dậy sửa soạn mau lên rồi về với em.

Lúc con bé lên chào nàng, Vân đưa cho nó cái đầu sư tử :

– Cầm về cho em. Ở nhà chơi với nó, mốt hãy ra.

Nhìn con bé khuất sau cánh cửa, nàng ôm chặt con vào lòng nghĩ thầm :

– Lát nữa bố về, mẹ bảo bố dẫn mẹ con mình đi chơi. Rồi mẹ mua cho con kẹo này, ấm chén này, và một cái đầu sư tử khác.

ĐỖ PHƯƠNG KHANH

(Trong tập truyện ngắn Hương Thu)

– Hôm nay tôi được về nhà phải không ?

Vào một ngày đã khá xa,
Tưng bừng rộn rã cả nhà đón tôi
Mừng mừng tủi tủi bồi hồi
Vuốt ve hứa sẽ không rời nhau đâu.
Giỡn đùa sân trước vườn sau,
Đồ chơi đầy ắp không cầu cũng cho
Tôi yêu cô cậu chủ nhà
Tình yêu thắm thiết như là người thân
Về phần họ cũng ân cần
Giành nhau xới bón tôi ăn suốt ngày
Những quà đặc biệt mua đầy
Đến đêm tôi lại ngủ ngay cùng giường
Ôm tôi nựng nịu yêu thương
Chăn êm nệm ấm ướp hương thơm lừng
Ban ngày tôi muốn ra đường
Dạo chơi ngắm cảnh họ cùng đi theo
Tranh nhau chẳng chịu thua nào
Ai cũng muốn được sát vào bên tôi
Lòng này xin tạ ơn đời
Suối nguồn hạnh phúc ôm tôi vào lòng
Những ngày sáng giá chiều đông
Kỷ niệm êm ấm tuyệt không phai mờ
Nhớ về ngày tháng năm xưa
Gia đình âu yếm đứng chờ đón tôi.
Tình đang như đũa có đôi
Vì đâu nên đã tới hồi đứt ngang.
Hôm nay, quán trọ bên đường
Ngóng trông về phía trời sương mịt mờ
Bỗng dưng thành kẻ không nhà
Chuyện đời ai oán thật là khó tin
Những ngày tháng sướng như tiên
Những ngày tươi đẹp biết tìm nơi đâu!
Đồ chơi tôi khỏi cần cầu
Ngoài sân trong bếp trước sau có đầy
Nhưng tôi lại thích gặm giầy
Nên thường nhóp nhép gặm hoài một đôi
Cả nhà đùa giỡn với tôi
Liệng qua quăng lại rồi cười hả hê
Thơ ngây tôi chẳng biết gì
Không phân biệt nổi cái gì nên nhaiMột ngày trong lúc mải chơi
Tôi cùng đám trẻ đùa cười hả hê
Cùng nhau giằng xé vui ghê
Thảm phòng tắm rách, kéo lê khắp nhàVừa nhai vừa xé tan ra
Chao ôi! Đời đẹp như là trong mơ
Tiếc thay, tôi chẳng có ngờ
Chủ nhà về tới đứng đờ người ra

Nói rằng tôi đã quá đà,
Phải ra sân ở mới là tốt hơn
Tôi thì chẳng hiểu nguồn cơn
Dù rằng đã cố van lơn xin vào

Những giờ bách bộ xôn xao
Dần dà biến mất ra vào vắng tanh
Mọi người nói rất chân thành
Thời giờ không có họ đành xa tôi

Làm sao sửa đuợc trời ơi!
Giá mà biết trước thì tôi chẳng làm
Một mình với sợi dây quàng
Tôi cô đơn đứng trong vườn phía sau

Lòng tôi tức tủi buồn rầu
Làm sao cứu được cho đầu khỏi điên
Hận đời tôi sủa liên miên
Chủ nhà phát bực nổi phiền vì tôi

Thế là chẳng kịp đôi hồi
Đem tôi đi, chẳng một lời nói năng
Gửi tôi vào chỗ tập trung
Ngại không muốn kể tỏ tường lôi thôi

Bèn bịa rằng cũng vì tôi
Mà con cái họ bệnh hoài không yên
Nếu tôi còn ở kế bên
Căn bệnh dị ứng làm phiền quanh năm

Mắt tôi nhìn họ đăm đăm
Họ bèn cúi xuống thì thầm bên tai
Thoáng nghe một tiếng “goodbye”
Ngẩng lên thì họ đã rời ra xa

Nếu mà từ thủa còn thơ,
Tôi là con chó được đưa tới trường
Có nền giáo dục đàng hoàng
Thì khi lớn đã biết đường tiến lui

Thì tôi đã hiểu chuyện đời
Thấy tấm thảm đẹp tôi thời chẳng nhai !!!
Tiếng nhân viên vọng vào tai:
“Mày chỉ còn có một ngày nữa thôi”.

Vui mừng quá đỗi ai ơi,
“Phải chăng chủ xét lại rồi, đã tha?”
Trong lòng rạo rực nở hoa,
“Hôm nay tôi được về nhà phải không?”

 


DO I GO HOME TODAY?

My family brought me home one day
cradled in their arms.
They cuddled me and smiled at me,
and said I was full charm.
They played with me and laughed with me
they showered me with toys.
I sure do love my family
especially the girls and boys.
The children loved to feed me,
they gave me special treats,
They even let me sleep with them
all snuggled in the sheets.
I used to go for walks,
often several times a day.
They even fought to hold my leash,
Im very proud to say.
These are things Ill never forget
a cherished memory.
I now live in a shelter
without my family.
They used to laugh and praise me
when I played with that old shoe.
But I didnt know the difference
between the old ones and the new.
The kids and I would grab a rag,
for hours we would tug.
So I thought I did the right thing
when I chewed the bathroom rug.
They said that I was out of control.
and would have to live outside.
This I did not understand
although I tried and tried.
The walks stopped one by one,
they said they hadnt time.
I wish that I could change things,
I wish I knew my crime.
My life became so lonely,
in the backyard, on a chain.
I barked and barked all day long,
to keep from going insane.
So they brought me to a shelter
but were embarrassed to say why.
They said I caused an allergy,
and then kissed me goodby.
If Id only had some classes,
as a little pup.
I wouldnt have been so hard to handle
when I was all grown up.
“You only have one day left,”
I heard the worker say.
Does this mean a second chance?
– Do I go home today?

Tác giả: Sandi Thompson

 Người dịch: Đỗ Phương Khanh

(Vy Khanh)

Đường Tới Đoạn Đầu Đài

Thông thường, khi những con bò, bê, heo được chở tới lò sát sinh thì chúng đã phải đứng liên tục, kề vai nhau trên suốt đoạn đường dài dằng dặc. Chuyến đi khiến cho chúng bối rối, kiệt sức, và trong nhiều trường hợp, quá ốm yếu. Ít nhất là suốt một ngày rồi, chúng không được ăn, vì về phương diện kinh tế thì chẳng còn có lợi lộc gì khi cho những con vật ăn bữa cuối cùng, cái bữa mà chúng chẳng còn kịp tiêu hóa khiến cho đồ ăn biến thành thịt trước khi bị giết được!


Và trong khi những nhân viên lò sát sinh có thể vốn không phải là những kẻ ác độc bệnh hoạn từ bản chất, nhưng áp lực của công việc ghê gớm đã khiến cho nhiều người trong số họ trở thành nhẫn tâm đối với những con vật sắp lên đoạn đầu đài. Kết quả là họ tuôn ra hàng tràng la hét giận dữ, và tống những cái đập, những cái đâm lên những con vật bối rối, kinh hoàng. Tụ tập hàng trăm hoặc hàng ngàn, những con vật khiếp đảm chen chúc nhau đứng phía ngoài lò sát sinh chờ tới phiên mình bước vào cõi chết.

Vẳng nghe tiếng kêu hấp hối thống thiết từ những con vật đi trước vọng ra, bầy gia súc tê dại với hình ảnh của chết chóc. Bây giờ thì chỉ một nhát đập mạnh và một cú điện giật là đủ khiến cho con vật đành phải líu ríu bước vào phòng tàn sát.

Trái với điều có thể quý vị tưởng, không làm gì có cách giết nhân đạo theo chỉ thị! Nhân viên lò sát sinh có thể chọn bất cứ cách giết nào (thường là cách rẻ tiền nhất!), bất kể là man rợ hoặc tàn ác.

Trong nhiều lò sát sinh, những con vật trong cơn kinh hoàng được giáng cho một đòn bất tỉnh bằng một nhát vào đầu (thường là một thanh sắt giáng vào sọ), hoặc bằng một luồng điện giật, hoặc bất cứ cách nào khác trước khi chúng bị cùm chặt, rút lên cao và bị đâm liên tục vào ngực, cổ, để làm đứt những động mạch chính. Máu phun ra từ nhiều vết thương khiến cho con vật chết lẹ vì cạn kiệt.

Còn kinh hoàng hơn nữa, một số lò sát sinh không làm cho những con vật bất tỉnh trước khi bị giết. Thay vì thế, họ cùm chân chúng lại, treo lên, rồi đâm vào cổ trong khi những con vật còn đầy đủ cảm giác và ý thức (trong sự đau đớn tột độ vì cái thân mình nặng hàng nửa tấn của chúng chỉ được treo lơ lửng bằng một cẳng sau).

Những sinh vật tội nghiệp này bị đâm và đổ máu tới chết trong khi còn tỉnh táo.

Cũng trong cung cách giống vậy, gà không được làm cho bất tỉnh trước khi bị giết. Với hai chân cột chặt, những con gà bị treo ngược trên một đường dây cáp di chuyển tự động về phía lưỡi dao bén để bị cắt cổ (và gần như cắt cụt luôn đầu).

Qua khâu cắt cổ, chúng được ném vào bồn nước nóng sôi có guồng với những que sắt quay đều đập vào thân mình chúng để cho lông tuột ra. Tuy nhiên, vì có những con gà tội nghiệp đã vùng vẫy dữ dội, hoặc vì có thân hình khác cỡ, nên trên đường tiến vào máy chém, chúng đã bị trượt ra ngoài.

Đó là nỗi bất hạnh cuối cùng của cuộc đời, chúng bị đẩy vào vạc nước sôi, giẫy giụa kêu cứu, còn đang sống!

Người dịch: Danny Việt

Arriving to the slaughterhouse

Typically, the cattle, calves, or pigs just arriving at the slaughterhouse have come a long distance, standing shoulder to shoulder the whole way. They’re confused by the trip, exhausted, and in many cases, quite ill. They haven’t been fed for at least a day as it would make bad economic sense to feed an animal a final meal that won’t be digested and turned into marketable meat before slaughter.

And while slaughterhouse workers may not be innately sadistic people, the pressures of their grisly work cause many of them to be harsh with the animals. Consequently, they pour down a torrent of angry shouts, slaps, and punches upon the disoriented livestock. Assembled by the hundreds or thousands, the terrified animals must wait outside the slaughterhouse for their turn to enter and be put to death.

As they hear the anguished cries of animals that have preceded them, the livestock are gripped by the specter of death. It is now only by severe blows and electric shocks that the animals grudgingly make their way into the killing rooms.

Contrary to what you may think, there are no mandated humane methods of killing animals! Slaughterhouse operators may choose any means (usually the cheapest!), however barbaric or cold-blooded.

In most slaughterhouses, the terror-stricken animals are first rendered unconscious by a blow to the head (often a steel bolt is fired into the brain) , or by an electrical shock, or by another technique before they’re shackled, hoisted, and stabbed repeatedly in the chest and neck in order to sever the major arteries. With blood spurting out of numerous wounds, the animals quickly bleed to death.

Even more shocking, a number of slaughterhouses do not first stun the animals. Instead, they’re shackled, jacked up, and pierced while fully conscious (and in great pain from having their half-ton bodies suspended just by a hind leg) .

These poor creatures are stabbed and bled to death while wide-awake!

In a similar fashion, chickens are not knocked out before being killed . With their legs shackled, the birds are hung upside down on an overhead moving chain and guided toward spinning, razor- sharp blades that cut their throats (and nearly decapitate them).

The chickens then are passed through tubs of seething hot water to loosen their feathers. However, because some birds squirm or are in irregular in size, they miss the cutting blades entirely.

It is to their final misfortune that they enter the cauldrons of boiling water – alive and struggling!

Trích: “Why Do Vegetarians Eat Like That?”

Tác giả:  David A. Gabbe

 Người dịch: Đỗ Phương Khanh

(Danny Việt)

.

Buồn ơi ! Ai biết chăng ai ? — Am I blue?

Vườn nhà chúng tôi trồng rất nhiều táo, trong số đó có một cây ngay cạnh hàng rào là con ngựa Blue gần như có thể với tới.

Chúng tôi đã sớm có thói quen cho Blue ăn táo, món mà nó thích. Đôi khi nó đứng rất lặng lẽ ngay cạnh cây táo, và khi thấy một đứa trong bọn chúng tôi bước ra là nó hí, nó khịt mũi ồn ào và giậm chân xuống đất thình thịch. Dĩ nhiên điều đó có nghĩa là:

– “Tôi muốn ăn táo” …..

Blue cô đơn lắm, cô đơn và buồn chán một cách kinh khủng. Tôi không lấy làm lạ về chuyện đó; hằng ngày một mình lê lết trên khu vườn rộng năm mẫu, chẳng có chuyện gì đặc biệt thích thú xảy ra. . .

Không, tôi đã bàng hoàng nhớ ra rằng người và vật có thể truyền thông tư tưởng với nhau rất bén nhậy.. . .

Hồi đó là khoảng năm thứ hai chúng tôi ngụ trong căn nhà này, có một chuyện xảy ra cho cuộc đời Blue.

Vào một buổi sáng, nhìn qua khung cửa sổ ra cảnh trời sương tỏa như những giải nơ trên cánh đồng cỏ, tôi thấy một con ngựa khác, mầu nâu, đang đứng phía bên kia cánh đồng cỏ của Blue. Lúc đầu chàng Blue có vẻ sợ, đã mấy ngày qua mà nó không dám lại gần con ngựa nâu.

Chúng tôi có việc phải xa nhà mất một tuần. Khi chúng tôi trở về thì Blue đã quyết định kết bạn với con nâu rồi và hai đứa lúc thì nhẩn nha thả nước kiệu, lúc thì phi nước đại, gắn bó bên nhau, và Blue không còn thường tới gần cây táo như trước nữa.

Nhưng câu chuyện không kéo dài mãi mãi. Một ngày kia, sau khi ra tỉnh trở về, tôi bước ra vườn tính cho Blue ăn vài trái táo.

Nó đang đứng chờ, hoặc là tôi nghĩ thế, dù không đứng dưới cây táo. Khi tôi rung cây và nhẩy lùi về phía sau để tránh trận mưa táo rụng, con Blue không nhúc nhích. Tôi nhặt mấy trái đem lại cho nó. Nó gắng gượng cắn nửa trái. Số còn lại, nó mặc kệ cho rơi lả tả xuống đất. Tôi kinh hoảng nhìn vào đôi mắt nó — bởi vì dĩ nhiên là tôi đã nhận ra rằng con Brown, bạn tình của nó, đã đi mất rồi — tôi nhìn sững nó. Nếu tôi ra đời với thân phận kẻ nô lệ, và bạn tình của tôi bị bán hoặc bị giết, thì ánh mắt tôi cũng bi thương đến thế mà thôi.

Tôi được lũ trẻ hàng xóm cho biết là bạn tình của con Blue được “cho xáp lại với Blue”……, như thế chúng nó có thể giao phối và con Brown có thể thụ thai. Vì sứ mạng đã hoàn thành nên con Brown được trả về cho chủ nó, cư ngụ tại nơi khác.

Tôi hỏi:

– Nó có trở lại không? Nhưng bọn chúng chẳng đứa nào biết.

Blue giống như người điên loạn. Đối với tôi thì Blue chính là một người điên loạn. Nó phóng nước đại một cách giận dữ, như nó đang bị cưỡi, không ngừng chạy quanh khu đồng cỏ đẹp đẽ rộng năm mẫu. Nó hí vang trời cho tới khi lạc cả giọng. Móng chân nó cào liên tục lên mặt đất. Nó vật mình vật mẩy, húc vào thân cây. Rồi nó phóng tầm mắt ra xa, xa tít mù khơi, về phía con đường đã đem bạn nó đi mất.

Từ đó, thỉnh thoảng, mỗi khi nó đến vì muốn được ăn táo, hoặc tôi mang táo đến cho nó, nó lại nhìn sững tôi. Cái nhìn sao mà tan nát cõi lòng với ánh mắt đầy đau khổ, cái nhìn sao mà “người” quá, tôi gần như phát lên tiếng cười (tôi cảm thấy quá đau buồn để còn có thể khóc được) khi nghĩ tới những con người đã không biết rằng loài vật cũng đau đớn đến tan nát cõi lòng.

Người dịch: Vy Khanh (ĐPK)

Am I blue?

By Alice Walker

There were many apple trees in our yard, and one by the fence that Blue could almost reach. We were soon in the habit of feeding him apples, which he relished…

Sometimes he would stand very still just by the apple tree, and when one of us came out he would whinny, snort loudly, or stamp the ground. This meant, of course, “I want an apple…”…

Blue was lonely. Blue was horribly lonely and bored. I was not shocked that this should be the case; five acres to tramp by yourself… cannot provide many interesting events…

No, I was shocked that I had forgotten that human animals and nonhuman animals can communicate quite well…

But then, in our second year at the house, something happened in Blue’s life.

One morning, looking out the window at the fog that lay like a ribbon over the meadow, I saw another horse, a brown one, at the other end of Blue’s field. Blue appeared to be afraid of it, and for several days made no attempt to go near.

We went away for a week. When we returned, Blue had decided to make friends and the two horses ambled or galloped along together, and Blue did not come nearly as often to the fence underneath the apple tree…

It did not, however, last forever. One day, after a visit to the city, I went out to give Blue some apples.

He stood waiting, or so I thought, though not beneath the tree. When I shook the tree and jumped back from the shower of apples, he made no move. I carried some over to him. He managed to half-crunch one. The rest he let fall to the ground. I dreaded looking into his eyes — because I had of course noticed that Brown, his partner, had gone — but I did look. If I had been born into slavery, and my partner had been sold or killed, my eyes would have looked like that.

The children next door explained that Blue’s partner had been “put with him,” … so that they could mate and she conceives. Since that was accomplished, her owner, who lived somewhere else, had taken her back.

– Will she be back? I asked. They didn’t know.

Blue was like a crazed person. Blue was, to me, a crazed person. He galloped furiously, as if he were being ridden, around and around his five beautiful acres. He whinnied until he couldn’t. He tore at the ground with his hooves. He butted himself against his single shade tree. He looked always and always toward the road down which his partner had gone.

And then, occasionally, when he came up for apples, or I took apples to him, he looked at me. It was a look so piercing, so full of grief, a look so human, I almost laughed (I felt too sad to cry) to think there are people who do not know that animals suffer.

Author: Alice Walker

Mẹ tôi và hoa – Vy Khanh

Mẹ tôi yêu hoa. Không những hoa, mẹ yêu cả lá nữa. Mẹ nói: “Hoa lá tươi đem lại cảm giác tràn ngập sức sống”.

Nghĩ về thời thơ ấu, trong tâm tưởng anh chị em chúng tôi bàng bạc hình ảnh hoa lá trong căn nhà ấm cúng của gia đình hồi đó.

Nhưng chúng tôi không hoàn toàn hưởng ứng “thói” yêu hoa của mẹ. Chúng tôi phản đối, tại sao ư, vì nếu mẹ vắng nhà mà chúng tôi để hoa lá héo là thế nào cũng bị mẹ mắng:

– Sao các con không cho hoa uống nước, các con khát có chịu nổi không?

Gia đình chúng tôi thuộc diện trung lưu. Bố chúng tôi dạy học chỉ đủ chi tiêu có chừng mực. Vậy thì tiền mua hoa hẳn đã chiếm mất một phần đồ ăn của chúng tôi mất rồi. Nghĩ thế nên hồi còn bé anh em chúng tôi có mối ác cảm sâu sắc với hoa.

Những năm cuối thập niên 60 sang đầu thập niên 70 chiến tranh lan tràn, đời sống của dân miền Nam rất khó khăn nên mẹ cũng đi làm để có thêm tiền chi tiêu. Nhưng cũng chẳng vì kinh tế khó khăn mà mẹ bớt yêu hoa.

Trước Tết năm đó, bố mẹ họp anh em chúng tôi lại, phát cho mỗi đứa một khoản tiền ước lượng bằng với số tiền mà những Tết trước chúng tôi được bạn bè bố mẹ “lì xì” và yêu cầu chúng tôi không được “thì thọt” ở cửa chờ đợi các bác gọi, bố nói:

– Các con chờ đợi mà các bác nghèo không có tiền cho, các bác tủi thân. Chào khách xong là các con phải vào nhà trong ngay.

Nhân dịp này, chúng tôi đưa ra “kiến nghị”:

– Thôi hay là năm nay mình đừng mua hoa nữa mẹ, để tiền mua bánh mứt nhiều nhiều ăn cho sướng.

Mặt mẹ hơi đờ ra, bố vội nhảy vào can thiệp:

– Bậy nào, Tết mà không có hoa thì còn gì là Tết nữa. Bố thích hoa, chiều nay bố dẫn cả nhà đi chợ hoa.

Ấy thế đấy, động vào vấn đề nhậy cảm “hoa” của mẹ là bố phải hối lộ liền. Bố hối lộ ăn cơm gà Siu Siu, chúng tôi vỗ tay rối rít.

Tiệm cơm gà Siu Siu ở ngay gần chợ An Đông, tầng trệt của dẫy nhà lầu mà một trong những căn lầu là tổ ấm của gia đình nhà vă n Nhất Linh.

Cơm gà Siu Siu thuộc loại cơm bình dân thôi, chỉ gồm có những thố cơm hấp nhỏ nhỏ và đĩa thịt gà luộc, dặm thêm đĩa đồ chua, cũng nhỏ nhỏ, vài đĩa đậu phọng rang ăn chơi, cũng nhỏ nhỏ. Nhưng đó là nơi để lại rất nhiều kỷ niệm đẹp của gia đình chúng tôi, vui buồn gì cũng được xí xóa bằng … cơm gà Siu Siu.

Được một bụng no nê rồi, chúng tôi tạm biệt đống thố với đĩa sạch nhẵn chồng chất, chạy ra chui vào cái xe nhỏ xíu của bố, cái xe mà chúng tôi phải lèn cá hộp gần một chục người, mở hết kính xuống vẫn còn phải thở phì phò như những con gà Mỹ trong chuồng.

Ấy vậy mà chiếc xe tàng cũng lết được tới đường Nguyễn Huệ, thả chúng tôi xuống chợ hoa.

Năm nào thì chợ hoa đường Nguyễn Huệ cũng đông nghẹt, người đi lại “ngắm nhau” nườm nượp. Có năm, chúng tôi còn thấy có bà kia đứng bán tranh Đông Hồ. Thật ra thì không phải là tranh Đông Hồ mà là hàng nhái thôi. Gia đình bà ta yêu tranh Đông Hồ, muốn phổ biến phong tục tốt đẹp chơi tranh dân gian nên họ thuê in mấy mẫu, có lẽ bản chính là gia bảo đem theo khi di cư vào Nam năm 1954.

Tuy bố mẹ chúng tôi nói rằng mầu mực không đúng mầu tranh dân gian, nhưng hai người cứ đứng tần ngần “bước đi không đành”, chắc là hai người nhớ quê hương ngày Tết mất rồi.

Chúng tôi la cà khu chợ hoa mãi cho đến khi cả đám nhóc đòi ngồi bệt xuống cỏ, bố mẹ mới “tỉnh ngộ cơn mê hoa” mà đưa chúng tôi về nhà.

Đi chợ hoa là để ngắm hoa chứ mẹ tôi không mua hoa tại đó, mà dù có muốn mua cũng không thể nhét vào đâu trong cái xe chật cứng của gia đình chúng tôi. Mẹ tôi mua hoa tại chợ Bến Thành, rẻ và thuận tiện chuyên chở.

Vào khoảng từ 23 tháng chạp Âm Lịch, mẹ tôi thường ra chợ Bến Thành rất sớm. Mẹ ra “canh hoa đào” nhà vườn Dalat đem về bán cho dân Saigon chơi hoa ngày Tết. Mầu hoa đào Đalat không đẹp như bích đào ngoài miền Bắc nhưng nhiều cành có dáng thiên nhiên rất đẹp, không thô.

Nói là “hoa đào”, nhưng nếu không phải tay “chuyên môn” thì sẽ chỉ thấy những bó cành trơ trọi, chẳng có hoa lá gì cả, dựa trong một góc chợ. Mẹ tôi tới sớm mở những bó lấy ra từng cành, nhìn mầm nụ, mầm lộc, thân và chỗ cành đào bị chặt còn mới, cào vào vỏ coi có nhựa hay đã khô quá, vân vân, rồi lựa chừng dăm cành đem về ngâm phía cắt xuống chậu nước ngập chừng một gang tay.

Khoảng 27 Tết, mẹ tôi nhấc mấy cành đào lên ngắm nghía, ước lượng cỡ những chiếc nụ nhú ra, cân nhắc theo thời tiết, rồi đem vào bếp đốt phía gốc, thời gian hoàn toàn ước lượng phù hợp với độ ấm của cành đào mà bàn tay mẹ cảm nhận. Mẹ tôi đốt như thế để nhựa đào chạy ngược lên phía ngọn, thúc cho hoa nở. Do kinh nghiệm của mẹ, hoa đào nhà tôi thường nở đúng vào ngày Tết và cho tới tận Rằm tháng Giêng, cành đào vẫn còn những mầm lộc xanh tươi mơn mởn.

Đối với tất cả các loại hoa, mẹ đều đặc biệt ưu ái. Mẹ không để bình hoa và cây lá trong phòng tắm. Mẹ chỉ treo tranh phong cảnh trong đó thôi. Đặc biệt với hoa lan, mẹ chỉ chưng ngoài phòng khách và hoa quỳnh thì mẹ không trồng trước nhà vì nó nở về đêm.

Mẹ chúng tôi thường thủ thỉ với chúng tôi về hoa nên dần dà chúng tôi cũng thấm nhuần quan điểm của mẹ. Riết rồi sau này chúng tôi cũng phổ biến quan điểm của mẹ tới bạn bè luôn. Mẹ tôi bảo là hoa đem lại cho cuộc đời rất nhiều ý nghĩa. Ngay từ lúc em bé chào đời, em đã được hưởng mùi hoa thơm mà mọi người mang tới mừng đón em.

Rồi từ đó, hằng năm, mỗi buổi mừng Sinh Nhật của em, phòng tiệc lại tràn ngập hoa tươi trang trí, nếu em sụt sịt ấm đầu, bạn bè thân thuộc của cha mẹ tới thăm cũng đem hoa tới chúc em mau lành. Rồi em lớn lên đi học, đi thi, mỗi dịp lễ lạc là lại có hoa bày biện khắp nhà. Khi em có người yêu, hoa cũng là cầu nối, nói giùm những lời em muốn nói mà không ra lời. Trong thời gian yêu đương, hoa đã giúp hòa giải biết bao nhiêu là giận hờn giữa đôi bạn trẻ. Rồi khi đôi bạn trẻ quyết định cùng nhau đi trọn đường đời, trong ngày cưới, món quà đầu của đôi uyên ương tặng nhau, cũng là một bó hoa tươi, biểu tượng của cuộc tình đầy yêu thương, tràn ngập hạnh phúc.

Trong suốt cuộc sống chung dài đằng đẵng, hoa đã không biết bao nhiêu lần hàn gắn những hiểu lầm, những vô ý, đôi khi có thể làm rung rinh tổ ấm. Hoa đã làm đẹp cuộc đời cho tới khi đôi bạn trở thành có tuổi, thì đó lại là lúc hai mái đầu bạc cùng nhau bưng bình hoa lên chùa cúng Phật, dâng lên Ðức Mẹ, Ðức Chúa, Ðền Thánh, vân vân, tỏ lòng thành kính đối với các đấng thiêng liêng.

Cho đến một ngày trong tương lai khi ra đi vĩnh viễn, thì vòng hoa thơm ngát cũng ấm áp vây quanh người về thiên thu tới tận cuối đường.

Hoa không chỉ giúp xây đắp tình cảm trong gia đình, hoa còn làm đẹp đời sống của mọi người trong xã hội. Không thể kể xiết đã có biết bao nhiêu lần trong cuộc đời, bình hoa thay mình nói lên lời cảm ơn, lời xin lỗi, lời âu yếm trong tình thân quyến, tình bạn, tình lân bang hàng xóm…vân vân. Một bình hoa tươi tuy không biết nói, nhưng thật là cảm kích xiết bao qua ý nghĩa thầm kín mà bình hoa mang lại.

Rồi thì những ngày vui tưng bừng, ngày Tết, lễ Phật Đản Sinh, lễ Chúa Giáng Sinh, ngày Valentine, Father’s Day, Mother’s Day, ăn mừng tân gia, đón bạn từ xa tới, mừng đoàn tụ gia đình, vân vân, luôn luôn có sự hiện diện của giỏ hoa. Bất cứ cuộc hội hè, đình đám, họp mặt lớn nhỏ nào cũng đều phải trang trí bằng hoa. Người đời thượng cổ, hoặc tại những bộ lạc bán khai nơi rừng sâu núi thẳm, cũng dùng hoa để trang điểm.

Mẹ tôi say sưa tâm tình về hoa, mẹ muốn tất cả những cánh đồng trồng ma túy đều thành cánh đồng hoa bát ngát hương thơm. Nghe mẹ nói về hoa, nhìn ánh mắt mẹ, càng ngày chúng tôi càng gần gũi với tâm hồn nhậy cảm của mẹ, nhìn hoa cũng có cảm giác như hoa đang cười.

Cười lên đi hỡi những bông hoa, cười lên, cười và tỏa hương đi khắp nơi, mang đến cho tất cả mọi người hương thơm bát ngát, cho nhân gian có được những phút giây nhẹ nhàng tươi mát vào những ngày đầu Xuân ăm ắp hương thơm.

Vy Khanh (ĐPK)

J. Krishnamurti, Cuộc Đời và Tư Tưởng

(11th May 1895 — 17 February 1986)
 

Jiddu Krishnamurti chào đời trong một gia đình Bà-la-môn trung lưu tại ngoại ô tỉnh Madanapalle, miền nam Ấn Độ. Mẹ chết sớm từ khi ông mới lên mười. Tuổi ấu thơ, ông thường xuyên đau yếu, học hành thì lơ đãng, tâm hồn thường chìm đắm trong mơ mộng và có khuynh hướng về tâm linh, về lòng nhân ái, tình thương người, thương vật và yêu thiên nhiên.

Cha của Krishnamurti là một viên chức của chính quyền. Khi về nghỉ hưu, ông cụ đề nghị với bà Annie Besant, chủ tịch hội Thông Thiên Học (The Theosophical Society), mà ông cụ là một thành viên, xin vào làm việc cho Hội. Do đó, ông cụ cùng bốn người con dọn về Trụ Sở chính của hội tại Madras, vào lúc Krishnamurti mười bốn tuổi.

Hội Thông Thiên Học do bà Helena P. Blavatsky người Nga và một cựu đại tá Hoa Kỳ là ông Steele Olcott thành lập vào năm 1875, là một hội có mục tiêu tìm hiểu các tôn giáo, các nguồn tư tưởng, minh triết, các sự huyền nhiệm trên thế giới cổ kim và các năng lực thần bí nơi con người. Khi đó, hội đang có mục tiêu sửa soạn cho sự hạ sanh của bồ tát Di Lặc, xuống thế để làm nhiệm vụ Thế Giới Đạo Sư (World Teacher).

Cơ hội gần gũi của gia đình Krishnamurti và bà Annie Besant đã tạo nên một sự gắn bó khắng khít giữa bà và cậu bé mười bốn tuổi yếu ớt, lại có khuynh hướng tâm linh thần bí, và đã khiến cho bà và Bishop Leadbeater phát hiện ra cậu bé Jiddu Krishnamurti chính là vị hóa thân mà họ đang tìm kiếm, với những kinh nghiệm về đột biến tâm linh của cậu, khi đó Krishnamurti mới mười lăm tuổi.

Để chuẩn bị chu đáo cho sự xuất hiện của Thế Giới Đạo Sư, hội Thông Thiên Học thành lập một hội đoàn tôn giáo lấy tên là Ngôi Sao Phương Đông (The Order of the Star in the East) và tôn Krishnamurti làm Đạo Trưởng. Nhóm này có nhiều chục ngàn hội viên ở khắp nơi trên thế giới, với nhiều tiền bạc, nhà cửa đất đai tại Âu Châu, Úc châu, Ấn Độ, v.v…

Năm 1912, Khishnamurti được hội Thông Thiên Học chính thức tấn phong làm Thế Giới Đạo Sư. Nhưng đến năm 1929, bỗng nhiên ông giải tán hội Ngôi Sao Phương Đông, đọc bản tuyên ngôn “Thực Tại (Chân Lý) là nơi không có lối mòn để vào” (Truth is a Pathless Land). Làm việc này, ông đã đương nhiên liệng bỏ những tài sản, đất đai, tiền bạc, quyền lực và tất cả mọi vinh dự mà thế nhân dành cho nhân vật có thẩm quyền, vị Đạo Sư.

Từ đó cho đến tận những ngày cuối cùng của cuộc đời ở tuổi 91, ông đáp ứng lời mời từ khắp nơi trên thế giới, thân hành tới ngồi chung trên thảm cỏ, trong nhà hội, trong phòng họp, đến bất cứ nơi nào có người quan tâm để thảo luận với họ những vấn đề về tự do, về sự tự giải thoát khỏi nỗi sợ hãi tiềm ẩn từ trong tiềm thức, về sự tự gỡ bỏ gông cùm của những lề thói trói buộc con người, gỡ bỏ sự sợ hãi về các loại địa ngục do các tổ chức thần quyền tạo ra để khống chế tín đồ, về tình yêu thuần khiết, về lòng từ bi thương xót, kêu gọi mỗi người phải là nguồn ánh sáng của bản thân, v.v…

Những lời thuyết giảng của ông không phải là những kiến giải trong sách vở, nhưng là từ kinh nghiệm nội tâm. Ông không “thuyết lý”, nhưng ôn tồn tâm tình với thính giả về những điều mà tất cả chúng ta quan tâm trong đời sống hằng ngày, nói về những trăn trở, băn khoăn của con người thời đại mới với sự suy sụp tinh thần và bạo lực, nói với từng cá nhân đi tìm sự an lạc, nói với người đang bồn chồn tìm cách giải thoát ra khỏi cái chướng ngại của sự giận dữ , thù hận, sợ hãi, đau khổ đang ám ảnh trong nội tâm anh ta. Ông luôn luôn tha thiết với việc gỡ con người ra khỏi sự sợ hãi, một hành động “vô úy thí” cao quý.

Điểm then chốt đặc biệt của ông là, ngay như khi đang nói về các vấn đề xã hội, chính trị, hoặc kinh tế đang xẩy ra, lời giải đáp của ông cũng từ cái nhìn tận gốc rễ và vượt thời gian. Ông chỉ ra cái nguyên nhân tạo vấn đề nó nằm phía sau như thế nào, và nguồn gốc của mâu thuẫn và bạo lực đã tiềm ẩn trong tâm con người ra sao.

Ông không tặng chúng ta một cách giải quyết kiểu “mì ăn liền” cho những vấn đề của thời đại, mà là ông nhìn rõ được rằng những vấn đề này chỉ là triệu chứng của một chứng bệnh thâm căn cố đế, nằm sâu trong tâm não của mỗi người trong chúng ta. Luôn luôn, ông nhắc mọi người về sức mạnh tinh thần của chính bản thân họ, luôn nhắc mọi người nhìn vào nội tâm, tự giải thoát ra khỏi những xiềng xích tư tưởng rập khuôn của người khác.

Ông nhắc nhở mọi người đừng tự làm nô lệ cho bất cứ loại tư tưởng nào của bất cứ ai, dù đó là những “thẩm quyền (authority), không những thế , nên tự thanh lọc những ô nhiễm do bị những loại “thẩm quyền” nhồi nhét vào tâm não từ vô thủy. Ngay cả đến những lời nói của ông, ông cũng yêu cầu mọi người hãy chỉ coi đó là những lời trò chuyện tâm tình giữa những người bạn với nhau, đừng coi như là những lời của bậc thầy, vì chỉ riêng sự coi ai là bậc thầy thì chính cái hào quang tiềm ẩn trong cái ý nghĩ về bậc thầy đã gián tiếp tước đoạt tự do của chính mình, đã làm cho chính mình nhắm bớt mắt trên con đường đi tìm chân lý rồi.

Đối với ông, mọi người không cần đạo sư, mà cần tự thức tỉnh. Bởi vì mỗi người đều có khả năng vô biên về sự tự thức tỉnh này, nếu họ không bị những xiềng xích của truyền thống về sự sợ hãi, không bị những “đạo sư” che mất ánh sáng của chính họ tự chiếu. (This Light in Oneself). Ánh sáng này không ai có thể “cho” người khác, không thể nhận được từ người khác truyền qua như truyền lửa từ ngọn nến này qua ngọn nến khác. Nếu ánh sáng mà có được nhờ sự từ người khác truyền qua thì chỉ là ánh sáng của ngọn nến, nó sẽ tắt. Chính sự tĩnh lặng, quán chiếu thâm sâu nội tâm, người ta sẽ thức tỉnh, sẽ xuất hiện ánh sáng của chính bản thân.

Dù được cả Đông Phương và Tây Phương nhìn nhận như là một trong những đạo sư uy tín nhất, bản thân ông không tùy thuộc vào tôn giáo, môn phái hay quốc gia nào, đồng thời, cũng không tham dự vào bất cứ một trường phái chính trị hoặc ý thức hệ nào. Ngược lại, ông cho rằng chính những hình thức tổ chức ấy đã chia rẽ con người, đã là nguồn gốc của chiến tranh.

Ông luôn luôn nhắc nhở sự tĩnh tâm, tự thanh lọc những kiến chấp đã tích lũy trong tâm trí qua thời gian, để tự giải thoát.

Trải dài khoảng sáu chục năm đi khắp đó đây, ông được coi như là người nói nhiều nhất trong thời đại thâu âm. Phần lớn các buổi thuyết giảng, thính chúng lên tới hàng ngàn người, thường ngồi ngoài trời, nhất là tại các thành phố lớn.

Ông cũng thường có những buổi thảo luận riêng với các nhân vật danh tiếng thế giới như ba vị thủ tướng Ấn Độ là Jawaharlal Nehru, Indira Gandhi và Rajiv Gandhi, nhà tôn giáo học Huston Smith, Walpola Rahula, Chogyam Trungpa Rinpoche, nhà vật lý học Dr David Bohm, nhà văn Aldous Huxley, v.v…

Hầu hết các buổi thảo luận này đều có ghi âm, thâu hình, và sau đó được in ra thành sách.

Thật là sai lầm đáng tiếc nếu cho rằng những lời thuyết giảng của Krishnamurti chỉ dành cho người lớn tuổi hoặc giới trí thức uyên bác. Trái lại, đó là những điều rất dễ thẩm thấu vào giới trẻ mà ta có thể cảm nhận được sự sống động nơi thính chúng trong video và trong các cuộc thảo luận với học sinh còn được lưu giữ trong nhiều trường học.

Là bậc thầy cao cả, ông tìm cách tạo nên tại những trường này một bầu không khí thoải mái, không sợ hãi và kèn cựa lẫn nhau, khuyến khích các em tự tìm về nội tâm, tìm hiểu chính bản thân mình, thức tỉnh cảm quan của họ về cái đẹp của thiên nhiên, về sự cảm thông , bi mẫn với nỗi thống khổ của kiếp người, khuyến khích họ đi vào những đề tài sinh động, ngay cả đến vấn đề phức tạp nhất như là hoạt động của tâm não con người. Ông kiên trì, tận tụy với lý tưởng “để cho mọi người được tự do, giải thoát vô điều kiện”.

Cho đến cuối đời ông, vào lúc thế hệ mới của thời đại kỹ thuật tân tiến nở rộ, nhiều người trẻ đã tìm về ông như là tới ngồi dưới một tàng cổ thụ rủ bóng để ươm tẩm phần tâm hồn.

Mặc dầu Krishnamurti nói và viết bằng Anh ngữ, các tác phẩm của ông đã được dịch sang gần năm chục thứ tiếng và ấn hành tại nhiều nước. Trên ba triệu ấn bản đã lưu hành khắp thế giới. Các tuyển tập của ông bao gồm trên một trăm ngàn trang viết tay, 2.500 audiotapes và 600 videotapes.

Đó là nói về di sản nhìn thấy được. Nhưng đáng kể phải là phần di sản sống động tiềm ẩn trong trái tim và khối óc của biết bao nhiêu con người đã có dịp thấm nhuần tư tưởng uyên áo và tấm lòng trắc ẩn của ông đối với muôn loài

Xin ghi lại một vài cảm nhận về ông:

* Đức Đạt Lai Lạt Ma:
–Krishnamurti là một trong những tư tưởng gia vĩ đại nhất của thời đại.

* Deepak Chopra:

— Krishnamurti đã ảnh hưởng sâu sắc vào chính cuộc đời tôi, đã giúp tôi vượt qua được sự tự trói buộc đã kiềm chế tôi trên con đường tới tự do, giải thoát.

* Anne Morrow Lindbergh :

— Nghe và đọc sách của ông (Krishnamurti) là tự quán chiếu chính mình và thế giới trong một sự tươi mát chan hòa.

Xin giới thiệu website có những tài liệu về các bài thuyết giảng của Krishnamurti:

http://www.krishnamurti.org

Người viết: Đỗ Phương Khanh
(aka Danny Việt)